Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình kinh tế vườn đồi chủ yếu của nông hộ huyện đoan hùng tỉnh phú thọ
Trang 11 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế nông hộ là một hình thức chủ yếu, đặc thù trong nông nghiệp và nông thôn Sự phát triển của kinh tế nông hộ gắn liền với sự phát triển của các loại hình canh tác Trong kinh tế hộ, kinh tế vườn chiếm một tỷ trọng đáng kể Trước đây ở Việt Nam, vườn thường gắn liền với khu nhà ở, tuỳ theo địa hình và theo điều kiện mà nhà có thể được xây dựng ở chân đồi hoặc lưng chừng
đồi, người giàu thường có ruộng đất nên có thâm canh trên đất vườn đồi, còn người nghèo đất hẹp thường không có vườn để sản xuất Từ khi có Chỉ thị 100-
CT (1/1987) của Ban Bí thư Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4/1988) kinh tế hộ được chú trọng, kinh tế vườn dần dần được phát triển
Thực tiễn qua báo cáo của Hội Làm vườn các cấp đều nhấn mạnh vai trò kinh tế vườn được thể hiện rõ nét và ngày một hiệu quả hơn Trong cơ cấu thu nhập của nông hộ, thu từ kinh tế vườn chiếm một tỷ lệ lớn và ngày càng tăng Giá trị sản phẩm kinh tế VAC chiếm hơn 35,8% trong tổng sản phẩm nông lâm nghiệp và chiếm 50-60% thu nhập của hộ gia đình [46]
Nhưng bên cạnh đó chúng ta phải thừa nhận rằng, tập quán canh tác còn lạc hậu (độc canh), đất đai nghèo dinh dưỡng do nạn chặt phá rừng, lũ lụt dẫn đến xói mòn rửa trôi đất, du canh du cư tự phát của các đồng bào dân tộc, sản xuất nhỏ, thâm canh trên đất vườn chưa nhiều, thất nghiệp, thu nhập
và mức sống của nông dân thấp đặc biệt đối với các tỉnh Trung du Miền núi; GDP của vùng bằng 5,9% tổng GDP cả nước mặc dù bên cạnh vùng có những lợi thế riêng: địa hình đa dạng, đất đai trù phú, đất đồi núi nhiều chiếm gần 2/3 tổng diện tích của vùng, đất nông nghiệp bình quân 1.182
m2/1 người, thích hợp cho nhiều loài cây trồng, vật nuôi (cây ăn quả nhiệt
đới và á nhiệt đới, cây bản địa đặc sản, cây chè, cây nguyên liệu giấy, chăn
1
Trang 2nuôi trâu, bò, gia súc, gia cầm, thuỷ sản, ) và nhiều loại hình kinh tế khác nhau trong đó phát triển kinh tế vườn đồi kết hợp với du lịch sinh thái là một hướng đi tốt, rất phù hợp [11, 1095]
Do vậy, tìm hiểu - đánh giá các mô hình kinh tế vườn đồi nào ? Quy mô, cơ cấu các cá thể trong mô hình đó ra sao ? Lựa chọn đầu vào và kỹ thuật sản xuất nào ? Ai làm ? Bao nhiêu ? Sản phẩm gì ? Để tối thiểu hoá chi phí và tối đa hoá lượng sản phẩm sản xuất ra trong khi nguồn lực sản xuất ngày một khan hiếm
Xuất phát từ những khó khăn của huyện miền núi vùng bán sơn địa phía Bắc của tỉnh, đứng trước tình hình đổi mới về phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việc đánh giá hiệu quả và phát triển các mô hình kinh tế vườn đồi ở Đoan Hùng cần tập trung xác định: quy mô sản xuất, sản phẩm hàng hoá chiến lược của vùng, các yếu tố ảnh hưởng, kỹ thuật canh tác và chiến lược tiêu thụ nhằm khai thác tiềm năng vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, đất đai (đất đồi gò lớn chiếm 47% tổng quỹ đất của huyện), lao động [24]; thực hiện phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo hệ thống vườn tạp, mở rộng diện tích vườn cây ăn quả chủ lực, các vườn nguyên liệu tập trung sản xuất hàng hoá lớn với hệ thống các tập đoàn cây trồng vật nuôi thích hợp, có chất lượng, năng suất cao; đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, nâng cao giá trị trên một héc ta đất vườn và tăng thu nhập cho nông hộ; từng bước phá bỏ tính chất khép kín trong mô hình sản xuất nông hộ nhỏ lẻ, tản mạn, quảng canh…, lựa chọn được các mô hình kinh tế vườn đồi điển hình SXKD giỏi từ đó nhân rộng phát triển ở cơ sở là một việc làm có ý nghĩa hết sức to lớn, tổng hợp sức mạnh các nguồn lực góp phần thực hiện thành công sự nghiệp của toàn dân về CNH - HĐH nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới của huyện
Đoan Hùng nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình kinh tế vườn đồi chủ yếu của nông hộ huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ”
2
Trang 31.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu là làm sao để đánh giá được hiệu quả các mô hình kinh tế vườn đồi chủ yếu Phát hiện và lựa chọn mô hình vườn có kết quả, hiệu quả kinh tế, từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu để nhằm phát triển các mô hình vườn đồi thích hợp cho từng vùng sinh thái trên địa bàn huyện
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
* Hệ thống hoá những lý luận và thực tiễn mô hình kinh tế vườn và hiệu quả kinh tế vườn đồi
* Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình kinh
tế chủ yếu trên đất vườn đồi của nông hộ huyện Đoan Hùng-tỉnh Phú Thọ
* Phân tích nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế vườn đồi ở từng vùng Từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế từng loại mô hình vườn đồi ở từng vùng sinh thái của nông hộ, huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ
1.3 Giới hạn của đề tài nghiên cứu
♦ Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là các mô hình kinh tế vườn đồi đang có trong thực tiễn sản xuất của các nông hộ ở 3 tiểu vùng sinh thái của huyện Đoan Hùng
♦ Phạm vi nghiên cứu
Về địa bàn nghiên cứu: các xã trọng điểm gồm xã Bằng Luân, xã Vân
Du, xã Hùng Long, xã Tiêu Sơn huyện Đoan Hùng Trong đề tài này chúng tôi tiến hành điều tra, nghiên cứu các mô hình kinh tế vườn đồi chủ yếu của huyện Đoan Hùng, bởi đây là huyện đại diện cho đất đồi núi của tỉnh đang có hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất vườn đồi khá tốt, đã và
3
Trang 4đang thu hút nhiều chương trình dự án của tỉnh Phú Thọ về phát triển vùng nguyên liệu, cây ăn quả đặc sản… Trên cơ sở đó có thể mở rộng kết quả nghiên cứu cho những huyện lân cận khác có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tương tự như huyện Thanh Sơn, huyện Hạ Hoà, huyện Yên Lập, huyện Sông Thao, huyện Phù Ninh, huyện Thanh Thuỷ
Về thời gian nghiên cứu: các số liệu phản ánh tình hình cơ bản của
huyện và hiệu quả kinh tế cây, con trong các mô hình kinh tế vườn đồ chủ yếu của nông hộ được thu thập từ năm 2001-2003; các giải pháp mà đề tài đề xuất
sẽ áp dụng cho năm 2005
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung trả lời một số câu hỏi nghiên cứu sau:
* Các mô hình kinh tế vườn đồi chủ yếu của huyện Đoan Hùng là mô hình nào ?
* Hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế chủ yếu ở một số vùng điển hình như thế nào ?
* ảnh hưởng của các yếu tố đến kết quả, hiệu quả kinh tế của từng loại mô hình kinh tế vườn đồi ở từng vùng như thế nào ?
* Các giả pháp nào nhằm hoàn thiện, phát triển và nâng cao hơn nữa hiệu quả các mô hình kinh tế vườn đồi ?
Từ các mục tiêu cụ thể đã xác định Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài theo các bước được trình bày chi tiết ở Sơ đồ 1.1
4
Trang 5
Xác định mục tiêu nghiên cứu
Điều tra tình hình cơ bản của huyện
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế
và xã hội
Thực trạng sản xuất nông lâm nghiệp
Tổng quan về phát triển kinh
và hình ảnh về các mô hình kinh tế vườn
đồi điển hình.
HQKT các mô
hình kinh tế vườn đồi
Một số tác động về mặt xã hội.
Một số tác động
về mặt môi trường
đồi điển hình
Sơ đồ 1.1: Các bước tiến hành thực hiện đề tài
5
Trang 6- Mô hình là mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật để chúng ta
trình bày và nghiên cứu
- Mô hình là hình ảnh quy ước được mô phỏng hoá, thu nhỏ lại và trình bày một cách đơn giản, dễ hiểu nhất của đối tượng nghiên cứu mà trong thực
tế chúng rất đa dạng và phức tạp
- Mô hình là hình mẫu phản ánh đối tượng nghiên cứu một cách hiện
thực và khách quan
- Qua mô hình giúp chúng ta nhận biết được đối tượng nghiên cứu, thực
trạng và các mối quan hệ giữa chúng
Do đó mà ở góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tuỳ thuộc vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình sử dụng để mô phỏng
và trình bày là khác nhau Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng đối tượng nghiên cứu, người ta đều có chung một quan điểm mà chúng tôi đều thống nhất
đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối t ượng nghiên cứu,
nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu với cách diễn đạt hết sức ngắn gọn [35]
ặ Mô hình trong sản xuất
Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm tạo
6
Trang 7ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và sức lao
động của chính mình Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh sự phát triển của các công cụ sản xuất - yếu tố không thể thiếu được - cấu thành trong nền sản xuất: từ những công cụ thô sơ, công dụng sử dụng nhỏ, nay thay vào đó là các công cụ sản xuất hiện đại, công dụng đa năng, đã thay thế một phần rất lớn cho lao động sống và làm giảm hao phí về lao động sống trên một
đơn vị sản phẩm Đó chính là mục tiêu quan trọng của nền sản xuất hiện đại
Trong sản xuất, mô hình sản xuất là một trong các nội dung kinh tế của sản xuất, nó thể hiện được sự tác động qua lại của các yếu tố kinh tế
ngoài những yếu tố kỹ thuật của sản xuất, do đó mà: Mô hình sản xuất là hình mẫu trong sản xuất, thể hiện sự kết hợp của các nguồn lực trong điều kiện sản xuất cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích kinh tế
(Dương Văn Hiểu, 2001) [15]
ặ Mô hình kinh tế vườn đồi
Sản phẩm của mô hình kinh tế vườn đồi rất đa dạng và phong phú, kết quả của các mô hình kinh tế vườn đồi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó
mô hình sản xuất là một yếu tố có tác động trực tiếp Theo chúng tôi, Mô hình kinh tế vườn đồi là hình mẫu trong kinh tế vườn đồi, có bản chất đặc trưng riêng và phù hợp với điều kiện cụ thể nhất định.
