Vì vậy, tác giả thực hiện đề tài “Vấn đề vi phạm hợp đồng trước thời hạn theo Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” nhằm nghiên cứu chuyên sâu về chế định trên, giúp hiểu r
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ
NGUYỄN VŨ KIÊN
VẤN ĐỀ VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN
THEO CÔNG ƯỚC VIÊN VỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ - LUẬT
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
VẤN ĐỀ VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN
THEO CÔNG ƯỚC VIÊN VỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN VŨ KIÊN
Khóa: 40 MSSV: 1551101030071
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS NGUYỄN TUẤN VŨ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Tuấn Vũ, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Người cam đoan
Nguyễn Vũ Kiên
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Âu
Thương mại Quốc tế
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 6
1.1 Mối quan hệ giữa Công ước viên 1980 và pháp luật hợp đồng Việt Nam 6
1.2 Tổng quan về vi phạm hợp đồng trước thời hạn theo Công ước viên 1980 8
1.2.1 Khái niệm 8
1.2.2 Lịch sử hình thành học thuyết vi phạm hợp đồng trước thời hạn 13
CHƯƠNG 2: TẠM NGỪNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 17
2.1 Mục đích áp dụng 17
2.2 Điều kiện áp dụng 17
2.2.1 Mức độ chắc chắn của vi phạm trước thời hạn 18
2.2.2 Mức độ, tính chất của vi phạm trước thời hạn 20
2.2.3 Dấu hiệu thể hiện vi phạm trước thời hạn 22
2.2.4 Trường hợp bên bán đã gửi hàng 26
2.3 Nghĩa vụ thông báo 28
2.4 Hệ quả pháp lý 29
2.4.1 Trong trường hợp tạm ngừng đúng luật 29
2.4.2 Trong trường hợp tạm ngừng trái luật 32
2.5 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 33
CHƯƠNG 3: HỦY BỎ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 38
3.1 Mục đích áp dụng 38
3.2 Điều kiện áp dụng 38
3.2.1 Mức độ chắc chắn của vi phạm trước thời hạn 39
3.2.2 Mức độ, tính chất nghiêm trọng của vi phạm 40
3.2.3 Điều kiện áp dụng trong hợp đồng giao hàng từng phần 42
3.3 Nghĩa vụ thông báo 45
3.3.1 Trường hợp áp dụng Điều 72 Công ước Viên 1980 45
3.3.2 Trường hợp áp dụng khoản 2 Điều 73 Công ước Viên 1980 47
3.4 Hệ quả pháp lý 47
3.4.1 Trường hợp căn cứ hủy bỏ hợp đồng đúng luật 47
3.4.2 Trường hợp căn cứ hủy bỏ hợp đồng trái luật 49
3.5 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 50
Trang 7KẾT LUẬN 55
Trang 8có tranh chấp phát sinh Ngoài ra, CISG chỉ mới trở thành nguồn luật bắt buộc tại Việt Nam, nên phần lớn các luật sư, thẩm phán và một số trọng tài viên cũng không thật sự hiểu rõ về CISG, dẫn đến sự thiếu năng lực trong giải quyết tranh chấp liên quan đến CISG Vì vậy, việc nghiên cứu và phân tích những điều khoản trong CISG
là một việc làm quan trọng, giúp tăng cường nhận thức của các đối tượng liên quan, giảm nguy cơ tranh chấp và tăng khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp Việt Nam
Một trong những chế định được quy định trong CISG nhưng chỉ được quy định
sơ sài, hay chỉ được chấp nhận một cách hạn chế trong pháp luật Việt Nam là chế định vi phạm hợp đồng trước thời hạn (VPHĐTTH) thực hiện nghĩa vụ (anticipatory breach) Theo thống kê của IICL (Institute of International Commercial Law), tính tới ngày 05/3/2020, số lượng vụ việc được giải quyết liên quan tới Điều 71, Điều 72
và Điều 73 CISG (là những Điều quy định về VPHĐTTH) là 183 vụ Có thể thấy, những tranh chấp về VPHĐTTH trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế là khá phổ biến Tuy nhiên, cho đến hiện tại, số lượng những vụ việc liên quan đến chế định này tại Việt Nam rất ít, nếu không muốn nói là hiếm Chính bởi pháp luật Việt Nam quy định rất dè dặt về chế định này, thiếu quy phạm điều chỉnh, dẫn đến các chủ thể trong nền kinh tế không dám tạm ngưng hay hủy bỏ hợp đồng khi biết rõ bên còn lại trong hợp đồng không thể thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn, và các cơ quan tài phán không giải quyết hoặc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là một vấn đề khác (vi phạm hợp đồng truyền thống), chứ không phải VPHĐTTH
Vì vậy, tác giả thực hiện đề tài “Vấn đề vi phạm hợp đồng trước thời hạn theo Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” nhằm nghiên cứu chuyên sâu về chế định trên, giúp hiểu rõ hơn về chế định VPHĐTTH thực hiện nghĩa vụ trong CISG và thực tế áp dụng của những điều khoản liên quan để giải quyết các
Trang 9tranh chấp Hiểu rõ bản chất, cách thức áp dụng chế định sẽ giúp các chủ thể trong nước tự tin hơn, có lợi thế hơn khi đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và khi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại các cơ quan tài phán Hơn thế nữa, tác phẩm này cũng sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà lập pháp, giới học thuật khi tiến hành lấy ý kiến để sửa đổi, bổ sung pháp luật về hợp đồng của Việt Nam trong tương lai
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, có một số công trình nghiên cứu về VPHĐTTH theo CISG của các học giả nước ngoài, cụ thể có các nghiên cứu tiêu biểu sau:
Mercédeh Azeredo da Silveira (2005), Anticipatory Breach under the United
Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Nordic Journal
of Commercial Law Bài nghiên cứu nêu ra những tổng hợp và nhận định chuyên sâu của tác giả về những vấn đề pháp lý liên quan đến VPHĐTTH của CISG, trong sự tham khảo những bộ nguyên tắc hợp đồng quốc tế phổ biến
Michael G Bridge (2005-2006), “Issues arising under Article 64, 72 and 73 of
the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods”, 25
Journal of Law and Commerce Bài viết đơn thuần nêu ra những vấn đề pháp lý phát
sinh từ các điều khoản và qua quá trình thực tế áp dụng, nhưng chưa đưa ra được câu trả lời cho những vấn đề đó
Chengwei Liu (2005), Suspension or avoidance due to anticipatory breach:
Perspectives from Arts 71/72 CISG, the UNIDROIT Principles, PECL and Case Law, LL.M of Renmin University of China Bài nghiên cứu phân tích chuyên sâu
những vấn đề pháp lý cần giải quyết tại Điều 71 và 72 CISG, đồng thời so sánh, đối chiếu với những quy định trong những bộ nguyên tắc hợp đồng khác giúp có cái nhìn
rõ hơn về cách hiểu các điều khoản trong CISG
Chengwei Liu (2005), Avoidance in the case of an installment contract, LL.M
of Renmin University of China Bài viết phân tích những vấn đề cần giải quyết liên quan tới hủy hợp đồng giao hàng từng phần tại Điều 73 CISG, đối chiếu với những
bộ nguyên tắc hợp đồng khác Đồng thời, tác giả đối chiếu với Điều 71, 72 CISG để làm rõ sự chồng lấn giữa các điều khoản này
Tại Việt Nam, vấn đề về VPHĐTTH chưa được quan tâm đúng mức Số lượng các nghiên cứu không nhiều, cụ thể là:
Nguyễn Thị Quỳnh Nga (2018), Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện
nghĩa vụ theo công ước viên 1980, kinh nghiệm cho Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp
cử nhân, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Bài viết phân tích khái quát về quy định VPHĐTTH trong CISG và quy định của pháp luật thương mại Việt Nam Tuy
Trang 10nhiên bài viết chưa phân tích thực tiễn áp dụng, quan điểm của Tòa án, Trọng tài trong giải quyết tranh chấp, cũng như chưa đi sâu về hệ quả của VPHĐTTH
Nguyễn Trung Nam - Lê Trần Đức Huy - Ngụy Thị Bích - Nguyễn Hiếu Bình
- Nguyễn Trịnh Thủy Tiên (2017), “Nghiên cứu so sánh pháp luật hợp đồng Việt Nam, Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và nguyên
tắc hợp đồng thương mại quốc tế về vấn đề vi phạm hợp đồng trước thời hạn”, Tạp
chí Khoa học pháp lý, số 7 (110) Nghiên cứu tổng hợp lại cơ sở lý luận, điều kiện áp
dụng và các chế tài một bên được áp dụng khi bên còn lại vi phạm trước thời hạn, trong đó có sự so sánh với những bộ nguyên tắc quốc tế khác về hợp đồng Nhưng bài viết vẫn chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, đề cập một cách sơ lược những vấn đề trên, chưa làm nổi bật được những vấn đề còn đang gây tranh cãi
Phạm Ánh Dương (2014), Vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện nghĩa
vụ theo công ước viên 1980, kinh nghiệm cho Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử
nhân, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Bài viết có sự phân tích đối với các quy định của CISG, dẫn chiếu bản án, quyết định, phán quyết của Tòa án và Trọng tài, đồng thời phân tích quy định về VPHĐTTH trong Luật Thương mại (LTM) 2005 Bài viết chưa giải quyết được những tranh cãi đang còn tồn tại trong cách hiểu một
số vấn đề pháp lý liên quan Hơn thế nữa, đề tài được nghiên cứu trong bối cảnh Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 chưa ra đời, nên một số nhận định đã không còn phù hợp trong thời điểm hiện tại
Tựu trung lại, hầu hết các công trình nghiên cứu của Việt Nam đều chỉ nêu ra được những vấn đề chung nhất của VPHĐTTH và sự thiếu sót trong cách tiếp cận của pháp luật hợp đồng Việt Nam đối với vấn đề trên Nhưng các nghiên cứu đều chưa đi một cách triệt để những vấn đề pháp lý tồn tại theo CISG Đồng thời, phương pháp phân tích vụ việc chỉ được sử dụng hạn chế
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Thông qua đề tài này, tác giả muốn hướng tới các mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu quan trọng sau:
