luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I Hà Nội
zzz
Nguyễn Tuấn Tú
Đánh giá hiệu quả kinh tế và đề xuất
một số loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao trên đất xám bạc màu hiệp hòa – bắc giang
Chuyên ngành: Khoa học Đất Mã số: 60.62.15
Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Xuân Thành
Hà Nội - 2005
Trang 2Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan: những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, khách quan mà bản thân tôi trực tiếp thực hiện
và ch−a đ−ợc ai sử dụng công bố, bảo vệ trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
- Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin trích dẫn trong luận văn
đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 10 năm 2005
Tác giả luận văn
Nguyễn Tuấn Tú
Trang 3Lời cảm ơn Kính thưa các thầy, cô giáo! Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo khoa Sau đại học, khoa Đất và Môi trường và
đặc biệt là PGS TS Nguyễn Xuân Thành đã hướng dẫn tận tình trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lời cám ơn đến các đồng chí lãnh đạo cơ quan của tôi - Viện quy hoạch bộ Tài nguyên và Môi trường đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn cao học
Tôi xin cám ơn phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp - Kinh tế, cùng các đồng chí lãnh đạo huyện Hiệp Hòa
Xin cám ơn UBND nhân dân hai xã Hoàng Vân, Đoan Bái huyện Hiệp Hoà - Bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi để hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ lời cám ơn sâu sắc tới bố mẹ và anh trai của tôi
đã tạo điều kiện hỗ trợ cho tôi trong suốt những năm tháng học tập vừa qua
Hà Nội, tháng 10 năm 2005
Tên tác giả
Nguyễn Tuấn Tú
Trang 4Mục Lục
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 Tổng Quan Tài Liệu 3
2.1 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở việt nam 3
2.1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 3
2.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 5
2.1.3 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất 7
2.1.4 Quan điểm về sử dụng đất nông - lâm nghiệp ở Việt Nam 9
2.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 10
2.2 Tình hình nghiên cứu về đất bạc màu trên thế giới và ở việt nam 11
2.2.1 Khái niệm về đất bạc màu 11
2.2.2 Phân bố đất bạc màu 12
2.2.3 Tình hình nghiên cứu và cải tạo đất xám bạc màu trên thế giới 14
2.2.4 Tình hình nghiên cứu cải tạo và sử dụng đất xám bạc màu ở Việt Nam 15
Phần 3 nội dung và phương pháp nghiên cứu 22
3.1 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Nội dung nghiên cứu: 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 23
Trang 53.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên của huyện Hiệp Hòa 23
3.4.2 Đánh giá về hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất nông nghiệp: 24
3.4.3 Cơ sở chọn địa bàn nghiên cứu 24
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 26
4.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang 26
4.1.1 Vị trí địa lý 26
4.1.2 Khí hậu thủy văn 26
4.1.3 Địa hình địa mạo 28
4.1.4 Đặc Điểm đất đai huyện Hiệp Hòa 29
4.2 Điều kiện kinh tế xã hội của huyện Hiệp Hòa 32
4.2.1 Tình hình sản xuất của ngành nông nghiệp huyện Hiệp Hòa 33
4.3 Thực trạng các loại hình sử dụng đất 41
4.3.1 Thuộc tính của các loại hình sử dụng đất huyện Hiệp Hòa 41
4.3.2 Các loại hình sử dụng đất trên đất bạc màu huyện Hiệp Hòa 46
4.4 Hiệu quả kinh tế trên các loại hình sử dụng đất 57
4.4.1 Hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất 1 vụ lúa (LUT 1) 61
4.4.2 Hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất 2 (LUT 2) 62
4.4.3 Hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất 2 vụ lúa - 1vụ màu (LUT 3) 64
4.4.5 Hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất chuyên canh màu/rau/ CNNN (LUT 4) 66
4.4.6 Hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất chuyên canh cây CNNN (LUT 5) 68
4.4.7 Loại hình sử dụng đất hoa cây cảnh (LUT 6) 68
4.4.8 Hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất cây ăn quả (LUT 7) 69
4.4.9 Loại hình sử dụng đất lâm nghiệp (LUT 8) 69
Trang 64.4.10 Hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất NTTS (LUT 9) 69
4.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất (LUT) 71
4.5.1 Hiệu quả kinh tế của các LUT 71
4.5.2 Đánh giá chung 74
4.6 Đề xuất LUT cho hiệu quả kinh tế cao 82
4.6.1 Các tiêu chuẩn để lựa chọn các LUT có hiệu quả kinh tế cao 82
4.6.2 Đề xuất loại hình sử dụng đất trên đất bạc màu huyện Hiệp Hòa 82
Phần 5 Kết luận và đề nghị 85
5.1 Kết luận 85
5.2 Đề nghị 86
Tài liệu tham khảo 87
Phần phụ lục 90
Trang 7Danh mục các chữ viết tắt
LUT Loại hình sử dụng đất
ĐHNNI Đại học Nông nghiệp I
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
DT Diện tích
Trang 8Danh mục các bảng
Bảng 1: Dự báo diện tích canh tác và dân số thế giới 4 Bảng 2: Diện tích đất canh tác bình quân ở một số nước Đông Nam á 5 Bảng 3: Biến động diện tích đất nông nghiệp và đất trồng cây hàng năm ở Việt Nam 6 Bàng 4: Đặc điểm đất đai của huyện Hiệp Hòa 29 Bảng 5: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Hiệp Hòa năm 2004 33 Bảng 6: Diện tích năng suất sản lượng của một số loại cây trồng hàng năm của huyện Hiệp Hòa 36 Bảng 7: Diện tích năng suất sản lượng của một số loại cây ăn quả chủ yếu của huyện Hiệp Hòa 38 Bảng 8 Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi và thủy sản 41 Bảng: 9 Loại hình sử dụng đất và một số thuộc tính đất trên địa bàn huyện Hiệp Hoà - Bắc Giang 42 Bảng 10: Diện tích các loại hình sử dụng đất ở đất bạc màu của vùng trung
