1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề cương tâm lý học TLH

43 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 449,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÂU 9: Trong tác phẩm “Nửa đêm” “Nhật ký trong tù” Bác Hồ có viết: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên.” Câu thơ trên nói đến vai trò của yếu tố nào trong sự hìn

Trang 1

CÂU 9: Trong tác phẩm “Nửa đêm” (“Nhật ký trong tù”) Bác Hồ có viết:

“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn

Phần nhiều do giáo dục mà nên.”

Câu thơ trên nói đến vai trò của yếu tố nào trong sự hình thành và phát triển của nhân cách, hãy phân tích vai trò của yếu tố đó?

Câu thơ trên nói tới vai trò của giáo dục trong sự hình thành và phát triển nhân cách.

Giáo dục là hoạt động đặc trưng của xã hội, là quá trình tác động tự giác, chủ độngđến con người nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người theo yêu cầu xã hội

Theo nghĩa rộng, giáo dục là toàn bộ tác động tự giác của gia đình, nhà

trường, xã hội bao gồm cả việc dạy học và tác động khác đến con người

Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình tác động tự giác đến tư tưởng, đạo

đức hành vi của con người

Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục giữ vai trò chủ đạo, điều này được thể hiện:

Giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục là quá trình tác động có mục đích xác định (mục tiêu) hình thành một mẫu người cụ thể cho xã hội, một mô hình nhân cách phát triển hướng tới hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội và cuộc sống của cá nhân

mì tôm với hy vọng sẽ giúp đỡ một phần nào cho mọi người.

Trang 2

Khi đi học, các thầy cô giáo cũng như mọi người trong gia đình dạy em phải biết

lễ phép, kính trên nhường dưới…Vì vậy, khi thấy thầy cô giáo trong trường em sẽ cúi đầu chào.

Nhờ được giáo dục mà mỗi cá nhân lĩnh hội được từ nền văn hoá dân tộc vànhân loại những điều bổ ích cho mình, đáp ứng mục tiêu giáo dục quốc gia

Giáo dục tác động đến con người nhiều nhất và có hiệu quả nhất vì nó dựa trên thành tựu của nghiên cứu khoa học và theo bài bản phù hợp quy luật

Ví dụ:

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hoá thế giới nói:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên.”

Bác phủ nhận quan điểm cho rằng, đức tính con người là “tính sẵn” Con người,

do ảnh hưởng phần nhiều của sự giáo dục và môi trường sống, cùng sự phấn đấu, rèn luyện của mỗi cá nhân mà hình thành những con người thiện, ác khác nhau Người cho rằng để mỗi con người trở thành một người thiện, một công dân tốt, có ích cho xã hội thì

sự tác động của xã hội, đặc biệt là quá trình giáo dục có một ý nghĩa thật to lớn Kẻ hiền, người dữ trên đời đều không phải khi sinh ra đã là như thế, mà đó là kết quả trực tiếp của sự giáo dục trong xã hội Quan điểm này cũng hướng đến mục tiêu: nếu xã hội chúng

Trang 3

ta muốn có nhiều người hiền tài, hạn chế những điều ác, thì xã hội cần quan tâm đến việc giáo dục, đến việc đào tạo thế hệ mai sau.

Giáo dục huy động được các mặt mạnh của các yếu tố khác chi phối sự hìnhthành và phát triển nhân cách, như các yếu tố thể chất (bẩm sinh di truyền), yếu tố hoàn cảnh sống, yếu tố xã hội, đồng thời có sự bù đắp cho những thiếu hụt, hạn chế do các yếu

tố kể trên gây ra (như những người bị khuyết tật, bị bệnh hoặc có những hoàn cảnh khôngthuận lợi )

Ví dụ:

Yếu tố thể chất (Bẩm sinh – di truyền): Giáo dục phát hiện tư chất, tài năng của con người, từ đó bồi dưỡng và phát triển chúng Như câu chuyện về “Thiên tài sáng chế” Thomas Edison từng bị đuổi học và bị thầy giáo gọi là đứa trẻ “rối trí”(tâm thần) nhưng chính nhờ sự giáo dục kèm cặp riêng tại nhà của người mẹ mà Thomas đã trở thành một trong những thiên tại vĩ đại nhất thế kỉ

Yếu tố hoàn cảnh sống: Mẹ của Mạnh Tử đã chuyển nhà 3 lần để cho con trai được sống, học tập trong môi trường giáo dục tốt nhất Lần thứ nhất, mẹ con Mạnh Tử sống gần bãi tha ma, Mạnh Tử thường diễn lại những cảnh ông nhìn thấy ở bãi tha ma Mạnh Mẫu thấy đây không phải là nơi tốt cho con trai nên bà chuyển sang một khu phố mua bán sầm uất nhưng Mạnh Tử lại học cách cân, đong, đếm của những kẻ mua bán, hay khoe khoang vì vậy Mạnh Mẫu lại chuyển nhà đến gần một ngôi trường, Mạnh Tử sống gần đây nên học được những lễ giáo, học hành chăm chỉ Mẹ của Mạnh Tử đã chấp nhận chuyển nhà để chọn môi trường sống thích hợp và tránh những ảnh hưởng xấu từ môi trường bên ngoài đến con trai.