Thứ nhất, đưa ra hệ thống những vấn đề mang tính lý luận về chế định
VPHĐTTH trong CISG;
Thứ hai, đánh giá thực tiễn áp dụng chế định VPHĐTTH theo CISG tại các cơ
quan tài phán quốc gia và quốc tế;
Thứ ba, làm rõ quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về VPHĐTTH và
chỉ ra những hạn chế, thiếu sót trong hệ thống pháp luật;
Thứ tư, đưa ra các kiến nghị nhằm làm cơ sở tham khảo, nghiên cứu sửa đổi,
bổ sung và hoàn thiện chế định VPHĐTTH của pháp luật thương mại Việt Nam
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài lựa chọn đối tượng nghiên cứu là những vấn đề pháp lý liên quan đến chế định VPHĐTTH theo CISG và pháp luật hợp đồng Việt Nam Những vấn đề pháp
lý trên sẽ được phân tích đan xen giữa lý luận và thực tiễn áp dụng chế định trên trong các cơ quan giải quyết tranh chấp
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm những quy định về VPHĐTTH trong CISG; các bản án, phán quyết của Tòa án và Trọng tài giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; quan điểm của những chuyên gia, giới học thuật và của những nhà soạn thảo CISG Ngoài ra, pháp luật thực định của Việt Nam
về VPHĐTTH và một số bản án, phán quyết của cơ quan tài phán trong nước liên quan cũng sẽ được tác giả đưa ra phân tích để chỉ ra những bất cập, thiếu sót trong cách tiếp cận của Việt Nam đối với chế định quan trọng về hợp đồng này
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Thứ nhất, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp: Hai phương pháp này được dùng để làm rõ những vấn đề pháp lý liên quan đến VPHĐTTH theo CISG, các bộ nguyên tắc quốc tế khác về hợp đồng và pháp luật thực định của Việt Nam Đồng thời, phương pháp này cũng là công cụ hỗ trợ trong việc nghiên cứu, diễn giải quan điểm của các cơ quan tài phán trong các bản án và phán quyết liên quan
Thứ hai, phương pháp so sánh: Tác giả so sánh giữa pháp luật Việt Nam và CISG nhằm chỉ ra những bất cập tồn tại trong pháp luật Việt Nam
Thứ ba, phương pháp phân tích bản án, vụ việc: được sử dụng để phân tích một số vụ việc được các cơ quan tài phán giải quyết liên quan đến VPHĐTTH, tạo ra cái nhìn thực tiễn cho vấn đề pháp lý được nghiên cứu
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Đề tài được chia làm 03 chương, gồm một chương khái quát chung và hai chương giải quyết từng vấn đề cụ thể
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980
Chương 1 sẽ giới thiệu về CISG, vai trò của CISG trong giao thương và pháp luật quốc tế, mối quan hệ giữa CISG và pháp luật hợp đồng Việt Nam; nêu và giải thích những khái niệm cơ bản liên quan, đồng thời giới thiệu khái quát lịch sử hình thành và những vấn đề pháp lý xung quanh chế định vi phạm hợp đồng trước thời hạn
để làm cơ sở, nền tảng lý luận giúp hiểu rõ hơn những chương sau
CHƯƠNG 2: TẠM NGỪNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN
Trang 12Chương 2 sẽ phân tích chi tiết mục đích của điều khoản, những điều kiện (cơ sở) để áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, trách nhiệm của các bên cũng như hệ quả pháp lý kéo theo Đồng thời, tác giả cũng sẽ nêu khái quát quy định về tạm ngừng thực hiện hợp đồng do vi phạm trước hạn theo pháp luật Việt Nam để từ
đó đưa ra những kiến nghị sửa đổi bổ sung pháp luật
CHƯƠNG 3: HỦY BỎ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN
Chương 3 sẽ được cấu trúc tương tự Chương 2 và giải quyết những vấn đề tương tự liên quan đến vấn đề hủy bỏ hợp đồng do VPHĐTTH, trong đó bao gồm cả hủy bỏ hợp đồng do VPHĐTTH trong hợp đồng giao hàng từng phần
Trang 13CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980
1.1 Mối quan hệ giữa Công ước viên 1980 và pháp luật hợp đồng Việt Nam
Với sự góp mặt của khoảng 60 quốc gia và 8 tổ chức quốc tế, ngày 11 tháng
04 năm 1980, CISG được ký kết để thay thế cho hai Công ước La Haye 1964 vốn không cho thấy nhiều hiệu quả CISG là một nỗ lực nhằm hướng tới “việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”.1 Hai nhiệm vụ chính của CISG là: giúp thúc đẩy giao thương quốc tế, duy trì các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tồn tại lâu dài và được các bên tôn trọng thực hiện nhằm khuyến khích
sự thiện chí, trung thực và sự nghiêm túc trong giao thương quốc tế; và hạn chế tối
đa việc tranh tụng liên quốc gia,2 một việc làm tiêu tốn nhiều thời gian và chi phí của các bên
CISG chủ yếu điều chỉnh những vấn đề liên quan đến ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các quyền và nghĩa vụ của người bán và người mua phát sinh
từ hợp đồng và không điều chỉnh vấn đề hiệu lực của hợp đồng cũng như những tác động của hợp đồng đối với quyền sở hữu hàng hóa (Điều 4 CISG) CISG được coi là một trong những điều ước quốc tế thành công nhất cho đến thời điểm hiện tại khi có tới 93 quốc gia là thành viên và điều chỉnh các giao dịch chiếm đến 80% thương mại hàng hóa quốc tế.3 09 trong số 10 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới đều là thành viên của Công ước (ngoại trừ Vương quốc Anh khi quốc gia này có hệ thống pháp luật khác biệt) Kể từ khi CISG được soạn thảo, giao thương hàng hóa quốc tế
đã cho thấy sự phát triển vượt bậc khi giá trị thương mại hàng hóa trong năm 2018 là 19,67 nghìn tỷ Đô la Mỹ, gấp khoảng 17 lần so với năm thời điểm CISG được soạn thảo.4 CISG đã và đang giúp hài hòa hóa những khác biệt trong hệ thống pháp luật các quốc gia riêng lẻ, dần trở thành tiêu chuẩn pháp lý chung chi phối nền thương mại thế giới.5
Việt Nam ký kết gia nhập CISG vào ngày 18 tháng 12 năm 2015 Đến 01 tháng
01 năm 2017, CISG chính thức trở thành nguồn luật điều chỉnh cho quan hệ giao thương hàng hóa quốc tế của Việt Nam Khi tham gia Công ước, Việt Nam đang tham
1 “Sơ lược lịch sử Công ước Viên 1980 (CISG)”, su-cong-uoc-vien-1980-cisg, truy cập ngày 08/3/2020
http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/1147-so-luoc-lich-2 Mercédeh Azeredo da Silveira (2005), Anticipatory Breach under the United Nations Convention on
Contracts for the International Sale of Goods, Nordic Journal of Commercial Law, tr 3
3 “Mục tiêu và vai trò của CISG trong thương mại quốc tế”, trong-thuong-mai-quoc-te/, truy cập ngày 05/3/2020
https://cisgvn.com/muc-tieu-va-vai-tro-cua-cisg-4 https://www.wto.org/english/res_e/statis_e/wts2019_e/wts2019_e.pdf, truy cập ngày 05/3/2020
5 “International Sale of Goods (CISG) a Success?”, law/efforts-for-the-unification-of-the-international-sales-law-international-law-essay.php, truy cập ngày 05/3/2020
https://www.lawteacher.net/free-law-essays/international-Ingborg (2009), The CISG – Successes and Pitfalls, 57 Am J Comp L, tr 461-463
Trang 14gia vào sân chơi thương mại toàn cầu, và CISG trở thành phương tiện giúp đơn giản hóa các thương vụ mua bán có tính quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam bằng việc áp dụng quy trình chung cho việc giao kết hợp đồng và những nguyên tắc chung để giải quyết tranh chấp (nếu có), giúp giảm chi phí và thời gian đàm phán luật áp dụng
Vì vậy, trước hoàn cảnh có nhiều nguồn luật khác nhau có thể cùng điều chỉnh một quan hệ hợp đồng, tức là quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế có doanh nghiệp Việt Nam, việc xác định luật áp dụng là CISG hay pháp luật Việt Nam trong các trường hợp khác nhau là việc làm quan trọng, vì nó sẽ giúp các bên nhìn nhận đúng đắn quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó bảo vệ chính mình và hạn chế vi phạm, cũng như định hướng Tòa án hay Trọng tài trong giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên từ hợp đồng Hiện nay, việc các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, gia nhập
có được áp dụng trực tiếp tại Việt Nam hay không, hay nói cách khác có thể áp dụng điều chỉnh các quan hệ xã hội mà không cần nội luật hóa hay không (tức là, cần có quyết định áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế của Quốc hội, Chủ tịch nước hoặc Chính phủ), vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi bởi sự không rõ ràng trong quy định của Luật Điều ước quốc tế 2016 (Điều 6) Tuy nhiên, thực tế hiện nay Việt Nam tham gia hàng ngàn điều ước quốc tế khác nhau mà có rất hiếm trường hợp có quyết định
áp dụng trực tiếp của các cơ quan có thẩm quyền,6 đồng thời việc nội luật hóa tất cả
và liên tục các điều ước quốc tế mỗi khi Việt Nam ký kết một điều ước quốc tế mới
là tốn kém và tạo sức ép rất lớn cho các cơ quan nhà nước.7 Vì vậy, tác giả đồng ý với quan điểm cần hiểu quy định tại Điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016 theo hướng điều ước quốc tế có thể áp dụng trực tiếp tại Việt Nam một cách tự động, và điều này
là phù hợp với nguyên tắc pacta sunt servanda trong luật quốc tế (Điều 26 Công ước
Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969), cũng như thực tế áp dụng tại Việt Nam Như vậy, theo cách hiểu trên, CISG sẽ được áp dụng trực tiếp tại Việt Nam mà không cần thông qua một quyết định của cơ quan có thẩm quyền nào.8
Trong mối quan hệ giữa CISG và pháp luật Việt Nam, CISG sẽ được áp dụng trong việc xác định vấn đề pháp lý liên quan đến giao kết hợp đồng, quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong hai trường hợp sau
đây: thứ nhất, khi tất cả các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế đều có trụ
