1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ CƯƠNG tâm lý học GIAO TIẾP

25 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 463,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm, cấu trúc và vai trò của ấn tượng ban đầu. Bạn cần làm gì để tạo được ấn tượng tốt ở người khác? 1.1. Khái niệm Ấn tượng ban đầu là hình ảnh về đối tượng giao tiếp được hình thành trong lần gặp gỡ đầu tiên. Đó là những đánh giá, nhận xét của chúng ta về đối tượng giao tiếp trong lần đầu tiếp xúc. Ví dụ, sau khi tiếp một khách hàng mới, bạn thốt lên: quot;Bà ta ăn mặc mới tân thời làm saoquot;, hoặc: quot;Cách trò chuyện của bà ta thật là hấp dẫn và dí dỏmquot;. 1.2. Cấu trúc của ấn tượng ban đầu Trong cấu trúc của ấn tượng ban đầu, người ta thường nói đến ba thành phần: thành phần cảm tính, thành phần lý tính và thành phần cảm xúc. 1.2.1. Thành phần cảm tính Thành phần cảm tính bao gồm các đặc điểm bề ngoài của đối tượng giao tiếp, như: ăn mặc, trang điểm, ánh mắt, nụ cười, dáng điệu v,v. Đây là thành phần cơ bản, chiếm ưu thế trong cấu trúc của ấn tượng ban đầu.

Trang 1

BAN KỸ THUẬT ỨNG DỤNG

ĐỀ CƯƠNG TÂM LÝ HỌC GIAO TIẾP

Chúc các bạn thi tốt!!!

Trang 2

ĐỀ CƯƠNG TÂM LÝ HỌC GIAO TIẾP Câu 1: Khái niệm, cấu trúc và vai trò của ấn tượng ban đầu Bạn cần làm gì để tạo được ấn tượng tốt ở người khác?

1.1 Khái niệm

Ấn tượng ban đầu là hình ảnh về đối tượng giao tiếp được hình thànhtrong lần gặp gỡ đầu tiên Đó là những đánh giá, nhận xét của chúng ta vềđối tượng giao tiếp trong lần đầu tiếp xúc

Ví dụ, sau khi tiếp một khách hàng mới, bạn thốt lên: "Bà ta ăn mặcmới tân thời làm sao!", hoặc: "Cách trò chuyện của bà ta thật là hấp dẫn và

dí dỏm!"

1.2 Cấu trúc của ấn tượng ban đầu

Trong cấu trúc của ấn tượng ban đầu, người ta thường nói đến bathành phần: thành phần cảm tính, thành phần lý tính và thành phần cảmxúc

1.2.1 Thành phần cảm tính

Thành phần cảm tính bao gồm các đặc điểm bề ngoài của đối tượnggiao tiếp, như: ăn mặc, trang điểm, ánh mắt, nụ cười, dáng điệu v,v Đây làthành phần cơ bản, chiếm ưu thế trong cấu trúc của ấn tượng ban đầu

Vẻ bề ngoài của một người không phải luôn phản ánh chân thực bảnchất của họ Trong cuộc sống, có những người bề ngoài thì cười cười, nóinói, tỏ vẻ thân thiện, nhưng lòng lại ẩn chứa những mưu mô, ý đồ xấu xa.Cho nên những người có lý trí và từng trải thường không để ấn tượng banđầu ảnh hưởng nhiều đến mối quan hệ, đến hành động của họ

1.2.2 Thành phần lý tính

Thành phần lý tính gồm những đánh giá, nhận xét ban đầu về nhữngphẩm chất bên trong của đối tượng giao tiếp, như tính cách, tình cảm, nănglực, quan điểm v.v Chẳng hạn như: "Anh chàng có vẻ nghiêm túc.", hoặc

"Cô ta trông hiền lành và dịu dàng"

1.2.3 Thành phần cảm xúc

Thành phần cảm xúc gồm những rung động nảy sinh trong quá trìnhgặp gỡ, như: thiện cảm hay ác cảm, hài lòng, dễ chịu hay không hài lòng,khó chịu Thành phần cảm xúc ảnh hưởng nhiều đến độ bền vững của ấntượng ban đầu Nói chung, cảm xúc càng mạnh thì hình ảnh về người đốithoại càng khó phai mờ

Như vậy, ấn tượng ban đầu là hình ảnh mang tính tổng thể về đốitượng giao tiếp, tức được hình thành từ nhiều đặc điểm, nhiều nét khácnhau Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Asch Solômon - nhà tâm líhọc Mỹ, thì trong số chúng luôn có một nét là trung tâm, có ý nghĩa nhất vàquyết định ấn tượng về người khác ở trong chúng ta (Chúng ta thường gọi

là nét "gây ấn tượng") Điều này chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy từ kinhnghiệm của bản thân Có khi chỉ một lần gặp rồi sau đó chúng ta nhớ mãimột cái nhìn, một nụ cười hay một bàn tay ấm áp với cái bắt tay chặt củangười đó