Bù đắp cho những thiếu hụt, hạn chế (Khuyết tật, bệnh tật, tai nạn,…): Có những trường học dành riêng cho người khuyết tật Nhà nước luôn có những chế độ ưu đãi với con cái của những người có công với cách mạng (thương binh liệt sĩ) hoặc đối với con của những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn (những người chịu ảnh hưởng chất độc màu da cam);những người khuyết tật nhưng nhờ giáo dục mà trở thành người có ích cho

xã hội như: thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký, Nick Vujicic,…

Trang 4

Giáo dục có thể uốn nắn những sai lệch nhân cách, làm cho nó phát triển theo hướng mục tiêu giáo dục, theo yêu cầu của xã hội

Ví dụ:

Thời gian qua đã có rất nhiều vụ bạo lực học đường đã bị dư luận xã hội lên án nặng nề, có nhiều lí do dẫn các em đến với bạo lực và sâu xa nhất chính là nền tảng luân lí đạo đức xã hội

Ở Sóc Trăng, từ năm 2008 đến 2010 có 9970 trường hợp vi phạm dưới nhiều hình thức như bỏ giờ đi chơi game, đi uống rượu, vô lễ với thầy cô giáo… nếu như các em nhận được sự giáo dục tốt từ gia đình, nhà trường, xã hội thì các em sẽ trở thành những người có ít cho xã hội.

Giáo dục có vai trò chủ đạo, có tính quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách, tuy nhiên không nên tuyệt đối hoá vai trò của giáo dục, giáo dục không phải làvạn năng Giáo dục không tách rời tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân trong ba môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội

CÂU 12 Trong tác phẩm “Truyện Kiều” - Nguyễn Du viết:

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Bằng kiến thức đã học anh,chị hãy xác định câu thơ trên biểu thị nội dung quy luật nào của tri giác? Giải thích quy luật và liên hệ thực tiễn.

Câu thơ trên biểu hiện quy luật tổng giác trong trí giác.

Ngoài những nhân tố bên ngoài, sự tri giác còn chịu ảnh hưởng của một loạt những nhân tố nằm ngay trong bản thân chủ thể tri giác Không phải bản thân sự tri giác

mà là một con người cụ thể, sống động đang tri giác Đó là những đặc điểm nhân cách của con người tri giác như thái độ, nhu cầu, hứng thú, sở thích, tình cảm, mục đích, động cơ…

Trang 5

Sự phụ thuộc của tri giác vào nội dung của đời sống tâm lý con người, vào đặc điểm nhân cách của họ, được gọi là hiện tượng tổng giác.

Cùng một sự vật hiện tượng, ở mỗi giai đoạn nhìn nhận mỗi cách khác

Ví dụ:

Người già nghe nhạc vàng còn người trẻ thích nghe nhạc Pop, rap, EDM,…

Tri giác bị quy định bởi:

Vật kích thích bên ngoàiNhững nhân tố nằm trong bản thân chủ thể tri giác: thái độ, tâm trạng, tình cảm; nhu cầu, hứng thú, sở thích; tư duy, trí nhớ; tính chất; kinh nghiệm, vốn hiểu biết, năng lực nhận thức, kỹ năng, kĩ xảo; động cơ, mục đích,

Những đặc điểm tâm lý đã hình thành ở cá nhân đã chi phối đến đối tượng tri giác,tốc độ tri giác và độ chính xác của tri giác

Ví dụ:

Khi em bị mẹ la thì dù thức ăn có ngon đến đâu em cũng cảm thấy nó không ngon Mỗi ngày khi thấy em về, con chó nhà em đều chạy ra vẫy đuôi và em cảm thấy rất vui Nhưng hôm ấy em bị điểm kém nên khi về nhà con chó vẫn vẫy đuôi như thường ngày, em cảm thấy rất khó chịu.

Sự tri giác diễn ra một cách có kết quả khi có những tổng giác phù hợp

Liên hệ thực tiễn:

Trang 6

Trong giao tiếp: hình dáng, phong cách, nét mặt, cách trang điểm, quần áo, lời nói,

nụ cười,… ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tri giác, những hiểu biết về trình độ văn hóa, nhân cách, tình cảm dành cho nhau

Trong giáo dục: quan tâm đến kinh nghiệm, vốn hiểu biết, hứng thú, tâm lý, tình

cảm,… giúp học sinh nhạy bén, tinh tế hơn

CÂU 11 “Vy và Mai là sinh viên Trường đại học Kinh tế -Tài chính, 2 bạn đều là sinh viên có thành tích học tập cao tại trường Tuy nhiên Vy luôn tích cực tham gia các hoạt động trong lớp trong trường và sắp xếp thời gian phù hợp để tham gia công tác xã hội Chính vì vậy khi ra trường Vy nhanh chóng có một việc làm tốt trong khi Mai mãi vẫn chưa xin được việc làm”

Yếu tố nào làm nên sự thành công của Vy Anh, chị hãy phân tích vai trò của yếu tố

đó trong sự hình thành và phát triển nhân cách?