sở thương mại tại các quốc gia là thành viên của CISG và các bên không thỏa thuận
luật áp dụng hoặc thỏa thuận lựa chọn CISG (điểm a khoản 1 Điều 1 CISG); thứ hai,
6 Đến hiện nay chỉ có 07 điều ước quốc tế có quyết định áp dụng trực tiếp, xem thêm “Thực tiễn áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế ở Việt Nam”, https://iuscogens-vie.org/2017/10/07/39/, truy cập ngày 19/3/2020
7 Nguyễn Thị Tường Vân (2015), “Vấn đề áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế và quy định của pháp luật Việt
Nam về áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế”, Tạp chí Luật học, số 11/2015, tr 69
8 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ,
Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 56, 57
Trang 15khi một bên là thương nhân Việt Nam và (ít nhất) một bên còn lại có trụ sở thương mại tại quốc gia không là thành viên của CISG nhưng các bên thỏa thuận lựa chọn pháp luật Việt Nam để điều chỉnh quan hệ hợp đồng hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định dẫn chiếu áp dụng pháp luật Việt Nam theo quy tắc tư pháp quốc tế (khoản 2 Điều 1 LTM 2005 và điểm b khoản 1 Điều 1 CISG) Điều này là bởi, khi Việt Nam trở thành thành viên ký kết của CISG, CISG có thể được áp dụng trực tiếp tại Việt Nam và trở thành một bộ phận của pháp luật Việt Nam điều chỉnh các vấn đề mua bán hàng hóa quốc tế trong đó một bên là thương nhân Việt Nam (hoặc có trụ sở thương mại tại Việt Nam).9 Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Việt Nam đã căn cứ Điều 12, Điều 96 CISG để tuyên bố bảo lưu các quy định về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Điều 11 và Điều 29 CISG Tức là, mọi hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, và bất kỳ sửa đổi, bổ sung nào liên quan đến hợp đồng đều phải được thực hiện bằng văn bản hoặc bằng các hình thức khác có giá trị tương đương (khoản 2 Điều 27 LTM 2005)
CISG sẽ không được áp dụng trong trường hợp các bên có thỏa thuận một cách
rõ ràng loại bỏ hiệu lực của CISG đối với hợp đồng, không áp dụng CISG để điều chỉnh hợp đồng Điều này dựa trên nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng, theo đó các bên có quyền tự do lựa chọn luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng, miễn là không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (khoản 2 Điều 5 LTM 2005) Nguyên tắc trên được CISG luật hóa tại Điều 6, các bên có thể loại bỏ áp dụng CISG hoặc hiệu lực của bất kỳ điều khoản nào trong đó Khi đó, pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng nếu các bên thỏa thuận lựa chọn pháp luật Việt Nam để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của mình
1.2 Tổng quan về vi phạm hợp đồng trước thời hạn theo Công ước viên 1980 1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Vi phạm hợp đồng
Hợp đồng là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa
vụ của từ ít nhất 02 (hai) bên trở lên Khi tham gia vào hợp đồng, mỗi bên đều theo đuổi lợi ích của riêng mình, đó có thể là: thu lợi nhuận khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ; có được nguyên liệu để sản xuất hàng hóa; được giải quyết một công việc, vấn đề
cụ thể; và các lợi ích khác Trong một chừng mực những lợi ích theo đuổi là hợp pháp
và đáp ứng được những yêu cầu khác (như hình thức hợp đồng), hợp đồng có hiệu lực và ràng buộc các bên Hợp đồng được sinh ra là nhằm để được thực hiện và mang lại kết quả các bên mong muốn Tuy nhiên, nếu vì một lý do nào đó mà một hoặc các bên từ bỏ hoặc không thể hoàn thành (đầy đủ) nghĩa vụ của mình, đây được xem là
9 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2019), tlđd (8), tr 57
Trang 16vi phạm hợp đồng Theo từ điển Luật học, “vi phạm hợp đồng” được hiểu là “sự không hoàn thành bất kỳ điều khoản nào của hợp đồng, bằng văn bản hoặc lời nói,
mà không có lý do chính đáng”.10 “Không hoàn thành” nghĩa vụ ở đây bao gồm cả những hành vi như không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
Tuy nhiên, khái niệm “vi phạm hợp đồng” mà CISG theo đuổi có phạm vi rộng hơn cách hiểu trên CISG không trực tiếp định nghĩa thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” trong bất kỳ điều luật nào cụ thể, nhưng nội hàm của “vi phạm hợp đồng” theo CISG
có thể được suy luận thông qua các điều khoản liên quan Khoản 1 Điều 45 (và khoản
1 Điều 46) CISG quy định người bán (hoặc người mua) có thể áp dụng các quyền của
mình và chế tài lên người mua (hoặc người bán) nếu bên đó “không hoàn thành được
được bất kỳ nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng mua bán hay Công ước này” Như vậy, đối với các nhà soạn thảo CISG, vi phạm hợp đồng không chỉ bao
phủ nghĩa vụ theo hợp đồng giữa các bên, mà còn gồm cả những nghĩa vụ được quy định trong CISG Tức là, nếu các bên không quy định nghĩa vụ đó trong hợp đồng và CISG có quy định, đồng thời các bên cũng không loại bỏ hiệu lực của CISG, thì việc một bên vi phạm nghĩa vụ này cũng sẽ bị coi là vi phạm hợp đồng và phải chịu các chế tài tương ứng Theo một học giả, Điều 45 cho thấy CISG đang sử dụng cách tiếp cận “khái niệm vi phạm hợp đồng phổ biến, bao gồm tất cả biểu hiện không tuân thủ hợp đồng, như không giao hàng, giao hàng trễ hạn, giao hàng không như mô tả hàng hóa, giao hàng hóa không phù hợp, và tương tự”.11 Thêm vào đó, cách tiếp cận của CISG cũng cho thấy CISG không phân biệt tính chất hay nội dung của nghĩa vụ có liên quan mật thiết đến mục đích chính khi giao kết của các bên hay không Bất kỳ
sự không đáp ứng nào, dù là liên quan trực tiếp hay không trực tiếp đến hoạt động mua, bán hàng hóa, đều cấu thành vi phạm hợp đồng Cách tiếp cận này của CISG là tương thích với khái niệm “vi phạm hợp đồng” của pháp luật thương mại Việt Nam (khoản 12 Điều 3 LTM 2005)
Tuy nhiên, một số chế tài được quy định trong CISG có tính chất khá nghiêm trọng (như hủy bỏ hợp đồng) và sẽ là không hợp lý khi cho các bên được áp dụng một cách tùy tiện với bất kỳ hành vi vi phạm hợp đồng nào Hợp đồng được sinh ra là để tồn tại, được thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho các bên, đây cũng là tiêu chí của các quốc gia khi tham gia vào soạn thảo CISG Vì vậy, pháp luật cần hạn chế những trường hợp áp dụng chế tài nghiêm khắc như vậy, hủy bỏ hợp đồng chỉ nên là biện pháp cuối cùng các bên cân nhắc đến Từ đó, khái niệm “vi phạm cơ bản” ra đời
10 https://dictionary.law.com/Default.aspx?selected=93, truy cập ngày 25/3/2020
11 Jurgen Basedow (2005), Towards a Universal doctrine of breach of contract: The impact of the CISG, 25
International Review of Law and Economics
Trang 17Theo các nhà soạn thảo CISG, “định nghĩa của vi phạm cơ bản hợp đồng rất quan trọng vì nhiều biện pháp khắc phục khác nhau của bên bán và bên mua, cũng như một
số vấn đề liên quan đến chuyển giao rủi ro, là dựa trên vi phạm cơ bản”.12 Trong mối liên hệ với chế định VPHĐTTH, khái niệm vi phạm cơ bản cũng đóng vai trò rất quan trọng, khi đây là một trong những điều kiện bắt buộc phải chứng minh nếu một bên muốn tuyên bố hủy bỏ hợp đồng Để được xem là vi phạm cơ bản, thì hành vi vi phạm hợp đồng đó phải: (i) làm cho bên kia thiệt hại (results in such detriment), bị mất một cách đáng kể điều mà họ có quyền kỳ vọng theo hợp đồng; và (ii) bên vi phạm phải tiên liệu được hoặc bắt buộc phải tiên liệu được hậu quả xảy ra (Điều 25 CISG) Khái niệm này sẽ được phân tích sâu hơn ở Chương 3 nhằm làm rõ điều kiện để áp dụng biện pháp hủy bỏ hợp đồng khi VPHĐTTH xảy ra
1.2.1.2 Vi phạm hợp đồng trước thời hạn
Vi phạm hợp đồng trước thời hạn (thực hiện nghĩa vụ) (anticipatory breach) là một khái niệm không còn xa lạ với pháp luật hợp đồng quốc tế, nhưng vẫn còn khá mới tại Việt Nam Thông thường, một bên chỉ bị coi là vi phạm hợp đồng khi nghĩa
vụ hợp đồng đã đến hạn nhưng bên đó không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Sau thời điểm đó, bên bị vi phạm mới có quyền áp dụng các chế tài, biện pháp khắc phục với bên vi phạm và yêu cầu bồi thường Tuy nhiên, trong một số trường hợp, một bên đã tuyên bố không thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc thể hiện rõ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ (đúng hạn) trước thời điểm đến hạn Nếu bên còn lại phải chờ cho đến khi hết hạn thực hiện nghĩa vụ của bên vi phạm mới được áp dụng các biện pháp khắc phục thì là không hợp lý, có thể làm phát sinh thêm nhiều chi phí khắc phục, tổn thất mà đáng lẽ đã có thể hạn chế được nếu bên bị vi phạm áp dụng ngay các biện pháp cần thiết khi biết rõ bên kia không thể thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn Vì vậy, pháp luật quốc tế (và CISG) cho phép coi việc một bên tuyên bố không thực hiện hợp đồng hoặc cho thấy một cách rõ ràng không có khả năng thực hiện hợp đồng trước hạn của nghĩa vụ là một hành vi vi phạm hợp đồng (trước thời hạn) Điều này giúp cho bên còn lại có thể ngay lập tức
áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo nghĩa vụ sẽ được thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng và dừng việc thực hiện nghĩa vụ của mình, đi tìm đối tác khác để giảm thiểu thiệt hại
Từ những phân tích trên, có thể hiểu một cách chung nhất về khái niệm VPHĐTTH là “hành vi [vi phạm] của một bên đối với hợp đồng trước khi nghĩa vụ của bên đó đến hạn, làm cho bên còn lại được giải phóng khỏi nghĩa vụ hợp đồng”.13
