Đề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triểnĐề cương tâm lý học phát triển
Trang 1Câ u 1: Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu
* Đối tượng: những động lực, điều kiện, các quy luật của sự phát triển tâm lý con người – với
tư cách 1 thành viên trong xã hội, theo sự trưởng thành về lứa tuổi
a, KN phát triển tâm lý:
Phát triển tâm lý là quá trình vận động có qui luật của các hiện tượng tâm lý, nhằm làm xuấthiện những biến đổi về chất và về lượng, những cấu trúc tâm lý mới của con người
b, Đặc điểm cơ bản của sự phát triển
Những đặc điểm cơ bản của sự phát triển là:
• tính không thể đảo ngược
Ví dụ: chín muồi về mặt sinh học (sự dậy thì) của con người
2 Nhiệm vụ của tâm lý học phát triển
Tâm lý học phát triển cần làm rõ các vấn đề sau:
• Những nhân tố và động lực của sự phát triển tâm lý con người với tư cách là thành viêncủa xã hội
• Những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển tâm lý con người diễn ra tốt đẹp
• Các qui luật và đặc điểm của sự phát triển tâm lý con người
Trang 2• Làm thế nào để tránh sự phát triển sai lệch
Trong phạm vi môn học, chúng ta sẽ tìm hiểu:
• Những học thuyết cơ bản về sự phát triển tâm lý người;
• Sự phát triển thể chất;
• Sự phát triển nhận thức và ngôn ngữ;
• Sự phát triển nhân cách và các mối quan hệ xã hội
Cần lưu ý rằng, quá trình phát triển được phân chia thành các giai đoạn để nghiên cứu Trênthực tế, con người là một chỉnh thể không thể chia cắt
Mục đích của việc nghiên cứu sự phát triển tâm lý con người là:
- Giúp ích cho thực tiễn giáo dục trẻ em nói riêng, giáo dục con người nói chung
- Phát triển những nhân cách ngày càng hoàn thiện để sống hạnh phúc và phát triển hài hòatrong xã hội
II Các phương pháp nghiên cứu tâm lý học phát triển
1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và trưng cầu ý kiến
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và trưng cầu ý kiến là đưa ra các câu hỏi về các hành vi,thái độ, sở thích, cảm xúc của nghiệm thể trong quá khứ, hiện tại và tương lai Sau đó tổng hợp,phân tích những ý kiến đó để rút ra những kết luận khoa học
• Ưu điểm: cho phép đánh giá được một số lượng lớn nghiệm thể
• Hạn chế: nhà nghiên cứu chỉ nhận được những thông tin từ trí nhớ và mong muốn của
nghiệm thể Các câu trả lời có thể không chính xác và không trung thực, đặc biệt trong cáctrường hợp vấn đề nghiên cứu thuộc các lĩnh vực tình cảm riêng tư của con người
2 Phương pháp trò chuyện lâm sàng
• Trò chuyện lâm sàng là một dạng phỏng vấn, trong đó nội dung câu trả lời của người đượcphỏng vấn sẽ là cơ sở đề nhà phỏng vấn ra câu hỏi tiếp theo
• Nhà tâm lý học Thụy Sĩ Jean Piaget đã dựa vào phương pháp trò chuyện lâm sàng là chủyếu để nghiên cứu sự phát triển trí tuệ và quan điểm về đạo đức của trẻ em
• Mặc dù câu hỏi câu hỏi đầu tiên đối với mọi đối tượng là như nhau, nhưng những câu trảlời tiếp theo của người được nghiên cứu sẽ qui định các câu hỏi tiếp theo của nhà nghiên cứu
Trang 3Vì thế, phương pháp lâm sàng không thể chuẩn hóa được và nhà nghiên cứu phải là người cókinh nghiệm và trình độ chuyên môn
• Ưu điểm: mềm dẻo, linh hoạt
• Nhược điểm: không cho phép so sánh trực tiếp các câu trả lời của các đối tượng khác
nhau Ngoài ra phương pháp lâm sàng không được chuẩn hóa nên nhà nghiên cứu dễ sa vàoviệc giải thích các câu trả lời theo ý chủ quan và ra các câu hỏi theo giả thuyết đã định trướccủa mình
3 Phương pháp quan sát:
Quan sát tự nhiên
Nhà nghiên cứu đi vào môi trường cuộc sống và hoạt động thường ngày của nghiệm thể đểquan sát, ghi chép hành vi của họ mà không can thiệp vào chúng
Ưu điểm: Có thể nghiên cứu trẻ nhỏ khi chúng chưa biết nói Có khả năng mô tả hành vi thật
sự của con người trong cuộc sống thường ngày
Nhược điểm: Có những hành vi thỉnh thoảng mới xuất hiện một cách bất thường nên người
quan sát không thể chứng kiến chúng được Khó xác định được nguyên nhân của hiện tượngquan sát
Quan sát trong phòng thực nghiệm
Nhà nghiên cứu tạo ra các tình huống có thể kiểm tra được nhằm thúc đẩy sự biểu hiện củahành vi cần nghiên cứu Thông thường, các nhà nghiên cứu dùng camera hoặc gương 1 chiều
để quan sát
Ưu điểm: Bảo đảm mọi đối tượng nghiên cứu được đối mặt với cùng một tình huống kích thích
như nhau
Nhược điểm: Việc xây dựng phòng thí nghiệm vẫn còn khó khăn đối với nước ta Trong điều
kiện phòng thực nghiệm, đối tượng được nghiên cứu không phải lúc nào cũng có hành vi như
họ thường làm trong điều kiện hàng ngày
4 Nghiên cứu trường hợp (Case study)
Nhà nghiên cứu tập hợp các thông tin sâu rộng về cuộc sống của nghiệm thể, sau đó kiểm tracác giả thuyết tâm lý học bằng cách phân tích các sự kiện trong tiểu sử của họ (nền tảng giađình, vị thế kinh tế xã hội, tình trạng sức khỏe, quá trình học và làm việc )
Sigmund Freud đã sử dụng rộng rãi phương pháp nghiên cứu trường hợp trong hoạt động nghềnghiệp của mình
Trang 4Ưu điểm: cho phép nhìn nhận sâu sắc về từng cá nhân vốn rất không giống nhau Phân tích
trường hợp được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán lâm sàng, điều trị bệnh nhân
Hạn chế: Rất khó so sánh các đối tượng với nhau Kết quả nghiên cứu thường thiếu tính khái
quát, không áp dụng được cho số đông người khác
5 Trắc nghiệm tâm lý
Nhà nghiên cứu dùng các trắc nghiệm đã được chuẩn hoá, có độ tin cậy cao, có tính hiệu lực và