Trang 3

1.3 Vai trò của ấn tượng ban đầu

Ấn tượng ban đầu có ý nghĩa lớn trong giao tiếp Nếu chúng ta tạođược ấn tượng tốt ở người khác ngay trong lần đầu tiếp xúc, thì điều đó cónghĩa là họ có cảm tình với chúng ta, họ còn muốn gặp chúng ta ở nhữnglần sau Đó chính là điều kiện thuận lợi để chúng ta xây dựng, phát triểnmối quan hệ tốt đẹp và lâu dài với họ Ngược lại, nếu ngay trong lần đầugặp gỡ mà chúng ta đã có những sơ suất và để lại ấn tượng không tốt, thìchúng ta thường khó khăn trong những lần gặp gỡ sau đó và phải mấtkhông ít công sức mới có thể xóa được ấn tượng đó Không phải ngẫu nhiên

mà trong kinh doanh, người ta ví ấn tượng ban đầu như là phần vốn gópcủa giới doanh nhân

1.4 Quá trình hình thành ấn tượng ban đầu

Ấn tượng ban đầu có vai trò quan trọng như vậy cho nên làm thế nào

để tạo ấn tượng tốt ở người khác là vấn đề chúng ta quan tâm Tuy nhiên,trước khi tìm hiểu vấn đề này, chúng ta cần nắm một số đặc điểm về quátrình hình thành ấn tượng ban đầu

1.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành ấn tượng ban đầu

Quá trình hình thành ấn tượng ban đầu là một quá trình phức tạp,chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Dưới đây là một số yếu tố cơ bản

- Các yếu tố thuộc đối tượng giao tiếp

Ấn tượng ban đầu là hình ảnh về đối tượng giao tiếp cho nên trước hết

nó phụ thuộc vào đặc điểm của đối tượng giao tiếp, đặc biệt là những đặcđiểm bề ngoài, như: đầu tóc, ăn mặc, ánh mắt nhìn, nét mặt, nụ cười, tưthế, cử chỉ, điệu bộ, nói năng Chẳng hạn, trong lần gặp đầu tiên, ngườiAnh đặc biệt chú ý nhiều phần từ cổ trở lên (cổ áo, cà vạt thế nào, đầu tóc,mặt mũi ra sao); những từ đầu tiên mà người đó nói (là từ gì, có từ xin lỗihay cảm ơn không, phát âm có chuẩn không?); những bước đi đầu tiên(bước đi dài hay ngắn, nhanh hay chậm, tư thế đi, xách cặp tay phải haytrái)

- Các yếu tố ở chúng ta

Hình ảnh về đối tượng giao tiếp hình thành trong đầu óc chúng takhông những phụ thuộc vào đối tượng đó mà còn phụ thuộc các đặc điểmcủa chúng ta, trong đó quan trọng là:

+ Tâm trạng, tình cảm

Khi chúng ta ở trong tâm trạng thoải mái, vui vẻ, thì cảnh vật cũngnhư những con người xung quanh dường như đẹp hơn, dễ mến hơn, thânthiện, gần gũi hơn Ngược lại, khi chúng ta buồn bã, căng thẳng, cáu gắt,thì cảnh có đẹp, có nhộn nhịp cũng trở nên ảm đạm, người có tốt, có tử tếcũng không dễ gây ấn tượng tốt ở chúng ta Đúng như Nguyễn Du đã từngđúc kết trong truyện Kiều: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ" Chính vì

Trang 4

vậy mà khi có công chuyện quan trọng với một người, người ta thường chọnthời điểm mà người đó có tâm trạng thoải mái để tiếp xúc, gặp gỡ, tránhnhững thời điểm dễ gây cảm xúc khó chịu, phiền hà (chẳng hạn, giờ nghỉtrưa hoặc đêm đã khuya).

Tình cảm với một người cũng chi phối mạnh hình ảnh về người đótrong chúng ta Những tình cảm dương tính thường đưa đến những đánhgiá thiên vị, tức là diễn ra hiện tượng tô hồng hình ảnh đối tượng giao tiếp.Ngược lại, những tình cảm âm tính lại thường làm trầm trọng thêm nhữngkhiếm khuyết của đối tượng giao tiếp Người xưa nói: "Yêu nên tốt, ghétnên xấu” là vì vậy

+ Nhu cầu, sở thích, thị hiếu

Người ta nói rằng, con người thường chỉ thấy những cái mà người tamuốn thấy Hơn nữa, cái hợp với nhu cầu, sở thích, thị hiếu của con ngườithì dễ gây ấn tượng tích cực, ngược lại, cái trái với chúng - ấn tượng tiêucực Ví dụ, một người đánh giá cao những nét đẹp truyền thống của ngườiphụ nữ Việt Nam thì dễ có cảm tình với những phụ nữ để tóc dài, ăn mặcđoan trang, đứng đắn Điều này có nghĩa là trong giao tiếp chúng ta cầnchú ý tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu, sở thích của đối tượng giao tiếp để biếtcách ăn mặc, nói năng, ứng xử cho phù hợp