12 United Nations (1991), Official records: documents of the Conference and Summary Records of the
Plenary Meetings and of the Main Committees, tr 26
13 Anselmo Reyes (2018), “Anticipatory Breach in Charterparties”, Tulane Maritime Law Journal, số 43, tr 1
Trang 18Chế định VPHĐTTH trong CISG bao gồm ba (03) điều khoản, Điều 71, Điều 72 và Điều 73 Mỗi điều khoản đề cập đến tình huống, điều kiện áp dụng và hậu quả pháp
lý khác nhau
1.2.1.3 Đặc điểm vi phạm hợp đồng trước thời hạn theo Công ước viên 1980
Từ những quy định tại ba điều luật trên, có thể rút ra được những đặc điểm chung nhất về VPHĐTTH theo CISG như sau:
Thứ nhất, VPHĐTTH được áp dụng cho các bên là chủ thể trong quan hệ hợp
đồng mua bán hàng hóa Điều này là bởi CISG chỉ điều chỉnh những vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa, mà không áp dụng với những hợp đồng thương mại khác như hợp đồng dịch vụ, hợp đồng thuê tài sản
Thứ hai, thời điểm xuất hiện hành vi vi phạm của một bên phải trước thời hạn
thực hiện nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng và sau khi các bên ký kết hợp đồng, hoặc đã xuất hiện tại thời điểm ký kết nhưng bên bị vi phạm không biết và không thể biết đến tình trạng đó “Trước thời hạn” là đặc điểm quan trọng nhất của chế định này giúp phân biệt được với những vi phạm nghĩa vụ đến hạn thông thường Việc vi phạm nghĩa vụ đến hạn hay trước hạn sẽ kéo theo những hậu quả pháp lý, biện pháp khắc phục khác nhau và đòi hỏi những điều kiện cần đáp ứng cũng như mức độ nghiêm trọng của vi phạm khác nhau Ví dụ, khi nghĩa vụ đến hạn, việc vi phạm bất kỳ nghĩa
vụ nào của một bên cũng làm phát sinh quyền áp dụng biện pháp khắc phục của bên còn lại Còn đối với vi phạm trước hạn, một bên phải vi phạm một phần đáng kể (substantial và fundamental) nghĩa vụ hợp đồng mới kéo theo quyền khắc phục của bên kia Trong mối tương quan với thời điểm ký kết hợp đồng, nếu bên bị vi phạm đã biết (hoặc bắt buộc phải biết) về tình trạng không thể thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng của bên còn lại khi đến hạn mà vẫn giao kết, thì phải xem như bên đó đã chấp nhận rủi ro và việc bên còn lại không thực hiện được nghĩa vụ đến hạn đã được các bên dự liệu trước và không còn bị xem là vi phạm hợp đồng
Thứ ba, hình thức của vi phạm trước thời hạn có thể được thể hiện qua một
tuyên bố rõ ràng của một bên sẽ không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, thông qua khả năng thực hiện hoặc uy tín bị khiếm khuyết nghiêm trọng hoặc sự thiếu chuẩn bị của một bên cho thấy rõ ràng một bên sẽ không thể thực hiện được nghĩa vụ khi đến hạn
Có thể thấy, phạm vi áp dụng VPHĐTTH của CISG rất rộng, bao quát hầu hết mọi trường hợp có thể xảy ra Tuyên bố thoái thác nghĩa vụ của một bên sẽ ngay lập tức trở thành vi phạm mà không cần biết thực tế bên đó có thể thực hiện được hay không hay có thực hiện khi đến hạn hay không Yếu tố nguyên nhân gây ra sự khiếm khuyết hoặc sự thiếu chuẩn bị nói trên không được CISG đề cập đến
Trang 19Thứ tư, để bị xem là vi phạm trước thời hạn (hay nói cách khác, để áp dụng
chế định này), nghĩa vụ bị vi phạm phải đáng kể (substantial) hoặc cơ bản (fundamental) CISG không cho phép áp dụng các biện pháp khắc phục đối với VPHĐTTH khi những nghĩa vụ có thể bị vi phạm chỉ là những nghĩa vụ không đáng
kể, không tác động nhiều tới lợi ích của các bên khi giao kết hợp đồng Bởi như đã trình bày, CISG hướng tới mục đích giúp cho hợp đồng được duy trì lâu dài và được tôn trọng thực hiện Việc cho phép một bên được áp dụng những chế tài đối với bên còn lại khi hợp đồng còn chưa đến hạn được xem như một ngoại lệ đặc biệt, nên chế tài chỉ nên được sử dụng khi nghĩa vụ (có thể bị vi phạm) đó ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích các bên hướng tới khi tham gia vào hợp đồng, đảm bảo nguyên tắc thiện chí trong thực hiện hợp đồng
Thứ năm, bên bị vi phạm phải có cơ sở hợp lý, xác đáng cho những suy luận
hay kết luận của mình Những suy luận thiếu căn cứ hoặc từ những căn cứ không có thực sẽ không làm phát sinh quyền áp dụng biện pháp khắc phục Mức độ rõ ràng của căn cứ mà CISG yêu cầu sẽ tùy thuộc vào chế tài mà bên bị vi phạm dự định áp dụng
Ví dụ, để áp dụng tạm ngừng thực hiện hợp đồng, thì CISG chỉ yêu cầu “có dấu hiệu” (it becomes apparent) cho thấy một bên sẽ vi phạm (một phần đáng kể) hợp đồng Còn hủy bỏ hợp đồng chỉ được áp dụng khi có cơ sở “rõ ràng” (it is clear) một bên sẽ
vi phạm (cơ bản) hợp đồng Ngoài ra, những suy luận cảm tính, chủ quan sẽ không được xem xét Việc nhìn nhận, đánh giá phải mang tính khách quan
Vì vi phạm trước thời hạn cũng được xem như một vi phạm hợp đồng bình thường, nên vẫn có thể gây ra thiệt hại cho đối tác và phải chịu các chế tài Đối với các vi phạm hợp đồng khi đến hạn truyền thống, CISG cho phép bên bị vi phạm áp dụng những chế tài như buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại Tuy vậy, đối với những vi phạm trước thời hạn, các nhà soạn thảo CISG chỉ nêu ra chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng (Điều 71) và hủy bỏ hợp đồng (Điều 72, Điều 73)
Đối với chế tài buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng, tác giả cho rằng việc CISG không đề cập đến chế tài này trong chế định VPHĐTTH là hợp lý Bởi lẽ, khi nghĩa
vụ chưa đến hạn mà một bên thấy rằng bên kia có dấu hiệu không thể thực hiện được nghĩa vụ, điều mà bên bị vi phạm cần làm là tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ đối ứng hoặc phát hành một thông báo nêu ý định muốn hủy bỏ hợp đồng, đồng thời yêu cầu bên kia cung cấp sự đảm bảo rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ đúng hạn Nếu bên vi phạm không thể đảm bảo sẽ thực hiện hợp đồng, thì bên bị vi phạm cần hủy bỏ ngay hợp đồng và thực hiện các biện pháp khắc phục để giảm thiểu hậu quả, phù hợp với
Trang 20nguyên tắc hạn chế tổn thất theo Điều 77 CISG.14 Việc buộc tiếp tục thực hiện thời điểm này là không hợp lý và không phù hợp với nguyên tắc hạn chế tổn thất, vì bên
vi phạm đã cho thấy rõ không có khả năng thực hiện và bên bị vi phạm có thể gánh chịu hậu quả nặng nề hơn mà đáng lẽ đã có thể giảm thiểu được nếu hủy bỏ hợp đồng Điều này có thể làm cho cơ quan giải quyết tranh chấp không chấp nhận yêu cầu bồi thường của bên bị vi phạm tương ứng với khoản tổn thất đáng lẽ có thể được hạn chế
Về chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại, dù không đề cập trực tiếp bên bị vi phạm được quyền áp dụng chế tài này trong Điều 71 đến Điều 73, nhưng bên bị vi phạm vẫn có quyền buộc bên vi phạm phải bồi thường cho những tổn thất mà hành
vi vi phạm hợp đồng (trước thời hạn) gây ra Bởi VPHĐTTH được xem là một vi phạm hợp đồng, như vậy, người bán hoặc người mua có thể áp dụng yêu cầu bồi thường thiệt hại là một quyền được quy định tại CISG (điểm b khoản 1, khoản 2 Điều
45 và điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 61) đồng thời khi sử dụng các biện pháp bảo hộ pháp lý khác Điều này là hoàn toàn phù hợp, hợp lý theo nguyên tắc bên gây ra thiệt hại phải bồi thường, đảm bảo sự công bằng, nghiêm túc trong giao thương
Đối với chế tài phạt vi phạm được quy định trong một số hệ thống pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, CISG không ghi nhận chế tài này Tuy vậy, theo một
số tác giả, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận điều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng và CISG không phủ nhận giá trị pháp lý của điều khoản này Theo Điều 6 CISG, các bên có thể loại trừ bất kỳ điều khoản nào hoặc sửa đổi hiệu lực của các điều khoản
đó Nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các bên được CISG thừa nhận Như vậy, không có lý do gì để CISG bác bỏ hiệu lực của điều khoản phạt vi phạm được các bên đồng ý, vốn được sinh ra là để khuyến khích sự tôn trọng nghĩa vụ của các bên Hơn nữa, bản thân CISG cũng không điều chỉnh vấn đề hiệu lực của hợp đồng hay của bất cứ điều khoản nào (điểm a Điều 4), nên điều khoản phạt vi phạm được áp dụng hay không sẽ phụ thuộc vào quy định của pháp luật quốc gia (được các bên lựa chọn hay được dẫn chiếu tới theo quy tắc tư pháp quốc tế) hoặc của các điều ước quốc
tế khác.15
1.2.2 Lịch sử hình thành học thuyết vi phạm hợp đồng trước thời hạn
Dù không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, thiết nghĩ những vấn đề cốt lõi của học thuyết VPHĐTTH như nguồn gốc hình thành, những vấn đề pháp lý xung quanh và nguyên tắc chung trong các hệ thống luật cũng cần được điểm qua để làm rõ bản chất của VPHĐTTH Từ đó, làm nền tảng để nghiên cứu, phân tích nguồn
14 Điều 77 CISG: “Bên nào viện dẫn sự vi phạm hợp đồng của bên kia thì phải áp dụng những biện pháp hợp
lý căn cứ vào các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất ( )”
15 Nguyễn Minh Hằng (chủ nhiệm đề tài), “Phạt vi phạm và CISG”, cisg/, truy cập ngày 12/3/2020
Trang 21https://cisgvn.com/phat-vi-pham-va-gốc hình thành, mục đích và cách áp dụng những quy định pháp lý của VPHĐTTH trong CISG
Học thuyết VPHĐTTH (the doctrine of anticipatory breach of contract) xuất
phát từ một án lệ nổi tiếng của nước Anh là Hochster v De La Tour năm 1853 Trong