và thượng huyện Hiệp Hòa 49 Bảng 11: Các loại hình sử dụng đất và diện tích tổng hợp từ phiếu điều tra trên địa bàn xã Đoan Bái và Hoàng Vân 52 Bảng 12: Các loại hình sử dụng đất chính tại địa điểm nghiên cứu 56 Bảng 13: Hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang (năm 2004 -2005) 59 Bảng14: Hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang (năm 2004 -2005) 60 Bảng 15: Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất 1 vụ lúa (LUT 1) trên đất bạc màu 61 Bảng 16: Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất 2 vụ lúa (LUT 2) trên đất bạc màu 62 Bảng 17: Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất 2 vụ lúa - Rau/màu/ CNNN (LUT 3) trên đất bạc màu 63 Bảng 18: Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất 3vụ: (lúa - Rau/màu/CNNN (LUT 3) trên đất bạc màu 65 Bảng 19: Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất chuyên canh rau/màu/CNNN (LUT 4) trên đất bạc màu 67 Bảng 20: Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất LUT 5, LUT 6, LUT 7, LUT 8, LUT 9 trên địa bàn nghiên cứu 70 Bảng 21: Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất LUT 1, LUT 2,…, LUT 9 trên đất bạc màu 75 Bảng 22: Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế 76 Bảng 23: Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất 77
Trang 10Phần 1
Mở đầu 1.1 Đặt vấn đề
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo Vị trí và diện tích đất không thay đổi, chất lượng và hiệu quả sử dụng đất phụ thuộc nhiều vào quá trình sử dụng của con người Vì vậy, việc sử dụng đất hợp lý cho hiệu quả cao trên một đơn vị diện tích là rất cần thiết
Trong quá trình sử dụng đất con người đã làm thay đổi các thuộc tính của đất có thể làm đất tốt thêm cũng có thể làm đất nghèo kiệt đi Do canh tác không bảo vệ đất nên đất đã bị xói mòn, rửa trôi dẫn đến đất trở thành nghèo kiệt, thoái hoá
ở Việt Nam, đất bạc màu là một trong những loại đất được nhiều nhà khoa học quan tâm Các kết quả nghiên cứu của viện Khoa học Nông nghiệp [2], trường Đại học Nông nghiệp I [21], viện Quy hoạch và Thiết kế Bộ Nông nghiệp [20]… đã xác định diện tích đất bạc màu của cả nước khoảng 1.791.021 ha, riêng vùng đồng bằng sông Hồng có khoảng 80.643 ha (Hội khoa học Đất, 1996) [10] Tính chất đất bạc màu đã được kết luận là loại đất chua, nghèo dinh dưỡng toàn diện, thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ sét thấp Hệ vi sinh vật trong đất bạc màu thấp hơn rất nhiều so với các loại đất phù sa Đất bạc màu được hình thành từ mẫu chất phù sa cổ, phù sa cũ, hoặc do các loại
đá mẹ chua: granit, liparit, hay sa thạch… khi phong hoá thành đất có thành phần cơ giới nhẹ, chua Đất nằm trong vùng có lượng mưa lớn, cường độ mạnh nên hiện tượng rửa trôi theo bề mặt và thâm sâu diễn ra rất mạnh ( Lê Thái Bạt, Tôn Thất Chiểu, Cao Liêm [12], Lê Duy Mì [14], [15], [9], [10], [5] )
Huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang thuộc vùng Trung du Bắc Bộ có tổng
Trang 11diện tích tự nhiên là 20.120,19 ha, dân số 207.981 người, bao gồm 26 đơn vị hành chính cấp xã, với 4 dân tộc anh em chung sống Đất đai của huyện bao gồm 7 nhóm đất chính, trong đó nhóm đất bạc màu chiếm gần 40% tổng diện tích tự nhiên, được phân bố chủ yếu trên địa bàn của huyện
Được sự phân công của khoa Sau Đại học và khoa Đất và Môi trường –
trường Đại học Nông nghiệp I, chúng tôi đã thực hiện đề tài:“Đánh giá hiệu
quả kinh tế và đề xuất một số loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao trên đất xám bạc màu Hiệp Hòa- Bắc Giang”
1.2 Mục đích và yêu cầu
Trang 12Phần 2 Tổng Quan Tài Liệu 2.1 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở việt nam
2.1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
- Đất nông nghiệp là loại đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp (Luật đất đai, 2003)
Sản phẩm của sản xuất nông nghiệp không chỉ nuôi sống nhân loại, mà còn là nguồn thu quan trọng của hầu hết các nước đang phát triển Theo dự báo của tổ chức Liên hiệp quốc (UN) và ngân hàng Thế giới (WB) [37], thì dân số thế giới đến năm 2024 sẽ đạt 10 tỷ Hiện tại nhu cầu về lương thực cơ bản là tạm ổn, nếu như không bị thiên tai phá hoại, song trong tương lai vấn đề lương thực sẽ đặt cho ngành sản xuất nông nghiệp và khai thác nguồn tài nguyên đất
đai vào tình trạng làm việc quá mức, đặc biệt đối với những nước đang phát triển Theo cảnh báo của FAO [29], [28], thì 117 nước đang phát triển, sẽ có không dưới 64 nước sẽ không có khả năng cung cấp đủ lương thực trong tương lai vào những năm đầu của thế kỷ XXI, nếu như các quốc gia này không áp dụng những biện pháp canh tác, sử dụng và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên đất
đai Nguồn dự trữ diện tích đất canh tác ở các nước đang phát triển còn khá lớn, nhưng chỉ tập trung vào các nước ở châu Phi và châu Mỹ Nguồn đất canh tác ở châu á gần như đã cạn kiệt, mà dân số châu á chiếm gần 1/2 thế giới Vì vậy
đất đai của châu á được xem như chịu áp lực rất lớn của sự bùng nổ dân số trong tương lai
Trang 13Bảng 1: Dự báo diện tích canh tác và dân số thế giới
Năm
1980 1990 2000 2010 2025
Nguồn: FAO (1989), FAO (1993) [ 29], [28]
Kết quả dự báo ở bảng 1 cho thấy: Dân số thế giới tăng theo cấp số nhân, song diện tích đất được cải tạo để đưa vào quỹ đất canh tác tăng không
đáng kể dẫn đến bình quân diện tích đất canh tác/người hàng năm giảm mạnh
ước tính năm 2000 bình quân đầu người/1ha đất canh tác ở vùng châu
á Thái Bình Dương là 9,7 người/ha Năm 2010 sẽ là 12 người/ha và đến năm
2025 sẽ là 17,7 người/ha
Trang 14Bảng 2: Diện tích đất canh tác bình quân ở một số nước Đông Nam á
Tên nước Diện tích đất canh tác bình quân/ người
Inđônêsia 0,12 Malaysia 0,27 Philippin 0,13
Nguồn:FAO (1993) [28]
So sánh bình quân chung về diện tích đất canh tác ở châu á so với trên
thế giới thì thấp hơn rất nnhiều Điều đáng nói là chỉ tiêu này ở Việt Nam lại
càng thấp
Điều này cũng cho thấy khả năng mở rộng diện tích đất canh tác ở Việt
Nam nói riêng và khu vực châu á nói chung là rất khó khăn, không thể mở
rộng được nữa, trong tương lai không thể trông chờ theo hướng mở rộng được
diện tích đất canh tác, mà phải tập chung vào thâm canh, tức là phải áp dụng
các công nghệ sinh học tiến tiến vào sản xuất nông nghiệp có vậy mới có thể
đáp ứng được an ninh lương thực
Trên thực tế, hầu hết các nước đều nhận thức được tầm quan trọng của
quỹ đất Quốc gia Nhiều nhà khoa học đã có các công trình nghiên cứu về
quản lý sử dụng đất, nhất là quỹ đất sản xuất nông nghiệp, nhằm đạt hiệu quả
kinh tế cao đồng thời bảo vệ môi trường đất để sản xuất bền vững