Yếu tố làm nên sự thành công của Vy là hoạt động và giao tiếp tích cực.

Vai trò của yếu tố hoạt động và giao tiếp tích cực trong sự hình thành và phát triển nhân cách:

Hoạt động là phương thức tồn tại của con người Hoạt động là quá trình con ngườithực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội Đó là quá trình

chuyển hóa năng lực lao động và các phẩm chất tâm lý khác của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể

Hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới (khách thể) và sản phẩm về phía con người (chủ thể)

Hoạt động là yếu tố quan trọng bậc nhất và mang tính chất quyết định đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

Muốn hình thành nhân cách con người phải tham gia vào các dạng hoạt động khác nhau Trong đó đặc biệt chú ý đến hoạt động chủ đạo Phải lựa chọn, tổ chức và hướng

Trang 7

dẫn các hoạt động đảm bảo tính giáo dục và hiệu quả đối với việc hình thành và phát triểnnhân cách Việc đánh giá hoạt động là rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách Việc đánh giá sẽ chuyển dần thành tự đánh giá, giúp con người thấm nhuần những chuẩn mực, những giá trị xã hội và trở thành lương tâm con người.

Ví dụ:

Cách dễ nhất để kết hợp cả việc học và chơi với nhau là thông qua những hoạt động hằng ngày của trẻ Trẻ có thể học được rất nhiều bài học thông qua việc phân loại quần áo Hãy để trẻ giúp mẹ phân loại những bộ quần áo lớn nhỏ, màu sắc cũng như kiểu quần áo để mẹ đem đi giặt Nếu trên 1 cái áo có in hình chữ cái nào đó thì hãy chỉ cho trẻ biết đó là chữ gì Và lần sau khi bé mặc chiếc áo đó bé sẽ nhận ra ngay đó là chữ cái gì.

Tuy nhiên nếu trẻ không tham gia vào các hoạt động vui chơi, không bắt chước những hành vi, cách cư xử của người lớn, không học tập thì trẻ sẽ không thể phát triển đầy đủ những phẩm chất và năng lực của nhân cách Vì vậy cần hướng dẫn, tổ chức và lôi kéo trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động để giúp hình hành và phát triển nhân cách của trẻ.

Giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành các quan hệ người – người để thực hiện hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác Giao tiếp có những đặc điểm sau: tính mục đích, tính phổ biến, sự tác động giữa chủ thể với chủ thể

Nhờ giao tiếp con người gia nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội, chuẩn mực Đóng góp tài lực vào kho tàng nhân loại Bên cạnh đó thông qua giao tiếp con người nhận thức được bản thân mình Giao tiếp còn là điều kiện cơ bản của sự hình thành và phát triển nhân cách

Con người sẽ không thể tồn tại, phát triển được nếu không có sự giao tiếp với thế giới xung quanh, với cộng đồng Hệ thống các quan hệ xã hội không phải là cái gì trừu tượng, xa lạ, mà do chính con người tạo ra

Ví dụ:

Trang 8

Khi giao tiếp với một người ta sẽ biết được cách thức giao tiếp của người đó Từ

đó hình thành khả năng giao tiếp riêng cho bản thân mình Khi giao tiếp với nhiều đối tượng, với nhiều người thì ta sẽ rút ra nhiều kinh nghiệm cho việc giao tiếp của mình.

CÂU 10 Hãy phân tích quy luật thích ứng trong bài cảm giác, nêu ứng dụng của quy luật vào hoạt động sống và học tập của bản thân?

Quy luật thích ứng trong bài cảm giác

Cảm giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách riêng lẻ các thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của con người

Ví dụ:

Trò chơi bịt mắt bắt dê, khi ta bị bịt mắt và bắt được một người nào đó nhưng ta không biết đó là ai, ta chỉ biết da người đó có mềm không, tóc ngắn hay dài, mũi cao hay thấp,…

Thích ứng là khả năng thay đổi độ nhạy cảm cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích

Quy luật thích ứng có ở tất cả các loại cảm giác nhưng mức độ thích ứng không giống nhau:

Có cảm giác thích ứng nhanh như: cảm giác nhìn, cảm giác đụng chạm, cảm giác ngửi,…

Có cảm giác thích ứng chậm như: cảm giác nghe, cảm giác đau(hầu như không thích ứng)…

Trang 9

Cường độ kích thích giảm thì độ nhạy cảm của cảm giác tăng.