Mô hình kinh tế vườn đồi mô phỏng sự kết hợp giữa các nguồn lực như đất đai, vốn, lao động, kỹ thuật, cơ cấu cây con để sản xuất ra các loại sản phẩm không chỉ đáp ứng cho tiêu dùng trong gia đình mà còn có giá trị trao đổi, giá trị kinh tế cao với các sản phẩm tươi, sản phẩm khô, sản phẩm chế biến trên thị trường và xuất khẩu Là một ngành sản xuất vật chất quan trọng của nông nghiệp, kinh tế vườn cần được chú trọng và
7
Trang 8phát triển hơn nữa cả về quy mô, năng suất, sản lượng, chất lượng, cơ cấu cây trồng vật nuôi trong một tổng thể thống nhất
2.1.2 Sự thể hiện của mô hình
Mỗi một mô hình được trình bày bằng nhiều cách với các góc độ và khía cạnh khác nhau Sự phong phú, tính đa dạng về cách thể hiện đó gọi là ngôn ngữ của mô hình và người ta sử dụng phương pháp mô hình hoá để tiếp cận và thể hiện mô hình thông thường qua các cách sau:
ặ Sự thể hiện của mô hình bằng sơ đồ, lược đồ
Sơ đồ, lược đồ là một dạng để thể hiện mô hình Nếu lược đồ diễn tả một cách sơ bộ, tổng quát về đối tượng để trình bày, nghiên cứu thì sơ đồ lại mô tả được những đặc trưng nhất định về đối tượng để trình bày, nghiên cứu
đồng thời qua sự phân tích trên sơ đồ mà người ta có thể rút ra những kết luận
để đi tới những quyết định
ặ Sự thể hiện của mô hình bằng đồ thị
Đồ thị là một dạng ngôn ngữ của mô hình dùng để diễn đạt các hiện tượng kinh tế, xã hội bằng đường vẽ trên một hệ trục biểu thị sự thay đổi các giá trị của đại lượng này theo đại lượng kia Giúp cho ta có cách nhìn tổng quát hơn về đối tượng để trình bày và nghiên cứu, dễ nhận biết được xu hướng vận động và sự phát triển của chúng, trên cơ sở đó đưa ra các nhận xét, cách giải quyết phù hợp
ặ Sự thể hiện của mô hình bằng toán học
Toán học là một dạng để thể hiện mô hình, là khoa học sử dụng những con số được thể hiện bằng các công thức toán học, các dạng phương trình toán học để trình bày và nghiên cứu, đồng thời nó cũng thể hiện được bản chất đối tượng cần nghiên cứu
8
Trang 9ặ Sự thể hiện của mô hình bằng bảng tính hoặc d∙y số liệu
Một dãy số liệu hoặc bảng tính là một dạng ngôn ngữ của mô hình Gồm hệ thống các chỉ tiêu nhất định, được trình bày một cách tổng quát nhằm mô phỏng hiện tượng kinh tế, xã hội hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật của sự vật, các hiện tượng để trình bày và nghiên cứu
ặ Sự thể hiện của mô hình thông qua việc mô tả bằng lời
Sự mô tả bằng lời là một dạng ngôn ngữ của mô hình Thông qua lời nói hoặc bằng chữ viết để diễn đạt một cách ngắn gọn những nội dung chủ yếu của đối tượng nghiên cứu mà vẫn thể hiện được bản chất của chúng Ngoài ra, mô hình còn được thể hiện bằng hình vẽ, hình ảnh, biểu tượng hoặc các ký hiệu riêng khác
2.1.3 Phân loại chung về mô hình, mô hình kinh tế vườn đồi
ặ Phân loại chung về mô hình
Có nhiều cách để phân loại mô hình, nhưng dưới góc độ tiếp cận đối tượng, mục tiêu nghiên cứu và giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung vào một số cách phân loại sau:
* Căn cứ vào góc độ nghiên cứu mô hình để vận dụng vào thực tiễn sản xuất người ta chia mô hình thành hai loại
- Mô hình lý thuyết: bao gồm hệ thống các quan niệm, lý luận được phân tích khoa học hoặc trình bày dưới dạng các phương trình toán học, các phép tính toán, phương pháp loại suy với các thông số nhất định, giúp người ta
đánh giá, khái quát được bản chất của những vấn đề nghiên cứu
- Mô hình thực nghiệm: dựa trên cơ sở mô hình lý thuyết để mà vân dụng, triển khai những vấn đề nghiên cứu trong thực tiễn gọi là mô hình thực nghiệm
9
Trang 10* Căn cứ vào tính chất thể hiện của mô hình người ta chia mô hình
thành hai loại
- Mô hình trừu tượng: mô phỏng quá trình tưởng tượng các sự vật hiện
tượng trong đời sống, kinh tế, xã hội bằng các yếu tố trực quan, cảm tính
- Mô hình vật chất: là hiện thân của các vật thể nghiên cứu, nó có thể
được phóng to hoặc thu nhỏ Thông qua mô hình trừu tượng cho phép ta khái quát những vấn đề cụ thể và hoàn thiện hơn của mô hình vật chất
* Căn cứ vào góc độ tiếp cận theo quy mô của các yếu tố và phạm vi nghiên cứu của kinh tế học [15], người ta chia mô hình thành hai loại
- Mô hình kinh tế vi mô: mô phỏng đặc trưng của những vấn đề kinh tế
cụ thể trong các tế bào kinh tế, các bộ phận của nền kinh tế
- Mô hình kinh tế vĩ mô: mô phỏng, diễn đạt những đặc trưng, quan điểm cơ bản nhất về những vấn đề kinh tế chung, về sự phát triển của tổng thể nền kinh
tế Mô hình kinh tế vĩ mô cùng mô hình kinh tế vi mô tạo thành một hệ thống mô hình thống nhất, làm cơ sở để ra các quyết định kinh tế có căn cứ khoa học
* Căn cứ vào phạm vi sản xuất của ngành [36] người ta chia mô hình
thành hai loại
- Mô hình sản xuất riêng ngành: là mô hình mang đặc trưng riêng của ngành sản xuất như mô hình chăn nuôi, mô hình trồng trọt, mô hình dịch vụ nông nghiệp, mô hình thuỷ sản
- Mô hình sản xuất liên ngành: là mô hình kết hợp giữa các ngành sản xuất nhằm phát huy tốt nhất sự hỗ trợ nhau của các ngành sản xuất trong quá trình làm ra sản phẩm như mô hình sản xuất nông - công nghiệp, mô hình sản xuất nông - lâm kết hợp, mô hình nông - lâm - ngư nghiệp, mô hình VAC, mô hình VAC-R
10
Trang 11Ngoài ra, tuỳ theo cơ chế quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô, theo thời gian, theo phạm vi về lãnh thổ mà người ta chia mô hình thành các loại như mô hình kinh tế thị trường tự do, mô hình kinh tế chỉ huy, mô hình kinh tế hỗn hợp, mô hình kinh tế tĩnh, mô hình kinh tế động, mô hình sản xuất vùng, lãnh thổ, mô hình sản xuất của địa phương
ặ Phân loại mô hình kinh tế vườn đồi
* Trong kinh tế vườn nói chung và kinh tế vườn đồi nói riêng, nếu
căn cứ vào quy mô diện tích và tỷ trọng sản phẩm hàng hoá người ta chia
mô hình kinh tế vườn đồi thành:
- Mô hình kinh tế hộ vườn đồi: nông hộ sử dụng tư liệu sản xuất và sức
lao động gia đình để sản xuất ra nông sản phẩm dùng trong tiêu dùng gia đình
và cho tiêu dùng xã hội
- Mô hình kinh tế trang trại vườn đồi: nông hộ sử dụng tư liệu sản xuất,
sức lao động gia đình và đi thuê để sản xuất ra nông sản phẩm hàng hoá nhằm
đáp ứng với yêu cầu tiêu dùng của gia đình, của xã hội và xuất khẩu
* Nếu căn cứ vào đặc trưng riêng của ngành sản xuất và theo hướng sản xuất kinh doanh người ta chia mô hình thành các loại sau:
- Mô hình thuần nông về trồng trọt - Mô hình chuyên lâm nghiệp
- Mô hình ươm giống, sản xuất cây con - Mô hình chuyên chăn nuôi
- Mô hình trồng trọt và chăn nuôi kết hợp
- Mô hình tổng hợp trồng trọt - chăn nuôi - lâm nghiệp
* Nếu căn cứ vào quy mô diện tích, loài cây và sản phẩm hàng hoá chủ lực trong mô hình vườn mà có:
- Mô hình cây lương thực gồm: lúa nương, ngô, sắn, khoai lang,
- Mô hình cây công nghiệp gồm: cây mía, chè, cà phê, sơn, điều, dứa,
- Mô hình cây ăn quả gồm: nhãn, vải, cam, quýt, hồng, mận, bưởi,
11
Trang 12- Mô hình vườn tạp gồm: nhiều loài cây, nhiều tầng và thường hiệu quả
kinh tế không cao
- Mô hình vườn thuần, chuyên canh có thể từ 1 đến 3 loại cây trồng cùng
nhóm, cùng loài (cây lâu năm) kết hợp trồng xen cây ngắn ngày và cho hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần so với mô hình vườn tạp
* Nếu căn cứ theo chuyên đề [35] mô hình vườn đồi gồm có:
- Mô hình trồng trọt - Mô hình chăn nuôi
- Mô hình trồng hoa - Mô hình trồng cây ăn quả…
* Nếu căn cứ vào hệ sinh thái nông nghiệp của vùng nghiên cứu [32, 705] mô hình vườn đồi của vùng gồm:
- Mô hình: cây nông nghiệp - chăn nuôi - ao - cây công nghiệp
- Mô hình: cây nông nghiệp - chăn nuôi - cây lâu năm - cây lâm nghiệp
- Mô hình: cây lâu năm - chăn nuôi - cây lâm nghiệp
Trên cơ sở khoa học, theo quan điểm hệ thống và định hướng phát triển các mô hình kinh tế ở các đơn vị kinh tế cơ sở, các ngành, các địa phương để lựa chọn mô hình sản xuất cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
cụ thể của mình ở đây mô hình mà chúng tôi nghiên cứu là:
- Mô hình cây nông nghiệp ngắn ngày - chăn nuôi - lâm nghiệp
- Mô hình cây nông nghiệp ngắn ngày - chăn nuôi - cây ăn quả - lâm nghiệp
- Mô hình cây nông nghiệp ngắn ngày - chăn nuôi - cây ăn quả - chè - lâm nghiệp
được đặt trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở một số xã trọng điểm trên các vùng sinh thái của huyện Đoan Hùng có phong trào phát triển kinh tế vườn, có mô hình kinh tế vườn đồi điển hình sản xuất kinh doanh giỏi, hiệu quả kinh tế cao Nhiều mô hình sản xuất có sức hấp dẫn và đi vào cuộc sống