có hướng dẫn và qui trình thực hiện theo một hình thức thống nhất để nghiên cứu Các trắcnghiệm hay được sử dụng trong các nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ, đánh giá nhân cách, Hạn chế của trắc nghiệm là nó chỉ áp dụng tốt cho những người thuộc cùng một nền văn hóa xãhội với mẫu đại diện mà trắc nghiệm đã được chuẩn hóa Khi sử dụng trắc nghiệm vào một nềnvăn hóa xã hội khác, kết quả sẽ không chính xác
6 Phương pháp tâm sinh lý
Là phương pháp đo lường những quan hệ giữa các quá trình sinh lý và các phản ứng tâm lý củacon người
Ưu điểm: Có thể đánh giá những quan hệ giữa các quá trình sinh lý và phản ứng tâm lý của
con người
Nhược điểm: Mặc dù nhịp tim hay sóng não có thể cho biết nghiệm thể có chú ý tới kích thích
hay không, nhưng rất khó xác định chính xác phương diện nào của kích thích đã lôi kéo được
sự chú ý đó Những thay đổi trong đáp ứng sinh lý còn phản ánh trạng thái sức khoẻ hay phảnứng với môi trường xung quanh chứ không chỉ là sự thay đổi tâm lý của nghiệm thể
7 Nghiên cứu tương quan
Các nhà nghiên cứu sử dụng xác suất thống kê để đánh giá mối liên quan qua lại giữa hai haynhiều yếu tố gọi là đánh giá tương quan Đây là một đại lượng có giá trị nằm vào khoảng từ 0đến +1 (tương quan dương) hoặc từ 0 đến –1 (tương quan âm)
Cần lưu ý rằng, sự tồn tại tương quan không cho ta biết tính nhân quả, cái gì là nguyên nhân,còn cái gì là hậu quả Các tương quan chỉ cho chúng ta biết về sự liên quan qua lại Tuy nhiên,khi sử dụng một cách phù hợp thì tương quan là một công cụ nghiên cứu có hiệu quả
8 Phương pháp ghi chép dân tộc học
Trang 5Ghi chép dân tộc học là phương pháp, trong đó nhà nghiên cứu tìm hiểu những hệ thống giá trị
độc đáo, truyền thống và quá trình xã hội hoá của các nền văn hóa hoặc tiểu văn hóa bằng cách
sống với các thành viên của nó để quan sát và ghi chép kỹ lưỡng, tỉ mỉ về họ
Ưu điểm: Tìm hiểu những đặc điểm độc đáo của một nền văn hóa hay tiểu văn hoá và ảnh
hưởng của nó đối với sự phát triển tâm lý con người
Nhược điểm: Diễn giải của người quan sát nhiều khi mang tính chủ quan
Câu 2: Các cách thiết kế nghiên cứu sự phát triển tâm lý: ưu, nhược điểm
Thiết kế xuyên nhóm tuổi (nghiên cứu cắt ngang)
Nhà nghiên cứu đồng thời so sánh các nhóm nghiệm thể ở các lứa tuổi khác nhau trong mộtthời gian
Cách tiếp cận này không đánh giá được sự khác biệt giữa các cá thể nhưng nhiều nhà nghiêncứu sử dụng nó bởi vì nó không mất nhiều thời gian, đỡ tốn kém, và dễ điều chỉnh
Phương pháp nghiên cứu cắt ngang đòi hỏi sự lựa chọn mẫu nghiên cứu rất chặt chẽ để đảmbảo rằng các khác biệt giữa các nhóm là liên quan đến sự phát triển, chứ không phải do nhữngyếu tố khác như điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử, sức khỏe, giáo dục gia đình
Thiết kế nghiên cứu xuyên thời gian (Nghiên cứu theo chiều dọc)
Đối tượng nghiên cứu được quan sát, nghiên cứu lặp đi lặp lại sau mỗi chu kỳ thời gian hoặctrong các thời điểm khác nhau của cuộc đời
Ưu điểm của nghiên cứu theo chiều dọc là có thể theo dõi quá trình phát triển của đối tượngnghiên cứu, nhưng cách thiết kế này tốn kém, đòi hỏi nhiều thời gian và khó điều chỉnh khi gặpnhững vấn đề nảy sinh
Thiết kế nghiên cứu theo chuỗi
Các nhà nghiên cứu sử dụng phối hợp giữa hai cách trên tạo thành thiết kế nghiên cứu theochuỗi (hay theo nhóm kế tiếp)
Nghiên cứu xuyên văn hóa
Nghiên cứu xuyên văn hóa là những nghiên cứu, trong đó các đối tượng từ những nền văn hóakhác nhau được quan sát, kiểm tra và so sánh trên một hay nhiều bình diện của sự phát triển
Trang 6Hiện nay nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: tồn tại những quy luật chung cho sự phát triển củanhân loại, của con người từ khi sinh ra đến khi mất đi, bất kể người đó sống trong nền văn hóanào hay sống ở thời điểm xã hội lịch sử nào Chính vì vậy, việc so sánh các kết quả nghiên cứu
ở các nền văn hóa khác nhau là hướng nghiên cứu quan trọng để xem xét tính phổ biến của cácquy luật phát triển
Thực tế nhiều nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa thường đi tìm sự khác biệt chứ không tìm sựtương đồng trong sự phát triển tâm lý giữa các dân tộc khác nhau Họ nhận thấy những conngười phát triển trong những xã hội khác nhau thì có những quan điểm khác nhau và cảm nhậnthế giới, thể hiện tình cảm, cách tư duy và giải quyết vấn đề khác nhau
Như vậy, bên cạnh việc xem xét tính phổ biến của những quy luật phát triển, so sánh xuyên vănhóa còn chỉ ra rằng sự phát triển của cá nhân phụ thuộc mạnh mẽ vào môi trường văn hóa, môitrường tự nhiên và xã hội, nơi cá nhân sống và trưởng thành
Câu 3: Vận dụng quan điểm phát triển của CNDVBC để giải thích thế nào là sự phát triển tâm lý người?
Câu 4: Trình bày nội dung và đánh giá tính khoa học của các thuyết nguồn gốc sinh vật, thuyết nguồn gốc xã hội và thuyết hội tụ hai yếu tố về sự phát triển tâm lý người?
Thuyết nguồn gốc sinh vật
Trang 7Những người theo trường phái nguồn gốc sinh vật coi những đặc điểm bẩm sinh di truyền cósẵn của trẻ em là nguồn gốc và động lực của sự phát triển tâm lý cá thể Theo họ, di truyền làyếu tố có tác dụng quyết định đến sự phát triển tâm lý trẻ, còn môi trường là yếu tố điều chỉnhThuyết sinh học là cơ sở của giáo dục tự phát, nó là chỗ dựa cho chủ nghĩa phân biệt chủngtộc.