2.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước có diện tích đất bình quân đầu người
thấp nhất thế giới Theo báo cáo của bộ Tài nguyên và Môi trường, nếu đem so
sánh với 10 nước trong khu vực Đông Nam á, thì tổng diện tích đất tự nhiên
Trang 15của Việt Nam xếp hàng thứ bốn, nhưng về dân số xếp hàng thứ hai, do vậy bình quân diện tích trên đầu người thì xếp hàng thứ 9, chỉ cao hơn Singapor [34]
Bảng 3: Biến động diện tích đất nông nghiệp và đất trồng cây hàng năm ở Việt Nam
Dân số (1.000 người)
Bình quân diện tích đất canh tác/ người ( m2)
1.223
1.247
1.190 1.200 1.210 1.220 1.230 1.240 1.250 1.260 1.270 1.280 1.290
1990
m
2
1995 2000
Năm
Trang 1690 không vượt quá 1.300 m2/ người
Theo báo cáo tổng kết của Bộ khoa học Công nghệ và Môi trường (1999), thì tổng diện tích đất chưa sử dụng ở Việt Nam có khoảng 8,0 triệu ha, trong đó chỉ có gần 3 triệu ha có thể cải tạo đưa vào mục đích sản xuất nông nghiệp Trong tương lai nếu khai thác hết quỹ đất chưa sử dụng này, thì quỹ đất nông nghiệp mới chỉ có khoảng 15 triệu ha, với tốc độ gia tăng dân số trên 1%, thì bình quân diện tích đất canh tác không vượt quá được 1500 m2/người, đây quả là một thách thức lớn trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam
Nhiệm vụ đặt ra cho ngành nông nghiệp nước ta là phải sử dụng tối đa quỹ đất có thể cải tạo để đưa vào sản xuất nông nghiệp và phải sử dụng quỹ
đất nông nghiệp hiện có sao cho hợp lý cho hiệu quả cao, đảm bảo phát triển sản xuất nông nghiệp một cách bền vững
2.1.3 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
2.1.3.1 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả, như: Kết quả là hiệu quả; Hiệu quả là sự tăng trưởng GDP; Hiệu quả là nâng cao mức sống của người dân, mục tiêu là nền sản xuất xã hội phát triển; Hiệu quả là mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị sản xuất và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực
Luận điểm triết học của Mác, thì hiệu quả là tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, tiết kiệm nguồn lực Hiệu quả là phương tiện thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội
Hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả, nó có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có khả năng lượng hóa, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện bằng các hệ thống các chỉ tiêu cụ thể
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ đi nghiên cứu về hiệu quả kinh
Trang 17tế của các LUT sử dụng đất, hay các loại hình sử dụng đất nông nghiệp để đề xuất loại hình sử dụng đất nông nghiệp cho hiệu quả cao và bền vững
2.1.3.2 Hiệu quả về mặt x∙ hội
- Được thể hiện ở mức độ thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm với mức thu nhập người lao động chấp nhận, bền vững trong địa bàn và các vùng lân cận
- Trình độ dân trí của người dân được thể hiện ở nhận thức và mức độ tiếp thu khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khác đẻ năng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Mức độ phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu của người dân
Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống
Đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định chính trị và an ninh lương thực
2.1.3.3 Hiệu quả về môi trường sử dụng đất
Môi trường là tập hợp tất cả các điều kiện, hiện tượng bên ngoài tác động
đến lên cơ thể Môi trường bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người có ảnh hưởng đến
đời sống, sản xuất và phát triển của con người, thiên nhiên (Điều 1 - Luật Môi trường Việt Nam)
Trong nông nghiệp, thì các loại hình sử dụng đất nông nghiệp cũng tác
động trực tiếp đến môi trường theo hai chiều tốt và xấu, như: gây ô nhiễm nguồn nước, không khí, ô nhiễm đất, thoái hóa đất
Sử dụng đất không hợp lý, các biện pháp canh tác không đúng, lạc hậu làm cho đất đai bị thoái hóa, xói mòn, rửa trôi dẫn đến bạc màu hóa, hay làm cho sản phẩm nông nghiệp không sạch dẫn đến tác hại không nhỏ đến con người và môi trường sinh thái
Trang 182.1.4 Quan điểm về sử dụng đất nông - lâm nghiệp ở Việt Nam
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi nhu cầu của con người lấy
đi từ đất mgày một tăng, mặt khác đất sản xuất nông nghiệp ngày một thu hẹp
do bị chuyển sang quỹ phi nông nghiệp Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp của nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển bền vững, góp phần xóa đói giảm nghèo thực hiện thành công chủ trương của Đảng và Nhà nước, đó là Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa Nông nghiệp Nông thôn (chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam đến năm 2010 [3], Bộ NNPTNT.2000 [4]) Muốn thực hiện được mục tiêu trên, cần có các quan
điểm và giải pháp cụ thể như sau:
- áp dụng phương thức sản xuất nông - lâm kết hợp, đa dạng hóa sản phẩm, chống xói mòn rửa trôi, thâm canh bền vững
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông - lâm nghiệp trên cơ sở thực hiện
đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
- Phát triển nông lâm - nghiệp một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu
đa dạng hóa của nền kinh tế quốc dân
- Phát triển nông - lâm nghiệp toàn diện gắn với việc xóa đói giảm nghèo, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và phát huy nền văn hóa truyền thống của các dân tộc, không ngừng nâng cao nguồn lực của con người
- Phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp trên cơ sở áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông - lâm nghiệp của cơ sở phải gắn với định hướng phát triển kinh tế xã hội của khu vực, vùng và của cả nước
Trang 192.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh
tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy, có thể khái quát những điều kiện, nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gồm ba nội dung chính sau:
2.1.5.1 Yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên: khí hậu, thời tiết, đất đai, nước là các yếu tố cơ bản để xác định cho sử dụng đất nông nghiệp sao cho đạt hiệu quả cao nhất,