vụ án này, ông De La Tour và ông Hochster ký kết một thỏa thuận lao động, theo đó ông Hochster sẽ là người tùy tùng và di chuyển cùng với ông De La Tour tại Châu
Âu vào ngày 01/6/1852 Tuy nhiên, ngày 11/5/1852, ông De La Tour đã gửi thông báo cho ông Hochster chấm dứt hợp đồng Ngày 22/5/1852, ông Hochster khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại vì vi phạm hợp đồng trước hạn Ông De La Tour cho rằng không thể khởi kiện khi chưa đến thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng Hai vấn
đề mà Tòa án cần làm rõ đó là: (i) liệu rằng việc một bên từ chối thực hiện hợp đồng
trước thời hạn phải thực hiện có làm phát sinh quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên còn lại hay không; và (ii) liệu vi phạm này có đủ để một bên khởi kiện trước ngày phải thực hiện nghĩa vụ hay không
Sau khi xem xét, Tòa án đưa ra phán quyết rằng khi hợp đồng đưa ra một cam kết thực hiện công việc trong tương lai, bên từ bỏ cam kết sẽ chịu trách nhiệm vì vi
phạm hợp đồng Hơn nữa, cam kết thực hiện công việc trong tương lai tạo nên cam kết ngầm định rằng không bên nào sẽ làm tổn hại đến khả năng thực hiện cam kết
trong hợp đồng Từ cơ sở đó, Tòa án bác bỏ lập luận của Bị đơn rằng việc tuyên bố
từ bỏ chỉ tương đương một đề nghị chấm dứt hợp đồng, và rằng nếu bên Nguyên đồng
ý với đề nghị trên thì bên Nguyên sẽ không có quyền khởi kiện, còn nếu bên Nguyên không đồng ý thì bên Nguyên phải sẵn sàng thực hiện hợp đồng, hay nói cách khác, đợi cho đến hết thời hạn hợp đồng mới được khởi kiện Việc chối bỏ nghĩa vụ hợp đồng trước thời hạn bởi một bên ngay lập tức làm mất hiệu lực nghĩa vụ của bên còn
lại, và “không có lý do gì để yêu cầu bên còn lại phải đợi cho đến khi thời hạn nghĩa
vụ đến mới được áp dụng các biện pháp khắc phục” Vì vậy, bên tuyên bố từ bỏ hợp
đồng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đưa ra bởi bên bị vi phạm Trên những lập luận đó, Tòa án tuyên bố ông Hochster thắng kiện.16
Án lệ trên đã vấp phải một số sự phản đối đến từ các học giả Tiêu biểu trong
số đó là ba luận điểm sau: một là, sẽ không logic khi cho rằng vi phạm cam kết đã xảy ra khi chưa có sự vi phạm thời hạn thực hiện trong hợp đồng; hai là, sẽ không
công bằng cho Bị đơn khi buộc anh ta phải chịu bồi thường cho việc vi phạm cam kết
mà anh ta chưa từng làm; và ba là, việc cho phép khởi kiện vào thời điểm trước thời
hạn thỏa thuận trong hợp đồng sẽ làm việc tính toán thiệt hại khó khăn hơn.17
16 https://www.lawteacher.net/cases/hochster-v-de-la-tour.php, truy cập ngày 20/3/2020
17 David W Robert (1959), The doctrine of anticipatory breach of contract, 20 La L Rev., tr 120, 121
Trang 22Đối với luận điểm phản đối thứ nhất và thứ hai, một số học giả cho rằng: “luật
pháp là một công cụ để thực thi công lý, chứ không phải một sản phẩm của logic
những nghĩa vụ (ngầm định) phát sinh từ cam kết đó Khi các bên thỏa thuận cam kết, thì họ cũng có nghĩa vụ đảm bảo rằng lợi ích của đối tác không bị tổn hại, và đảm bảo niềm tin của đối tác về hiệu lực của hợp đồng được tồn tại một cách đầy đủ cho đến hết thời hạn nghĩa vụ Vì vậy, khi một hành động có thể dẫn đến cam kết không được thực hiện, thì niềm tin của bên còn lại vào hiệu lực của hợp đồng và việc thực hiện cam kết không còn hoặc không được bảo đảm, tức là quyền (lợi ích) của họ đã
bị ảnh hưởng.19 Vi phạm ở đây là vi phạm những nghĩa vụ phát sinh từ cam kết, chứ không phải vi phạm cam kết thỏa thuận bởi các bên Từ cơ sở đó, việc khởi kiện đòi bồi thường với những trường hợp như trên không phải bởi vì bên còn lại đã vi phạm nghĩa vụ cam kết, mà bởi vi phạm nghĩa vụ bảo đảm niềm tin của đối tác vào hợp đồng.20
Đối với luận điểm phản đối thứ ba, một học giả đã đưa ra hai quan điểm để làm rõ vấn đề trên.21 Đầu tiên, trong hầu hết các trường hợp, mặc dù việc khởi kiện được thực hiện trước thời điểm đến hạn hợp đồng, phán quyết sẽ được tuyên vào sau thời điểm đến hạn, xuất phát từ tiến trình chậm, kéo dài của trình tự tố tụng Thứ hai, những vụ việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng yêu cầu phải tính toán thiệt hại mà bên bị thiệt hại phải gánh chịu trong tương lai, và không có cơ sở để cho rằng việc tính toán thiệt hại trong những trường hợp vi phạm hợp đồng trước hạn sẽ khó khăn hơn so với những trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trải qua quá trình xem xét và phản biện, học thuyết VPHĐTTH đã bắt đầu xây dựng được chỗ đứng cho nó trong lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật Một số vấn đề pháp lý đã được thống nhất cách hiểu, tuy nhiên một số vấn đề còn lại vẫn còn đang bị vướng mắc và có những cách tiếp cận khác nhau Chẳng hạn, đối với hình thức biểu thị của VPHĐTTH, nguyên tắc chung là bất kỳ sự biểu thị rõ ràng nào, dù
là minh thị hay ngầm định, hoặc thiếu khả năng thực hiện hợp đồng, hoặc việc một bên làm cho việc thực hiện hợp đồng là không thể, đều đủ để cấu thành nên VPHĐTTH.22 Ngoài ra, tại các hệ thống Thông luật (Common law) như Anh và Mỹ, tồn tại hai nguyên tắc được xem như những nguyên tắc cơ bản của học thuyết
VPHĐTTH Thứ nhất, bên bị vi phạm được quyền khởi kiện ngay lập tức khi một
18 Corbin (1951), Contracts, tr 961, xem thêm tại David W Robert (1959), tlđd (17), tr 121
19 Henry Winthrop Ballantine (1924), Anticipatory breach and the Enforcement of Contractual Duties,
Michigan Law Review 22, số 4, tr 330, 331
20 David W Robert (1959), tlđd (17), tr 121
21 Corbin (1951), Contracts, tr 961, xem thêm tại David W Robert (1959), tlđd (17), tr 121
22 David W Robert (1959), tlđd (17), tr 124
Trang 23bên VPHĐTTH, dù thời điểm khởi kiện là trước khi đến hạn hợp đồng Điều này đã được lý giải bởi những lập luận đã nêu ở trên, sẽ là không cần thiết khi bắt một bên phải chờ cho đến khi hết hạn hợp đồng khi mà lợi ích của họ rõ ràng đã bị vi phạm Không những thế, việc chờ cho đến khi hết hạn hợp đồng có thể gây ra những thiệt hại phát sinh cho cả bên vi phạm và bên bị vi phạm, vi phạm nguyên tắc hạn chế tổn
thất Thứ hai, bên bị vi phạm có thể hủy hợp đồng hoặc ngừng ngay lập tức những
công việc chuẩn bị cho việc thực hiện hợp đồng và không cần tiếp tục thực hiện nghĩa
vụ, mà không ảnh hưởng đến quyền đối kháng với bên vi phạm, hoặc có thể lựa chọn cách phớt lờ sự vi phạm đó cho đến hạn của hợp đồng (phụ thuộc vào việc nguyên tắc hạn chế tổn thất có được áp dụng hay không) Việc thể hiện rõ không thực hiện (hoặc không thể thực hiện) nghĩa vụ hợp đồng khi đến hạn sẽ giải phóng bên còn lại khỏi những nghĩa vụ hợp đồng Sẽ là vô ích và không hợp lý khi pháp luật buộc bên còn lại vẫn phải chuẩn bị và sẵn sàng thực hiện hợp đồng như trường hợp không có
vi phạm trước thời hạn xảy ra.23
Tuy nhiên, những vấn đề khác như học thuyết này có được áp dụng cho hợp đồng đơn phương không (là hợp đồng chỉ một bên có cam kết cần thực hiện), bên vi phạm có quyền thu hồi lại tuyên bố từ bỏ nghĩa vụ hợp đồng hay không, hay phương pháp tính thiệt hại như thế nào vẫn đang là những vấn đề pháp lý còn gây tranh cãi
và khác biệt ở những hệ thống pháp luật khác nhau, cần những nghiên cứu chuyên sâu để đi đến sự thống nhất
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Việc Việt Nam tham gia vào CISG đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của Việt Nam tham gia vào nền kinh tế thương mại thế giới VPHĐTTH là một chế định nằm trong CISG và còn khá mới mẻ tại Việt Nam Việc hiểu rõ đặc điểm chung của chế định và lịch sử hình thành học thuyết VPHĐTTH sẽ là nền tảng giúp cho việc nắm bắt những vấn đề pháp lý chuyên sâu tại Chương 2 và Chương 3 dễ dàng hơn
23 Keith A Rowley (2001), A brief history of Anticipatory Repudiation in American Contract Law, 69 U Cin
L Rev 565, tr 568
Trang 24CHƯƠNG 2: TẠM NGỪNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980
2.1 Mục đích áp dụng
Khi tiến hành soạn thảo CISG, các nhà soạn thảo đã dựa vào Uniform Law on the International Sale of Goods (1964) (ULIS) để làm nguồn luật cơ sở cho CISG Điều 71 CISG về tạm ngừng thực hiện hợp đồng do VPHĐTTH lấy cảm hứng từ Điều 73 ULIS Như đã đề cập, hai mục đích chính của CISG là thúc đẩy sự thiện chí, trung thực và nghiêm túc trong giao thương quốc tế, cũng như hạn chế tối đa tranh tụng không cần thiết.24 Việc thừa nhận quyền tạm ngừng (cũng như hủy bỏ hợp đồng) khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng có vẻ như đã đi ngược lại hai mục đích trên Tuy nhiên, các chuyên gia quốc tế cho rằng cần thiết phải có quy định điều chỉnh trong trường hợp có khả năng cao một bên của hợp đồng sẽ không thực hiện một phần đáng kể nghĩa vụ của họ, và “sẽ không phù hợp khi bên còn lại bị buộc phải tiếp tục nghĩa vụ của họ theo hợp đồng, khi mà điều này có thể làm phát sinh những tổn thất không thể thu hồi”.25 Nhưng tất cả các quốc gia cũng nhận thấy rằng cho phép các bên áp dụng những chế tài một cách tùy tiện bất cứ khi nào họ nghi ngờ rằng bên còn lại có thể vi phạm hợp đồng trong tương lai (dù là không đáng kể) cũng
sẽ tạo ra sự không công bằng và không hợp lý trong quan hệ hợp đồng Vì vậy, vấn