12
Trang 132.1.4 Đặc trưng của mô hình kinh tế vườn đồi
ặ Phương thức canh tác đa dạng gắn với đất vườn đồi
Mô hình kinh tế vườn đồi khác với một số mô hình vườn khác ở chỗ các loại cây trồng vật nuôi trên đất đồi gò có đặc điểm về chế độ canh tác, nuôi dưỡng riêng biệt
Các cụ đã dạy rằng “Đất nào thì cây ấy”, với đặc điểm đất đai và địa
hình của vùng đồi núi trung du, đất đồi ở vào nhiều loại hình khác nhau; đồi thấp và thoải; đồi dạng bát úp; đồi cao; đồi xen núi tạo thành những dải đồi
nhấp nhô uốn lượn trùng điệp hoặc những đồi xanh như đồi chè, đồi thông, đồi
bạch đàn, keo, đồi dứa, đồi vải [12]
ặ Sản phẩm kinh tế vườn đồi đa dạng
Từ hệ thống cây trồng đa dạng, chủ yếu là cây lâu năm, trong giai đoạn kiến thiết cơ bản và chưa khép tán vườn được trồng xen canh với các loài cây ngắn ngày, đồng thời kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm do đó mà sản phẩm thu hoạch phong phú, rải rác các tháng quanh năm, thực hiện phương châm
phát triển “lấy ngắn nuôi dài”
Sản phẩm phần lớn là tươi sống, sản phẩm quả chín, dễ dập nát Do chưa tạo nên vùng sản xuất tập trung chuyên canh cây lớn nên sản phẩm tản mạn, chủ yếu sản phẩm tiêu thụ quả tươi Trong khi đó, cơ sở chế biến và công nghệ bảo quản của ta chậm phát triển, quá trình vận chuyển, thông tin thị trường người dân còn gặp nhiều khó khăn, giá cả nông sản lại không ổn định
ặ Mô hình kinh tế vườn đồi có mối quan hệ mật thiết với điều kiện về
tự nhiên, kinh tế kỹ thuật, x∙ hội và môi trường
Mỗi loại cây trồng, con gia súc gia cầm chỉ thích nghi trong điều kiện
tự nhiên và yêu cầu về kỹ thuật chăm sóc nhất định Cây trồng hay vật nuôi sẽ cho sản phẩm tối đa khi các điều kiện đó phù hợp với quy luật sinh trưởng và
13
Trang 14phát triển của chúng [43] Để khai thác mọi tiềm năng sản xuất, mô hình kinh
tế vườn đồi phải tận dụng những lợi thế của điều kiên tự nhiên cả về không gian và thời gian để bố trí hợp lý cây trồng vật nuôi, nhằm phát huy được hiệu quả sử dụng các nguồn lực, mang lại lợi ích kinh tế cao nhất
Đặc điểm thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng đất đai, nguồn nước và sự thay đổi của chúng đều ảnh hưởng đến quá trình phát triển cây trồng, vật nuôi Do vậy ở các vùng có điều kiện tự nhiên khác nhau thì việc bố trí cây trồng, vật nuôi khác nhau
Biện pháp canh tác, kỹ thuật chăm sóc, thời vụ là điều kiện để nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất của mô hình Bên cạnh đó sự am hiểu về kinh
tế thị trường, trình độ kỹ thuật của các chủ thể mô hình, tiềm lực kinh tế của chủ hộ có tác động rất lớn đến kết quả và hiệu quả kinh tế của mô hình
Mô hình phát triển còn phụ thuộc vào tính kịp thời, hợp lý của các chính sách kinh tế của các cấp chính quyền từ trung ương đến cơ sở địa phương Ngoài ra hệ thống cơ sở hạ tầng, đường, thuỷ lợi, tập quán canh tác, kinh nghiệm về phát triển kinh tế vườn đồi của gia đình và địa phương là điều kiện rất quý để mô hình kinh tế vườn đồi hoàn thiện và phát triển
2.1.5 Điều kiện để thực hiện mô hình kinh tế vườn đồi
Là cơ sở tạo ra môi trường hoạt động của các ngành sản xuất nhằm đạt
được mục tiêu, phương án của mô hình đề ra Điều kiện nào thì mô hình ấy, không có điều kiện nào chuẩn mực cho tất cả các mô hình và khi điều kiện thay
đổi thì mô hình sẽ thay đổi theo Mô hình kinh tế vườn đồi muốn thực hiện được cần phải dựa trên một số điều kiện sau:
ặ Sản phẩm của mô hình gắn chặt với thị trường tiêu thụ
Mô hình kinh tế vườn đồi phát triển chủ yếu là mô hình kinh tế tổng hợp,
14
Trang 15đa canh, mô hình nông lâm kết hợp (VAC, VAC-R,…) ở các quy mô khác nhau, rất phù hợp với kinh tế vùng đồi núi Sản phẩm sản xuất không chỉ để tiêu dùng nội bộ mà sản phẩm sản xuất ra để bán, tạo điều kiện cho tái sản xuất sức lao động gia đình và mở rộng, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá [18] Sản phẩm thu hoạch theo mùa vụ, chủ yếu là sản phẩm tươi sống cần tiêu thụ ngay, trong khi đó cơ sở và công nghệ chế biến còn hạn chế, chưa phát triển Cho nên thị trường là một yếu tố quan trọng để mô hình thực hiện và phát triển
ặ Hệ thống tư liệu sản xuất phải đồng bộ, phù hợp cho các mô hình
sản xuất Từ đặc điểm đất đai theo loại hình, chọn cây trồng, mật độ trồng,
kỹ thuật canh tác, hệ thống tưới, công cụ, máy móc phục vụ sản xuất, thu hoạch và vận chuyển, bảo vệ vườn cây, vật nuôi và chế độ nuôi dưỡng
ặ Lao động phải là người có kỹ năng, kỹ thuật về sản xuất nông nghiệp
nói chung và am hiểu về biện pháp canh tác trên đất đồi núi nói riêng, nhất là lao động chính, người đứng đầu tổ chức - điều hành sản xuất Ngày nay, phát triển kinh tế vườn đồi không chỉ dừng lại ở kết quả, hiệu quả kinh tế mà phát triển kinh tế vườn đồi tạo ra các vườn du lịch sinh thái, vườn hiện đại đảm bảo phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và cảnh quan môi trường Đó là công trình mang đầy tính kinh tế, nghệ thuật và nhân văn mà những lao động bình thường, không am hiểu các kỹ năng về các vấn đề đó không thể làm được
2.2 lý luận về phát triển kinh tế vườn đồi
2.2.1 Quan niệm về kinh tế vườn đồi
Nói tới kinh tế vườn đồi chúng ta hiểu cách đơn giản là kinh tế sản xuất kinh doanh cây, con trên đất vườn đồi mà đặc điểm của đất vườn đồi rất
đa dạng và riêng biệt
ặ Về lợi thế
- Diện tích rộng lớn, đất đai phong phú, thuận lợi cho việc mở rộng quy
15
Trang 16mô và quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá lớn, tập trung
- Độ màu mỡ khá, thoát nước tốt
- Gắn liền khu dân cư đến môi trường rất cần thiết cho sự sống con người
- Điều kiện tự nhiên thuận lợi, thích hợp cho nhiều loài cây ăn quả, cây
đặc sản, nhiều loại cây trồng và nhất là cây trồng cạn
- Có khả năng mở rộng diện tích chăn nuôi
ặHạn chế
- Giao thông không thuận tiện ở vùng sâu, vùng xa
- Đất dốc dễ bị rửa trôi, xói mòn do mưa
Trong sản xuất cần chú ý: trồng cây gì cho hiệu quả kinh tế cao, vận chuyển dễ dàng, chăn nuôi đại gia súc (bò, dê, trâu ), loại gia súc có thể
tự đi lại dễ dàng, tránh phải mang vác khi cần tiêu thụ sản phẩm
- Do đất dốc thoát nước nhanh, thường rễ bị khô hạn nên không phù hợp với các loài cây trồng ưa nước, nước tưới khó khăn, chủ yếu dựa vào nguồn nước tự nhiên
- ở đất đồi núi thường là cây trồng cạn, nên cỏ dại mọc nhiều tranh chất dinh dưỡng với cây trồng (Nguyễn Văn Tiễn, 1994) [22]
Thường trước đây, trồng cây chỉ để sử dụng trong gia đình nên người nông dân chưa quan tâm nhiều Hiện nay với quan điểm sản xuất hàng hoá họ
đã quan tâm nhiều đến kỹ thuật, năng suất và giá cả, việc lựa chọn giống cây, giống con được coi trọng
Bên cạnh đó, diện tích vườn đồi đưa vào sử dụng ngày một tăng, nhiều vùng đồi núi diện tích đồi núi trọc đã đưa vào sử dụng trồng trọt, nâng cao độ che phủ và chống xói mòn đất Các quả đồi thấp, vườn đồi quanh nhà được trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, nguyên liệu, dược liệu, rau hoa màu , còn
ở các đỉnh đồi, đồi cao trồng cây lâm nghiệp làm nguyên liệu giấy, gỗ gia dụng v.v…, kết hợp xen canh, gối vụ để tăng hiệu quả sử dụng đất và thâm
16
Trang 17canh, chuyên canh vườn cho năng suất, hiệu quả kinh tế cao
Kinh tế vườn là một ngành, làm vườn là một nghề và hệ sinh thái vườn (VAC) còn là một nền nông nghiệp bền vững VAC theo nghĩa rộng bao gồm các hoạt động làm vườn, thả cá, chăn nuôi gia súc, gia cầm, chim thú, ong vẽ quây quần trong một hệ sinh thái trên một khoảng không gian nhất định Hệ sinh thái VAC hình thành một bộ phận trong cơ cấu kinh tế hộ gia đình, kinh
tế làng xã gắn với kinh tế đồng ruộng, kinh tế rừng và các ngành nghề khác,
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của hộ gia đình [9, 13], [32]
Kinh tế vườn là chỉ những hiệu quả về hoạt động trồng trọt là chủ yếu với những sản phẩm của các loại cây trồng: cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây làm nguyên liệu, cây dược liệu và một
số ít sản phẩm từ chăn nuôi như trâu, bò, lợn, gà, vịt, ong, cá
2.2.2 Vị trí và vai trò của kinh tế vườn đồi trong phát triển kinh tế xã hội