Tuy nhiên, thuyết này là sự tìm tòi ban đầu về những quy luật phát triển tâm lý con người và
đã kích thích mạnh mẽ các nhà nghiên cứu tìm kiếm những giải thích khác về sự phát triển cáthể người
Thuyết nguồn gốc xã hội
Những người theo thuyết này cho rằng môi trường xã hội là nhân tố quyết định sự phát triểncủa trẻ em Thuyết nguồn gốc xã hội coi trẻ em là tồn tại thụ động, chịu sự tác động và chi phốicủa môi trường xung quanh và không thể thoát khỏi vòng kiểm soát đó
Thuyết nguồn gốc xã hội không giải thích được thực tiễn sống động trong việc hình thành nhâncách con người, nó cũng phủ nhận tính tích cực của con người, đổ mọi nguyên nhân cho môitrường
Thuyết hội tụ hai yếu tố
Những người theo thuyết này cho rằng: sự phát triển tâm lý không phải đơn thuần là sự bộc lộdần những đặc tính di truyền, và cũng không phải là sự phản ánh các tác động bên ngoài củamôi trường, mà là kết quả hội tụ của hai yếu tố trên
Theo thuyết hội tụ hai yếu tố, mỗi chức năng tâm lý có được đều nhờ vào sự tác động của cảhai yếu tố, nhưng ở những tỉ lệ khác nhau
Tuy nhiên, môi trường trong thuyết hội tụ hai yếu tố thường được xem như môi trường tự nhiêncủa thế giới động vật, và tất cả quá trình phát triển được phân tích như quá trình thích nghi,thích ứng với những điều kiện sống bên ngoài
Nhà tâm lý học trẻ em người Nga Đ.B Enconhin nhấn mạnh: dù hai trẻ ở trong cùng một giađình, học cùng lớp, cũng không thể có cùng một môi trường Mỗi trẻ ở vào một hoàn cảnh cómột không hai cho riêng mình nó
Mỗi đứa trẻ quan hệ với những yếu tố nhất định của môi trường, chỉ có những yếu tố nào đượctrẻ lựa chọn, tích cực quan hệ, tích cực tác động qua lại với chúng mới có ảnh hưởng đến sựphát triển của trẻ
Trang 8Câu 5: Các giai đoạn phát triển trí tuệ của trẻ em theo Piaget?
Các kết luận của ông dựa trên những quan sát về cách ứng xử của trẻ em, đầu tiên là của cáccon ông ở nhà, sau đó là các trẻ em khác ở Trung tâm nghiên cứu trẻ em Giơnevơ
Ông nhận thấy là trẻ em ở cùng lứa tuổi thường có những lối ứng xử tương tự nhau, và thườngmắc các lỗi cùng loại khi giải quyết cùng một vấn đề
Ông cho rằng những lỗi mang tính phổ biến và tương tự nhau ở những trẻ cùng lứa tuổi thể hiệntrình độ phát triển trí tuệ của trẻ em lứa tuổi đó
Những trẻ em lứa tuổi lớn hơn lại thường mắc những lỗi khác tương tự nhau khi giải quyết cácvấn đề khó hơn, và hầu như không còn mắc những lỗi mà trẻ em lứa tuổi nhỏ hơn mắc phải.Piaget cho rằng, sự phát triển nhận thức, trí tuệ của tất cả trẻ em từ khi sinh ra đều tiến triển lầnlượt qua các giai đoạn Các giai đoạn sắp xếp theo thứ tự nhất định Sự phát triển trí tuệ của trẻ
em không thể đạt trình độ cao hơn, nếu chưa đạt và hoàn thiện ở mức thấp hơn trước đó
Các giai đoạn này được xem như các mức phát triển trí tuệ phổ biến đối với mọi người Sự khác
biệt đối với mỗi cá nhân chỉ có thể là vận tốc mà cá nhân có thể vượt qua từng giai đoạn và mức phát triển đạt được ở chung cuộc.
Piaget phân chia các giai đoạn phát triển trí tuệ trẻ em như sau:
1 Giai đoạn trí tuệ cảm giác- vận động: (0 - 2 tuổi)
Theo Piaget, một trong những thành tựu quan trọng nhất của giai đoạn trí tuệ cảm giác vậnđộng là khả năng hiểu tính ổn định, không thay đổi, không biến mất của đồ vật Đến cuối giaiđoạn cảm giác vận động, trẻ bắt đầu tách biệt bản thân khỏi những sự vật khác ở môi trườngxung quanh và bắt đầu đã đánh giá được không gian và thời gian Ngoài ra, trẻ đã biết nghĩacủa vài chục từ và nói được các từ đó
2 Giai đoạn tiền thao tác (2 - 6, 7 tuổi)
Khi trẻ bước vào giai đoạn tiền thao tác, khối lượng biểu tượng của trẻ tăng vọt Khả năng dùngbiểu tượng rõ nét nhất là việc sử dụng ngôn ngữ, dùng vật này để thay thế vật khác trong trò
chơi
Mặc dù tư duy trẻ em độ tuổi này phát triển hơn nhưng vẫn là tư duy cảm tính Nó còn dựa trênnhững đặc điểm bề ngoài (những gì trẻ nhìn thấy trực tiếp) chứ chưa dựa vào những suy luậnlogic về bản chất của sự vật hiện tượng
Những thí nghiệm kinh điển của Piaget minh họa tính cảm tính trong tư duy của trẻ em đoạntuổi này là các thí nghiệm về bảo toàn khối lượng chất lỏng, bảo toàn khối lượng đất sét, bảotoàn số lượng các hạt cườm
3 Giai đoạn thao tác cụ thể (7-11 tuổi)
Thao tác nhận thức - đó là thao tác trí óc, cho phép đứa trẻ biến đổi, tổ chức vận động nhữnghình ảnh, biểu tượng trong đầu để đạt đến một kết luận logic
Trang 9Ở giai đoạn này, trẻ có khả năng tưởng tượng “đảo ngược”, có khả năng hiểu tính bảo toàn một
số thuộc tính của sự vật, khả năng phân loại, xếp hạng Các thao tác bảo toàn, phân loại, xếphạng gọi là những thao tác cụ thể
Dù đã đạt được nhiều thành tựu, trẻ em giai đoạn này còn chưa có khả năng suy luận những vấn
đề trừu tượng mang tính giả thuyết
Tại sao trẻ em trên toàn thế giới đi học vào 6 - 7 tuổi Theo Piaget, đó chính là lúc trẻ thoát dầnkhỏi suy luận cảm tính, bắt đầu lĩnh hội được các thao tác nhận thức nên có khả năng hiểu sốhọc, hiểu tính chất của từ ngữ, phân loại động vật, hiểu mối quan hệ giữa đầu bài và nội dungcủa bài, các chữ và từ
4 Giai đoạn thao tác hình thức (11, 12 tuổi trở lên)
Thao tác hình thức là hành động trí óc dựa trên các suy luận và giả định Tư duy hình thức (haycòn gọi là tư duy ngôn ngữ logic) không gắn với những đối tượng vật chất có thực, cụ thể màgắn với những biểu tượng trừu tượng
Trẻ em đạt đến giai đoạn tư duy hình thức có khả năng thao tác với các suy luận logic, các kháiniệm giả định, ngay cả khi những giả định đó hoàn toàn không có thực trong thực tiễn
Piaget nói về những quy luật chung nhất của sự phát triển nhận thức của trẻ em Vưgôtxkinhấn mạnh, nội dung cụ thể của nhận thức và phương thức tư duy của mỗi người phụ thuộc vàonền văn hóa xã hội nơi con người sinh sống
Piaget và Vưgôtxki nói về con đường phát triển nhận thức nhưng ở những giai đoạn khác nhau
và trong những tình huống khác nhau của cuộc sống
Sự hướng dẫn của người lớn giúp trẻ em phát triển nhận thức Nhưng trẻ em cũng có thể pháttriển nhận thức thông qua giao tiếp với bạn bè Vì vậy cả người lớn và bạn bè đều có vai trò đặcbiệt quan trọng trong sự phát triển nhận thức của trẻ em
Như vậy 2 học thuyết này hoàn toàn không phủ nhận nhau mà bổ sung cho nhau, giúp chúng ta
có sự hiểu biết sâu rộng về sự phát triển nhận thức trẻ em
Câu 6: Các giai đoạn phát triển nhân cách theo S Freud?