đề gây tranh cãi và cần sự thảo luận không phải là có đưa điều khoản này vào CISG hay không, mà là làm sao để vừa đảm bảo một bên được bảo vệ trước vi phạm (trước thời hạn) của bên kia, nhưng không tạo ra sự lạm dụng quyền quá mức Nên nguyên tắc chính khi tiến hành thảo luận sửa đổi, bổ sung điều khoản trên chính là phải cân bằng được sự đối lập đó, và căn cứ để một bên được quyền áp dụng các biện pháp khắc phục phải “khách quan hết mức có thể”.26 Nhưng các chuyên gia cũng nhận thức một cách rõ ràng rằng điều khoản này được tạo ra để điều chỉnh cho một VPHĐTTH, tức là một vi phạm có khả năng xảy ra trong tương lai dựa trên căn cứ của hiện tại, nên chắc chắn việc áp dụng điều khoản cũng sẽ không tránh khỏi những đánh giá mang tính chủ quan của bên tạm ngừng hợp đồng, và điều luật sẽ không hoàn toàn loại bỏ yếu tố này bởi nếu không điều khoản sẽ không thể thực thi được trên thực tế.27
2.2 Điều kiện áp dụng
Khoản 1 Điều 71 CISG đặt ra ba (03) điều kiện chung nhất phải đáp ứng để một bên có thể áp dụng biện pháp tạm ngừng thực hiện hợp đồng khi bên kia VPHĐTTH, đó là: (i) Mức độ chắc chắn của vi phạm hợp đồng trước hạn; (ii) Mức
24 Xem mục 1.1
25 Trevor Bennett (1987), Comment on Article 71, Bianca-Bonell Commentary on the International Sales –
The 1980 Vienna Sales Convention, Dott A Giuffrè Editore, tr 517
26 Trevor Bennett (1987), tlđd (26), tr 513 và Yearbook, V (1974), tr 38
27 Trevor Bennett (1987), tlđd (26), tr 513
Trang 25độ/ tính chất của vi phạm; và (iii) Những dấu hiệu (cụ thể) cho thấy có khả năng vi phạm Phần trình bày dưới đây sẽ phân tích cụ thể từng điều kiện chung và bổ sung thêm những điều kiện riêng đối với các trường hợp cụ thể được CISG quy định
2.2.1 Mức độ chắc chắn của vi phạm trước thời hạn
Khi đề cập đến mức độ chắc chắn của vi phạm trước thời hạn, tức tác giả đang muốn nhấn mạnh khả năng từ những căn cứ có được để một bên có thể đi đến kết luận vi phạm hợp đồng sẽ xảy ra Khoản 1 Điều 71 CISG yêu cầu bên tạm ngừng hợp
đồng phải cho thấy “có dấu hiệu” (it becomes apparent) rằng một vi phạm hợp đồng
sẽ xảy ra Vấn đề đầu tiên đặt ra ở đây là liệu đánh giá mang tính chủ quan của một bên về căn cứ họ có được có được chấp nhận hay không? Hay nói cách khác, Tòa án
có dựa vào đánh giá chủ quan của bên tạm ngừng để cho rằng điều kiện thứ nhất này
đã được đáp ứng hay không? Lý luận và thực tiễn xét xử đều thống nhất rằng đánh giá chủ quan của một bên sẽ không đủ để chứng minh có dấu hiệu cho thấy vi phạm
sẽ xảy ra
Trong vụ Malaysia Dairy Industries v Dairex Holland được giải quyết bởi
Tòa án Netherlands,28 Nguyên đơn (Malaysia Dairy Indistries – Singapore) và Bị đơn (Dairex Holland – Hà Lan) ký kết tổng cộng 7 hợp đồng với tổng trị giá hơn 2 triệu Đô-la Mỹ từ tháng 10/1994 đến tháng 04/1995 Trong đó, Bị đơn (bên bán) có nghĩa
vụ cung cấp bột sữa với hàm lượng phóng xạ tối đa bằng 10 BQ cho Nguyên đơn tại Singapore Trước đó, năm 1986, Bộ Môi trường Singapore ban hành lệnh cấm nhập khẩu những thực phẩm bị nhiễm một số chất phóng xạ Iodine 131, Caesium 134, Caesium 137 và Strontium 90, nhưng không có giải thích cụ thể (Đoạn 2(a), 2(b) và 2(c)) Nguyên đơn đã nhiều lần đốc thúc Bị đơn phải giao hàng như đúng thỏa thuận, nhưng Bị đơn đã không hoàn thành nghĩa vụ của mình và viện dẫn Điều 71.1(b) CISG
để cho rằng mình có quyền tạm ngừng do lo ngại bên phía Singapore sẽ không thể nhận hàng Tuy nhiên, Tòa án đã bác bỏ lập luận của Bị đơn, cho rằng Điều 71.1(b) chỉ được áp dụng khi Bị đơn chứng minh được rằng Nguyên đơn không thể thực hiện
một phần đáng kể nghĩa vụ của mình Theo Tòa án, “không có căn cứ nào cho rằng
nhà chức trách Singapore sẽ từ chối nhập khẩu bột sữa với mức phóng xạ 10 BQ/kg”,
và rằng “bên mua đã chuẩn bị sẵn sàng nhận giao bột sữa tại Singapore, [ ] bên
mua đã đề xuất nhận bột tại Khu vực Thương mại Tự do sau khi bên bán thông báo
sự lo ngại của mình về khả năng hư hại của bột” (Đoạn 4.12) Tức là, Nguyên đơn
đã thực hiện các biện pháp cần thiết để Bị đơn có thể giao hàng Như vậy, “không có
28 Malaysia Dairy Industries v Dairex Holland, Case no 9981/HAZA 95-2299, District Court’s –
Hertogenbosch, Decision dated 02/10/1998, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/981002n1.html, truy cập ngày 10/4/2020
Trang 26căn cứ nào để lo sợ rằng bên còn lại [tức bên mua] sẽ không thực hiện một phần đáng kể nghĩa vụ của mình”
Như vậy, việc đi đến kết luận vi phạm có thể xảy ra hay không trong tương lai phải mang tính khách quan “Lo sợ mang tính chủ quan sẽ không đáp ứng điều kiện
để tạm ngừng; phải có những căn cứ khách quan cho thấy rằng khả năng cao vi phạm
sẽ xảy ra”.29 Xét trong bản án trên, sự lo sợ chủ quan của Bị đơn rằng bên Nguyên đơn sẽ không thể thực hiện nghĩa vụ của mình do quy định của cơ quan nhà nước Singapore là hoàn toàn không có cơ sở, nên quyền tạm ngừng không phát sinh Điều này là hoàn toàn hợp lý, bởi nguyên tắc tiên quyết khi Điều 71 được soạn thảo đó là căn cứ để một bên áp dụng biện pháp khắc phục phải khách quan hết mức có thể (mục 2.1) Khoản 2 Điều 7 CISG quy định nếu có vấn đề nào của CISG không rõ ràng thì
“sẽ được giải quyết theo nguyên tắc chung mà từ đó Công ước được hình thành”
Như vậy, dù tính khách quan không được trực tiếp đề cập tại điều khoản, nhưng đây chính là tinh thần, mục đích của các quốc gia thành viên khi tiến hành đưa Điều 71 vào CISG, và sẽ được áp dụng để giải thích điều khoản Tuy vậy, CISG cũng không
có câu trả lời rõ ràng như thế nào được xem là khách quan Một chuyên gia đã đưa ra quan điểm mà tác giả rất đồng tình rằng “dấu hiệu cho thấy [một bên] không có khả năng thực hiện nghĩa vụ phải không chỉ gợi lên lo sợ chủ quan mà còn phải làm cho những người quan sát khách quan (objective observers) nhìn thấy rằng nghĩa vụ sẽ không được thực hiện” và người này phải “có lý trí” (reasonable person).30 Ngoài ra, người quan sát “khách quan và có lý trí này” cần là người có kinh nghiệm trong ngành nghề thương mại quốc tế tương tự như của các bên31 dựa trên những tiêu chuẩn kinh doanh thông thường32, bởi ý kiến của một người hoàn toàn không hiểu, hay chưa từng
có hoạt động nào liên quan đến lĩnh vực này sẽ không đáng tin cậy trong hoàn cảnh trên
Một vấn đề khác cần làm rõ, Điều 71 có yêu cầu vi phạm trước thời hạn phải chắc chắn sẽ xảy ra hay không? Tức là có yêu cầu mức độ chắc chắn là 100% hay không? Việc hoàn toàn loại bỏ yếu tố chủ quan là điều không thể, bởi Tòa án vẫn phải xem xét đến cách nhìn nhận của bên tạm ngừng Thông thường, bên có ý định tạm ngừng không thể nào đánh giá một cách chính xác khả năng nghĩa vụ có được thực hiện hay không bởi họ sẽ bị hạn chế tiếp cận các chứng cứ cần thiết để khẳng
29 John O Honnold (1999), Uniform Law for International Sales under the 1980 United Nations Convention,
Kluwer Law International, tr 429, http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/honnold.html, truy cập ngày 10/4/2020
30 Peter Schlechtriem (1986), Uniform sales law – The UN-Convention on contracts for the International Sale
of Goods, Manz (Vienna), tr 93, http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/schlechtriem.html, truy cập ngày
10/4/2020
31 Mercédeh Azeredo da Silveira (2005), tlđd (2), tr 4
32 Trevor Bennett (1987), tlđd (26), tr 521
Trang 27định điều đó, họ chỉ có thể dựa trên những gì mình có được để đưa ra nhận định.33
Nên yêu cầu mức độ chắc chắn hoàn toàn là không khả thi và có thể dẫn đến giới hạn nghiêm trọng quyền tạm ngừng hợp đồng.34 Ngoài ra, việc tạm ngừng hợp đồng là nhằm mục đích yêu cầu bên có dấu hiệu vi phạm cung cấp các đảm bảo cần thiết chứng minh họ sẽ thực hiện nghĩa vụ hợp đồng (được phân tích tại mục 2.4.1), tức vẫn có khả năng nghĩa vụ được thực hiện đúng hạn Vì vậy, việc hiểu điều khoản theo hướng bắt buộc chắc chắn xảy ra là không phù hợp, làm cho yêu cầu cung cấp đảm bảo trở nên không có ý nghĩa Thêm vào đó, ngôn từ của điều khoản chỉ là “có dấu hiệu cho thấy rằng”, chứ không phải “chắc chắn” hay “hiển nhiên” (clear) (như trong trường hợp hủy hợp đồng của Điều 72 CISG), và chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng cũng không quá nghiêm trọng như hủy bỏ hợp đồng, nên mức độ chắc chắn cho thấy khả năng vi phạm xảy ra được yêu cầu sẽ thấp hơn và vi phạm không nhất thiết phải chắc chắn xảy ra
Tuy nhiên, quyền tạm ngừng trên chỉ phát sinh khi những căn cứ mà bên tạm ngừng dựa vào là đúng và chính xác Theo một tác giả, “khi bên tạm ngừng chứng minh được rằng những thông tin mà họ có được là đúng, rủi ro sẽ thuộc về bên còn lại Nhưng nếu bên tạm ngừng từ chối thực hiện hợp đồng mà không có căn cứ, thì hành vi này cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng”.35
2.2.2 Mức độ, tính chất của vi phạm trước thời hạn
Để tạm ngừng hợp đồng trước thời hạn, bên tạm ngừng phải chứng minh được bên còn lại sẽ không thực hiện “một phần đáng kể” (a substantial part) nghĩa vụ của mình CISG không cho phép áp dụng chế tài trong những trường hợp vi phạm nghĩa
vụ nhỏ nhặt, thứ yếu đối với vi phạm trước hạn36, khi mà những vi phạm này còn không chắc chắn xảy ra và sẽ không đe dọa lớn đến lợi ích của bên kia Mục đích cuối cùng của CISG vẫn là nhằm thúc đẩy giao thương quốc tế trong sự thiện chí, trung thực Nên chỉ khi nghĩa vụ có khả năng không được thực hiện là “đáng kể” và
có tác động lớn đến lợi ích của các bên khi giao kết hợp đồng, quyền tạm ngừng mới phát sinh để tránh gây thêm những tổn thất không đáng có