nó ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ quyết định khả năng, công cụ và hiệu quả sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần phải tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng những lợi thế, hạn chế những tác động xấu của tự nhiên nhằm đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường
Theo Mác, thì điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch Còn theo N Borr Lang yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế đến năng suất cây trồng ở các nước đang phát triển, đặc biệt đối với người nông dân là thiếu vốn
và độ phì [22]
2.1.5.2 Yếu tố về điều kiện kinh tế - x∙ hội
Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin
và quản lý, chính sách đất đai và môi trường, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện
về nông nghiệp, thương mại, giao thông, sự phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý và tổ chức sản xuất, sử dụng lao động, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất
Điều kiện kinh tế xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối việc
Trang 20sử dụng đất đai, đầu tư cho phát triển ngành nông nghiệp nói riêng và các ngành khác nói chung
2.1.5.3 Yếu tố về kỹ thuật canh tác
Biện pháp canh tác là các tác động của con người vào sử dụng đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để đạt được hiệu quả kinh tế cao Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật tự nhiên để lựa chọn quy trình kỹ thuật, giống cây con, áp dụng khoa học kỹ thuật hợp lý nhất nhằm đạt được mục tiêu kinh tế cao nhất và phát triển bền vững
Theo Frank Ellis và Douglass C North, thì ở các nước phát triển, khi
có tác động tích cực từ khoa học kỹ thuật, như: giống mới, thủy lợi, phân bón dẫn đến yêu cầu mới cũng sẽ đặt ra cho công tác tổ chức sản xuất để có kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh hơn Như vậy, biện pháp kỹ thuật canh tác có một ý nghĩa không kém phần quan trọng trong quá trình khai thác theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp
2.2 Tình hình nghiên cứu về đất bạc màu trên thế giới
và ở việt nam
2.2.1 Khái niệm về đất bạc màu
Đất bạc màu là nhằm chỉ loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo kiệt
về tất cả các chất dinh dưỡng
Trên thế giới nhóm đất Acrisols có diện tích tương đối lớn Hiện nay chưa thống kê được diện tích riêng rẽ trên quy mô toàn cầu, mà mới thống kê
được tổng diện tích chung của 2 nhóm đất là Acrisols và Alisols khoảng trên
800 triệu ha trong đó đất Acrsols chiếm hơn 400 triệu ha Phần lớn diện tích này phân bố ở vùng nhiệt đới, như ở Đông Nam á, Tây Phi, miền trung Nam
Trang 21Mỹ (theo UNEP.1992) [34]
Trong hệ thống phân loại của Mỹ (Soil Taxonomy), thì đất Ultisols mang nhiều đặc điểm và tính chất tương tự như đất Acrisols (theo cách phân loại của FAO – UNESCO) và loại đất này tương tự như đất bạc màu ở Việt Nam, là đất có sự biểu hiện suy kiệt về mặt độ phì (UNEP- 1992 [36], USDA- 1995 [36])
Khi ứng dụng phân loại đất theo FAO - UNESCO các nhà khoa học đất
Lê Thái Bạt và các đồng nghiệp (1980) [1], hội khoa học đất Việt Nam (1996) [10], Hoàng Văn Mùa, Nguyễn Nhật Tân (1995) [18], Nguyên Công Pho, Lê Thái Bạt (1985) [19], viện Thổ nhưỡng Nông hóa 1995 [27] , đã xếp nhóm
đất bạc màu vùng bắc Việt Nam tương ứng với nhóm Acrisol của hệ thống phân loại đất theo FAO
Theo phương pháp định lượng của FAO - UNESCO đất bạc màu nằm trong nhóm Acrisols (Hội khoa học dất Việt Nam (1996) [11], Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (1995) [27]) Đất bạc màu miền bắc Việt Nam có thể chia ra các loại như sau:
- Đất xám bạc màu điển hình: Hapnlic Acrisols (Ach)
- Đất xám có tầng loang lổ: Plinthic Acrisols (ACp)
- Đất xám glây: Gleyic Acrisols (ACg)
Đất bạc màu là loại đất có khả năng phù hợp với nhiều loại cây trồng tuy nhiên cần phải được cải tạo đất và canh tác một cách phù hợp mới đem lại năng suất cho cây trồng cao và ổn định
2.2.2 Phân bố đất bạc màu
ở đông nam á đã có nhiều nước phân loại đất theo phương pháp Soil Taxonomy và có thể thấy nhóm đất Ulitisols chiếm tới hơn 12 triệu ha, chúng nằm trải rộng trên các vùng cao có địa hình bằng, lượn sóng và chân
Trang 22núi Nhìn chung loại đất này có phản ứng chua (pHKCl: 4,2-5,2), hàm lượng mùn: 1,6-2,5 % [33]
ở Thái Lan, theo Sathien & cộng tác viên (1998) [34], nhóm đất Ultisols có diện tích tự nhiên chiếm gần 50% tổng diện tích tự nhiên, diện tích này thường bị hạn nên chỉ canh tác được một vụ vào mùa mưa
ở Indonexia vùng đất cao có khả năng sản xuất nông nghiệp, có diện tích khoảng 47,1 triệu ha trong đó có khoảng 20,7 triệu ha thuộc đất Ultisols
và Oxisols, là đất bạc màu nghèo kiệt về dinh dưỡng, khó cải tạo (theo J.Sri.Adining.Sih & ctv (1998) [31]
ở Trung Quốc có loại đất thường được gọi là "bạch thổ" hay "bạch tam thổ" có đặc điểm và tính chất như đất bạc màu, phân bố ở lưu vực sông Trường Giang và Hắc Long [21]
ở Nhật Bản cũng có loại đất tương tự như đất bạc màu ở Việt Nam cả
về hình thái phẫu diện cũng như tính chất đất
Còn ở Việt Nam đất bạc màu được phân thành vùng và dải lớn:
- Phía Bắc Vĩnh Yên kéo dài sang Thái Nguyên qua Bắc Giang đến phía bắc Hà Nội là dải lớn nhất
- Hải Dương đến Quảng Ninh thì bị chia cắt thành dải vùng nhỏ
- Phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ kéo dài từ Phú Thọ qua Hà Tây đến Nam Định
- Dải rìa phía Tây Thanh Hóa, Tây Nghệ An, Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế [2], [25]
Theo các kết quả của viện Khoa học Nông nghiệp (1998) [2], Hội Khoa học đất Việt Nam (1996) [11], Lê Duy Mì (1991) [14], Vũ Ngọc Tuyên (1963) [24] đã xác định đất bạc màu của cả nước vào khoảng 175.000 ha và riêng vùng đồng bằng sông Hồng có diện tích khoảng 80.643 ha (Bộ Khoa
Trang 23học Công nghệ và Môi trường nay là Bộ Khoa học và Công nghệ [5])
Như vậy diện tích đất bị thoái hóa do quá trình sử dụng, rửa trôi, thâm sâu trên thế giới là khá lớn Tùy từng nơi mà có tên gọi khác nhau, nhưng chúng đều mang những đặc điểm chung: bị thoái hóa và nghèo kiệt chất dinh dưỡng Đất bạc màu theo phân loại FAO-UNESCO thuộc nhóm đất Acrsols