Ví dụ:

Hai bàn tay, một ngâm vào nước nóng, một ngâm vào nước lạnh sau đó nhúng cả hai tay vào chậu nước bình thường thì bàn tay ngâm ở chậu nước nóng cảm thấy nước ở chậu lạnh hơn so với bàn tay kia.

Cảm giác sẽ mất dần khi kích thích kéo dài

Giúp con người thích ứng với điều kiện môi trường luôn biến đổi

Bảo vệ hệ thần kinh không bị quá tải bởi các kích thích cũ liên tục

Cho phép con người luôn đổi mới cảm giác bằng các kích thích mới đa dạng, phong phú hơn

Ứng dụng quy luật thích ứng vào trong cuộc sống:

Trong học tập: khi trình bày trong sách vở ta thường dùng bút nhiều màu để làm

nổi bật các nội dung chính và nội dung cần học sẽ kích thích ghi nhớ dễ dàng hơn Giáo viên thường xuyên thay đổi cách giảng dạy để tránh nhàm chán cho học sinh

Trong ẩm thực: trình bày món ăn hấp dẫn nhiều màu sắc, thường xuyên thay đổi

món ăn…giúp bữa ăn hằng ngày phong phú và đa dạng hơn giúp người ăn cảm thấy không bị nhàn chán với những món ăn lặp đi lặp lại mỗi ngày

Trang 10

Trong trang trí nội thất: thường xuyên thay đổi cách trang trí, bố cục, màu sắc, ánh

sáng… để tạo cảm giác mới mẻ, không nhàm chán kích thích sự thoải mái, sáng tạo…

Trong giao tiếp: Khi nghe giáo viên giảng bài với âm lượng lớn hoặc nhỏ các học

sinh sẽ dần thích ứng với âm lượng đó và cảm thấy bình thường

Trong thể thao: thay đổi khối lượng tạ sau khi tập gym một thời gian dài để tăng

cường sức khỏe

Thay đổi môi trường sống: khi đi du lịch từ Sài Gòn lên Đà Lạt, nhiệt độ môi

trường thay đổi từ nóng sang lạnh cơ thể khó thích ứng với nhiệt độ môi trường vì vậy cần dùng nhiều đồ ấm hơn so với người dân sống ở Đà Lạt

Trong nghề nghiệp: nhờ khả năng thích ứng của các giác quan mà mỗi người trong

từng ngành nghề lại có những giác quan nhạy cảm hơn so với người bình thường như những người đầu bếp có thể nhận ra được vị thức ăn bằng khứu giác

CÂU 2 Anh/chị hãy trình bày những điều kiện để có tâm lý người? Vì sao tâm lý người này lại khác người kia?

Những điều kiện để có tâm lý người

Phải có não bộ hoạt động bình thường, đây là cơ quan phản ánh để tạo ra hình ảnh tâm lý Não bình thường có nghĩa là não nhận được thông tin, xử lý được thông tin và phản hồi được thông tin

Trang 11

và quên mất con dâu Năm thứ ba, bà nhớ “Truyện Kiều”, nhớ bà hàng xóm và quên mất con trai bà Năm thứ tư, nhớ “Truyện Kiều” nhưng quên mất bà hàng xóm Năm thứ năm

bà quên hết, không nhớ gì cả và rơi vào tình trạng đói không biết, no không biết ai cho

ăn thì ăn, không có cảm xúc, không biết vui, không biết buồn, như một đứa trẻ con Bà không còn có tâm lý và không thể điều khiển hành vi của mình được nữa vì não của bà

đã bị thoái hóa không còn là não bình thường nữa.

Phải có hiện thực khách quan, đây là nguồn gốc tạo nên hình ảnh tâm lý

Tâm lý người này khác người kia là do:

Mỗi người có sự khác biệt nhất định về mặt sinh học (giới tính, tuổi tác, đặcđiểm cơ thể, giác quan, hệ thần kinh, não bộ, gen di truyền…)

Ví dụ:

Trang 12

Giữa nam và nữ có tâm lý khác nhau Nữ thường phức tạp hóa vấn đề, nam thường đơn giản hóa vấn đề.

Mỗi người có sự khác nhau về hoàn cảnh sống và điều kiện giáo dục, điều kiện gia đình, điều kiện chăm sóc, lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo,…

Ví dụ:

Người miền Bắc thường khắt khe, phong kiến do chịu ảnh hưởng sự đô hộ của Trung Quốc (1000 năm Bắc Thuộc) Còn người miền Nam thì phóng khoáng hơn do chịu ảnh hưởng của phương Tây ( Pháp và Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam).

Trong tình yêu, người phương Tây có thể thoải mái thể hiện tình cảm nơi công cộng Ngược lại, người phương Đông thường dè dặt hơn.