Tuy vậy, CISG không đưa ra bất kỳ định nghĩa nào giải thích “một phần đáng kể” nghĩa vụ được hiểu như thế nào Điều này dẫn đến rất nhiều nỗ lực đã được đưa
ra bởi các chuyên gia luật và các thẩm phán, trọng tài nhằm giải thích nghĩa vụ nào
là “một phần đáng kể” Một số học giả cho rằng nghĩa vụ (bị cho là sẽ vi phạm) có đáng kể hay không sẽ phụ thuộc vào mức độ quan trọng của nghĩa vụ đó với bên có
33 Mercédeh Azeredo da Silveira (2005), tlđd (2), tr 5
34 Trevor Bennett (1987), tlđd (26), tr 518
35 Liu Chengwei (2003), Remedies for Non-performance –Perspective from CISG, UNIDROIT Principles and
PECL, CISG Database, Pace Institute of International Commercial Law, tr 134
36 Peter Schlechtriem (1986), tlđd (31), tr 92
Trang 28quyền đối ứng.37 Và các bên phải làm rõ vấn đề này tại thời điểm ký kết hợp đồng, hay bên có nghĩa vụ phải nhận thức được hoặc bắt buộc phải nhận thức được tầm quan trọng của nghĩa vụ đó với bên còn lại.38 Cách giải thích trên mang yếu tố hợp
lý, bởi dù là vi phạm “một phần đáng kể” nghĩa vụ hay “vi phạm cơ bản” thì đều đang
đề cập đến tính chất nghiêm trọng của nghĩa vụ bị vi phạm Khi xác định “vi phạm
cơ bản”, cơ quan xét xử phải xem xét đến “cái mà bên bị vi phạm bị mất mà họ có
quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng” trong “một chừng mực đáng kể” (Điều 25 CISG),
dựa vào mức độ quan trọng, thiết yếu của nghĩa vụ đó đối với bên bị vi phạm, nên thiết nghĩ cần áp dụng cách xác định tương tự cho vi phạm “một phần đáng kể” nghĩa
vụ hợp đồng Nhưng cụ thể “một phần đáng kể” nghĩa vụ là gì thì đến hiện tại vẫn chưa có sự nhất quán, buộc các trọng tài viên hay thẩm phán phải xem xét bản chất của hợp đồng, ngôn từ hợp đồng để đưa ra nhận định của mình dựa trên những tình huống cụ thể Vì vậy, lời khuyên cho các doanh nghiệp là cần thể hiện rõ trong hợp đồng nghĩa vụ nào là nghĩa vụ “đáng kể” và mức độ quan trọng của nghĩa vụ đó đối với các bên
Trong vụ Auto-Moto Styl S.R.O v Pedro Boat B.V,39 Bị đơn (Pedro Boat B.V – bên bán) có nghĩa vụ phải chuyển giao quyền sở hữu tàu biển cho Nguyên đơn (Auto-Moto Styl S.R.O – bên mua sau khi được chuyển quyền) sau khi đã được thanh toán 50% giá trị con tàu Ngược lại, Nguyên đơn sẽ phải thanh toán tiếp 25% sau khi các phần gỗ và sơn nước hoàn thành Ngày 24/4/2003, Nguyên đơn đã thanh toán 50% giá trị Tuy nhiên, lấy lý do Bị đơn chưa chuyển giao quyền sở hữu (quyền sở hữu được chuyển giao ngày 02/2/2004) và con tàu không thể xuống biển được vào cuối tháng 6/2003, Nguyên đơn từ chối thanh toán tiếp các khoản còn lại dù Bị đơn
đã hoàn thành phần gỗ và sơn nước Tòa án cho rằng Nguyên đơn không có quyền tạm ngừng nghĩa vụ thanh toán theo Điều 71 CISG dựa trên căn cứ rằng việc chuyển giao quyền sở hữu không đúng hạn, bởi Nguyên đơn không chứng minh được đã chịu bất kỳ thiệt hại gì từ việc trễ hạn, và “không tồn tại vi phạm cơ bản” từ việc con tàu xuống biển trễ hạn (mục 2.6.4.1 và 2.6.4.2) Tuy không đưa ra các lập luận cụ thể việc trễ hạn của bên bán có cấu thành vi phạm đáng kể hay không, nhưng từ việc đưa
ra nhận định bên mua không chịu ảnh hưởng gì lớn từ hành vi vi phạm của bên bán
và kết luận rằng quyền tạm ngừng chưa phát sinh, Tòa án đã ngầm thừa nhận rằng vi phạm của bên bán là chưa đáng kể Rõ ràng, ở đây Tòa án đã xem xét đến mức độ
37 Peter Schlechtriem (1986), tlđd (31), tr 92
38 Peter Schlechtriem (1986), tlđd (31), tr 93
39 Auto-Moto Styl S.R.O v Pedro Boat B.V, Case no Rolnummer 0400549, Leeuwarden Appellate Court of
Netherlands, Decision dated 31/8/2005, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/050831n1.html, truy cập ngày 11/4/2020
Trang 29quan trọng của nghĩa vụ đó với bên mua (thể hiện ở việc có hay không thiệt hại với bên mua) để kết luận nghĩa vụ bị vi phạm có đáng kể hay không
Như thế nào là một phần đáng kể vẫn chưa có sự thống nhất, tuy nhiên, giới học thuật đều đồng thuận rằng tính chất của vi phạm yêu cầu tại Điều 71 sẽ ít nghiêm trọng hơn tại Điều 72, khi Điều 72 yêu cầu vi phạm đó phải là “vi phạm cơ bản” (fundamental breach) Theo Flechtner, “các nhà soạn thảo [CISG] sẽ không sử dụng hai thuật ngữ khác nhau và hai tính từ khác nhau (“cơ bản” so với “đáng kể”) nếu
họ không có ý định phân biệt tính nghiêm trọng của vi phạm”.40 Việc này “cho phép một bên được tạm ngừng nghĩa vụ khi vi phạm của bên kia là đáng kể, mà chưa đủ
để là vi phạm cơ bản để áp dụng hủy bỏ [hợp đồng]”.41 Tuy vậy, việc phân biệt trên chỉ mang tính làm rõ về mặt lý luận yêu cầu của điều khoản Trong thực tiễn, sự khác biệt giữa vi phạm “một phần đáng kể” nghĩa vụ và vi phạm “cơ bản” là rất khó để phân biệt.42
2.2.3 Dấu hiệu thể hiện vi phạm trước thời hạn
Điều 71 đặt ra ba (03) dấu hiệu mà bên tạm ngưng cần đưa ra chứng minh bên còn lại sẽ không thực hiện một phần đáng kể nghĩa vụ cụ họ Cụ thể: (i) có sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hợp đồng; (ii) có sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thanh toán; và (iii) cung cách của bên bị cho là sẽ vi phạm trong việc chuẩn bị hoặc thực hiện hợp đồng Bên có yêu cầu tạm ngưng chỉ cần chứng minh bên còn lại có 01 trong 03 dấu hiệu trên thì điều kiện thứ ba này đã được đáp ứng Trước khi đi vào chi tiết từng dấu hiệu trên, cần lưu ý là do Điều 71
áp dụng với cả người mua và người bán, nên những dấu hiệu trên cũng áp dụng cho
cả hai bên Ngoài ra, các dấu hiệu trên phải phát sinh, hoặc trở nên “có dấu hiệu” vào thời điểm sau khi ký kết hợp đồng.43 Bởi quyền tạm ngừng hợp đồng không nên được
áp dụng bởi lý do “hợp đồng được ký kết một cách thiếu cân nhắc”, các bên có “nghĩa
vụ kiểm tra khả năng tài chính” cũng như những yếu tố khác của đối tác trước khi giao kết hợp đồng.44 Vì vậy, nếu dấu hiệu đó đã có tại thời điểm giao kết và bên còn lại biết hoặc phải biết (do nghĩa vụ kiểm tra khả năng đối tác), thì phải xem như họ
đã dự trù khả năng đó khi ký kết, và mất quyền yêu cầu tạm ngừng trong tương lai liên quan đến lý do này
40 Harry M Flechtner (1998), “The Several Texts of CISG in a Decentralized System: Observations on
Translattions, Reservations and other Challenges to the Uniformity Principle in Article 7(1)”, Journal of Law
and Commerce, http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/flechtner71,72.html, truy cập ngày 11/4/2020
41 Trevor Bennett (1987), tlđd (26), tr 518
42 Peter Schlechtriem (1986), tlđd (31), tr 92
43 Trevor Bennett (1987), tlđd (26), tr 514, 515
44 Liu Chengwei (2003), tlđd (36), tr 133
Trang 30Dấu hiệu 1: có sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hợp
đồng
CISG không nêu ra cụ thể trường hợp thể hiện sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hợp đồng, nhưng chính điều này đã giúp cho điều khoản có phạm vi áp dụng rộng Trong thực tiễn kinh doanh, những tình huống làm cho một bên không có khả năng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đúng hạn là rất đa dạng, và mọi
sự liệt kê đều sẽ không đầy đủ Đề xuất ban đầu của CISG giữ nguyên cách tiếp cận
của ULIS (khoản 1 Điều 73) khi chỉ quy định duy nhất một dấu hiệu là “tình trạng
kinh tế của bên kia có dấu hiệu cho thấy sự khó khăn”, tuy nhiên sau đó cách quy
định này đã bị thay thế bằng những trường hợp mang tính bao quát hơn Dựa theo cách quy định như vậy, CISG không quan tâm đến lý do nào gây ra sự khiếm khuyết này Sự khiếm khuyết không nhất thiết phải do lỗi của bất kỳ ai hoặc ai phải có trách nhiệm với vấn đề đó, “có thể tồn tại sự khiếm khuyết trong khả năng thực hiện hợp đồng của một bên cho dù tình trạng tài chính của bên đó vẫn đang rất tốt”.45 Chỉ cần
sự khiếm khuyết của một bên làm cho họ có khả năng cao không thực hiện được nghĩa vụ đúng hạn, (và nghĩa vụ đó là đáng kể), thì bên còn lại được quyền tạm ngừng phần nghĩa vụ của mình Tuy vậy, theo quan điểm của tác giả, quyền tạm ngừng sẽ không phát sinh khi việc một bên không có khả năng thực hiện hợp đồng là do lỗi của
bên còn lại Điều 80 CISG quy định: “Một bên không được viện dẫn một sự không
thực hiện nghĩa vụ của bên kia trong chừng mực mà sự không thực hiện nghĩa vụ đó
là do những hành vi hay sơ suất của chính họ” Vì vậy, khi do lỗi của bên này làm
cho bên còn lại không có khả năng thực hiện nghĩa vụ đúng hạn, thì họ bị mất quyền viện dẫn sự khiếm khuyết này của bên kia để tạm ngừng hợp đồng
Các trường hợp thể hiện sự khiếm khuyết có thể mang tính khách quan hoặc chủ quan Chủ quan tức là sự khiếm khuyết xuất phát từ nội tại của doanh nghiệp có nghĩa vụ Còn khách quan là doanh nghiệp (có nghĩa vụ) bị các yếu tố bên ngoài tác động dẫn tới sự khiếm khuyết Thông qua một số bản án và quan điểm của các học giả uy tín, có thể liệt kê ra một số trường hợp được đưa về dấu hiệu 1, chia ra thành dấu hiệu mang tính chủ quan và dấu hiệu mang tính khách quan Dấu hiệu mang tính chủ quan: không hoàn thành nghĩa vụ trong các hợp đồng tương tự46; hoặc giấy phép hết thời hạn Dấu hiệu mang tính khách quan: bị đình công; xưởng sản xuất của nhà
45 Fritz Enderlein & Dietrich Maskow (1992), International Sales Law: United Nations Convention on
Contracts for the International Sale of Goods; Convention on the Limitation Period in the International Sale