ở các tỉnh trung du miền núi, đất vườn đồi thường có diện tích lớn, đất dốc và cũng là thế mạnh của vùng Trong hệ thống sản xuất nông lâm nghiệp của hộ đất vườn đồi có vị trí quan trọng, đó là nơi để sản xuất ra các loại lương thực thực phẩm, rau, quả, nguyên liệu công nghiệp, là nơi chăn thả gia súc, gia cầm và là nơi xây dựng các mô hình sản xuất, mô hình kinh tế vườn đồi, các mô hình vườn trang trại đóng góp một phần rất lớn cho phát triển kinh tế xã hội nói chung và trong nông thôn - kinh tế nông hộ - nói riêng bởi:
* Mang lại thu nhập cao, góp phần tích cực vào việc ổn định và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người nông dân
* Tạo việc làm ở nông thôn, thu hút không những lao động trong độ tuổi mà còn thu hút các tầng lớp lao động, đủ mọi thành phần, mọi lứa tuổi Hạn chế các tiêu cực xảy ra do nhàn rỗi của người lao động, tình trạng du canh du cư, đốt phá rừng làm nương rẫy, hoang hoá đất rừng
17
Trang 18* Nghề vườn góp phần đa dạng hóa nông nghiệp, tạo nên vùng sản xuất chuyên canh, sản xuất hàng hoá, vùng sinh thái nông nghiệp bền vững
* Nghề làm vườn là cách thích hợp nhất để đưa đất chưa sử dụng thành
đất nông nghiệp
* Cung cấp một lượng sản phẩm lớn làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu
* Nghề vườn mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
* Nghề vườn tham gia chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đẩy nhanh việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao dân trí của nông dân đối với nghề vườn, góp phần thực hiện thành công tiến trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn
Nhờ có chủ trương chính sách đúng đắn, kịp thời, hợp lý như CT100 của Ban Bí thư, NQ10 của Bộ Chính trị, luật đất đai, Nghị định 64/CP, Nghị định 14/CP, Nghị định 13/CP ) nên sản phẩm xuất khẩu nông nghiệp đã có sự phát triển vượt bậc [30] Do đó mà kinh tế vườn được chú trọng và có bước phát triển Thực tế nhiều mô hình canh tác có hiệu quả đã chứng minh cho sự đúng
đắn của câu ngạn ngữ “Thứ nhất canh trì, thứ nhì canh viên, thứ ba canh điền”
Làm vườn giờ đây không còn là kinh tế phụ mà là một ngành kinh tế trọng yếu cấu thành nền kinh tế nông lâm ngư nghiệp, thu nhập từ kinh tế vườn cao gấp 5 đến 10 lần so với thu nhập từ đồng ruộng trên cùng một diện tích Quy mô vườn không giới hạn ở phạm vị quanh nhà mà nay mở rộng tới vườn đồi, vườn rừng với hàng chục thậm chí hàng trăm ha, tạo ra hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu [34] Góp phần tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, giảm nạn suy dinh dưỡng, đảm bảo an toàn lương thực cho các hộ gia đình
Do vậy việc phát triển kinh tế vườn là cần thiết và mở rộng các hình thức kinh tế: vườn gia đình, vườn quanh bếp, vườn sau nhà, vườn đồi, vườn rừng, vườn trang trại (trại rừng), vườn sinh học, vườn hữu cơ Thực hiện
18
Trang 19chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới theo tinh thần nghị quyết 5 của TW, góp phần thúc đẩy nhanh có hiệu quả tiến trình CNH-HĐH kinh tế nói chung và trong nông nghiệp nông thôn đặc biệt ở vùng Trung du Miền núi nói riêng
2.2.3 Đặc điểm phát triển kinh tế vườn đồi
ặ Đặc điểm về hệ thống cây trồng
Cây trồng trên đất vườn đồi chủ yếu là cây trồng lâu năm xen kẽ với cây hàng năm, là cây trồng một lần nhưng cho thu hoạch nhiều lần Trong diện tích một vườn thường trồng nhiều loài, nhiều loại cây khác nhau, chủ yếu là cây trồng cạn
ặ Đặc điểm về chế độ canh tác
Do cây trồng trên đất vườn đồi chủ yếu là cây trồng cạn, cây trồng lâu năm nên chế độ canh tác khác với các cây trồng khác Từ kỹ thuật trồng cây (chế độ làm đất, đào hố, bón phân), thời vụ trồng, biện pháp canh tác, chế độ chăm sóc và công tác bảo vệ vườn có chế độ riêng biệt
ặ Đặc điểm về sản phẩm và tiêu thụ
Phần lớn sản phẩm từ vườn là tươi sống, sản phẩm hoa quả chín ăn ngay, khó bảo quản Sản phẩm thu hoạch theo mùa vụ và rải rác quanh năm do
đó kinh tế vườn tạo ra nguồn thu nhập quanh năm
Việc chế biến sản phẩm từ vườn còn gặp nhiều khó khăn do công nghệ chế biến và cơ sở chế biến lớn chưa phát triển Bên cạnh đó vườn còn tản mạn, sản phẩm hàng hoá cho một vùng lớn không nhiều nên tiêu thụ sản phẩm tươi là chủ yếu
2.3 lý luận về hiệu quả và đánh giá hiệu quả kinh tế
2.3.1 Khái niệm về hiệu qủa kinh tế
Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của
19
Trang 20các hoạt động kinh tế Nâng cao HQKT là một đòi khách quan của một nền sản xuất xã hội; do nhu cầu cuộc sống tăng, nhu cầu công tác quản lý, tổ chức
Phạm trù HQKT xuất hiện trong các văn bản pháp quy vào năm 1920 Khi đó người ta mới chỉ nói tới HQKT của vốn đầu tư xây dựng cơ bản Đến nay các nhà kinh tế học đã tranh luận và quan tâm nhiều về HQKT và nó trở thành một phạm trù rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường Khái niệm về HQKT có thể tóm tắt theo 3 quan điểm sau:
ặHQKT theo hệ thống quan điểm thứ nhất cho rằng HQKT được xác định
bởi tỷ số giữa kết quả thu được (như các nguồn lực, vật lực, tiền vốn ) và chi phí bỏ
ra để đạt kết quả đó Theo quan điểm này HQKT được thể hiện qua công thức sau: Kết quả thu được Q
- HQKT = - ≈ H = -
Chi phí bỏ ra C
Ưu điểm: Phản ánh rõ việc sử dụng nguồn lực thể hiện thông qua chí phí sản xuất
Nhược điểm: Không phản ánh được quy mô của HQKT, có thể trong thực
tiễn tỉ lệ có đạt cao, song mức độ đạt được không đáng kể do lượng tuyệt đối nhỏ
và lợi ích kinh doanh mang lại không nhiều Theo quan điểm này cũng chưa phân tích được sự tác động, sự ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực tự nhiên
ặHQKT theo hệ thống quan điểm thứ hai cho rằng HQKT được đo bằng
hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt hiệu quả
đó Theo quan điểm này mà thể hiện dưới dạng công thức tính của nó đó là:
- HQKT = Kết qủa thu được - Chi phí bỏ ra ≈ H = Q - C
ở đây nó phản ánh quy mô HQKT song không rõ rệt và chưa phản hết mong muốn của nhà sản xuất kinh doanh, chưa xác định được năng suất lao
động xã hội và khả năng cung cấp sản phẩm cho xã hội của các cơ sở sản xuất
có lợi nhận như nhau
20
Trang 21ặHQKT hệ thống quan điểm thứ ba cho rằng khác với hai quan điển
trên, trước tiên phải xem xét HQKT trong thành phần biến động giữa chí phí và kết quả sản xuất HQKT được biểu hiện bằng tỷ số giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí, hay còn là quan hệ tỷ số giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung Theo quan điểm này được thể hiện thông qua công thức sau: Phần tăng thêm về kết qủa thu được
- HQKT = - ≈ H = ∆Q/∆C
Phần tăng thêm CF
Có nghĩa là so sánh giữa 2 kỳ về chất lượng kết quả, chi phí (mỗi loại cây, con trên một vụ/diện tích ) nhưng vẫn chưa đầy đủ bởi vì trong thực tiễn kết quả sản xuất đạt được luôn là hệ quả của chi phí có sẵn cộng với chi phí bổ sung mà ở mức chi phí có sẵn khác nhau thì hiệu quả kinh tế của chi phí bổ sung cũng sẽ khác nhau
Tóm lại, các quan điểm về HQKT cuối cùng đều có chung một quan
điểm đó là sự so sánh giữa:
- Toàn bộ yếu tố đầu vào và toàn bộ yếu tố đầu ra
- Phần tăng thêm tuyệt đối (hoặc tương đối) của yếu tố đầu ra
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên và các phương thức quản lý Nó
được thể hiện bằng các hệ thống chỉ tiêu thống kê nhằm các mục tiêu cụ thể
của chính sách phù hợp với yêu cầu xã hội Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt
động kinh tế [15]
Một phương án, một giải pháp HQKT cao là phải đạt tương quan tương đối tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư Việc xác định HQKT phải xem xét đầy đủ các mối quan hệ giữa 2 đại lượng trên và thấy
21
Trang 22được tiêu chuẩn của HQKT là tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện nguồn lực có hạn nhất định
2.3.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
ặ Xét về mặt nội dung thì HQKT cho ta thấy được:
- Mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra
- So sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra
- Từ quan hệ tương đối, tuyệt đối thì HQKT được thể hiện bằng các giá trị tổng sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận
Nhưng muốn hiểu rõ hơn HQKT thì chúng ta cần phân biệt và thấy
được mối quan hệ giữa HQKT với hiệu quả xã hội (HQXH) và hiệu quả môi
trường (HQMT) Hay tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả là mức đạt đ ược các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi tr ường [43]