Mỗi người có sự khác nhau về tính tích cực hoạt động trong các mối quan

hệ xã hội và giao tiếp

Ví dụ:

Vy và Mai là sinh viên Trường đại học Kinh tế - Tài chính, 2 bạn đều là sinh viên

có thành tích học tập cao tại trường Tuy nhiên, Vy luôn tích cực tham gia các hoạt động trong lớp trong trường và sắp xếp thời gian phù hợp để tham gia công tác xã hội Chính

vì vậy Vy tích lũy được nhiều kiến thức xã hội, kinh nghiệm, kỹ năng hơn Mai.

Kim rất thích đọc sách và đi du lịch chính vì vậy mà Kim khám phá được nhiều điều bổ ích, thú vị cũng như tích lũy được nhiều kiến thức thực tiễn, nhiều kinh nghiệm sống hơn so với Trâm chỉ thích chơi game, lười đọc sách và không thích khám phá.

CÂU 6 Anh/ chị hãy phân tích bản chất xã hội - lịch sử của tâm lý người?

Tâm lý người mang bản chất xã hội và tính lịch sử

Tâm lý người có nguồn gốc là thế giới khách quan (thế giới tự nhiên và xã hội) trong đó nguồn gốc xã hội là quyết định tâm lý con người, thể hiện qua: các mối quan hệ kinh tế - xã hội, đạo đức, pháp quyền mối quan hệ con người – con người, từ quan hệ gia đình, làng xóm, quê hương, quan hệ cộng đồng, nhóm,…Các mối quan hệ trên quyết định

Trang 13

bản chất tâm lý người Trên thực tế, nếu con người thoát li khỏi các mối quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người với con người thì tâm lý người sẽ mất bản tính người

Ví dụ:

Rochom P’ngieng mất tích năm 1989 khi đi chăn trâu Sau 18 năm, Rochom được tìm thấy khi trên người không mặc quần áo và di chuyển như một con khỉ, nói chuyện hay giao tiếp chỉ phát ra những tiếng gừ gừ, những âm thanh vô nghĩa, không thể hòa nhập với cuộc sống con người Từ đó có thể thấy tâm lý người chỉ hình thành và phát triển khi

có điều kiện cần và đủ là sự tác động của hiện thực khách quan lên não bình thường và phải có hoạt động giao tiếp.

Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp của con người trong mối quan hệ xã hội, là sản phẩm của con người với tư cách là chủ thể xã hội, chủ thể của nhậnthức và hoạt động của giao tiếp một cách chủ động và sáng tạo

Ví dụ:

Như ví dụ trên, Rochom không tham gia hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ với con người nên không có tâm lý người bình thường.

Ngoài ra, người miền Bắc thường khắt khe phong kiến do chịu ảnh hưởng sự đô

hộ của Trung Quốc (1000 năm Bắc Thuộc) Còn người miền Nam thì phóng khoáng hơn

do chịu ảnh hưởng của phương Tây ( Pháp và Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam).

Trong tình yêu, người phương Tây có thể thoải mái thể hiện tình cảm nơi công cộng Ngược lại, người phương Đông thường dè dặt hơn.

Tâm lý người hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử

cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng Tâm lý mỗi con người chịu sự chế ước của lịch sử

cá nhân và cộng đồng Tuy nhiên không phải là sự “copy” một cách máy móc mà được thay đổi thông qua đời sống tâm lý cá nhân Chính vì thế mà mỗi cá nhân vừa mang những nét chung đặc trưng cho xã hội lịch sử và mang những nét riêng tạo nên màu sắc riêng của mỗi cá nhân

Trang 14

Ở mỗi giai đoạn lịch sử phát triển xã hội khác nhau, tâm lý cá nhân, tâm lýcộng đồng, tâm lý dân tộc đều có sự thay đổi Do đặc điểm lịch sử (kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, luật pháp,…) ở mỗi giai đoạn chi phối.

Ở mỗi giai đoạn phát triển của đời người, tâm lý cá nhân cũng thay đổi do

sự thay đổi của thể chất, môi trường sống, các mối quan hệ, hoạt động giao tiếp,…

Ví dụ:

Một đứa trẻ khi sinh ra chúng giống như một trang giấy trắng, nhưng sau một thời gian được bố mẹ chăm sóc, dạy dỗ, được tiếp xúc với nhiều người thì ngày càng học hỏi, lĩnh hội, tiếp thu và hiểu biết nhiều hơn về mọi việc xung quanh.

Ngày xưa, người Việt nam cần cù, thông minh,chịu khó nhưng bây giờ người Việt Nam cần cù, thông minh nhưng sáng tạo.