S Freud đã sử dụng các ca phân tích lâm sàng các bệnh nhân và cả sự hồi tưởng về thời thơ ấucủa ông để xây dựng và phát triển lý thuyết phân tâm
“Phân tâm học” - lý thuyết phân tích “tâm hồn”
Trong trị liệu, Freud đã sử dụng rất nhiều các kĩ thuật khác nhau, nhưng phương pháp liên tưởng tự do được ông sử dụng nhiều nhất
Theo Freud, sự phát triển nhân cách gắn liền với sự phát triển tính dục Do đó, quan điểm củaông về sự phát triển tâm lý còn được gọi là lý thuyết về sự phát triển tâm lý tính dục
Một số luận điểm có tính chất tiền đề trong học thuyết của Freud:
Trang 10• Khái niệm khoái cảm tính dục của Freud được hiểu rất rộng Đó là tất cả những gì tạo
ra cảm giác thoả mãn về cơ thể
• Mỗi giai đoạn lứa tuổi ở trẻ em có một hoặc một số ít bộ phận đặc trưng của cơ thể cókhả năng tạo ra khoái cảm tính dục cho cá nhân lứa tuổi đó
• Khoái cảm tính dục của trẻ em tiến dần từ các bộ phận riêng lẻ, rời rạc trên cơ thể đếncác vùng của cơ quan sinh dục Đối tượng gây khoái cảm chuyển dần từ bản thân sang đốitượng là những người khác và giới khác
• Sự không phù hợp về bộ phận tạo ra khoái cảm tính dục tương ứng với giai đoạn lứatuổi và không phù hợp với xu thế tiến triển của nó là dấu hiệu của sự phát triển không bìnhthường về tâm lý tính dục
Cấu trúc nhân cách người trưởng thành có 3 tầng cơ bản: cái nó, cái tôi và cái siêu tôi
Khi sinh ra, đứa trẻ mới chỉ có “cái nó” và hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn Gặp phảinhững cấm đoán, ngăn chặn của người lớn và xã hội, ở đứa trẻ phát triển dần các cấu trúc “cáitôi” và “cái siêu tôi” Cái tôi hoạt động theo nguyên tắc hiện thực, có lý trí Cái siêu tôi hoạtđộng theo nguyên tắc kiểm soát, phán xét, phê bình
Các giai đoạn phát triển theo Freud gắn liền với sự dịch chuyển các vùng nhạy cảm trên cơ thể,những vùng mà khi kích thích chúng thì tạo sự thỏa mãn cơ thể
Giai đoạn môi miệng (Từ khi sinh đến 1 - 1,5 tuổi):
Vùng nhạy cảm nhất ở giai đoạn này là môi miệng Bú mẹ có khả năng tạo khoái cảm tính dụcđặc biệt ở trẻ nhỏ
Giai đoạn hậu môn (Từ 1 - 1,5 đến 3 tuổi):
Vùng nhạy cảm của cơ thể là vùng hậu môn Việc điều khiển được thời điểm vệ sinh theo ýmình tạo cho trẻ cảm giác hài lòng
Giai đoạn dương vật (Từ 3 đến 5 - 6 tuổi):
Vùng nhạy cảm chuyển về vùng cơ quan sinh dục Đứa trẻ bắt đầu có cảm giác gắn bó tính dụcvới người khác, đầu tiên là người cha hoặc người mẹ, tùy thuộc đó là bé gái hay bé trai
Giai đoạn tiềm ẩn (Từ 5 – 6 đến 12 tuổi):
Các xung năng tính dục bị ẩn đi Hứng thú tính dục có vẻ lắng xuống Cái “tôi” dường nhưhoàn toàn kiểm soát được cái “nó”
Giai đoạn sinh dục (Từ 12 tuổi trở đi):
Các xung năng tính dục xuất hiện trở lại, tất cả những vùng nhạy cảm trước đây liên kết lại vàcùng hướng tới một mục đích là giao tiếp tình dục
Câu 7: Các giai đoạn phát triển nhân cách theo Ẻrikson?
Erikson và học thuyết phát triển tâm lý xã hội
Trang 11Ở vị thế cuả một người nhập cư, cha mẹ lại ly hôn và ông không còn tiếp xúc với cha nênchàng trai trẻ đã gặp nhiều khó khăn lúng túng trước khi ổn định nghề nghiệp Ông đã kết luậnrằng, sự tìm kiếm bản sắc (identity) là chủ đề chính trong suốt cả cuộc đời con người.