of Goods, Oceana Publications, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/enderlein.html#art72, truy cập
ngày 11/4/2020
46 Maglificio Dalmine S.r.l v S.C Covires, Case no A.R 2700/90, Belgium Tribunal Commercial [District
Court] Bruxelles, 13/11/1992, http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/wais/db/cases2/921113b1.html, truy cập ngày 12/4/2020
Trang 31cung cấp bị cháy; hoặc quyết định của cơ quan nhà nước tác động đến hợp đồng hoặc nghĩa vụ của doanh nghiệp theo hợp đồng, như việc cấm xuất khẩu bằng đồng tiền của bên mua hoặc những biện pháp cấm vận.47
Dấu hiệu 2: có sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thanh toán
Đây có lẽ là dấu hiệu dễ nhận thấy và phổ biến nhất trong tranh chấp giữa các bên liên quan đến Điều 71 Dấu hiệu 2 có thể xuất hiện trong tình huống người mua chậm thanh toán cho người bán trong những hợp đồng trước đó với người bán.48 Nếu những đợt chậm thanh toán này cho thấy có dấu hiệu người mua sẽ tiếp tục chậm thanh toán cho người bán đối với hợp đồng đang thực hiện, người bán có quyền tạm ngừng sản xuất hoặc giao hàng49 để chờ đợi sự đảm bảo từ phía người mua rằng tiền hàng sẽ được thanh toán đúng hạn.50
Tuy nhiên, dấu hiệu 2 này không chỉ áp dụng cho người mua, mà còn có thể
áp dụng cho người bán “Không chỉ người mua có nghĩa vụ thanh toán giá trị hàng hóa”, mà người bán “cũng có thể rơi vào tình trạng không thể chi trả cho việc sản xuất hàng hóa”.51 Tuy nhiên, như đã đề cập, trong trường hợp khả năng tài chính của đối tác không thay đổi so với tại thời điểm ký kết hợp đồng, thì người mua hoặc người bán không phát sinh quyền tạm ngừng hàng hóa Ngoài ra, dấu hiệu 2 yêu cầu sự khiếm khuyết phải nghiêm trọng, nên nếu người mua chỉ chậm thanh toán một hoặc hai đợt trong hợp đồng giao hàng từng phần nhưng vẫn thanh toán cho các đợt trước
đó, thì Tòa án khó có khả năng xem đây là sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả
năng thanh toán của người mua Vì vậy, người bán cần cân nhắc thật kỹ lưỡng về tính nghiêm trọng của khả năng thanh toán của bên mua trước khi áp dụng tạm ngừng
Dấu hiệu 3: cung cách (của bên bị cho là sẽ vi phạm) trong việc chuẩn bị
hoặc thực hiện hợp đồng
Theo CISG, để hoàn thành việc giao, nhận và thanh toán hàng hóa đúng hạn, CISG yêu cầu các bên tiến hành một số hoạt động cần thiết trước khi hành động giao hoặc nhận diễn ra Như vậy, điểm b khoản 1 Điều 71 CISG phải được xem xét trong tương quan với những quy định đó CISG yêu cầu người bán phải (phụ thuộc vào nội dung hợp đồng và tính chất của hàng hóa): thông báo cho người mua về việc đã gửi hàng kèm theo chỉ dẫn về hàng hóa (khoản 1 Điều 32); ký hợp đồng chuyên chở với phương tiện thích hợp (khoản 2 Điều 32); cung cấp thông tin cần thiết để người mua
47 Mercédeh Azeredo da Silveira (2005), tlđd (2), tr 6, 7
48 Trevor Bennett (1987), tlđd (26), tr 519
49 Trevor Bennett (1987), tlđd (26), tr 519
50 Maglificio Dalmine S.r.l v S.C Covires, tlđd (47); J.P.S v Kabri M, Case no A.R 3641/94, Belgium
District Court Hasselt, Decision dated 01/3/1995, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/950301b1.html, truy cập ngày 13/4/2020
51 Liu Chengwei (2003), tlđd (36), tr 133
Trang 32mua bảo hiểm hàng hóa (khoản 3 Điều 32); giao chứng từ liên quan đến hàng hóa (Điều 34); và xác định đặc tính của hàng hóa để báo cho người mua (khoản 2 Điều 65) Điều 54, 60 và 65 yêu cầu người mua phải (cũng phụ thuộc vào nội dung hợp đồng): tuân thủ các thủ tục mà hợp đồng hoặc luật pháp yêu cầu (Điều 54); thực hiện các hành vi để cho phép người bán thực hiện việc giao hàng (điểm a Điều 60); và xác định đặc tính đặc trưng của hàng hóa (khoản 1 Điều 65)
Nếu người bán hoặc người mua không hoàn thành những hoạt động nhằm chuẩn bị cho việc giao hoặc nhận hàng mà làm cho nghĩa vụ có khả năng không được thực hiện đúng hạn, bên còn lại có quyền tạm ngừng thực hiện phần của mình cho đến khi bên kia tiến hành những biện pháp đảm bảo cần thiết Ở đây, không hoàn thành việc chuẩn bị sẽ bao gồm không chuẩn bị, chuẩn bị thiếu, hoặc chuẩn bị sai Theo Bennett, nếu bên bán giao hàng bị lỗi cho những người mua khác cùng nhu cầu
do nguyên nhân sử dụng nguyên vật liệu không đảm bảo từ một nguồn cung nhất định, và “bên bán đề xuất với bên mua sử dụng nguyên vật liệu từ nhà cung cấp đó cho hợp đồng của các bên, bên mua có quyền tạm ngừng nghĩa vụ”.52 Đây là một ví
dụ cho cung cách chuẩn bị sai của bên bán, có khả năng dẫn đến hàng hóa không đạt được chất lượng yêu cầu Những trường hợp khác đã được tuyên rơi vào điểm b khoản
1 Điều 71 CISG là: cung cấp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng hiện tại;53 không cung cấp bảo lãnh ngân hàng như được yêu cầu;54 không thanh toán giá trị hàng hóa.55
Tuy nhiên, hiện tại đang có sự tranh cãi về việc điểm b khoản 1 Điều 71 CISG
có bao gồm cả cung cách chuẩn bị (của bên bị cho là vi phạm) trong những hợp đồng tương tự khác (mà không chỉ liên hệ trực tiếp đến hợp đồng hiện tại giữa các bên) hay không Ví dụ của Bennett nêu trên cho thấy cung cách chuẩn bị sai của bên bán khi thực hiện những hợp đồng tương tự cho những người mua khác có thể rơi vào điều khoản trên Quan điểm này được ủng hộ bởi Liu Chengwei.56 Nhưng một học giả khác lại cho rằng “không có bất kỳ điều gì trong văn bản của CISG cho thấy quan điểm đó [là đúng] Hơn nữa, trong thực tế, dường như tất cả các tòa án đều cho rằng
“sự chuẩn bị” là những hành động liên hệ trực tiếp đến hợp đồng hiện tại”.57 Cũng
52 Trevor Bennett (1987), tlđd (26), tr 519
53 Shoes case, Case no 52 S 247/94, Berlin District Court (Germany), Decision dated 15/9/1994,
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/940915g1.html, truy cập ngày 13/4/2020
54 Mushrooms case, Case no VB/94124, Arbitration Court of the Chamber of Commerce and Industry of
Budapest, Decision dated 17/11/1995, xem tại Mercédeh Azeredo da Silveira (2005), tlđd (2), tr 7
55 Waste container case, Case no VB/94131, Arbitration Court of the Chamber of Commerce and Industry of
Budapest, Decision dated 05/12/1995, https://cisgw3.law.pace.edu/cases/951205h1.html, truy cập ngày 13/4/2020
56 Liu Chengwei (2003), tlđd (36), tr 133
57 Yinghao Yang (2004), “Suspension Rules under Chinese Contract Law, the UCC and the CISG: Some
comparative Perspectives”, China Law and Practice, tr 23-27,
http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/yang.html, truy cập ngày 14/4/2020
Trang 33theo tác giả này, trong những vụ án mà việc bên mua không thanh toán những đơn hàng tồn tại trước khi có hợp đồng đang tranh chấp, tòa án thường quy về “khả năng thanh toán” theo điểm a hơn là điểm b.58
Theo tác giả, điểm b khoản 1 Điều 71 cần được hiểu theo nghĩa rộng, tức là áp dụng cho cả những cung cách chuẩn bị của các bên đối với các hợp đồng tương tự Việc hiểu theo nghĩa hẹp (chỉ liên hệ trực tiếp với hợp đồng hiện tại đang tranh chấp) làm bỏ sót trường hợp người bán đang sử dụng những nguyên vật liệu kém chất lượng hoặc các hành vi tương tự cho các hợp đồng tương tự (như trong ví dụ của Bennett) Dấu hiệu này không thuộc các dấu hiệu nêu tại điểm a Trong khi đây hoàn toàn là một dấu hiệu cho thấy người bán có khả năng đã và đang sử dụng những nguyên vật liệu kém chất lượng để sản xuất hàng hóa cho người mua, dẫn đến hàng hóa có thể không đạt chất lượng theo yêu cầu khi giao Quyền tạm ngừng lúc này cần được phát sinh để bên mua có thể yêu cầu bên bán cung cấp sự bảo đảm rằng họ đang không sử dụng những nguyên vật liệu đó hoặc sẽ tiến hành thay thế nguyên vật liệu Còn việc người mua không thanh toán những hợp đồng trước là thuộc dấu hiệu nào cần xem xét lý do không thanh toán là gì Nếu lý do xuất phát từ tình hình kinh tế, tài chính của bên mua yếu kém, thì dấu hiệu trên sẽ thuộc điểm a (tức là sự khiếm khuyết trong khả năng thanh toán) Trường hợp lý do xuất phát từ việc bên mua không tiến hành các thủ tục cần thiết theo luật định hay theo hợp đồng các bên, thì dấu hiệu trên sẽ thuộc điểm b
2.2.4 Trường hợp bên bán đã gửi hàng
Đôi khi, người bán chỉ nhận thấy được những dấu hiệu về vi phạm trước thời hạn của bên còn lại sau khi đã giao hàng hóa cho người vận chuyển CISG vẫn trao quyền tạm ngừng cho người bán trong những trường hợp như vậy để tự bảo vệ mình trước vi phạm có khả năng xảy ra của người mua Tuy nhiên, do có những vấn đề riêng biệt cần lưu ý, CISG đã tách trường hợp này ra thành một khoản riêng (khoản
2 Điều 71) Khác với quy định chung, khoản 2 chỉ quy định quyền của người bán, mà không có người mua Định khoản riêng như vậy không đồng nghĩa với việc những điều kiện chung ở khoản 1 không cần được đáp ứng khi một bên viện dẫn khoản 2
Khoản 2 Điều 71 nêu rõ tình huống áp dụng rằng “người bán đã gửi hàng đi khi phát
hiện những căn cứ được nêu tại khoản trên”, tức người bán vẫn phải chứng minh 03
điều kiện chung khi tạm ngừng theo quy định tại khoản 2 Thêm vào đó, một điều kiện riêng cần đáp ứng là thời điểm người bán nhận thấy những dấu hiệu tại khoản 1
là khi đã gửi hàng hóa đi CISG không nêu rõ trường hợp người bán phát hiện những
58 Yinghao Yang (2004), tlđd (56) Tác giả trích dẫn hai bản án là Case No 2Ob 328/97t, Austria Supreme Court (12.02.1998), http://www.cisg.law.pace.edu>; J.P.S BVBA v Kabri Mode BV, tlđd (51)