+ Tâm thế và sự hình dung về đối tượng giao tiếp

Tâm thế của chúng ta trong giao tiếp là cái mà chúng ta chờ đợi hoặccho rằng sẽ xảy ra trong giao tiếp Nó, một cách vô thức, biểu hiện nhucầu, mong muốn của chúng ta, cái mà chúng ta quan tâm Dưới sự chi phốicủa tâm thế và nhiều yếu tố khác, chẳng hạn kinh nghiệm, chúng ta tưởngtượng ra đối tượng giao tiếp - con người mà chúng ta sẽ có cuộc tiếp xúcđầu tiên Nhiều công trình nghiên cứu trong tâm lí học cho thấy rằng, tâmthế và sự tưởng tượng của chúng ta về một người trước khi tiếp xúc có ảnhhưởng không nhỏ đến đánh giá, nhận xét của chúng ta về người đó Chẳnghạn, năm 1982, nhà tâm lí học A A.Bođolov đã cho hai nhóm sinh viên xemảnh của một người đàn ông Với nhóm thứ nhất, ông giới thiệu người trongảnh là một nhà khoa học vĩ đại, đã có nhiều đóng góp cho đất nước; vớinhóm thứ hai - là một phạm nhân đặc biệt nguy hiểm Sau đó, ông yêu cầumỗi nhóm mô tả và nhận xét về người trong ảnh Kết quả là, ở nhóm thứnhất, người trong ảnh được liệt kê những đặc điểm như: vầng trán rộng,mắt sáng, ánh mắt sâu thẳm chứng tỏ một trí tuệ tuyệt vời, cái cằm bạnhbiểu hiện nghị lực phi thường Ngược lại, ở nhóm thứ hai lại nhận xét: ánhmắt sâu chứng tỏ con người xảo quyệt, nham hiểm, còn cái cằm bạnh chothấy đây là con người lì lợm, lạnh lùng Rõ ràng là ở đây, những tâm thếkhác nhau: "trước mắt mình là ảnh của một nhà khoa học vĩ đại" và "trướcmắt mình là ảnh của một phạm nhân đặc biệt nguy hiểm" đã tạo nênnhững ấn tượng khác nhau về cùng một người

- Tình huống, hoàn cảnh giao tiếp

Tình huống, hoàn cảnh giao tiếp cũng ảnh hưởng đến ấn tượng vềngười khác trong chúng ta Chẳng hạn, một đồng nghiệp của bạn trong bộ

Trang 5

váy dài lấp lánh tại buổi lễ kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Công ty trôngmới tuyệt vời làm sao! Nhưng nếu cũng đồng nghiệp đó trong buổi lao độngcông ích và vẫn với bộ váy lấp lánh đó thì chắc bạn cũng phải lắc đầu ngánngẩm.

Ngoài những yếu tố nêu trên, còn có một số hiệu ứng cũng chi phốiquá trình hình thành ấn tượng ban đầu, ví dụ như: hiệu ứng cái mới, hiệuứng hào quang

1.4.2 Thời gian hình thành ấn tượng ban đầu

Theo các nhà tâm lí học Mỹ, trong giao tiếp, quá trình hình thành ấntượng ban đầu bắt đầu ngay từ khi người ta có sự tiếp xúc (nhìn thấy, nghethấy) và diễn ra chủ yếu ở những giây phút đầu tiên của cuộc tiếp xúc Nóicách khác, những giây phút đầu tiên của cuộc gặp gỡ là những giây phútquyết định hình ảnh của chúng ta trong con mắt người khác

1.4.3 Làm thế nào để tạo được ấn tượng tốt?

Muốn gây ấn tượng tốt trong lần đầu tiếp xúc, bạn cần chú ý tuân thủ cácyêu cầu sau:

- Tạo bầu không khí thân mật, hữu nghị;

Ngay trong những giây phút đầu tiên tiếp xúc, chúng ta phải tạo đượcbầu không khí thân mật, gần gũi, hữu nghị Trong bầu không khí đó, ngườiđối thoại sẽ cảm thấy tự tin, yên tâm, tin tưởng, nghĩa là chúng ta đã đặtnền móng cho việc xây dựng hình ảnh tích cực về mình Muốn vậy, trướchết chúng ta cần chú ý đến những biểu hiện bề ngoài của mình, như: ánhmắt, nét mặt, nụ cười, tư thế, lời nói, thậm chí cả kiểu bàn ghế được dùng

và cách bố trí chúng trong cuộc gặp gỡ, khoảng cách giữa chúng ta vàngười đối thoại trong khi tiếp xúc Chẳng hạn, khi khách đến, chúng ta cầnnhanh nhẹn đứng dậy, mỉm cười, tiến nhanh lại chào hỏi và chìa tay ra chokhách, mời khách ngồi, còn bản thân thì chủ động ngồi ở vị trí ngang tầm,không quá xa Khi trò chuyện, cần tỏ ra nhiệt tình, chân thành, cởi mở,không được làm cho bầu không khí trở nên nặng nề, căng thẳng mà phảitạo ra được sự thân mật, ấm cúng, vui vẻ

- Bắt đầu bằng cách cùng nói về những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm;

Trong cuộc sống, có một số người, khi tiếp xúc với người khác, chỉquan tâm tới những đề tài mà họ cảm thấy hứng thú, không để ý đến nhucầu của người đối thoại Những người này thường khó chiếm được cảm tìnhcủa người khác vì thực ra họ không quan tâm đến người khác Ngược lại,cũng có những người chỉ lo thỏa mãn người đối thoại, gạt bỏ hứng thú của

cá nhân mình, do đó cũng không thể phát huy được ưu thế của bản thân.Cách tốt nhất để mở đầu cuộc gặp gỡ là chọn vấn đề mà cả hai bên cùngquan tâm Nhưng làm thế nào để xác định được vấn đề mà người đối thoạiquan tâm trong lần đầu tiếp xúc với họ? Ở đây bạn phải sử dụng thủ thuật.Bạn có thể chọn những câu chuyện đời thường để "ném đá dò đường", vàkhi đã tìm được vấn đề ăn ý nhau thì tiếp tục đưa câu chuyện đi sâu hơnnữa