Freud đã xem nền văn minh, xã hội như là nguồn gốc của sự bất mãn, là trở ngại cho các hammuốn vô thức Còn Erikson cho rằng xã hội chứa đựng sức mạnh dương tính tiềm tàng địnhhướng cho sự phát triển nhân cách con người
Erikson đồng ý với Freud về cấu trúc của nhân cách Theo ông, khi chúng ta muốn – đó là cái
nó, khi chúng ta cần phải – đó là cái siêu tôi, ở giữa là cái tôi
Cái tôi luôn sử dụng những cơ chế tự vệ để điều hòa giữa những mong muốn bồng bột và tiếngnói của lương tâm
Sự phát triển nhân cách, theo Erikson, được xác định bởi những gì mà xã hội đòi hỏi ở conngười
Mỗi đứa trẻ cần phải trải qua một loạt các giai đoạn phát triển Mỗi giai đoạn, ở con người hìnhthành những phẩm chất nhân cách nhất định Những phẩm chất này không mất đi mà được giữthành những nét nhân cách trong suốt quãng đời sau đó
Ông phân chia đời người thành 8 giai đoạn, mỗi giai đoạn chứa đựng một sự khủng khoảng(xung đột) tâm lý xã hội nhất định mà con người cần giải quyết
Nhân cách phát triển qua mỗi lần giải quyết những xung đột giữa các nhu cầu của cá nhân vànhững đòi hỏi của xã hội Ở bất kỳ giai đoạn nào, mọi sự thất bại trong việc giải quyết xung độtđều có thể gây nên những rối nhiễu tâm lý, ảnh hưởng đến các giai đoạn tiếp theo của cuộc đời.Sau đây là các giai đoạn phát triển tâm lý xã hội theo E.Erikson
1 Tin tưởng hoặc không tin tưởng (từ khi sinh đến 1 tuổi)
Phụ thuộc vào sự chăm sóc thời thơ ấu mà trẻ có tin hay không tin vào thế giới xung quanh.Nếu nhu cầu của trẻ được thoả mãn và được mọi người luôn quan tâm và chú ý thì trẻ sẽ có ấntượng tốt về thế giới và có niềm tin về sự an toàn của nó Nếu môi trường xung quanh không ổnđịnh, gây ra cho trẻ nhiều nỗi đau, sự căng thẳng và bất ổn thì trẻ sẽ cho rằng thế giới xungquanh là không an toàn và không có niềm tin vào nó
2 Tự lập hoặc xấu hổ và nghi ngờ (từ 1đến 3 tuổi)
Khi bắt đầu đi được, phạm vi hoạt động của trẻ mở rộng, trẻ có nhiều khả năng cơ thể và bắtđầu tự ăn, uống, mặc quần áo, đi giày dép Khi trẻ tự làm được một cái gì đó chúng có đượccảm giác tự tin Nhưng nếu trẻ thường xuyên không tự làm được, bị mọi người chê cười, trẻ sẽxấu hổ và nghi ngờ vào khả năng của mình
3 Sáng kiến hoặc cảm xúc tội lỗi (từ 3 đến 6 tuổi)
Trẻ hoạt động rất tích cực Chúng muốn biết được thế giới có cấu tạo như thế nào và nên tácđộng tới nó ra sao Nếu việc khám phá môi trường xung quanh có hiệu quả và được khích lệ thìchúng trở nên hoạt bát Nhưng nếu chúng luôn bị người lớn ngăn chặn các hoạt động khám phá,
bị phê bình hoặc trừng phạt thì chúng cảm thấy luôn có lỗi và nhút nhát
Trang 124 Yêu thích lao động hoặc cảm xúc thiếu hụt (từ 6 đến 12 tuổi)
Trẻ học nhiều điều trong nhà trường, mở rộng các mối quan hệ giao tiếp Trẻ thường tự đánhgiá mình trên cơ sở so sánh với các bạn, trên cơ sở nhận xét đánh giá của người lớn, thầy côgiáo Nếu trẻ tự đánh giá mình tương đối cao thì sẽ tự tin, yêu thích lao động, học tập Nếu trẻ
tự đánh giá mình thấp sẽ dẫn đến tự ti và cảm thấy mình yếu kém
5 Đồng nhất và lẫn lộn vai trò (từ 12 đến 18 tuổi)
Điều quan trọng đối với thanh thiếu niên là phải biết tích hợp các vai trò khác nhau của mình để
đi tới một sự đồng nhất thống nhất về cái Tôi của bản thân Nếu trẻ không hình thành được tínhđồng nhất của mình thì sẽ dẫn đến sự lẫn lộn các vai trò, không tự xác định được bản thân vàứng xử không phù hợp
6 Gần gũi và cô lập (từ 18 đến 40 tuổi)
Ở giai đoạn tuổi thanh niên và đầu tuổi trưởng thành, con người luôn tìm kiếm những tình cảmgần gũi, thân tình và không muốn bị tách biệt, cô lập Không phải ai cũng có khả năng tạo lậpcác mối quan hệ thân thiết, gắn bó, gần gũi với người khác Đó là khả năng trao tặng tâm hồnmình cho người khác mà không làm mất đi bản sắc của riêng mình
7 Tái sinh và trì trệ (từ 40 đến 60, 65 tuổi)
Trong giai đoạn trưởng thành, nếu giải quyết được các xung đột của các giai đoạn trước, conngười thường giành sự quan tâm của mình cho những người khác nhiều hơn và giúp đỡ họ Một
số người có thể tập trung năng lực của mình để giải quyết các vấn đề xã hội
Việc không giải quyết được các xung đột trước đó có thể dẫn tới việc con người tự nuông chiềumình, chối bỏ người khác, quan tâm tới sức khoẻ, các nhu cầu cá nhân, sự bình yên của bảnthân mình quá mức
8 Sự thống nhất bản ngã hoặc là nỗi thất vọng (từ 60, 65 tuổi trở đi)
Trong các giai đoạn cuối đời, con người thường đánh giá lại cuộc đời đã qua Nếu họ hài lòngvới quãng đời đã qua và cảm nhận được ý nghĩa cuộc sống thì họ có được cảm nhận về sựthống nhất của cái Tôi, sự thống nhất bản ngã Ngược lại, nếu họ cảm thấy rằng họ đã bỏ lỡ quánhiều cơ hội, chịu nhiều thất bại và có nhiều lỗi lầm thì ở họ xuất hiện sự hối tiếc và nỗi thất
vọng
Theo Erikson, mỗi giai đoạn phát triển được xây dựng trên cơ sở những gì tạo ra trước đó Mặc
dù con người có thể giải quyết các vấn đề của giai đoạn trước ở những giai đoạn tiếp theo,nhưng sự phát triển tốt nhất là giải quyết kịp thời các xung đột và khủng khoảng trong nhữnggiai đoạn tương ứng với chúng
Ví dụ, nếu đứa trẻ không nhận được sự quan tâm, tình yêu và sự nuôi dưỡng chu đáo ở thời thơ
ấu, thì có thể bù đắp bằng việc quan tâm chú ý của người lớn nhiều hơn trong các giai đoạn tiếptheo Tuy vậy, khó có thể bù đắp được hoàn toàn Sự phát triển diễn ra êm đẹp và dễ dàng hơnnhiều nếu trong thời kỳ thơ ấu chúng nhận được tất cả những gì cần thiết và có được niềm tinvững vàng về những người khác và thế giới xung quanh
Trang 13Theo Erikson, đến khoảng 17-20 tuổi ở con người diễn ra sự hình thành cấu trúc hạt nhân cơbản nhất - đó là tính đồng nhất của nhân cách (Identity), hay nói cách khác, đó là sự hình thànhbản sắc của nhân cách Quá trình tìm tòi bản sắc và tính đồng nhất, toàn vẹn của con người còntiếp tục diễn ra trong suốt những giai đoạn tiếp theo Khủng hoảng bản sắc (Identity crises) cóthể coi là một trong những khủng hoảng sâu sắc nhất trong cuộc đời.