Nó phân bố ở khu vực có khí hậu nhiệt đới có lượng lớn và nằm ở địa hình dốc thoải và trên nền đất đã hình thành từ lâu đời Quá trình hình thành loại đất này gắn liền với quá trình rửa trôi, thoái hóa đất [36] Vấn đề suy kiệt chất dinh dưỡng của đất đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam nghiên cứu nhằm tìm nguyên nhân, tác động, hậu quả và các biện pháp hạn chế quá trình bạc màu hóa
2.2.3 Tình hình nghiên cứu và cải tạo đất xám bạc màu trên thế giới
- ở Trung Quốc các nhà khoa học đã kết luận rằng muốn cải tạo đất bạc màu cần áp dụng các biện pháp sau:
+ Tăng cường chất hữu cơ, lân và cải tạo thành phần cơ giới bằng cách bón phân chuồng, phân xanh, bón sét bùn ao
+ Thực hiện tưới nước hợp lý và chế độ bón phân sâu theo lớp
+ áp dụng chế độ làm đất thích hợp, hạn chế làm đất bằng cơ giới
- ở Nhật Bản do loại đất này có đặc điểm thiếu sắt nên người ta thường dùng đất đỏ giàu sắt để bón và thu được hiệu quả rất tốt
- Ford (1986) [28] đã rút ra kết luận: Alfisols ở Kenya là đất có tốc độ thoái hoá khá nhanh, nhưng do được tưới nước và canh tác hợp lý nên quá trình này được ngăn chặn và độ phì nhiêu đất dần dần được phục hồi
- Kết quả nghiên cứu của Lal (1988) [32] cho thấy canh tác không hợp
lý sẽ làm đất bị thoái hoá nhanh, như ở Tây Nigeria, sau 7 năm độc canh cây ngô trên đất Alfisols trong điều kiện canh tác có làm đất và không làm đất thì
Trang 24hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất bị suy giảm đáng kể, cụ thể là chất hữu cơ giảm 3-5 g/kg; N tổng số: 0,5%; pHKCL 0,9-1,1 đơn vị…Dùng rác, mổi (mulching) phủ bề mặt đất canh tác cũng có tác dụng chống thoái hoá đất và cải tạo tính chất đất đáng kể
- Kết quả nghiên cứu ở Nigeria dùng mổi phủ làm tăng hàm lượng của
C và N trong đất ở Zaira dùng mổi phủ khi trồng bông trong 10 năm, trồng
cà phê ở Kenya, trồng ngô ở Nigeria, trồng chè ở ấn Độ các kết quả nghiên cứu đều cho thấy các tính chất đất đều biến đổi theo chiều hướng có lợi, đặc biệt là hàm lượng C và N tăng cao, đồng thời làm tăng năng suất cây trồng [32]
Tuỳ từng đặc điểm địa hình đất đai, điều kiện khí hậu, tập quán canh tác mà thường dùng các biện pháp cải tạo khác nhau, nhưng đều nhằm mục
đích là tăng độ phì cho đất, bảo vệ môi trường, hạn chế các quá trình thoái hoá
Rozanov (1994) cho rằng như sau: đất khô hạn là 28% tổng diện tích;
đất canh tác chờ mưa là 54%, tỷ lệ này ở đất canh tác có tưới là 70% Kết quả tổng kết này đã chỉ ra rằng khả năng cải tạo đất phụ thuộc rất nhiều vào nước tưới Đất có tưới sẽ có khả năng phục hồi cao hơn đất không được tưới
Như vậy sử dụng và quản lý đất đai một cách thích hợp trên cơ sở đầu tư khoa học sẽ làm tăng quá trình phục hồi đất Các yếu tố như: khí hậu, địa hình, vị trí địa lý có thể ảnh hưởng tích cực tới quá trình phục hồi đất khi đất
được sử dụng hợp lý và có cơ sở khoa học
2.2.4 Tình hình nghiên cứu cải tạo và sử dụng đất xám bạc màu ở Việt Nam
Từ xa xưa trong quá trình sản xuất người nông dân đã nhận biết được rằng có một loại đất xấu và đặt tên cho nó theo đặc điểm của đất là đất bạc màu Sản xuất trồng trọt trên đất bạc màu không thu được năng suất cao Vì
Trang 25đất nhẹ, bí, nhanh bị lắng chặt nên khi gieo cấy người nông dân phải thực hiện cầy bừa thật kỹ sau đó cấy ngay Nhưng phải đến năm 1958 mới bắt đầu những nghiên cứu toàn diện về đất bạc màu Bộ Nông nghiệp chủ trương điều tra phân vùng đất bạc màu ở miền Bắc Công việc nghiên cứu cải tạo đất ngay sau đó được Học viện Nông lâm tiến hành tại hợp tác xã Bộ Lĩnh huyện Kim Anh tỉnh Vĩnh Phúc Sau đó công tác này được mở rộng ở nhiều trạm, trại, HTX thuộc các tỉnh Hà Bắc (cũ), Vĩnh Phú (cũ) và Thanh Hoá
Đã có nhiều biện pháp cải tạo đất bạc màu được nghiên cứu và áp dụng vào thực tế sản xuất:
2.2.4.1 Cày sâu dần dần
Đặc điểm của đất bạc màu là tầng canh tác mỏng, có thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng sét rất thấp, khả năng giữ phân, giữ nước kém Nhưng xuống sâu đất có tỷ lệ sét tương đối khá, hàm lượng keo sét cao hơn tầng trên Vì vậy, cày sâu có tác dụng làm tăng độ dày của tầng đất canh tác, đưa đất tầng dưới lên trộn lẫn với tầng mặt, làm tăng keo sét cả về số lượng lẫn chất lượng
Các thí nghiệm được viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1968) [2] thực hiện trên đất xám bạc màu có tầng canh tác dày 15 cm, tầng
đế cày dày 15 – 19 cm, cày sâu ở 4 mức: 10, 14, 18 và 22 cm và thu được kết quả như sau:
Với điều kiện bón phân như nhau, thì cày ở mức 18 cm năng suất lúa
đạt cao nhất Khi cày sâu hơn 18 cm, phải tăng lượng phân bón thì năng suất lúa mới tăng lên Cày sâu không những có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng, mà còn có tác dụng làm thay đổi lý, hoá tính của đất, đặc biệt là làm tăng hàm lượng sét của đất Cày sâu 18 cm làm tăng tỷ lệ sét tầng mặt 2%, tỷ
lệ limon tăng lên 6%, giảm tỷ lệ cát 8% Cày sâu xuống 22 cm thì tỷ lệ sét và limon còn tăng cao hơn nữa, cụ thể là sét tăng 5,6%; limon tăng 11,6% [2])
ở đất bạc màu trên phù sa cổ, cày sâu lật đất và bón phân hữu cơ là một
Trang 26biện pháp tốt nhất để cải tạo đất và làm tăng năng suất cây trồng Song biện pháp cày sâu chỉ có hiệu quả khi có đủ lượng phân hữu cơ tương ứng với độ cầy sâu thêm [2]
2.2.4.2 Bón phù sa và đất đỏ
Phương pháp bón phù sa và đất đỏ, hay bón đất bùn ao cho đất bạc màu
đã được bộ môn cải tạo đất viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam thực hiện (năm 1968) [2], thí nghiệm ở trong chậu sứ Kết quả khi bón thêm
10 % đất phù sa sông Hồng cho thấy năng suất lúa tăng lên 134 % so với không bón Cũng với thí nghiệm như vậy nhưng bón đất đỏ, thì năng suất tăng
được 138 % so với đối chứng
Nguyễn Mười cùng các cộng tác viên đã tiến hành thí nghiệm ngoài
đồng ở Tam Thiên Mẫu (Hà Bắc), năm 1967 - 1968 [21] và đã kết luận là nếu bón 150 tấn bùn cho 1 ha thì cải thiện được một phần thành phần cơ giới, dung tích hấp thụ tăng từ 6 – 10 lđl/100 gam đất, năng suất lúa tăng ngay từ
vụ đầu tiên
2.2.4.3 Bón vôi