Trang 6

- Nắm vững thời cơ và giây phút quyết định của cuộc tiếp xúc

Sau khi đã chọn được vấn đề hai bên cùng quan tâm, chúng ta tiếptục đẩy câu chuyện theo hướng đó Tuy nhiên, đó chỉ là câu chuyện dạođầu nhằm tạo không khí tiếp xúc và tìm hiểu tâm lí người đối thoại, chúng

ta không được để cho cuộc tiếp xúc trôi mãi theo hướng đó Chúng ta gặp

gỡ người đối thoại không chỉ để trò chuyện cho vui mà là vì công việc,nghĩa là chúng ra phải biết nắm lấy những giây phút quyết định, chọn thờiđiểm thích hợp để nêu vấn đề và giải quyết Nói chung, những giây phútđầu tiên là bước khởi đầu then chốt, thường quyết định thành công hay thấtbại của cả quá trình tiếp xúc sau đó Trong khoảng thời gian ngắn ngủi này,chúng ta vừa phải tìm hiểu người đối thoại, tạo sự sẵn sàng hợp tác ở họ,vừa phải biết chớp thời cơ để đạt mục đích Điều này chứng tỏ năng lực củachúng ta Trong trường hợp ngược lại, chúng ta có thể bị đánh giá là "dễmến nhưng thiếu năng lực"

Nguồn: Th.S Chu Văn Đức, Giáo trình Kỹ năng giao tiếp

*Note: Khi 2 người giao tiếp với nhau lần đầu tiên thì ai cũng muốn tạo

ra và để lại một ấn tượng đẹp trong đầu óc của người kia Vì thế, mỗi ngườiđều cố gắng “khoe” cho người kia thấy những cái đẹp, cái tốt, cái khoẻ củamình và giấu không cho người kia thấy những cái xấu, cái yếu, cái kém củamình Thậm chí có người còn phô ra cả cái giả tạo nào đó để gây cho ngườikia có ấn tượng rằng mình đẹp, mình tốt, mình khỏe!

Cũng có trường hợp đặc biệt bắt buộc con người phải làm trái với quyluật tâm lý nói trên khi phải giả vờ mình là người xấu xí, yếu ớt, bệnh tật,khờ khạo để đánh lừa đối tượng

Câu 2: Làm thế nào tự nhận thức bản thân trong giao tiếp? Vì sao ?

Trong giao tiếp, không những chúng ta nhận thức người khác mà còn nhận thức, khámphá bản thân mình (tự nhận thức), tức là tự xây dựng cho mình hình ảnh về bản thân Chỉ quagiao tiếp với người khác mà chúng ta biết mình được đánh giá, nhìn nhận như thế nào, nghĩa làhình dung ra mình trong con mắt của người khác, từ đó chúng ta có thể tự điều chỉnh để hoànthiện bản thân

Hình ảnh về bản thân là yếu tố đặc biệt quan trọng chi phối hành vi, cách ứng xử củachúng ta Ví dụ: Trong lúc nóng giận, một khách hàng đã to tiếng với bạn, đã có những lời nóixúc phạm bạn, bạn rất tức giận và muốn hét vào mặt khách hàng đó: "Ông không được họchành gì hay sao mà nói năng như vậy?" Tuy nhiên, bạn đã kìm chế được bởi bạn nghĩ rằng,mình là thư ký của công ty, mình không thể làm thế để ảnh hưởng xấu đến bộ mặt của công ty

Khi giao tiếp với người khác, mỗi người đều có cơ hội để thấy sự giống nhau và khác

Trang 7

nhau giữa mình và người khác bằng phương pháp so sánh và qua đó có thể thấy được ưu điểmcủa người khác và khuyết điểm hay nhược điểm của bản thân mình

Cũng có khi trong giao tiếp giữa 2 người hay nhiều người với nhau, mỗi người có thểnhận được sự phê bình (khen ngợi hay phê phán) của người khác hoặc của tập thể do đó mà có

sự nhận thức và đánh giá đúng hơn về bản thân mình Hình ảnh về bản thân tức là về "cái tôi "

mà mỗi người đã tạo ra, đã dựng nên trước đó ở trong óc mình sẽ được điều chỉnh, hoặc thayđổi qua những lần có sự nhận thức mới và đánh giá mới về bản thân như đã nói ở trên Nhưvậy chính trong quá trình giao tiếp với người khác mà con người nhận thức được và đánh giáđược mình là con người như thế nào và do đó biết phải cố gắng như thế nào để hoàn thiện hơnnữa nhân cách của mình

2.2 Làm thế nào để tự nhận thức?

*Trả lời ngắn

- Tự lắng nghe: Đây là một quá trình suy ngẫm và tự sự với chính mình để đưa ra nhữngnhận định về ưu điểm, nhược điểm, nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn và cảm xúc của cánhân trong giao tiếp

- Tự bộc lộ chính mình: Trong giao tiếp đây là sự cởi mở hòa đồng với người khácthông qua quá trình tương tác với nhau Điều này giúp người khác hiểu hơn về mình

- Lắng nghe sự đánh giá của người khác về mình Khi nhận được sự đánh giá của mọingười xung quanh về bản thân, ta sẽ thấy những khía cạnh tích cực cũng như mặt hạn chế chưanhìn thấy