Cần lưu ý rằng: lý thuyết của Erikson dựa trên những nghiên cứu về sự phát triển nhân cáchcon người ở các nền văn hoá phương Tây, trong đó tính đồng nhất của cá nhân cao hơn tínhđồng nhất cộng đồng Chúng ta là những con người sống trong nền văn hóa cộng đồng, vàchúng ta có thể cảm nhận được sự coi trọng thái quá cái Tôi trong nhiều lý thuyết của phươngTây
Sự khác biệt giữa văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng chắc chắn sẽ tạo ra sự khác biệt trong
sự hình thành nhân cách con người
Câu 8: Trình bày nội dung cơ bản trong thuyết văn hóa xã hội của Vugotxki?
a Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển nhận thức của con người
Vưgôtxki khẳng định rằng: nhận thức của con người bao giờ cũng mang đậm nét văn hóa xãhội, và chịu ảnh hưởng của những giá trị, niềm tin, cách sống của nền văn hóa, nơi con người
đó sinh sống (ngay cả khi người đó chỉ tư duy, nhận thức một mình)
Vưgôtxki cho rằng, trẻ em sinh ra với chỉ một vài chức năng tâm lý sơ đẳng, những chức năngnày dần dần sẽ phát triển và trở thành các chức năng tâm lý cao cấp phức tạp Sự phát triển nàydiễn ra dưới ảnh hưởng trực tiếp của nền văn hóa xã hội
Và vì mỗi nền văn hóa xã hội có hệ thống giá trị, chuẩn mực, các công cụ phương tiện tư duykhác nhau nên nội dung và phương thức phát triển nhận thức cũng rất khác nhau, và không thểgiống nhau đối với toàn thể nhân loại
b Sự phát triển nhận thức của trẻ diễn ra phần nhiều nhờ vào sự dẫn dắt của cha mẹ, thầy
cô và những người có kinh nghiệm hơn
Vưgôtxki đồng ý với Piaget là trẻ em luôn ham hiểu biết, tích cực tìm tòi, khám phá thế giớixung quanh
Nhưng khác với Piaget, Vưgôtxki cho rằng, nhiều phát hiện quan trọng của trẻ em diễn ra nhờ
sự dẫn dắt của người lớn (có kinh nghiệm hơn), chứ không phải do trẻ tự mày mò mà có được
c Vùng phát triển gần nhất
Vùng phát triển gần nhất, theo cách hiểu của Vưgôtxki, là khoảng cách giữa mức phát triểnhiện có của đứa trẻ và mức phát triển có thể đạt được của nó nếu có sự gợi ý, giúp đỡ của ngườilớn
Theo Vưgôtxki, giáo dục cần phải hướng vào chính “vùng phát triển gần nhất” của mỗi đứa trẻ
Trang 14Dạy học chỉ tốt và đúng khi nó đi trước sự phát triển hiện có của trẻ em và tác động vào đúngvùng phát triển gần nhất của trẻ, thúc đẩy sự phát triển khả năng tiềm tàng có thể có của đứa trẻ
ở thời điểm đó
Câu 9: Trình bày nội dung cơ bản của thuyết hoạt động về phát triển KN hoạt động chủ đạo?
Cách tiếp cận hoạt động về phát triển
Phát triển tư tưởng phát triển của Vưgôtxki, các nhà tâm lý học Xô viết vào cuối những năm 30(A.N Leonchiev, D B Enconhin, A.V Zaparogiet, N.U Zintrenko, P.IA Galperin, L.I.Bagiôvich… ) đã thấy rằng hoạt động thực tiễn có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triểntâm lý con người
- Theo các nhà khoa học này, không thể “rót” kiến thức từ người lớn sang trẻ em, từ thầy sangtrò Nếu không có hoạt động thực sự tích cực của trẻ, thì không có sự dạy bảo nào có thể ảnhhưởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ
- Các tác giả còn thấy rằng ứng với mỗi giai đoạn phát triển có một dạng hoạt động chủ đạo, cóảnh hưởng sâu rộng nhất tới sự phát triển của trẻ ở giai đoạn phát triển đó
Các nghiên cứu ở các nền văn hóa khác nhau còn cho thấy nội dung và hình thức các hoạt độngchủ đạo phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể, trong đó diễn ra sự phát triển củatrẻ
- Theo Vưgôtxki phát triển có nghĩa là nảy sinh những cấu trúc mới Các giai đoạn phát triểnđược xác định bởi những cấu trúc lứa tuổi mới mà ở giai đoạn lứa tuổi trước đó chưa có, màmới ở dạng tiềm ẩn
- Nguồn gốc của sự phát triển là môi trường xã hội Ảnh hưởng của cùng một môi trường xãhội lên trẻ em sẽ khác nhau ở mỗi giai đoạn lứa tuổi khác nhau Khái niệm “hoàn cảnh xã hộicủa sự phát triển” chỉ mối quan hệ đặc trưng giữa đứa trẻ ở giai đoạn phát triển nhất định vàmôi trường xã hội
- Các giai đoạn phát triển khủng hoảng (đột ngột) xen lẫn những giai đoạn phát triển ổn địnhlàm thành qui luật phát triển của trẻ em
- Các giai đoạn phát triển ổn định đặc trưng bởi quá trình phát triển từ từ diễn ra trong khoảngthời gian dài, và thường là khó nhận ra đối với mọi người xung quanh
- Những đoạn khủng hoảng thường kéo dài không lâu Đó là những giai đoạn phát triển ngắnnhưng mạnh mẽ Đứa trẻ có thể đột ngột thay đổi trên nhiều phương diện
- Trong thời gian khủng hoảng, sự phát triển dường như mang tính tiêu cực, những cấu trúcđược tạo thành ở giai đoạn phát triển trước dường như bị phá vỡ, mất đi Nhưng thực chất, cùngvới sự phá vỡ cái cũ, đang xuất hiện cái mới hơn
Trang 15- Những cấu trúc mới, xuất hiện ở giai đoạn khủng hoảng ngắn ngủi thường không bền vững,
và sẽ chuyển hóa dần vào những cấu trúc mới bền vững hơn, hình thành trong giai đoạn pháttriển ổn định sau đó
Mô hình hệ thống của Bronfenbrenner
Theo Bronfenbrenner và các cộng sự của ông, môi trường văn hoá xã hội bao gồm 4 hệ thốngđan xen lẫn nhau, chúng thường được biểu thị dưới dạng các vòng tròn đồng tâm Đặc điểmđiển hình của mô hình này là mối liên hệ ngược mềm dẻo của các tiểu hệ thống trong thời gian,tạo ra hệ thống thứ 5 là hệ thời gian
Hệ thống vi mô, là tác động qua lại của cá nhân trẻ với môi trường gần kề, như: gia đình, vườn
trẻ và trường học Hệ thống vi mô thường được các nhà tâm lý quan tâm nghiên cứu nhất
Hệ thống trung mô, được tạo bởi các mối quan hệ qua lại giữa các tiểu hệ thống Như các mối
quan hệ chính thức và không chính thức giữa gia đình, nhà trường hoặc giữa gia đình, nhàtrường và nhóm bạn bè
Hệ ngoài, có quan hệ với các khía cạnh của môi trường xã hội nằm ngoài sự tác động trực tiếp