HQXH là so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra HQMT (phản ánh môi trường sinh thái) là môi trường chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất chính là nội dung hiệu quả kinh
tế và HQKT được xác định bởi chỉ tiêu chất lượng tốt nhất
ặ Bản chất của hiệu quả kinh tế
Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích sản xuất và phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, đó là sự thoả mãn ngày càng tăng về nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Để làm rõ bản chất của hiệu quả kinh tế trước hết cần phân định sự khác nhau và mối liên hệ giữa kết quả và hiệu quả kinh tế
- Kết quả kinh tế: phản ánh hoạt động cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh doanh (có thể tốt hoặc xấu)
22
Trang 23- Hiệu quả kinh tế: được xác định bởi tỷ số chênh lệch giữa kết quả quá
trình sản xuất và chi phí bỏ ra để có kết quả đó hay nó chính là mối quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí của nền sản xuất
Nhìn chung, khuynh hướng phát triển kinh tế của các quốc gia là phát triển theo chiều sâu, có nghĩa là phát triển một nền kinh tế với nguồn lực có hạn có thể sản xuất ra một lượng sản phẩm có giá trị sử dụng cao nhất với mức hao phí lao động xã hội thấp nhất hoặc mức tiết kiệm về chi phí các nguồn lực khi sản xuất ra một khối lượng nông sản nhất định Điều đó càng chứng tỏ sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra
Bên cạnh đó, khi đánh giá hiệu quả kinh tế phải xem xét cả về mặt không gian và thời gian để hiệu quả đạt được phải đảm bảo lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài, không làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung của nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội
Tóm lại, hiệu quả kinh tế không chỉ đơn thuần là phạm trù kinh tế mà còn bao hàm các vấn đề xã hội phức tạp Do vậy việc xác định, đánh giá, hay
so sánh hiệu quả kinh tế là vấn đề hết sức khó khăn, không thể đánh giá ngay
được mà đòi hỏi cần phải có thời gian
2.3.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
Do HQKT là một phạm trù kinh tế chung nhất liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hoá với các phạm trù và các quy luật kinh tế Kết quả một hoạt động kinh tế không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế, mang lại hiệu quả cho một cá nhân, một đơn vị mà đồng thời nó tạo ra nhiều kết quả có ảnh hưởng chung và liên quan đến đời sống kinh tế, xã hội của con người Để rút
ra các nhận xét cụ thể chúng ta cần thiết phải phân định rõ các quan hệ về hiệu quả và hiệu quả kinh tế
23
Trang 24* Căn cứ vào nội dung hiệu quả gồm:
- Hiệu quả sản xuất: là so sánh kết quả đạt được về mặt kinh tế với chi phí bỏ ra để đạt hiệu quả đó
- Hiệu quả kinh tế: là khâu trung tâm của các hiệu quả nên nó có vai trò quyết định đối với các hiệu quả kinh tế khác, nó có khả năng lượng hoá, tính toán chính xác và thể hiện qua hệ thống các chỉ tiêu
- Hiệu quả xã hội: có quan mật thiết với HQKT, nó thể hiện mục tiêu chủ yếu về mặt xã hội do hoạt động kinh tế của con người đem lại và được đánh giá thông qua các chỉ tiêu định tính: tạo việc làm, bảo vệ môi trường an ninh, làm lành mạnh các quan hệ xã hội, xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập, [2]
- Hiệu quả môi trường: ngày nay, một hoạt động sản xuất dược coi là có
hiệu quả khi hoạt động đó phải không ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái
và nó thường mất mát lớn hơn nhiều so với các lợi ích kinh tế mang lại nếu chúng ta không có giải pháp sử dụng và bảo vệ hợp lý tài nguyên đất đai như: làm xói mòn, rửa trôi đất, ô nhiễm, tạo ra sự không cân bằng sinh thái nông nghiệp kém bền vững HQMT được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu định tính như: tăng độ che phủ mặt đất, hạn chế xói mòn đất, lũ lụt, bảo vệ sư đa dạng sinh học [2]
* Nếu căn cứ vào mối quan hệ động giữa đầu vào và đầu ra hiệu
quả gồm:
- Hiệu quả kỹ thuật: là số sản phẩm thu thêm trên một đợn vị đầu vào
đầu tư thêm Nó chỉ ra rằng một đợn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu sản phẩm Hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi nông dân quyết dịnh sản xuất
- Hiệu quả phân bổ: là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đợn vị chi phí
24
Trang 25đầu tư thêm Nó là hiệu quả kỹ thuật nhân với giá sản phẩm và giá đầu vào
- Hiệu quả kinh tế: là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Nếu đạt một trong hai yếu tố hiệu quả
kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế chỉ đạt được khi việc sử dụng các nguồn lực sản xuất đạt cả hai: hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ [15]
* Căn cứ vào yêu cầu tổ chức quản lý kinh tế theo cấp, các ngành
bao gồm:
- Hiệu quả kinh tế quốc dân (tính chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân)
- Hiệu quả kinh tế của vùng lãnh thổ (tính riêng cho từng vùng, huyện)
- Hiệu quả kinh tế khu vực sản xuất vật chất (tính chung cho tất cả các
ngành sản xuất vật chất)
- Hiệu quả kinh tế khu vực sản xuất phi vật chất (tính chung cho tất cả
các ngành sản xuất dịch vụ)
- Hiệu quả kinh tế của từng đơn vị kinh tế (tính riêng cho từng doanh
nghiệp, xí nghiệp, cơ sở sản xuất trực tiếp)
* Căn cứ vào yếu tố cơ bản của sản xuất và phương thức tác
động vào sản xuất mà có:
- Hiệu quả sử dụng các yếu tố tài nguyên: đất đai, khoáng sản, năng
lượng, nguyên vật liệu
- Hiệu quả sử dụng lao động - Hiệu quả sử dụng thiết bị máy móc
- Hiệu quả sử dụng các biện pháp kỹ thuật và quản lý
2.3.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình kinh tế vườn đồi
Nhìn chung các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phải đảm bảo sự thống nhất
về nôị dung, tính toàn diện, tính hệ thống, đảm bảo tính khoa học, phù hợp với
25
Trang 26đặc điểm và trình độ phát triển sản xuất, góp phần kích thích sản xuất phát triển Khi đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế vườn, các tác giả tập trung đánh giá hiệu quả kinh tế là chủ yếu, bên cạnh đó có xem xét và
đánh giá sự tác động của các mô hình kinh tế vườn đến hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Song việc đánh giá chúng mới chỉ dừng lại ở một số chỉ tiêu thống kê tổng quát Trong đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình kinh tế vườn đồi chủ yếu ở cơ sở nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số khái niệm và chỉ tiêu đánh giá sau (theo hệ thống SNA)
ặ Giá trị sản xuất GO (Gross Output): được tính bằng tiền của toàn bộ
sản phẩm trên một đơn vị diện tích trong một giống nhất định hoặc nó là giá trị bằng tiền của các sản phẩm sản xuất ra ở các mô hình kinh tế vườn đồi bao gồm phần giá trị để lại tiêu dùng và giá trị bán ra thi trường trong một chu kỳ sản xuất nhất định thường là một năm Với hệ thống cây trồng giá trị sản xuất chính là giá trị sản lượng trên một đợn vị diện tích canh tác
- Đối với cây ngắn ngày, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày thì giá trị sản xuất được tính bằng sản lượng thu hoạch nhân với giá bán thực tế ở địa phương
- Đối với cây lâm nghiệp: hiện tại các điểm chọn nghiên cứu cây lâm nghiệp phần lớn đang ở thời kỳ cho thu hoạch, nó phù hợp tình hình chung của toàn huyện [24], [25] Do vậy khi tính giá trị sản xuất cho cây lâm nghiệp thì:
Nguyên liệu tre bương (theo giá nguyên liệu) là 11.000 đồng/1 đầu cây ở tuổi khai thác, do có đặc điểm khai thác dần, tuổi vườn từ 5 đến 15 năm
Gỗ nguyên liệu (theo giá nguyên liệu) là 220.000 đồng/1m3 (do khai thác đồng bộ 1 lần/diện tích gieo trồng), tuổi cây từ 6 đến 7 năm
Riêng nguyên liệu tre bương cơ sở để tính giá là:
- Tham khảo ý kiến các chuyên gia về kinh tế lâm nghiệp
26
Trang 27- Tham khảo ý kiến các chủ hộ mua gom
- Tham khảo ý kiến chính hộ bán sản phẩm (thông tin điều tra)
- Giá cả nguyên liệu trên địa bàn nghiên cứu
Trong thu hoạch, căn cứ vào chiều dài và đường kính cây nguyên liệu tre bương thường chia làm 3 loại gồm: Loại A chiếm 20%-23% tổng sản lượng thu hoạch, giá bán bình quân 14.000đ-16.000đ/1 đầu cây Loại B chiếm trên 60% tổng sản lượng thu hoạch, giá bán bình quân 10.000đ-12.000đ/1 đầu cây Còn lại loại C chiếm gần 10%, có giá bán bình quân 7.000đ-9.000đ/1 đầu cây Sản phẩm phụ như cành, nhánh làm nguyên liệu thu được 10% đến 15% tổng giá trị thu
được trên một ha Ngoài ra, nếu các cây trên bán phục vụ cho các mục đích khác như xây dựng, làm nhà, làm đũa, chiếu xuất khẩu thì giá bán có thể còn cao hơn