*Trả lời theo hướng diễn đạt

Sự tự nhận thức là yếu tố rất quan trọng để cuộc giao tiếp hay những mối quan hệ giao tiếpđược tiến hành Đó là việc trả lời câu hỏi “tôi là ai?” và trên cơ cở ấy con người sẽ dễ dànggiao tiếp đúng hướng, đúng cách và đúng những quy chuẩn cần thiết Câu hỏi này được trả lờidựa trên nền tảng của việc nhận thức được ngoại hình, tính cách, khả năng, động cơ, cảm xúc,định hướng giá trị của bản thân mình cũng như mối quan hệ liên nhân cách của bản thân Tuynhiên, đó chính là việc xác định cái tôi của cá nhân mình trong mối quan hệ tương tác, cái tôi

cá nhân được xác lập do chính mình có thể chủ quan, cũng có thể là khách quan Việc xác địnhcái tôi của mình càng chính xác thì việc nhận ra bản thân mình càng chính xác Việc nhận rachính mình càng khách quan thì cuộc giao tiếp sẽ dễ dàng đạt đến hiệu quả vì chúng ta đangbiết mình

Đầu tiên khi nhận thức bản thân mình, yêu cầu cơ bản hết sức quan trọng là bản thân phảinghiên túc với chính mình Tức là phải biết trung thực nhìn nhận những điều đang diễn ra ởthực tại, chấp nhận thực tại, trước nhất là tìm ra niềm hạnh phúc, là một cuộc sống phù hợp vớimình Biết lắng nghe và tự suy ngẫm về những ưu, nhược điểm, nhu cầu, nguyện vọng, mongmuốn và cảm xúc của mình trong giao tiếp Hiểu về mình một cách nghiêm túc mới có thể tìmđược cách hòa hợp với nhóm, với sức ép xã hội và để giao tiếp thực sự hiệu quả

Hai là, để nhận thức về bản thân mình một cách đúng đắn thì nhất thiết phải vận dụng cơchế tự đánh giá Tức là phải hiểu về khả năng của bản thân tới đâu và nhận ra được các yếu tốthuộc về bình diện tương tác xã hội thông qua các biểu hiện bên ngoài, những khả năng, nănglực, phẩm chất nhân cách của bản thân mình Nói cách khác tự đánh giá là một quy trình bắtđầu từ việc cá nhân quan sát ghi nhận thông tin về bản thân, nhìn nhận, xác định những biểu

Trang 8

tượng về bản thân và so sánh với những yếu tố chuẩn Từ đó, cá nhân tự phát họa nên chândung về mình một cách cụ thể và chi tiết giúp định hướng giao tiếp tích cực, những gì chúng tacần chuẩn bị khi mở đầu cho mối qua hệ mới, thay đổi mối quan hệ cũ Tuy nhiên cần chú ýđến tính trung thực cũng như tính thật nhất từ hình thức đến nội dung bởi chân dung tâm lýmang màu sắc khái quát dựa trên cơ sở hiểu về chính mình nhưng cũng mang tính thích ứngtrong từng tình huống giao tiếp khi nó dựa vào những hoàn cảnh giao tiếp cũng như từng đốitác giao tiếp Việc xây dựng chân dung tâm lý của bản thân dựa trên nền tảng là chúng ta hìnhdung ra mình trong con mắt của người khác Nền tảng này sẽ thôi thúc chúng ta thích ứng vàlinh hoạt một cách đặc biệt trong giao tiếp để có thể làm cho hình ảnh của mình được tôn lêntheo hướng đẹp hơn, vững bền hơn Để làm được điều nàu cần cởi mở hòa đồng với ngườikhác cũng như tích cực điều chỉnh chính mình, tái xây dựng hình ảnh của mình để người khác

sẽ có quá trình điều chỉnh về định hình khuôn mẫu hình ảnh của chúng ta trong mắt họ nhằmthúc đẩy cuộc giao tiếp thêm thuận lợi

Ba là, nhận thức về bản thân con người không chỉ cần hiểu về chính mình và hiểu về ngườikhác mà cần hiểu về mối quan hệ giữa hai người hay hai phía nên diễn ra như thế nào hayđược thực hiện như thế nào Theo dòng chảy của giao tiếp, có những thông tin cá nhân chúng

ta sẽ dần dần bộc lộ, có những thông tin ta cũng cần che giấu Điều này phụ thuộc vào quanniệm của mỗi người Do đó cần phải xác định giới hạn của sự cởi mở đến đâu là đủ để khônghình thành thách thức trong các mối quan hệ Nhiều minh chứng cho thấy thành công tronggiao tiếp thì sự hết lòng với nhau sẽ dẫn đến sự thoải mái và tin tưởng nhau Làm được điềunày chỉ khi ta mạnh dạng bộc lộ về mình đồng thời lắng nghe, tôn trọng sự đánh giá và phảnhồi tích cực Khi nhận được phản hồi, người nghe cần nghiêm túc nhận định và trân trọng thay

vì bảo thủ hay phủ nhận sạch trơn Giải quyết được yêu cầu này nghĩa là giải quyết được sựtương tác tích cực hay giải quyết được mối quan hệ hai chiều công bằng và tôn trọng tronggiao tiếp

Nói tóm lại, nhận thức chính mình sẽ làm cho cuộc giao tiếp bớt chủ quan cũng như có cơhội tương tác tích cực Việc xây dựng hình ảnh hay chân dung tâm lý được xem là “bản lề” đểthúc đẩy hành vi giao tiếp và những yếu tố khác có liên quan đến cuộc giao tiếp diễn ra theomột chiều thuận lợi nhất nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp

Câu 3 Nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp là gì?