của trẻ, nhưng ảnh hưởng mạnh tới nó, như: chỗ làm việc của cha mẹ, các cơ quan bảo vệ sứckhoẻ
Hệ vĩ mô, không có quan hệ với một môi trường cụ thể của trẻ Nó bao gồm giá trị cuộc sống,
các chuẩn mực và truyền thống của nền văn hoá nơi trẻ sống
Mặc dù việc can thiệp để duy trì và kích thích quá trình phát triển có thể thực hiện ở các mức
độ khác nhau của mô hình, Bronfenbrenner cho rằng sự can thiệp đóng vai trò quan trọng nhất
ở mức độ hệ vĩ mô, vì hệ vĩ mô có thể tác động tới các mức độ khác
Trang 16- Trẻ có thể dõi theo những vật chuyển động Vừa dõi theo vật mà trẻ thích, vừa đập chân đậptay, vừa phát ra những âm thanh sung sướng
- Trẻ đã có thể phân biệt vật mới với vật quen thuộc, phân biệt được khá nhiều thuộc tính củavật, như màu sắc, hình dáng, độ phức tạp Bắt đầu có khả năng tri giác không gian, tri giác độsâu
- Gibson cùng với các đồng nghiệp của mình đã làm thí nghiệm thú vị nghiên cứu khả năng trigiác độ sâu của trẻ (Gibson, Walk, 1960)
- Từ khi sinh ra trẻ biết nhìn mọi vật xung quanh một cách có chọn lọc Trẻ thích nhìn các hìnhảnh mới mẻ, phức tạp, thích nhìn khuôn mặt của con người, và đặc biệt thích nhìn khuôn mặt
mẹ
- Nhiều nhà khoa học cho rằng, khả năng nhận biết khuôn mặt mẹ và yêu thích nó là khả năngkhông thể thiếu để hình thành mối quan hệ gắn bó giữa trẻ và cha mẹ Việc trẻ thích thú nhìnmặt mẹ và yên lặng khi được bố bế làm cho các bậc cha mẹ cảm thấy mình là những ngườiquan trọng và khéo léo
- Trẻ còn có khả năng bắt chước theo các biểu hiện nét mặt khác nhau của người lớn Khả năngbắt chước những biểu hiện nét mặt của người lớn cũng là yếu tố quan trọng của sự phát triển vàgìn giữ mối liên hệ tình cảm giữa trẻ và cha mẹ
- Người lớn chăm sóc trẻ cần cố gắng đưa trẻ đi dạo chơi để trẻ có thể tri giác những cảnh vật
đa dạng xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu về các ấn tượng mới mẻ của trẻ
- Theo quan điểm của Piaget, việc trẻ nhận thức được tính ổn định của các sự vật là thành tựuquan trọng của thời kì tâm vận động
- Tính ổn định của các sự vật, hiện tượng là sự nhận thức được các sự vật, hiện tượng luôn tồntại trong thời gian và không gian, không phụ thuộc vào việc trẻ có tri giác thấy các sự vật, hiệntượng ấy hay không Biểu hiện của việc trẻ nhận thức được tính ổn định của sự vật trước hết là
ở khả năng nhận biết được các đồ vật quen thuộc, tiếp đến là có hành vi tìm kiếm khi đồ vậtbiến mất
- Khả năng nhận thức được tính ổn định của các sự vật, hiện tượng có liên quan chặt chẽ với trínhớ hình tượng của trẻ
Trang 17- Trí nhớ hình tượng là khả năng hình dung các sự vật, hiện tượng dưới dạng các hình ảnh haynói cách khác là khả năng tái hiện các sự vật, hiện tượng khi chúng không còn tồn tại trực tiếptrước mắt
- Hoạt động bắt chước chính là biểu hiện của quá trình ghi nhớ hình tượng ở trẻ
Vận động và các hành động:
- Ngoài những vận động thô, ở trẻ đã xuất hiện những vận động tinh khá phức tạp, gắn liền vớikhả năng tri giác tổng thể của trẻ Đến tháng thứ 5, thứ 6 trẻ có thể với được vật một cách chínhxác Để làm được việc này đòi hỏi sự phối hợp phức tạp giữa thị giác và cơ quan vận động
- Hành động với đồ vật một cách chính xác có thể coi là hành động có định hướng đầu tiên, là
cơ sở phát triển các hành động sờ, nắm, các thao tác với đồ vật sau này của trẻ
- Trẻ tích cực tìm tòi, khám phá những tính chất của các vật xung quanh, trẻ quan tâm khôngchỉ “đây là cái gì”, mà còn “có thể làm gì với nó”
- Tri giác và hành động là cơ sở cho sự phát triển những hình thức đầu tiên của tư duy trực quanhành động xuất hiện ở cuối giai đoạn lứa tuổi này
Cảm xúc
- Ngay ở những tuần đầu sau khi sinh trẻ đã thích sự đều đặn, yên tĩnh và cân bằng Trẻ sử dụngcác cách thức cư xử mang tính tín hiệu và định hướng (khóc, các hoạt động bằng miệng, quansát bằng mắt) để xây dựng những mối quan hệ với mọi người xung quanh Ở giai đoạn này trẻkhông hề phân biệt được sự khác nhau giữa mọi người
- Vào tháng thứ 2, trẻ bắt đầu quan tâm, chú ý hơn đến thế giới xung quanh Trẻ nhận biết đượcnhững người thân quen và trẻ hướng sự chú ý của mình trước tiên đến mẹ hay những ngườichăm sóc trẻ
- Những tháng tiếp theo, trẻ thường phản ứng lại những người gần gũi với trẻ bằng các cử động
cơ thể, cảm thấy hài lòng và cười một cách thoải mái
Trẻ đã bắt đầu “trò chuyện” với mọi người Mẹ và trẻ thường ôm ấp, nhìn ngắm nhau, “nóichuyện” thân mật với nhau Hiện tượng đó cũng xảy ra giữa bố và trẻ, thậm chí giữa trẻ với anhchị của mình
- Trẻ lên một đã có thể điều khiển hành vi của mình tốt hơn và đóng vai trò chủ động hơn trongcác mối quan hệ cảm xúc với bố và mẹ
Vào thời kì này ở trẻ xuất hiện một loạt các cảm xúc mới bao gồm tức giận, vui mừng và buồnbực gắn với những tình huống đa dạng hơn trước đó
Sự phát triển ngôn ngữ
- Ngay từ khi mới sinh trẻ đã có cách biểu hiện sự đòi hỏi, mong muốn trước bố mẹ, ví dụ: trẻkhóc khi muốn ăn, ọ ẹ khi ướt tã lót
- Khi gần 1 năm tuổi hầu hết trẻ đã biết phát âm từ đầu tiên
- Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em diễn ra theo 2 hướng: một mặt là hiểu lời nói của người lớn,mặt khác là hình thành ngôn ngữ tích cực của riêng mình
Trang 18- Trong vòng 1 năm đầu trẻ đã học được các cách thức giao tiếp cơ bản với người lớn Nhiềunghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em lứa tuổi này khẳng định: trình độ ngôn ngữ của trẻ em phụthuộc chủ yếu vào hoạt động giao tiếp của người lớn với trẻ
- Càng thỏa mãn nhu cầu giao tiếp của trẻ nhiều bao nhiêu, ngôn ngữ của trẻ càng phát triểnphong phú đa dạng bấy nhiêu và ngược lại
Câu 11: Vai trò của giao tiếp xúc cảm trực tiếp (tình cảm gắn bó) giữa mẹ và con với sự phát triển tâm lý của trẻ trong những năm đầu đời?