ặ Chi phí trung gian IC (Intermediate cost): là toàn bộ chi phí vật
chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê, mua các yếu tố đầu vào
và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất như: giống, phân bón, làm
đất, bảo vệ thực vật, thuỷ lợi, lãi suất tiền vay, chi phí vận chuyển
ặ Giá trị gia tăng VA (Value Addded): là phần giá trị tăng thêm của
người lao động khi sản xuất trên một đơn vị diện tích nó được tính bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian trong một chu kỳ sản xuất Nó chính
là phần giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
VA = GO - IC
ặ Thu nhập hỗn hợp MI (Mix Income): là thu nhập thuần tuý của người sản suất, đảm bảo cho đời sống và tích luỹ cho người sản xuất Bao gồm thu nhập của công lao động (lao động chân tay và lao động quản lý) và lợi nhuận thu được khi người sản xuất trên từng cây trồng trên một đơn vị diện tích trong một chu kỳ sản xuất
27
Trang 28MI = [ VA - ( A + T)]
Trong đó: A: là giá trị khấu hao TSCĐ
T: là Thuế nông nghiệp (nếu có)
ặ Lợi nhuận Pr (Profit): là phần lãi dòng trong thu nhập hỗn hợp trừ đi
công lao động gia đình
Trong đó: L: là công lao động của gia đình
Pi: là giá ngày công lao động ở địa phương
2.3.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế các mô hình vườn đồi
Quy mô vườn, cơ cấu cây con trong vườn, các biện pháp kỹ thuật canh tác sử dụng, đến hiệu quả các mô hình kinh tế vườn , một mặt bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật
Do vậy, những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế các mô hình vườn
có thể khái quát theo những nội dung sau đây
ặNhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Theo Trần Đức Hạnh và cộng tác viên (1997) [13] các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, lượng mưa ), thời tiết (mưa, bão, hạn ) rất quan trọng, nó luôn tác động đến sản xuất và khó khống chế trong quá trình sản xuất Nước ta lại có khí hậu nhiệt đới ẩm nhưng có tính phân hoá mạnh, đặc biệt là ở Miền núi do hình thế các khối núi chia cắt địa hình và các dòng lưu khí hậu thích hợp nhiều loại cây nhiệt đới, cây á nhiệt đới và cây ôn đới
Theo tác giả Bùi Quang Toản (1993) [33] cho rằng: đất đóng vai trò như một tác nhân tiếp nhận và tích luỹ các tài nguyên từ thành phần khác của
28
Trang 29hệ sinh thái Đất là môi trường sống, là nơi cung cấp nước và chất dinh dưỡng cho cây, dù địa hình cao hay thấp, chất đất tốt hay xấu, thành phần cơ giới, tính chất vật lý, hoá học của đất khác nhau sẽ cho chúng ta lựa chọn và
bố trí cơ cấu cây trồng khác nhau Song việc bố trí cơ cấu cây trồng như thế nào để vừa có năng suất cao lại bảo vệ được đất đang là vấn đề đặc biệt được quan tâm hiện nay
Bên canh đó, con người tác động vào tự nhiên, tự nhiên tác động lại vào
điều kiện và kết quả sản xuất như: giảm độ tán che rừng, xói mòn, dửa trôi, thiếu nước Đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi có quá trình sinh trưởng và phát triển theo quy luật tự nhiên, trải rộng trên phạm vi không gian rộng lớn vì vậy chúng gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Cho nên, các mô hình kinh tế sinh thái vườn (R + nương cố
định; Nương,vườn + ruộng + ao (mặt nước) + đồi rừng + chăn nuôi; R + vườn
đồi + ao (mặt nước) + trồng cây phân tán + chăn nuôi ) phát triển phải đảm bảo ổn định, tận dụng tối đa các mặt thuận lợi và tránh các mặt bất thuận của thời tiết, củng cố độ phì của đất, cung cấp dinh dưỡng cho người và thức ăn gia súc, tăng năng suất, sản lượng và từng bước thay đổi cơ cấu sản xuất, thực hiện một phần cơ giới hoá để mở rộng quy mô sản xuất, nhằm chuyển từ hệ thống nông nghiệp khai thác lên hệ thống nông nghiệp bền vững, từ nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, từ hệ thống nông nghiệp lạc hậu lên hiện đại [6], [16]
ặNhóm yếu tố về điều kiện kinh tế - x∙ hội
Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, sức sản xuất
và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, trình độ quản lý và sử dụng lao
động, các điều kiện về nông nghiệp, cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng; giao thông, thuỷ lợi, nguồn vốn đầu tư, thông tin và quản lý, cơ cấu kinh tế và phân
29
Trang 30bố sản xuất, sự phát triển và áp lực của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tập quán và kinh nghiệp sản xuất truyền thống, markettinh và thị trường tiêu thụ hàng hoá trong đó con người là trung tâm quyết định việc tổ chức, bố trí sản xuất trồng trọt và chăn nuôi, chuyển giao khoa học kỹ thuật, chọn con giống, cây giống gì là chính, là tối ưu nhất trước điều kiện kinh tế xã hội, kỹ thuật hiện có và những thách thức của thị trường [35], [43]
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong đó thuỷ lợi là yếu tố hàng đầu quan trọng phục vụ cho thâm canh, tăng vụ, đa dạng hoá mùa vụ và cây trồng Tiếp đến là bảo quản chế biến vì các nông sản hàng hoá có khối lượng lớn và tươi sống, ngoài ra các yếu tố cần quan tâm như giao thông, phân phối, lưu thông
Vốn đầu tư là tiềm lực của kinh tế nông hộ, là yếu tố quan trọng xác
định tính khả thi kinh tế cho các giả pháp kỹ thuật Không có vốn, không có
đầu tư tín dụng thì không thể phát triển sản xuất, nhất là nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong mô hình sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá
Sử dụng nguồn lao động đầy đủ, hợp lý gắn với nâng cao trình độ dân trí về nghề làm vườn là yêu cầu phát triển các mô hình kinh tế vườn
đồng thời tạo việc làm, rải vụ, phân công lại lao động vào những thời điểm nhất định trong nông thôn
Tập quán và kinh nghiệm sản xuất truyền thống tốt gắn với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất của người nông dân sẽ là cơ sở thực tiễn giúp cho việc nghiên cứu, đánh giá các cây trồng, vật nuôi có hiệu quả và hiệu quả kinh tế cao đồng thời thông qua đó để hạn chế, loại bỏ dần tập quán sản xuất, kỹ thuật canh tác lạc hậu, hệ thống cây, con kém hiệu quả
Yêu cầu thị trường, giá cả nông sản là đòi hỏi tất yếu để lựa chọn cơ cấu cây trồng vật nuôi nào trong mô hình, quy trình công nghệ kỹ thuật ra sao, sản xuất ở đâu, bao nhiêu, lúc nào để có hiệu quả và lợi nhuận cao nhất
Lê Huy Ngọ, 2001 [20] cho rằng: ba vấn đề then chốt để nông nghiệp
30
Trang 31Việt Nam bước vào thể kỷ 21 là “Điều chỉnh cơ cấu-chuyển giao công xúc tiến thị trường, trong đó thị trường là vấn đề xuyên suốt, là cơ sở để chuyển dịch cơ cấu, là căn cứ định hướng cho khoa học công nghệ nhằm tạo cho nông nghiệp nước ta trở thành ngành sản xuất hàng hoá hướng ra xuất khẩu, có bước phát triển về chất, tăng trưởng cao, hiệu quả, cạnh tranh bền vững”
nghệ-ặNhóm yếu tố về kỹ thuật và công nghệ
Sự tiến bộ về giống đã kéo theo sự thay đổi cơ cấu mùa vụ, yếu tố thời
vụ lại gắn liền với đặc điểm của giống, điều kiện thời tiết khí hậu, đất đai, xác lập công thức luân canh mới, quy trình kỹ thuật canh tác, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, trình độ tổ chức quản lý [40] Việc bố trí hệ thống cây trồng, tìm
ra các giống cây trồng, vật nuôi thích hợp, có năng suất cao, giá trị lớn, tận dụng tốt nhất tiềm năng đất đai, khí hậu chính là trực tiếp làm tăng tính thích hợp của hệ thống cây trồng, sử dụng tốt các lợi thế so sánh của từng vùng sản xuất cũng như áp dụng tốt các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và tiến tới xây dựng thành công các mô hình kinh tế vườn đa tác dụng, hiệu quả cao, có nhiều ứng dụng trong thực tiễn
Kỹ thuật canh tác đó là các biện pháp kỹ thuật canh tác mà con người lựa chọn sử dụng để tác động vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của chính quá trình sản xuất nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao Tất cả những yếu tố này đều nói lên tầm quan trọng của nhóm yếu tố kỹ thuật và công nghệ
ặNhóm yếu tố quản lý vĩ mô của nhà nước
Nhà nước quản lý thông qua các giải pháp kinh tế, các công cụ chính sách như: chính sách đất đai, chính sách môi trường, chính sách thuế, chính sách tín dụng, trợ giá giống cây, giống con tốt, phân bón, cung cấp một số mặt hàng thiết yếu cho bà con dân tộc vùng cao miền núi (muối, dầu, thuốc phòng, chữa bệnh ), cho vay vốn ưu đãi, giá nông sản tiêu thụ trên thị trường đều