Tóm lại, tâm lí người là hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc con người thông qua hoạt động và giao lưu tích cực của mỗi người trong điều kiện xã hội lịch sử nhất định Nó có bản chất xã hội – lịch sử

Ví dụ:

Bản chất xã hội:

Các hoạt động nghề nghiệp khác nhau luôn tạo ra những phong cách khác nhau trong hành vi của mỗi người Người làm kinh doanh thường có phong cách năng động, thực tế Ngược lại những người làm về nghệ thuật sẽ có phong cách lãng mạn, bay bổng

Tính lịch sử:

Trang 15

Ở nước ta trong thời kì bao cấp, người giàu có nhiều tiền, kể cả bằng con đường lao động chân chính thường ngại những người xung quanh biết họ giàu có, nhiều tiền của Tuy nhiên cùng với sự phát triển cơ chế thị trường, tâm lý đó đã dần thay đổi, sự giàu có trở thành niềm tự hào, niềm kiêu hãnh và người ta còn chứng tỏ sự giàu có của mình bằng cách xây nhà cao, to, lộng lẫy, đi siêu xe, mua sắm nhiều đồ dùng, tiện nghi, đắt giá.

CÂU 7 Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách Phân tích vai trò của từng yếu tố này?

CÂU 13 Hãy trình bày về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách Nêu rõ vai trò của các yếu tố này và cho ví dụ minh họa để chứng minh.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách

Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của cá nhân, thể hiện giá trị xã hội vàhành vi xã hội của con người

Có bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách, mỗi yếu tố giữ vai trò khác nhau

Bẩm sinh – di truyền: là tiền đề vật chất, cơ sở sinh lý Không quyết định nhân

cách nhưng nó tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn Ảnh hưởng thông qua các mối quan

hệ xã hội, thông qua các giai đoạn phát triển cá nhân

Ví dụ:

Gia đình Khang có truyền thống âm nhạc nên Khang cũng được kế thừa những yếu tố di truyền từ cha mẹ là năng khiếu về âm nhạc, đó là tiền đề cơ sở trong việc hình thành nhân cách và nếu Khang được học tập cũng như siêng năng rèn luyện thì Khang sẽ

dễ đạt được những thành tựu về âm nhạc hơn những bạn không có năng khiếu bẩm sinh Tuy nhiên, nếu gia đình không tạo điều kiện cho Khang phát huy năng khiếu đó và Khang cũng không tích cực học tập thì sẽ không trở thành một nhạc sĩ, cũng như đạt được các thành tựu trong con đường âm nhạc.

Trang 16

Môi trường: có vai trò cực kì quan trọng, là nguồn gốc, nội dung của nhân cách

Có hai loại môi trường Môi trường tự nhiên (khí hậu, đất nước, sinh thái phục vụ cho học tập, lao động, rèn luyện sức khỏe, vui chơi giải trí…) và môi trường xã hội (điều kiệnkinh tế, văn hóa, chính trị,…)

Môi trường có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với nhân cách: một môi trường

xã hội lành mạnh như nền dân chủ, các quan hệ xã hội, điều kiện văn hóa- tinh thần của

xã hội có sự phát triển hài hòa… thì sẽ tạo điều kiện cho tính tích cực của nhân cách phát huy Ngược lại, tính tích cực xã hội của nhân cách sẽ bị thui chột đi nếu môi trường xã hội không tạo điều kiện cho nó bộc lộ Trong một chừng mực nào đó, điều này không những làm cho nhân cách bị nghèo nàn mà còn có thể dẫn tới sự phá vỡ nhân cách

Ví dụ:

Trường hợp cô Kamala được chó sói nuôi từ nhỏ khi được đưa ra khỏi rừng cô

đã 12 tuổi Bình thường cô ngủ trong xó nhà, đêm đến thì tỉnh táo và đôi khi sủa như chó rừng Cô đi lại bằng 2 chân, nhưng khi bị đuổi thì chạy bằng 4 chi khá nhanh Người ta dạy nói cho Kamala trong 4 năm, nhưng cô chỉ nói được hai từ Cô không thể thành người và chết ở tuổi 18 Người ta đã tổng hợp được ít nhất 30 trường hợp như vậy.

Giáo dục: đóng vai trò chủ đạo Giáo dục là hiện tượng xã hội, là quá trình tác

động có mục đích, có kế hoạch có nội dung, có phương pháp, có lực lượng, có cơ sở vật chất chuyên dụng nhằm tác động một cách có chủ động đến con người, nhằm hình thành

và phát triển tâm lý, ý thức và nhân cách của con người

Ví dụ:

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hoá thế giới nói:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”.

Trang 17

Bác phủ nhận quan điểm cho rằng, đức tính con người là “tính sẵn” Con người,

do ảnh hưởng phần nhiều của sự giáo dục và môi trường sống, cùng sự phấn đấu, rèn luyện của mỗi cá nhân mà hình thành những con người thiện, ác khác nhau Người cho rằng để mỗi con người trở thành một người thiện, một công dân tốt, có ích cho xã hội thì

sự tác động của xã hội, đặc biệt là quá trình giáo dục có một ý nghĩa thật to lớn Kẻ hiền, người dữ trên đời đều không phải khi sinh ra đã là như thế, mà đó là kết quả trực tiếp của sự giáo dục trong xã hội Quan điểm này cũng hướng đến mục tiêu: nếu xã hội chúng

ta muốn có nhiều người hiền tài, hạn chế những điều ác, thì xã hội cần quan tâm đến việc giáo dục, đến việc đào tạo thế hệ mai sau.