Để sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp có hiệu quả cần chú ý một số vấn đề:

- Nội dung của ngôn ngữ chuyển đến đối tượng giao tiếp để họ hiểu ý của ta Nội dungngôn ngữ có hai khía cạnh chủ quan và khách quan Khía cạnh chủ quan là ngôn ngữ dùng đểtruyền tải ý của cá nhân do đó cần làm cho đối tượng giao tiếp hiểu được ý mình muốn chuyểntải là yếu tố quan trọng để đi đến sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau Khía cạnh khách quan thểhiện ở chỗ từ ngữ luôn có nghĩa xác định không phụ thuộc vào ý muốn của cá nhân do đó cầndùng từ ngữ đúng, phù hợp hoàn cảnh, tình huống giao tiếp

- Ngoài ra, phát âm, giọng nói, tốc độ nói phải đảm bảo cho đối tượng giao tiếp có thểtiếp nhận thông tin và tác động được đối tượng giao tiếp Giọng nói trước hết chỉ ra được nhóm

xã hội, nguồn gốc của người nói qua tính chất địa phương trong giọng nói Bên cạnh đó, giọngnói cũng phần nào cho thấy được đặc điểm nhân cách, vai trò, vị trí xã hội của người nói thôngqua cách nói, giọng điệu to nhỏ, trầm bổng Vì vậy giọng nói cũng chuyển tải những thông tin

về cảm xúc, thái độ khi giao tiếp Giọng nói ở đây đòi hỏi người giao tiếp phải chú ý đến tất cảnhững gì chuyển tải mà không phải là từ ngữ và cử chỉ điệu bộ khi nói đều được xem là giọngnói Như vậy, giọng nói bao gồm hơi thở, kỹ thuật phát âm, độ diễn cảm và những yếu tố khác

Trang 9

có liên quan chặt chẽ Điều này cho thấy để có giọng nói hiệu quả trong giao tiếp, cần chú tâmrèn luyện từng yếu tố đã nêu.

Để có thể quan tâm đến giọng nói trong giao tiếp, cần chú ý đến các loại tín hiệu âmthanh cơ bản tồn tại trong yếu tố giọng nói để tạo ra hiệu ứng giao tiếp bằng lời Có thể phântích thành bốn loại tín hiệu âm thanh như tín hiệu âm thanh định tính bao gồm độ cao, tốc độ

và âm lượng của lời nói, những tín hiệu âm thanh lấp đầy bao gồm những âm thanh không cónghĩa góp phần lấp đầy lời nói, câu nói, những tín hiệu âm thanh định phẩm bao gồm nhữngyếu tố thuộc về “cảm xúc tự nhiên” và “sắc thái đặc trưng” của giọng nói Yếu tố cuối là sự imlặng diễn ra khi nó được xem như là thái độ khi nói Tuy nhiên, sự im lặng cũng được xem nhưmột cử chỉ điệu bộ nếu nhìn nhận sự phân loại giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ giao thoanhau trong một chừng mực nào đó

- Phong cách ngôn ngữ thể hiện qua lối nói, lối viết tức là cách dùng từ ngữ để diễn đạt

ý trong giao tiếp Phong cách ngôn ngữ có thể là lối nói thẳng, lối nói lịch sự, lối nói ẩn ý, lốinói mỉa mai châm chọc Việc sử dụng phong cách ngôn ngữ đòi hỏi mỗi cá nhân cần nhận thứcđược các yêu cầu của từng loại phong cách cũng như khéo léo sử dụng từng phong cách trongnhững hoàn cảnh khác nhau

Những yêu cầu cơ bản về ngôn ngữ khi muốn rèn luyện về kỹ năng giao tiếp:

+ Giọng nói phải to, rõ, dễ nghe và nếu đạt đến mức tròn vành, rõ chữ, biểu cảm thì thực

sự đạt yêu cầu cao Ví dụ: từ “mô” có nghĩa “đâu” là từ địa phương của người Huế, ngườimiền Tây thường phát âm “g” thay “r”,…

+ Phát âm cần chuẩn xác và bộc lộ được sự thiện cảm khi nói

+ Cần tuân thủ việc sử dụng ngôn từ phù hợp, trong sáng và thể hiện tính chuẩn mực, thíchứng với môi trường giao tiếp

+ Ngôn ngữ nói cần đảm bảo sự lưu loát, diễn đạt cụ thể, dễ hiểu và tạo hiệu ứng giao tiếptích cực với đối tượng

+ Giọng nói đầy tính biểu cảm thích ứng cũng như mang màu sắc diễn cảm sẽ là một lợithế rất cơ bản trong giao tiếp

+ Chú ý đến các yêu cầu về kỹ thuật nói trong giao tiếp như: nói hiển ngôn, hàm ngôn, nóigiảm, nói quá

Câu 4 Đặc điểm, yêu cầu khi sử dụng phi ngôn ngữ trong giao tiếp

là gì?