có tác động rất mạnh đến các mô hình sản xuất, mô hình kinh tế vườn Chính
31
Trang 32sách và các giải pháp kinh tế hợp lý sẽ thúc đẩy sản xuất, thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá [4]
Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế pháp luật về bảo vệ tài nguyên, môi trường (Phan Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh, 2001) [19] Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác các nguồn lực, đầu tư thâm canh, thực hiện cơ giới hoá, chuyên môn hoá trong sản xuất nông nghiệp, tiến hành tập trung hoá vùng sản xuất chuyên canh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng các nguồn lực sản xuất Khuyến khích thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập
hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa các hình thức đó để lưu thông hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm kịp thời vụ và hạn chế
tình trạng ép giá của tư thương, phát huy tốt truyền thống lá lành đùm lá rách,
tương trợ giúp đỡ nhau làm kinh tế của các đồng bào nông thôn Việt Nam
Tóm lại, có nhiều nhóm yếu tố cần quan tâm khi nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình kinh tế vườn đồi Song vấn đề đặt ra là làm thế nào để khai thác tối đa các tiềm năng thế mạnh của các nhóm yếu tố đó, đồng thời hạn chế, kìm hãm những yếu tố bất lợi để đạt được mục tiêu đề ra trong sản xuất
2.4 thực tiễn phát triển kinh tế vườn đồi trong nước và trên thế giới
2.4.1 Trên thế giới
Theo tài liệu của FAO trong 1,47 tỉ ha đất nông nghiệp trên hành tinh
có tới 973 triệu ha (65,9%) là ở vùng đồi núi, trong đó có 377 triệu ha có độ dốc từ 100 trở lên (chiếm 25,5%) ở vùng Châu á Thái Bình Dương, trong tổng
số 453 triệu ha đất nông ngiệp có 351 triệu ha ở các vùng đồi núi Nhiều thành tựu lớn đã đạt được như: chương trình FELDA của Malaysia, chương trình SALT của Philippine, chương trình hộ định canh định cư của Indonesia, chương trình phát triển kinh tế Đài Loan, chương trình nông nghiệp của Australia (Bùi Quang Toản, 1993) [33]
32
Trang 33Với định nghĩa về vườn gia đình đó là “Những biện pháp sử dụng đất có liên quan đến việc quản lý có suy nghĩ để cây lớn và cây bụi có nhiều tác dụng kết hợp chặt chẽ với cây công nghiệp hàng năm và gia súc trong phạm vi hộ gia đình” thì ở Java - ấn Độ vườn gia đình cung cấp trên 70% tổng số Calo trong bữa ăn của những cộng đồng làm nông nghiệp (Đường Hồng Dật, 1999) [10] Với áp lực về dân số, đất làm vườn gia đình được tăng lên có nơi lên đến 75% diện tích gieo trồng (Trần Thế Tục, 1997) [34]
ở Indonesia, các vườn gia đình phát triển theo hướng thâm canh cao trên cơ sở kết hợp những cây lâu năm, cây hàng năm Những vườn này đã cung cấp 50% quả và 40% rau củ cho sử dụng trong các gia đình, đồng thời
đem lại một phần thu nhập quan trọng cho khoảng 30 triệu gia đình ở nông thôn Vườn gia dình ở Châu Phi, ấn Độ, Bagladét, vườn rừng ở Siri-Lanca, vườn rau ở Caribe (Trung Mỹ) đã đảm bảo cuộc sống cho các gia đình nông dân nghèo bằng cách cung cấp cho họ rau, quả, củ, chất bột cho các bữa ăn hàng ngày (Vũ Năng Dũng, 2003) [11]
ở Philippin các nhà khoa học của trung tâm phát triển đời sống nông thôn (MBRLC) tại Mindanao, đứng đầu là tiến sỹ Jeipartap và Havold.Waton
đã tiến hành các thí nghiệm về băng hàng rào xanh chống xói mòn trên đất dốc Đó là kỹ thuật canh tác trên đất đốc-SALT (Mandac, A.M, 1986) [49] Mô hình SALT bao gồm:
ặMô hình SALT1 (Sloping Agricultural Land Technology) với cơ cấu cây
trồng được bố trí: 75% cây nông nghiệp (trong đó: 50% cây hàng năm và 25% cây lâu năm) và 25% cây lâm nghiệp
ặ Mô hình SALT2 (Simple Agrolivestock Technology) với cơ cấu sử
dụng đất gồm 40% diện tích cho cây nông nghiệp, 20% diện tích cho chăn nuôi, 20% diện tích cho lâm nghiệp và 20% diện tích làm nhà và chuồng trại
ặMô hình SALT3 (Sustainable Agro Forest Technology) với cơ cấu bố
trí là 40% diện tích cho nông nghiệp và 60% cho lâm nghiệp
ặ Mô hình SALT4 (Small Agro Livehood Technology) với cơ cấu bố
trí 60% diện tích cho lâm nghiệp, 25% diện tích cho cây ăn quả, 15% cho
33
Trang 34cây công nghiệp
Các kỹ thuật canh tác này đã làm tăng độ che phủ, làm giàu đất và nâng cao năng suất cây trồng từ 2 đến 3 lần so với canh tác truyền thống [17] Các mô hình SALT được phát triển trong thực tiễn sản xuất với cơ cấu cây trồng đa dạng vừa thu được nhiều sản phẩm, vừa bảo vệ được môi trường sinh thái
Phát triển nông thôn với chủ trương xây dựng hệ thống các mô hình nông-lâm-ngư kết hợp ở vùng trũng nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống canh tác và tính ổn định của chúng, rất nhiều nông hộ ở Philippine đã trồng chuối tiêu trên bờ ruộng lúa-cá và chuối đã cho họ một nguồn thu lớn Ngoài chuối, một
số cây ăn quả bản địa cũng được khuyến khích phát triển như: chôm chôm, Landzon, Soursop, Mít, (International Institile of Rural Reconstruction) [48]
Nhìn chung trên thế giới, phát triển kinh tế vườn theo nhiều mục đích
Với mục đích kinh tế: vườn, mô hình vườn hướng phát triển thành các trang trại hàng hoá quy mô lớn đem lại hiệu quả kinh tế cao như ở Trung Quốc, ấn Độ, Miến Điện
Với mục đích tham quan du lịch: vườn, mô hình vườn hướng phát triển thành vườn du lịch sinh thái nông nghiệp trên các địa hình, ở các quy mô và thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan; ngắm cảnh, thư giãn, thưởng thức bầu không khí trong lành và những sản phẩm từ vườn, đã đem lại nguồn thu nhập cao không những về mặt kinh tế mà cả về mặt xã hội - nhân văn Đây là hướng phát triển lâu dài và bền vững phù hợp với tiềm năng phát triển ở nhiều vùng, nhiều nước như ở Thái Lan, ở Campuchia, ở Australia, ở Việt nam
Với mục đích xã hội: vườn, mô hình vườn là nơi tĩnh dưỡng cho người già được nghỉ ngơi, thư giãn, tinh thần sảng khoái, khỏe mạnh; nơi giáo dục con trẻ yêu lao động, yêu thiên nhiên; nơi hướng nghiệp dạy nghề từ màu sắc, kích thước, hình dáng, cấu tạo, tính phong phú và đa dạng của nó
2.4.2 ở Việt Nam
2.4.2.1.Tình hình chung
Với khái niệm vườn nhà “V ườn là khu đất trồng có dào dậu dùng vào mục đích sản xuất nông lâm nghiệp hoặc các mục đích khác: văn hóa, phúc lợi v.v ” thì hiện nay cả nước có 252.500 ha đất vườn quanh nhà, chiếm
34
Trang 353,54% tổng quỹ đất nông nghiệp, nhưng diện tích đó phân bố giữa các vùng, các tỉnh cũng khác nhau và trong 7 vùng kinh tế cả nước thì ở đồng bằng sông Hồng vườn đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cả, cao hơn khu IV
cũ và Duyên Hải miền trung, vườn rộng nhưng tỷ lệ vườn hoang, vườn tạp còn nhiều nên hiệu quả còn thấp [21]
Trong tổng số đất vườn quanh nhà, vườn được cải tạo thâm canh, trồng mới chiếm 57,1% diện tích (144.000 ha), tỷ lệ này cũng khác nhau giữa các vùng (Hình 2.1) Vườn tạp quảng canh còn nhiều, chiếm tỷ trọng lớn 43% với diện tích 108.000 ha, phần lớn tập trung ở khu IV cũ, Duyên Hải miền trung
và Tây Nguyên (Vũ Khắc Nhượng, 1996) [21]
80,7 69,6 65,0 62,0 47,6 43,2 42,8
Đồng bằng sông Cửu Long Tây Nguyên
Duyên Hải miền Trung Khu IV cũ
Hình 2.1: Biểu đồ tỷ lệ vườn nhà được cải tạo thâm canh, trồng mới
Khi có phương hướng phát triển nông lâm kết hợp thì xuất hiện khái niệm “v ườn rừng ”, “v ườn đồi”, với đặc điểm như sau:
- Diện tích nhỏ 10% đất nông nghiệp
- Trồng cây ngắn thảm thực vật che phủ quanh năm
- Mô hình sản xuất bổ sung cho đồng ruộng
- Hệ thống canh tác là một kiểu nhiệt đới liên loài [9]
Diện tích cây ăn quả cả nước là 325.077 ha so với diện tích vườn thống
kê được thì diện tích cây ăn quả lớn hơn 1,54 lần Sản lượng cây ăn quả hàng
35
Trang 36năm của nước ta đạt 3,443 triệu tấn, chiếm gần 6,2% giá trị sản lượng ngành trồng trọt, trong đó ở Đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng quả lớn nhất, chiếm gần 70 % sản lượng quả cả nước [21] Nhưng thực tiễn trong các vườn quả này tỷ lệ vườn tạp còn lớn, nếu được cải tạo, thâm canh, quy hoạch lại thì sản lượng nông sản thu được không chỉ dừng ở những con số trên mà tăng lên rất nhiều lần
ở trung du, hệ thống vườn rất đa dạng và phong phú, các loại hình thức kinh doanh vườn phát triển theo mô hình kết cấu tổng hợp nhiều tầng, cây lớn
hỗ trợ cây bé, tận dụng đất đai và không gian dinh dưỡng, mặt phẳng và độ sâu lòng đất để cho năng suất sinh khối và đem lại giá trị kinh tế cao trên một