Hoạt động giao tiếp tích cực của cá nhân: quyết định trực tiếp sự hình thành và

phát triển nhân cách Là sự tác động của mục đích có ý thức của cá nhân vào hoàn cảnh, nhằm cải tạo hoàn cảnh, cải tạo chính bản thân mình Đây là yếu tố quan trọng bậc nhất, quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân

Ví dụ:

“Vy và Mai là sinh viên Trường đại học Kinh tế tài chính, 2 bạn đều là sinh viên

có thành tích học tập cao tại trường Tuy nhiên Vy luôn tích cực tham gia các hoạt động trong lớp trong trường và sắp xếp thời gian phù hợp để tham gia công tác xã hội Chính

vì vậy khi ra trường Vy nhanh chóng có một việc làm tốt trong khi Mai mãi vẫn chưa xin được việc làm”.

CÂU 1 Anh/chị hãy trình bày và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách? Hãy vận dụng những dấu ấn trong cuộc đời để phân tích quá trình hình thành và phát triển nhân cách bản thân các anh/chị?

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách

Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của cá nhân, thể hiện giá trị xã hội vàhành vi xã hội của con người

Trang 18

Có bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách, mỗi yếu tố giữ vai trò khác nhau.

Bẩm sinh – di truyền: là tiền đề vật chất, cơ sở sinh lý Không quyết định nhân

cách nhưng nó tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn Ảnh hưởng thông qua các mối quan

hệ xã hội, thông qua các giai đoạn phát triển cá nhân

Ví dụ:

Gia đình Khang có truyền thống âm nhạc nên Khang cũng được kế thừa những yếu tố di truyền từ cha mẹ là năng khiếu về âm nhạc, đó là tiền đề cơ sở trong việc hình thành nhân cách và nếu Khang được học tập cũng như siêng năng rèn luyện thì Khang sẽ

dễ đạt được những thành tựu về âm nhạc hơn những bạn không có năng khiếu bẩm sinh Tuy nhiên, nếu gia đình không tạo điều kiện cho Khang phát huy năng khiếu đó và Khang cũng không tích cực học tập thì sẽ không trở thành một nhạc sĩ, cũng như đạt được các thành tựu trong đường âm nhạc.

Môi trường: có vai trò cực kì quan trọng, là nguồn gốc, nội dung của nhân cách

Có hai loại môi trường Môi trường tự nhiên (khí hậu, đất nước, sinh thái phục vụ cho học tập, lao động, rèn luyện sức khỏe, vui chơi giải trí…) và môi trường xã hội (điều kiệnkinh tế, văn hóa, chính trị,…)

Môi trường có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với nhân cách: một môi trường

xã hội lành mạnh như nền dân chủ, các quan hệ xã hội, điều kiện văn hóa- tinh thần của

xã hội có sự phát triển hài hòa… thì sẽ tạo điều kiện cho tính tích cực của nhân cách phát huy Ngược lại, tính tích cực xã hội của nhân cách sẽ bị thui chột đi nếu môi trường xã hội không tạo điều kiện cho nó bộc lộ Trong một chừng mực nào đó, điều này không những làm cho nhân cách bị nghèo nàn mà còn có thể dẫn tới sự phá vỡ nhân cách

Ví dụ:

Trường hợp cô Kamala được chó sói nuôi từ nhỏ khi được đưa ra khỏi rừng cô

đã 12 tuổi Bình thường cô ngủ trong xó nhà, đêm đến thì tỉnh táo và đôi khi sủa như chó rừng Cô đi lại bằng 2 chân, nhưng khi bị đuổi thì chạy bằng 4 chi khá nhanh Người ta

Trang 19

dạy nói cho Kamala trong 4 năm, nhưng cô chỉ nói được hai từ Cô không thể thành người và chết ở tuổi 18 Người ta đã tổng hợp được ít nhất 30 trường hợp như vậy.

Giáo dục: đóng vai trò chủ đạo Giáo dục là hiện tượng xã hội, là quá trình tác

động có mục đích, có kế hoạch có nội dung, có phương pháp, có lực lượng, có cơ sở vật chất chuyên dụng nhằm tác động một cách có chủ động đến con người, nhằm hình thành

và phát triển tâm lý, ý thức và nhân cách của con người

Ví dụ:

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hoá thế giới nói:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”.

Bác phủ nhận quan điểm cho rằng, đức tính con người là “tính sẵn” Con người,

do ảnh hưởng phần nhiều của sự giáo dục và môi trường sống, cùng sự phấn đấu, rèn luyện của mỗi cá nhân mà hình thành những con người thiện, ác khác nhau Người cho rằng để mỗi con người trở thành một người thiện, một công dân tốt, có ích cho xã hội thì

sự tác động của xã hội, đặc biệt là quá trình giáo dục có một ý nghĩa thật to lớn Kẻ hiền, người dữ trên đời đều không phải khi sinh ra đã là như thế, mà đó là kết quả trực tiếp của sự giáo dục trong xã hội Quan điểm này cũng hướng đến mục tiêu: nếu xã hội chúng

ta muốn có nhiều người hiền tài, hạn chế những điều ác, thì xã hội cần quan tâm đến việc giáo dục, đến việc đào tạo thế hệ mai sau.