Theo Lê Văn Căn 1977 [6], thì phản ứng pH đất thích hợp của một số cây trồng như lúa, ngô, khoai tây, khoai lang trong khoảng 5,0 – 7,0 Như vậy, đất bạc màu có tính chất hơi chua đối với nhiều loại cây trồng, do vậy cần thiết phải cải tạo độ chua cho đất Bón vôi cho đất là biện pháp cải tạo độ chua cho đất bạc màu có hiệu quả cao
Kết quả nghiên cứu của viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp (1968) [2], Lê Duy Mì (1976) [16], cho thấy: đất bạc màu chỉ nên bón hàm lượng vôi trong khoảng 0,15 – 0,25 độ chua thuỷ phân, tức khoảng 500 – 1000 kg/ ha, thì mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, năng suất tăng từ 8 – 24 %, tương ứng với 1 tạ vôi làm tăng từ 50 – 60 kg thóc
Lê Văn Căn (1977) [6] đã tổng kết 38 thí nghiệm bón vôi ở miền Bắc
Trang 27trong 15 năm và có kết luận là, bón 100 kg vôi cho đất bạc màu thu được trung bình 30 kg thóc Vì đất bạc màu nghèo chất dinh dưỡng nên khi bón vôi cần chú ý kết hợp với bón các loại phân khác, đặc biệt là bón phân hữu cơ
Bón vôi không chỉ làm tăng năng suất cây trồng, mà còn ảnh hưởng tới tính chất nông hoá của đất bạc màu [9]
2.2.4.4 Bón phân hữu cơ
Theo Lê Duy Mì (1991) [14], (1979) [16] phân hữu cơ có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ mùn cho đất bạc màu và cải thiện tính chất lý học như tăng độ xốp, giảm dung trọng, tăng dung tích hấp thu, tăng khả năng giữ NH4+ từ phân hoá học
- Phân chuồng: Thí nghiệm của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1968) [2] của trường Đại học Nông nghiệp I (1976) [21] cho thấy phân chuồng có thể làm tăng năng suất lúa 25 – 76 kg thóc/ 1 tấn phân chuồng (tăng 15 – 61% so với đối chứng không bón phân chuồng) Bình quân
1 tấn phân chuồng làm tăng 52 kg thóc Trong thực tế việc giải quyết nguồn phân chuồng đáp ứng cho nhu cầu thâm canh, cải tạo đất gặp rất nhiều khó khăn do ngành chăn nuôi chưa phát triển tương xứng với ngành trồng trọt Theo ước tính của lê Duy Mì (1979) [16] khối lượng phân chuồng bình quân bón cho 1 ha ở đồng bằng sông Hồng chỉ đạt 5 – 7 tấn, trong khi nhu cầu cần
có 8 - 15 tấn
- Phân xanh: các loại cây phân xanh thường mang lại hiệu quả cao như : cây điền thanh, cây lục lạc lá tròn, cây cốt khí Ngoài ra các sản phẩm phụ như lá, thân, rễ của những cây họ đậu: đậu tương, lạc, đỗ các loại cũng thành nguồn phân xanh có giá trị Trên bộ rễ của các cây họ đậu có vi khuẩn nốt sần cộng sinh, vi khuẩn này có khả năng tổng hợp N tự do trong khí quyển thành dạng
đạm mà cây trồng có thể sử dụng được và tăng độ phì của đất Theo kết quả thí nghiệm của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam [2], trường Đại
Trang 28học Nông nghiệp I [21] bón phân xanh mang lại hiệu quả khá cao, một tấn phân xanh làm tăng trung bình 65 kg thóc Việc trồng xen, trồng gối cây phân xanh để tạo nguồn phân hữu cơ, đồng thời có tác dụng cải tạo đất là rất tốt
- Rơm, rạ và các sản phẩm phụ như: thân lá lạc, khoai lang, tàn dư thực vật trên đồng ruộng cũng là các nguồn phân hữu cơ quan trọng Trong rơm rạ có chứa 15 – 17% SiO2, trong hạt thóc chứa 3 – 5 % SiO2 Giả thiết rằng hệ số kinh tế là 50 %, thì với năng suất 10 tấn/1 ha đất sẽ bị lấy đi 1500 –
1700 kg SiO2 vào trong rơm rạ và vào trong hạt thóc là 300 – 500 kg SiO2[16] Do vậy cày vặn rạ (tương ứng với 2 – 9 tấn rạ khô trên 1 ha) trả lại Si cho
đất là việc làm cần thiết Các thí nghiệm cho thấy, cày vặn rạ có thể làm tăng năng suất lúa vụ sau lên 14% Trong thực tế các biện pháp này khó thực hiện
được vì người nông dân cần rơm rạ làm chất đốt, làm thức ăn cho trâu, bò, làm chất độn chuồng , dùng thân lá lạc, khoai lang cho lợn ăn
Bón phân hữu cơ hoặc tàn dư chất hữu cơ cho đất bạc màu là rất cần thiết và mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường cao Kết quả nghiên cứu của
Lê Duy Mì (1979) [17] hiệu suất của một số loại phân hữu cơ với năng suất lúa như sau: 1 tấn phân chuồng ủ cho 25 – 76 kg thóc, 1 tấn điền thanh ủ cho
32 – 78 kg thóc, 1 tấn bèo hoa dâu ủ cho 17 – 37 kg thóc
2.2.4.5 Bón phân hoá học
Đất bạc màu nghèo kiệt về các chất dinh dưỡng nên các loại phân hoá học rất có hiệu lực so với các loại đất khác Kết quả nghiên cứu của viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Vịêt Nam (1968) [2], Lê Duy Mì (1991) [15] và những kết quả thí nghiệm mới đây của trường Đại học Nông nghiệp I cho thấy hiệu quả của các loại phân khoáng trên đất bạc màu rất cao
Trên đất bạc màu huyện Đông Anh, kết quả nghiên cứu của chương trình hợp tác Hydro - ĐHNNI từ 1996 – 1998 đã kết luận:
Hiệu suất của phân đạm biến động trong phạm vi: 5,9 – 10,3 kg thóc/1
Trang 292.2.4.6 Biện pháp cây trồng
Đất bạc màu tuy có nhược điểm là nghèo dinh dưỡng, chua nhưng có
ưu thế trong sản xuất như: dễ thoát nước, dễ làm đất, thích hợp cho việc trồng cấy đối với nhiều loại cây trồng, hình thức luân canh rất đa dạng và phong phú, nghĩa là có thể xây dựng nhiều loại hình sử dụng đất Theo Lê Duy Mì (1991) [15] trồng thêm một vụ đông trên đất bạc màu không những
có ý nghĩa về kinh tế, tăng thu nhập, nâng cao hệ số sử dụng đất mà còn làm tăng năng suất của vụ sau
Loại cây trồng của vụ trước có ảnh hưởng rõ đến năng suất của cây trồng vụ sau: lúa xuân có năng suất cao trên đất vụ đông trồng khoai tây, khoai lang, lúa mùa có năng suất cao trên đất trồng lạc xuân
Theo viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1993) [26], Lê Duy Mì (1991) [15] hệ thống cây trồng trên đất Bắc Việt Nam khá đa dạng
và phong phú Do nhiều giống cây trồng ngắn ngày ra đời với việc tăng cường thuỷ lợi, phân bón, lao động mà đất bạc màu có thể quay vòng 3 đến 4 lần /năm Các loại hình sử dụng đất phổ biến trên đất bạc màu Bắc Việt Nam là:
- Lúa xuân - lúa mùa là khá phổ biến trên đất bạc màu chủ động về nước tưới, có địa hình thấp, hoặc có địa hình vàn nhưng chưa có điều kiện để trồng cây vụ đông
Trang 30- Một vụ lúa - một vụ màu Trong thực tế thường gặp các công thức như: bí xanh - lúa mùa, ngô - lúa mùa, hay lạc - lúa mùa
Kiểu sử dụng đất này thường được thực hiện ở chân ruộng vàn cao, cao không chủ động nước tưới, phải phụ thuộc vào nước trời
- Lúa xuân - lúa mùa - cây vụ đông Cây vụ đông là các cây như: bí xanh, khoai tây, khoai lang, cà chua, lạc, ngô, rau su hào, các loại rau khác