Nhà tâm lí học Bowbly, 1973, đã khẳng định rằng, ngay từ khi vừa mới sinh ra, trẻ đã có cáccách thức cư xử cho phép gần gũi với mọi người, và trẻ luôn ở trong trạng thái sẵn sàng đáp lạinhững tín hiệu giao tiếp của người lớn
Theo Bowbly thì những cách thức cư xử như thế được hình thành ở con người và những loàiđộng vật khác trong quá trình tiến hoá, trong quá trình sống, quá trình trưởng thành và trong ditruyền
Bowbly khẳng định rằng sự gắn bó được hình thành dựa trên những cách thức cư xử được lậptrình sẵn của trẻ và của những người quan tâm đến trẻ, sau đó chúng được củng cố bằng cáchoạt động, các biểu hiện bên ngoài nhằm thoả mãn nhu cầu của trẻ
Cuối cùng các nhà tâm lí học Bowbly và Ainsworth đi đến khẳng định rằng, kiểu quan hệ giữacha mẹ và trẻ được hình thành trong quá trình phát triển sự gắn bó hai năm đầu đời sẽ tạo cơ sởcho sự hình thành những mối quan hệ về sau này
Quan điểm này có điểm tương đồng với quan điểm về sự phát triển tâm lí xã hội của nhà tâm líhọc Erikson
Trang 19Những nhận định trên có điểm tương đồng với quan điểm của các nhà tâm lý học hoạt độngcho rằng: hoạt động chủ đạo của trẻ em trong năm đầu tiên là hoạt động giao lưu cảm xúc trựctiếp giữa trẻ và mẹ (Leonchiev A N., 1978 Enconhin D B., 2000)
Câu 13: Sự phát triển nhận thức, xúc cảm ngôn ngữ của trẻ từ 1-3 tuổi?
Trẻ từ 15 đến 18 tháng tuổi đã cho búp bê ăn bằng bát đĩa, thìa đồ chơi
Trẻ từ 20 đến 26 tháng tuổi đã có thể tưởng tượng được một vật là một vật gì đó khác, ví dụ: cáichổi có thể biến thành con ngựa, sàn nhà trở thành bể bơi
Trí nhớ
Mặc dù trẻ đã có khả năng nhớ không chủ định cái gì đó, nhưng trí nhớ vẫn dựa trên tri giác vàdường như là sự tiếp diễn của tri giác, chứ không phải dựa trên những hình ảnh, kinh nghiệmcũ
Hành động và tư duy.
Tư duy của trẻ em lứa tuổi này là tư duy trực quan hành động cụ thể Nghĩa là những biểu hiện
tư duy của trẻ đang gắn rất chặt với hành động trong những tình huống cụ thể
Suốt thời kỳ này, hành động với đồ vật luôn giữ vai trò chủ đạo
Nhờ có sự hướng dẫn của người lớn, trẻ dần dần lĩnh hội những phương thức hành động với các
đồ vật do loài người sáng tạo ra, ví dụ, cách sử dụng cốc, thìa, cách chơi búp bê, ô tô…
Tư duy của trẻ em phát triển trong quá trình hoạt động với đồ vật: chồng các khối gỗ từ to đếnnhỏ thành hình tháp, lồng các con búp bê đồng dạng vào nhau, lấy que khều đồ chơi ở xa Trẻ cũng dần có khả năng khái quát các đồ vật tương tự nhau và gọi tên chung cho chúng
Trang 20Sau khi tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu, các nhà khoa học đã viết ra nhiều lí luận khác nhaugiải thích cho quá trình nắm vững ngôn ngữ của con người từ lúc chỉ là tiếng kêu khóc, tiếngbập bẹ của trẻ và sau đó là việc nắm vững ngôn ngữ ở người lớn
Các tác giả cho rằng, trẻ em học được ngôn ngữ là nhờ:
Tuy nhiên bằng cách nào đó trẻ đã nắm vững cú pháp câu Mặc dù trẻ có thể cấu tạo nhiều câubằng cách bắt chước các câu khác tương tự, nhưng trẻ vẫn tự nghĩ ra các dạng câu của riêngmình mà trẻ không hề nghe thấy ở mọi người xung quanh Thậm chí khi người lớn bắt đầu bắtchước theo cách nói của trẻ hoặc thử chữa lỗi cho trẻ, thì trẻ vẫn tiếp tục dùng các cấu trúc lờinói mà trẻ nghĩ ra
Củng cố
Hoạt động củng cố đóng vai trò quan trọng trong việc nắm vững ngôn ngữ của trẻ
Việc người lớn quan tâm và luôn đáp lại trẻ có thể tạo điều kiện cho việc học ngôn ngữ ở trẻ.Trẻ sẽ dùng đi dùng lại các từ có khả năng giúp ích nhiều cho chúng
Cấu trúc ngôn ngữ bẩm sinh
Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Chomsky đã khẳng định rằng, con người từ khi sinh ra đã có mộtcấu trúc đặc biệt cho việc nắm vững ngôn ngữ Cấu trúc này cho phép trẻ xử lí những thông tinngôn ngữ nhận được và tự mình tìm ra các qui tắc ngữ pháp cho riêng mình
Theo Chomsky, ngay từ đầu con người đã có khả năng đối với việc học ngôn ngữ và trẻ họcngôn ngữ một cách tích cực, mặc dù không phải lúc nào trẻ cũng có ý thức về điều đó
Các hiện tượng chứng minh cho sự tồn tại của cơ cấu nắm vững ngôn ngữ của con người lànhững đứa trẻ bị điếc có khả năng phát triển hệ thống giao tiếp bằng cử chỉ
Ngoài ra, ở mọi dân tộc, người ta đều thấy có qui luật chung của việc lĩnh hội ngôn ngữ ở trẻem
Liệu có phải trẻ nắm vững được ngôn ngữ vì tồn tại cơ cấu nắm vững ngôn ngữ hay không?Vấn đề này cho đến nay vẫn còn gây tranh cãi
Sự phát triển nhận thức.
Sự phát triển nhận thức của trẻ được coi là yêú tố quan trọng nhất trong việc nắm vững ngônngữ, hình thành các khái niệm và các mối quan hệ ở trẻ