Hoạt động giao tiếp tích cực của cá nhân: quyết định trực tiếp sự hình thành và

phát triển nhân cách Là sự tác động của mục đích có ý thức của cá nhân vào hoàn cảnh, nhằm cải tạo hoàn cảnh, cải tạo chính bản thân mình Đây là yếu tố quan trọng bậc nhất, quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân

Ví dụ:

Vy và Mai là sinh viên Trường đại học Kinh tế tài chính, 2 bạn đều là sinh viên

có thành tích học tập cao tại trường Tuy nhiên Vy luôn tích cực tham gia các hoạt động

Trang 20

trong lớp trong trường và sắp xếp thời gian phù hợp để tham gia công tác xã hội Chính

vì vậy khi ra trường Vy nhanh chóng có một việc làm tốt trong khi Mai mãi vẫn chưa xin được việc làm.

Quá trình hình thành và phát triển nhân cách của em:

Bẩm sinh di truyền: Vì ba mẹ em đều là người tri thức nên em sinh ra và thừa

hưởng một phần gen của ba mẹ vì vậy trong học tập em có sự tư duy tốt hơn

Môi trường: Nhà em gần trường học và ba mẹ luôn khuyến khích em học tập,

thường xuyên nhắc nhở nên em có được ý thức học tập cao hơn

Giáo dục: Em nhận được sự giáo dục từ gia đình và nhà trường tốt nên em đạt

được những thành tích tốt, nhân cách tốt

Hoạt động giao tiếp cá nhân tích cực: Tham gia các hoạt xã hội, các cuộc thi học

thuật giúp tăng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng giao tiếp,…

CÂU 4 Tại sao nói: Hoạt động tích cực của cá nhân có vai trò quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách? Từ đó đề xuất các biện pháp để rèn luyện nhân cách của Anh/Chị?

Hoạt động tích cực của cá nhân là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách.

Hoạt động là phương thức tồn tại của con người Hoạt động là quá trình con ngườithực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội Đó là quá trình

chuyển hóa năng lực lao động và các phẩm chất tâm lý khác của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể

Hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới (khách thể) và sản phẩm về phía con người (chủ thể)

Hoạt động tích cực của cá nhân là sự tác động có mục đích, có ý thức của cá nhân vào hoàn cảnh, nhằm cải tạo hoàn cảnh, cải tạo chính bản thân mình Đây là yếu tố quan

Trang 21

trọng bậc nhất, quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân.

Sự hình thành và phát triển nhân cách phụ thuộc vào hoạt động chủ đạo ở mỗi thời

kì và lứa tuổi nhất định

Ví dụ:

Giai đoạn tuổi nhà trẻ (1-2 tuổi) hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồvật: trẻ bắt trước các hành động sử dụng đồ vật, nhờ đó khám phá, tìm hiểu sựvật xung quanh Giai đoạn trưởng thành (18-25 tuổi) hoạt động chủ đạo là lao động và học tập.

Mỗi tác động tích cực của các yếu tố khác nhau như: bẩm sinh – di truyền, môi trường sống và giáo dục sẽ không phát huy được ý nghĩa nếu thiếu đi yếu tố hoạt động tích cực của cá nhân

Thông qua hai quá trình xuất tâm (đối tượng hóa) và nhập tâm (chủ thể hóa) trong hoạt động, một mặt, con người lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội lịch sử để hình thành nhân cách, mặt khác, con người lại “xuất tâm” trí tuệ của mình vào xã hội, vào hiệnthực khách quan và cải tạo chính bản thân con người, tạo nên sự đại diện nhân cách của con người trong sản phẩm lao động, trong người khác và trong xã hội

Ví dụ:

Quá trình đối tượng hóa:

Khi thuyết trình một môn học nào đó thì người thuyết trình phải sử dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm của mình về môn học đó để thuyết trình Trong khi thuyết trình thì mỗi người lại có tâm lý khác nhau: người thì rất tự tin, nói to, mạch lạc, rõ ràng, logic; người thì run, lo sợ, nói nhỏ, không mạch lạc Cho nên phụ thuộc vào tâm lý của mỗi người mà bài thuyết trình đó sẽ đạt yêu cầu hay không đạt yêu cầu.

Quá trình chủ thể hóa:

Sau lần thuyết trình lần đầu tiên thì cá nhân đó đã rút ra được rất nhiều kinh nghiệm cho bản thân, và đã biết làm thế nào để có một bài thuyết trình đạt hiệu quả tốt

Ngày đăng: 17/04/2021, 18:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w