Trong giao tiếp, bên cạnh ngôn ngữ còn có các phương tiện phi ngôn ngữ, hay còn gọi

là ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ không có âm thanh Theo kết quả nghiên cứu của các nhà ngônngữ học, 20% kết quả giao tiếp giữa con người với con người là do ngôn ngữ có âm thanhmang lại, còn 80% còn lại là do ngôn ngữ không có âm thanh đem đến Vì vậy, muốn nâng caohiệu quả hoạt động giao tiếp của mình, chúng ta cần nắm được những thói quen, những quy tắctrong việc sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ để không chỉ hiểu được ý đồ củangười khác, mà còn có thể diễn đạt được ý đồ của mình một cách đa dạng, phong phú Ngườigiao tiếp giỏi chính là người biết kết hợp khéo léo, nhuần nhuyễn ngôn ngữ có âm thanh vớingôn ngữ không có âm thanh trong giao tiếp

Trang 10

4.1 Khái niệm

Tín hiệu phi ngôn ngữ là các kích thích bên ngoài như cử chỉ điệu bộ, chuyển động biểu

cảm mà không phải là lời nói và chữ viết Giao tiếp phi ngôn ngữ giữa con người là sự giao tiếp bằng cách gửi và nhận những tín hiệu phi ngôn ngữ.

Hai nhóm phương tiện giao tiếp là phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.Trong đó, giao tiếp phi ngôn ngữ là một phương tiện quan trọng, không thể thiếu cho sự biểu

đạt trong giao tiếp Đó là các kích thích bên ngoài nhưng không phải là lời nói và chữ viết mà

bao gồm tất cả những yếu tố thuộc về cử chỉ điệu bộ và những chuyển động biểu cảm khác.

Bàn về đặc điểm của phi ngôn ngữ trong giao tiếp ta có thể thấy những điểm nổi bậc sau:

4.2 Đặc điểm của phi ngôn ngữ

Một là, người ta không thể không giao tiếp phi ngôn ngữ, ngay cả khi người ta không

nói năng gì thì ở những mức độ khác nhau, hoặc cố ý hoặc vô tình ta vẫn đang giao tiếp vớingười khác, thông báo với họ về thái độ (thờ ơ, phân vân, coi thường, kính trọng, chăm chú,quan tâm…), tình cảm (yêu thương, căm giận, say mê, đau khổ…), trạng thái tâm lý (phấnkhích, căng thẳng lo âu …), tình trạng sức khỏe (cường tráng, suy sụp …) của ta Nhà phântâm học Freud đã khẳng định rằng không một người nào có thể giữ được bí mật cho riêng mình

"Nếu cặp môi của anh ta im lặng, anh ta sẽ chuyện trò bằng các đầu ngón tay của mình, sựphản bội (không giữ được bí mật) toát ra khỏi con người anh ta từ mọi lỗ chân lông"

Hai là, các kênh phi ngôn ngữ tỏ ra đặc biệt hiệu quả trong việc biểu lộ tình cảm, thái

độ và quan hệ của các đối tác Theo Brook và Heath (1989) thì kênh ngôn từ có tiềm năng lớn

trong việc truyền tải thông tin ngữ nghĩa, còn kênh phi ngôn ngữ lại có tiềm năng lớn trongviệc truyền tải thông tin biểu cảm Thực tế cũng cho thấy rằng, trong khi giao tiếp, ngôn từ tỏ

ra nổi trội hơn trong việc chia sẻ thông tin nhận thức và truyền tải kiến thức, thì giao tiếp phingôn ngữ lại chứng minh tính ưu việt của nó trong việc thể hiện và chia sẻ các cung bậc tinh tếcủa xúc cảm, tình cảm và thái độ Ví dụ, thông qua cái bắt tay (độ chặt hay lỏng lẻo, độ lâu haymau chóng, hơi ấm áp hay lạnh lẽo… từ bàn tay toát ra), ta có thể hiểu được thái độ, tình cảmcủa người đó đối với ta như thế nào

Ba là, các thông điệp phi ngôn ngữ ngẫu nhiên và vô tình thường có độ tin cậy rất cao.

Trong thực tiễn, con người hiện đại thường chú ý hơn đến các yếu tố ngôn từ khi giao tiếp vớingười khác Vì thế, những yếu tố phi ngôn ngữ, đặc biệt là cử chỉ, nét mặt thường ít và khókhống chế một cách hợp lí, nên sự thật dễ bị bộc lộ Do vậy, chúng thường giúp ta thấy rõ hơnbản chất của điều mà người nói che dấu một cách có ý thức bằng các yếu tố ngôn từ Ví dụ khinói dối, dù ở lứa tuổi nào người nói đều có động tác che miệng Tuy nhiên, ở tuổi càng lớnđộng tác càng tinh tế hơn, thay vì lấy tay che miệng như đứa trẻ 3 tuổi, thì họ lướt bàn tay từmặt xuống và dừng ở dưới mũi Hay ta có thể nhìn thấy má cô gái đỏ bừng, vẻ mặt bối rối khinhắc đến một người bạn trai mà cô gái đang "thầm yêu, trộm nhớ" Hoặc người đàn ông trả lời

"Tôi rất vui với một ánh mắt nhìn xiên, đầu cúi xuống, tay buông thõng Trong trường hợp nhưvậy, người đối thoại thường không tin lời nói Vì thế người xưa có câu: "Trông mặt mà bắthình dong"

Bốn là, chính những sự khác biệt với giao tiếp ngôn ngữ mà phi ngôn ngữ trở nên đặc biệt Giao tiếp phi ngôn ngữ về cơ bản được tiếp nhận qua thị giác còn giao tiếp ngôn từ được

tiếp nhận qua thính giác Tuy nhiên, giao tiếp phi ngôn từ tỏ ra mơ hồ hơn so với giao tiếpngôn từ Các biểu hiện phi ngôn từ có thể mang tính chủ định hoặc vô tình Ví dụ, khi giảngbài để tỏ thái độ gần gũi, thân thiện với sinh viên ta có thể mỉm cười Hành vi mỉm cười là có