- 2 màu - 1 lúa: Lạc xuân - lúa mùa - khoai lang, hay Đậu tương - lúa mùa - ngô thu đông
Có thể luân canh tới 4 vụ, 5 vụ/năm, những kiểu sử dụng đất này thường
được thực hiện ở những nơi chủ động nước tưới tiêu, có khả năng thâm canh cao, có đủ lao động, tiền vốn
Các loại hình sử dụng đất 4 đến 5 vụ thường gặp:
+ Lúa xuân - lúa mùa - rau thu đông - rau đông
+ Bí xanh - bí xanh - cải canh - bắp cải
+ Lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa muộn - khoai lang đông
+ Lạc xuân - đậu tương hè - cải canh - khoai tây
+ Đậu tương - đậu xanh - ngô thu đông - rau đông
+ Hoa cây cảnh
Tuỳ điều kiện cụ thể, mà người nông dân lựa chọn công thức luân canh cho phù hợp nhất Như vậy đất bạc màu tuy nghèo về chất dinh dưỡng, nhưng nếu biết đầu tư, sử dụng một cách khoa học thì không những cho thu nhập cao không thua kém, thậm trí còn cho hiệu quả kinh tế cao hơn các loại đất khác Ngoài ra còn có tác dụng cải tạo và nâng cao độ phì của đất
Trang 31Phần 3 nội dung và phương pháp nghiên cứu 3.1 Phạm vi nghiên cứu
Loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên đất bạc màu huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang
- Vùng thượng huyện (gồm 11 xã), chọn 1 xã (Hoàng Vân) đại diện cho nhóm đất bạc màu để điều tra nông hộ
- Trung tâm huyện (gồm 8 xã và thị trấn Thắng), chọn 1 xã (Đoan Bái)
đại diện cho nhóm đất bạc màu để điều tra nông hộ
3.2 Nội dung nghiên cứu:
- Điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hiệp Hoà
- Hiện trạng sử dụng quỹ đất nông nghiệp của huyện Hiệp Hoà, bao gồm: diện tích, cơ cấu
- Điều tra các loại hình sử dụng đất nông nghiệp, bao gồm: cây lương thực (lúa, ngô, khoai, sắn, ), cây rau màu và cây công nghiệp hàng năm (rau,
đậu, lạc,…)
- Cây lâu năm - cây ăn quả (nhãn, vải, hồng, na )
- Điều tra về mức đầu tư cho từng loại hình sử dụng đất nông nghiệp theo phiếu điều tra nông hộ
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất trên đất bạc màu huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang
- Lựa chọn và đề xuất một số loại hình sử dụng đất cho hiệu quả cao trên
đất bạc màu huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang
Trang 323.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp: Thu thập các số liệu, tài liệu
theo thống kê hàng năm của phòng Nông nghiệp - Địa chính huyện Hiệp Hòa (sổ mục kê, thống kê; báo cáo tổng kết hàng năm về sản xuất nông nghiệp; báo cáo thuyết minh về bản đồ đất của huyện Hiệp Hòa; các biểu kiểm kê đất nông nghiệp hàng năm; báo cáo thuyết minh về quy hoạch sử dụng đất huyện Hiệp Hòa đến năm 2010, định hướng phát triển kinh tế xã hội huyện Hiệp Hòa
- Phân tích và xử lý số liệu thống kê, phỏng vấn nông hộ theo phần
mềm EXCEL
3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
3.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên của huyện Hiệp Hòa
- Đặc điểm khí hậu - thủy văn
- Địa hình (phân theo nền đất tương đối trong thâm canh cây trồng): Chân ruộng: trũng, vàn thấp, vàn, vàn cao, cao
- Đặc điểm đất đai (loại đất)
- Điều kiện tưới tiêu: Tưới tiêu chủ động (tự chảy), bơm tát chủ động, bán chủ động, hạn (chủ yếu dựa vào nước trời), úng cục bộ
Trang 33- Diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp
3.4.2 Đánh giá về hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất nông nghiệp:
- Giá trị sản xuất GO: Là giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích
- Chi phí trung gian IE: Là toàn bộ chi phí vật chất được sử dụng trong quá trình sản xuất
- Giá trị gia tăng VA: Là hiệu số giá trị sản xuất và chi phí trung gian
VA = GO - IE
- Thu nhập thuần (thu nhập thực tế): Là phần trả cho người lao động số tiền lãi thu được của việc sử dụng đất tính cả công lao động
TNT = VA - T (thuế) - Đ (khấu hao tài sản nếu có)
- Thu nhập thuần/ngày công lao động: Là kết quả đầu tư lao động cho từng loại hình sử dụng đất, hay từng loại cây trồng
3.4.3 Cơ sở chọn địa bàn nghiên cứu
Theo tài liệu phân vùng kinh tế - xã hội và điều tra lập bản đồ thổ nhưỡng của viện Quy hoạch và Thiết kế bộ Nông nghiệp (năm 1963) và điều tra bổ sung thổ nhưỡng - nông hóa (năm 1986), thì huyện Hiệp Hòa được phân thành 3 vùng, đó là:
Vùng Hạ huyện, gồm những xã ở phía tây nam huyện, các xã này có thổ nhưỡng chủ yếu thuộc nhóm đất phù sa cổ và đất phù sa ngoài đê sông Cầu, thuộc vùng thấp của huyện Loại cây trồng chủ yếu là cây lương thực và cây công nghiệp hàng năm
Vùng Trung huyện là các xã giáp danh với thị trấn Thắng, các xã này
có các loại đất chủ yếu thuộc nhóm đất bạc màu trên nền phù sa cổ và một phần là đất phù sa cổ, chân vàn và vàn cao Loại cây trồng chủ yếu là cây lương thực và cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả và rau màu
Trang 34Vùng Thượng huyện, gồm các xã ở phía Bắc, Tây Bắc của huyện, đây là vùng có kinh tế khó khăn nhất của huyện Đất đai ở vùng này chủ yếu là đất bạc màu trên nền phù sa cổ, đất nâu vàng trên phù sa cổ và đất đỏ vàng trên đá sét Loại cây trồng chủ yếu là cây lương thực và cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả, cây trồng rừng, cây rau màu
- Đất bạc màu của huyện Hiệp Hòa được phân bố chủ yếu ở 2 vùng, đó
là Trung huyện và Thượng huyện, vì vậy chúng tôi chọn 1 xã đặc trưng đại diện cho mỗi vùng Mỗi xã điều tra 45 hộ gia đình, được phân ra 3 mức nông hộ theo phân loại đơn giản của huyện Hiệp Hòa: hộ khá, hộ trung bình,
hộ thu nhập thấp
- Các loại hình sử dụng đất trên nhóm đất bạc màu và khả năng đầu tư của nông hộ, hiệu quả đồng vốn đầu tư theo từng loại hình sử dụng đất
Trang 35Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
4.1.1 Vị trí địa lý
Hiệp Hoà là một huyện trung du nằm ở phía Tây Nam tỉnh Bắc Giang,
có diện tích tự nhiên 20.107,916 ha, chiếm 5,25 % diện tích toàn tỉnh
Có toạ độ địa lý: từ 105052’40” đến 10602’20 kinh độ đông, từ
21013’20” đến 21026’10” vĩ độ bắc
Phía Bắc giáp huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Phía Đông giáp huyện Tân Yên và Việt Yên tỉnh Bắc Giang
Phía Nam giáp huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh
Phía Tây giáp huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội và Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình nhiều năm 23,40C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7) là 32,60C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất (tháng
Trang 361) là 13,40C Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 4,30C, cao nhất tuyệt đối 380C Biên độ nhiệt ngày đêm trung bình 6,20C (cao nhất 7,30C, thấp nhất 4,10C)
Tổng tích ôn trong vùng thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng: cây lương thực, cây trồng màu, cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả
- Bức xạ nhiệt: Hiệp Hòa thuộc vùng có lượng bức xạ nhiệt trung bình
so với vùng khí hậu nhiệt đới Số giờ nắng trung bình cả năm là 1.669,5 giờ, bình quân số giờ nắng trong ngày đạt 4,6 giờ, tháng có số giờ nắng cao nhất là vào tháng 9 (197,7 giờ)
- Lượng mưa: Xét theo chế độ mưa, huyện Hiệp Hòa chia thành mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tổng lượng mưa trung bình nhiều năm đạt 1.568,3 mm Tháng có lượng mưa trung bình cao nhất là tháng 8 (294,1 mm), tháng có lượng mưa trung bình thấp nhất là tháng 12 Mưa tập trung từ tháng 6 - tháng 9, chiếm khoảng 65 - 70% lượng mưa cả năm Trung bình mỗi năm có 113 ngày mưa
- Bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm khoảng 1081,2 mm, chiếm 68,94% lượng mưa cả năm Lượng bốc hơi cao nhất xảy ra vào các tháng có nhiệt độ cao (từ tháng 5 - 7)
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm tương đối cao, khoảng 82%, độ ẩm thấp nhất 65%
- Gió bão: Về mùa Đông vùng chịu ảnh hượng của gió mùa đông bắc, mùa hạ hướng gió thịnh hành là đông nam Vùng ít chịu ảnh hưởng của gió bão
4.1.2.2 Thủy văn:
Hiệp Hoà nằm trong lưu vực của hệ thống sông Cầu Đây là mạng lưới sông suối quan trọng cung cấp nước và tiêu nước phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong huyện Ngoài ra trong vùng có nhiều hồ ao (chiếm
Trang 373,45% diện tích tự nhiên) có khả năng điều tiết một phần nước mưa và trữ
nước tưới cho mùa khô
Về mùa mưa nước sông Cầu thường dâng cao gây lũ lụt các vùng đất ngoài đê, cản trở việc tiêu nước nội đồng, gây úng ngập cục bộ Mưa lũ và tình trạng khai thác vật liệu xây dựng ven sông không hợp lý đã và đang gây ra
tình trạng xói lở bờ sông và đất canh tác
Mùa khô, mực nước sông Cầu đang có xu hướng ngày càng cạn kiệt do giảm diện tích rừng ở thượng nguồn và nhu cầu khai thác ngày càng cao của các vùng đất ven sông, do vậy việc thiếu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp nhất là các vùng cuối các kênh tưới ngày một gia tăng
4.1.3 Địa hình địa mạo
Theo kết quả điều tra lập bản đồ thổ nhưỡng của viện Quy hoạch thiết
kế Bộ Nông nghiệp (1963), thì địa hình của huyện thuộc vùng đồi núi thấp xen kẽ các đồng bằng, bị chia cắt ở mức trung bình và thấp dần từ đông bắc xuống tây nam (thấp dần từ vùng Thượng huyện đến vùng Trung huyện xuống vùng Hạ huyện)
Địa hình huyện Hiệp Hòa được phân thành hai dạng chính:
4.1.3.1 Địa hình đồi thấp:
Phân bố giải rác ở tất cả các xã trong huyện, trong đó tập trung ở 11 xã miền núi Địa hình này có độ chia cắt trung bình, dạng lượn sóng, độ dốc bình quân khoảng 80 - 150, hướng dốc không ổn định Độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 120 - 150 m Đất đai có địa hình này phần lớn đã được khai thác trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả và khu dân cư Tuy nhiên nhiều nơi do khai thác sử dụng không hợp lý đất đai bị xói mòn rửa trôi dẫn đến bị bạc màu Loại địa hình này có diện tích khoảng 5.264 ha, chiếm 26,18% diện tích tự nhiên
Trang 384.1.4 Đặc Điểm đất huyện Hiệp Hòa
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Hiệp Hòa: 20.107,916 ha Kết quả
điều tra thổ nh−ỡng toàn tỉnh năm 1963 và điều tra bổ sung năm 1986 của Viện quy hoạch Thiết kế Bộ Nông nghiệp cho ta thấy, toàn huyện có 7 loại hình thổ nh−ỡng, trong đó diện tích đất bạc màu trên phù sa cổ chiếm diện tích lớn nhất, chiếm gần 40% tổng diện tích đất điều tra
Bàng 4: Diện tích các loại đất huyện Hiệp Hòa
TT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Trang 39Biểu đồ : Cơ cấu diện tích các loại đất huyện Hiệp Hoà -Bắc Giang
Đất bạc màu trên phù sa cổ (B) Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp)
Đất đỏ vàng trên đá sét (Fs)
4.1.4.1 Đất phù sa đ−ợc bồi hàng năm (Pb):
Diện tích 720,53 ha chiếm 3,93% diện tích điều tra DTĐT loại đất này hình thành do sản phẩm phù sa bồi tụ hàng năm, phân bố ở các vùng bãi dọc theo sông Cầu (vùng Hạ và Trung huyện), đất có phản ứng chua ít (pHKCL = 5,2 - 6,1), thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình Hàm l−ợng mùn,
đạm, lân, kali tổng số ở mức trung bình đến khá, lân dễ tiêu nghèo (6 - 8 mg/100 g đất), kali trao đổi trung bình (12 - 16 mg/100 g đất)
Trên loại đất này đang thâm canh các loại hoa màu, dâu tằm Đây là loại đất thích hợp với nhiều loại cây trồng, nh− cây công nghiệp hàng năm, rau xanh, ngô và khoai tây
Trang 404.1.4.3 Đất phù sa gley (Pg):
Diện tích là 445 ha, chiếm 2,48%, DTĐT phân bố trên các chân vàn thấp, trũng trong đê (vùng Hạ huyện) Đất này được hình thành do sự bồi tụ của hệ thống sông Cầu, do bị ngập nước với quá trình khử là chính tạo nên hiện tượng gley Đất có phản ứng chua (pHKCL = 4,4 - 5,3), thành phần cơ giới thịt trung bình đến thịt nặng, Hàm lượng mùn, đạm tổng số ở mức khá, kali và lân tổng số ở mức trung bình, lân đễ tiêu nghèo (5 - 8 mg/100 g đất) và kali trao đổi trung bình (13 - 17 mg/100 g đất)
4.1.4.4 Đất phù sa úng nước (Pj):
Diện tích 1.808 ha, chiếm 9,84%, DTĐT phân bố ở các chân vàn trũng
và trũng ở các xã phía nam huyện (vùng Hạ huyện) Đất hình thành do sự bồi
tụ phù sa nhưng do bị ngập nước thường xuyên nên đất bị gley mạnh Đất có phản ứng rất chua đến chua (pHKCL= 4,1 - 5,3), hàm lượng mùn, đạm, lân, kali tổng số ở mức khá, lân dễ tiêu ở mức rất nghèo đến nghèo (3 – 9 mg/ 100g
đất) Trên loại đất này loại hình sử dụng đất chính là canh tác 2 vụ lúa, ở các chân trũng úng chỉ trồng được một vụ lúa, năng suất bấp bênh do ngập úng
4.1.4.5 Đất bạc màu trên phù sa cổ (B):
Diện tích 6.902 ha, chiếm 37,42% DTĐT loại đất này phân bố trên