Trang 11

chủ định Khi được sinh viên diễn giải đúng, nó sẽ giúp lớp học tiến triển theo chiều hướngtích cực hơn, hiệu quả hơn Thế nhưng giả sử ta đang giảng đến một nội dung rất nghiêm túc,bất chợt nhớ đến chuyện hài hôm trước, ta bật cười một cách vô tình Trong trường hợp này,hành vi cười sẽ trở nên mơ hồ và dễ dàng bị sinh viên diễn giải sai, vì thế có thể dẫn đến phảnứng tiêu cực từ phía sinh viên Bản thân bất kỳ một hành vi phi ngôn từ nào cũng bao hàmnhiều nghĩa Ví dụ, khi giáo viên hỏi bài, sinh viên ngồi im lặng Sự im lặng này có thể làkhông hiểu, phân vân, suy nghĩ hoặc tìm cách thoái thác Ngoài ra giao tiếp phi ngôn ngữ cònmang tính liên tục, đa kênh, giúp thấy rõ tình cảm thật của người nói hơn so với giao tiếp ngônngữ

Ngoài ra, sự nhận diện và hiểu ý nghĩa của giao tiếp ngôn ngữ còn chịu ảnh hưởng bởinhững yếu tố như hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp và các yếu tố gắng với những cộngđồng ngôn ngữ - văn hóa khác nhau

4.3 Yêu cầu khi sử dụng phi ngôn ngữ trong giao tiếp

- Nét mặt:

+ Đặc điểm: Biểu lộ cảm xúc của con người Nét mặt có thể biều lộ các cảm xúc như

vui, buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi và ghê tởm Trong giao tiếp, nét mặt là yếu tố thườngđược chú ý, tạo nên hình ảnh cá nhân trong mắt người khác, dễ dàng gây hiệu ứng trong giaotiếp nếu biết sử dụng kiểu nét mặt phù hợp

Vui: nụ cười, gò má nhô cao, và đuôi mắt nhăn.

Buồn: Vùng trán nhăn, lông mày phía trong nhô lên,miệng trề xuống biểu lộ sự

+ Yêu cầu: Thể hiện kiểu nét mặt phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp Trong giao tiếp

thường nhật hạy văn phòng, nét mặt thân thiện là nét mặt được khuyến khích sử dụng Đó lànét mặt nhẹ nhõm, dễ gần khi có thể nhẹ nhàng nở nụ cười tươi với sự chuyển động tổng hợpcủa cơ mặt

- Ánh mắt:

+ Đặc điểm: Ánh mắt là phương tiện giao tiếp không lời không chỉ có khả năng chuyển

tải không những tâm trạng, trạng thái xúc cảm, tình cảm của con người, mà còn là nơi tiếpnhận các thông tin cảm tính từ môi trường bên ngoài

+ Yêu cầu: Nhìn thẳng vào người đối diện, không nhìn chằm chằm Giữ cái nhìn vào

mắt nhau càng lâu càng tốt theo thời gian của cuộc giao tiếp

Các kiểu ánh mắt thông dụng:

 Kiểu nhìn xã giao: Nhìn vào khu vực chữ T trên khuôn mặt người đối diện

Trang 12

 Kiểu nhìn thân mật: Cái nhìn này có phạm vi từ giữa hai mắt, quét tới cằm rồi xuốngphần dưới cơ thể người đối diện

 Kiểu nhìn quyền uy: nhìn vào khu vực tam giác giữa “ba” con mắt của người đối diện

Tiếp xúc bằng mắt khi thuyết trình: Đối với nhóm dưới 50 người thì cần nhìn đáp lại cái

nhìn của từng người, đối với nhóm trên 50 người thì nhìn lướt theo hình chữ M

Kiểm soát điểm nhìn của người nghe:

 Dùng viết chỉ vào nội dung thuyết trình và giải thích

 Nâng cánh tay cầm viết lên

 Giữ cây viết ở giữa mắt của bạn và mắt của người nghe =>Hành động giống như sứchút nam châm nâng dần khán giả lên để họ nhìn, lắng nghe và tiếp thu được hiệu quả

Nụ cười khiến người khác có phản ứng tích cực hơn

Nụ cười đóng vai trò thay thế cho sự im lặng

Nụ cười mím chặt môi: Điệu bộ hai môi khép chặt kéo dài ra hai bên gương mặt theo một

đường thẳng và không để lộ rang Người cười đang có một bí mật hoặc đang giữ một thái độ, ýkiến mà không muốn chia sẻ

Nụ cười méo xệch: Nụ cười cố ý được tạo ra để thể hiện sự mỉa mai

Nụ cười trễ hàm xuống: Nụ cười tập luyện, cố gắng để tỏ ra vui vẻ

+ Yêu cầu: Nụ cười phải phù hợp theo nguyên tắc đúng nơi- đúng chỗ và mang tính

thích ứng thực tế

Nụ cười trong thuyết trình:

Sử dụng nụ cười như một lời chào

Mỉm cười với ai đó khi cần họ phát biểu

Giữ sự tươi tỉnh xuyên suốt bài thuyết trình

Cần tránh:

Nụ cười không phù hợp với hoàn cảnh

Nụ cười giả tạo, thiếu chân thành

Vi phạm các nguyên tắc lịch sự trong giao tiếp

- Dáng vẻ bề ngoài:

+ Đặc điểm:

Ngày đăng: 05/12/2019, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w