đơn vị diện tích Hơn nữa, để tiến hành sản xuất trong vườn đạt hiệu quả kinh
tế cao, thu được khối lượng nông sản lớn, năng suất kinh tế cao trên những diện tích hạn chế, điều rất quan trọng là nắm được hoạt động của hệ sinh thái vườn cây (xem Sơ đồ 2.1)
Năng suất kinh tế vườn chính là khối lượng nông sản do sinh vật trung tâm cây trồng tạo ra mà con người thu hoạch được sau một vụ, là cái mà con người cần và không ngừng phấn đấu làm cho ngày một tăng cao (Đường Hồng Dật, 1999) [10]
Các thành tố sinh vật
SV SV SV SV SV Cỏ và
có ích gây hại có ích cộng sinh bổ sung cây dại
Không ánh Nhiệt Độ khí sáng Đất Nước độ ẩm
Các thành tố không phải là sinh vật
SV trung tâm (cây trồng)
- Mối liên hệ thông tin
- Mối liên hệ trao đổi năng lượng
- Mối liên hệ trao đổi vật chất
Sơ đồ 2.2: Cấu trúc hệ sinh thái vườn cây [10]
36
Trang 37Trong vườn, hộ chú trọng trồng các cây đa tác dụng, có giá trị nhiều mặt và hình thành các vùng trồng chuyên canh lớn phát triển như: vùng trồng cây ăn quả, cây công nghiệp; vùng quýt (Bắc Sơn), rừng quế (Văn Yên - Yên Bái, Quảng Hà - Quảng Ninh); vùng luồng (Ngọc Lạc - Thanh Hoá); rừng hồi (Văn Lãng và Chi Lăng-Lạng Sơn); vùng mận (Sơn La); vùng đào (SaPa); vùng vải thiều (Lục Ngạn - Bắc Giang); vùng cam, quýt (Nghệ An, Lạng Sơn); vùng nhãn (Hưng Yên); vùng bưởi (Đoan Hùng - Phú Thọ, Phúc Trạch - Nghệ An), vùng Hồng (Hạc Trì - Phú Thọ); các vùng trồng hoa, cây cảnh ở Nghi Tâm, Quảng Bá, Mê Linh (Hà Nội) và Nam Điền (Nam Định); các vùng trồng rau màu ở Thanh Trì, Sóc Sơn (Hà Nội), Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc (Hà Minh Trung, 2002) [40] ở vùng đồi núi phát triển các mô hình kinh tế vườn đồi (trên đất dốc) hướng Nông-Lâm-Ngư kết hợp: các mô hình kinh tế VAC, VAC-R, VACR - R không chỉ đảm bảo sản xuất, cải thiện đời sống,
đem lại hiệu quả kinh tế cao mà nó còn góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, hạn chế đất hoang hoá [18] Song hiện nay, chúng ta cần phải suy nghĩ
về các mô hình phát triển truyền thống và tìm các mô hình mới, trong đó đề cao giá trị văn hoá và truyền thống bản địa bởi trên thế giới nhiều nước có tỷ
lệ đất miền núi cao hơn lại là nước phát triển cao như Thuỵ Sĩ giàu nhất thế giới (75% diện tích là đồi núi), các nước áo, Nhật Bản, Italia, New Zealand,
Đài Loan, Trung Quốc là các nước phát triển hay phát triển nhanh đều có từ 50% đến 70% diện tích là vùng núi (Lê Hưng Quốc, 2003) [27, 15]
Thấy rõ tầm quan trọng và lợi ích của kinh tế vườn đồi, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều sắc lệnh về đất đai, thuế, tín dụng nhằm thúc đẩy kinh tế vườn đi lên [4], [5], [6]
- Nghị quyết 22/NQ - TƯ ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số
37
Trang 38chủ trương phát triển kinh tế- xã hội miền núi
- Quyết định 372/CP ngày 15/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc Theo điều
46, luật đất đai (14/7/1993) đã quy định “Nhà n ước có chính sách khuyến khích và bảo vệ lợi ích của tổ chức, hộ gia đình, các nhân thâm canh, tăng sản lượng cây trồng trên đất vườn, sử dụng đất trống đồi núi trọc để lập vườn theo quy hoạch”
- Sau khi có luật đất đai năm 1993, ngày 15/01/1994 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/NĐ - CP về giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia
đình và các cá nhân sử dụng lâu dài
- Tiếp đến là Nghị định số 163/1999/NĐ - CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
- Nghị quyết số 03/2000/NQ - CP của Chính phủ về việc thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại Quyết định 423/2000/QĐ - NHNN của Ngân hàng Nhà nước (22/9/2000) về chính sách tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại Ngị quyết số 05/2001/NQ - CP, ngày 22/5/2001 về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 2001 cho tất cả hộ nghèo Rồi các chính sách miễn giảm thuế cho các vùng sâu, vùng xa; chính sách bảo hộ sản xuất khi gặp rủi ro, cho vay vốn lãi suất thấp; các chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, khuyến khích phát triển cây công nghiệp, hoa quả, các chương trình 327, PAM,135, các dự
án Phát triển Nông thôn miền núi, 661 quy mô của hộ làm nghề vườn được tăng lên, cơ cấu cây-con trong vườn được bố trí hợp lý, hiệu quả hơn, phát triển kinh tế vườn đa dạng với các mô hình vườn đã và đang trở thành phong trào quần chúng rộng lớn, cuốn hút nhiều lực lượng xã hội tham gia
38
Trang 39Có thể nói từ khi nhân dân ta biết làm nông nghiệp, nghề làm vườn đã trở thành một hoạt động sản xuất gắn liền với đời sống của nhân dân ta Sở dĩ nghề làm vườn có bước phát triển khá là do vườn có ý nghĩa tích cực trong đời sống của nhân dân không những trên phương diện kinh tế mà còn có những giá trị trên các phương diện xã hội, nhân văn, sinh thái, môi trường v.v mở ra cơ hội tốt để nông hộ tiến lên làm giàu chính đáng và bền vững [10]
2.4.2.2 Các mô hình phát triển kinh tế vườn đồi
ặ Mô hình vườn chung
Tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, địa hình, đặc tính đất đai, tập quán sản xuất, hệ thống canh tác, hệ sinh thái, mục đích sử dụng trên từng vùng lãnh thổ là khác nhau mà có các mô hình vườn khác nhau
Nếu vườn ở vùng đồng bằng sông Hồng có vị trí ở gần nhà, trong vườn thường có một hoặc hai loại cây trồng chình chính là cây ưa sáng thuộc tầng trên (các cây ăn quả) được trồng xen canh với nhiều loại cây khác nhau là cây chịu bóng ở tầng dưới (cây rau củ, hoa, đậu đỗ, cây gia vị và một số cây thuốc thông thường), quanh nhà ở, quanh vườn trồng rải rác cây chuối, cây đu đủ thuận tiện nước tưới và kết hợp chăn nuôi, thuỷ sản, du lịch văn hoá
Vườn ở vùng ven Biển được chia thành nhiều ô, mặt vườn được hạ thấp
để tăng độ ẩm, quanh vườn có bờ cát bao quanh, trên trồng cây phi lao rất rày
đặc kết hợp với trồng mây, trồng tre làm hàng rào để bảo vệ, phòng hộ Trong vườn trồng cây ăn quả (táo, na, dứa, ) và dâu tằm xen lạc, vừng, kê, củ đậu, dưa hấu là cây phủ mặt đất giữu độ ẩm, cải tạo đất, đối với những cây lưu niên đều được tỉa cành, giữ cho tán thấp, hạn chế ảnh hưởng của gió
Khác với vườn ở vùng ven Biển, vườn ở đồng bằng sông Cửu Long thì mặt vườn lại được tôn cao hơn (do mặt đất thấp, đất rất chua và có độ phèn cao) bằng cách đào mương, lên líp (kích thước của líp và mương phụ thuộc vào độ cao của
39
Trang 40đỉnh lũ, chiều dày tầng đất mặt, độ sâu của tầng phèn, các loại cây trồng và chế
độ canh tác trong vườn), lấy đất tôn mặt vườn đồng thời sử dụng mương làm hệ thống tưới tiêu, kết hợp nuôi thả cá Trong thời kỳ đầu, vườn được trồng các cây chịu phèn, rửa chua đất (dứa, so đũa, ), sau đó một thời gian trồng các cây ăn quả ( cam, quýt, nhãn, sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, ), thường quanh vườn
có đê bao quanh để bảo vệ vườn trong mùa mưa lũ, ngăn mặn và giữ nước ngọt trong mùa nắng, làm đường giao thông vận chuyển và trồng cây chắn gió Còn vườn ở vùng trung du miền núi khác vườn ở các vùng trên, đất rộng nên có điều kiện mở rộng quy mô vườn, đất dốc rễ bị rửa trôi và thoái hoá nhanh, ít bão nhưng rét nhiều hơn vùng đồng Bằng, có nơi có sương muối, nước tưới khó khăn chủ yếu chờ vào nước trời và khi mùa mưa tới lại thường
có lũ lớn Tuy nhiên đây là vùng có lợi thế so sánh đặc biệt vì có khí hậu ấm hơn vùng lạnh (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) và lạnh hơn vùng nóng (các nước còn lại của ASEAN) và có độ cao hơn so với mặt biển khoảng 500
m đến 1000 m Sản phẩm nông sản có lợi thế là cây ăn quả ôn đới, cây ăn quả
á nhiệt đới, cây ăn quả nhiệt đới, cây bản địa đặc sản, rau, hoa, sản phẩm chăn nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp kết hợp với du lịch sinh thái [27]
Làm vườn là một nghề gắn bó từ lâu đời đối với các gia đình Việt
Nam Vườn thường có ba dạng là v ườn nhà, vườn đồi và vườn rừng
(Nguyễn Quang Đức và cộng sự, 1999) [12] Với mảnh vườn quanh nhà, người dân đã trồng trên đó bao nhiêu loại cây, rồi đào ao thả cá, nhà nào cũng nuôi một ít gia súc gia cầm, cây trồng trong vườn một ít rau, một số cây quả, một số cây gỗ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, xây nhà gia đình
để tự túc mùa nào thức ấy đó là mô hình v ườn nhà truyền thống Trong
vườn nhà, cơ cấu cây trồng, vật nuôi được bối trí lại, có tính chất sản xuất
để bán thì gọi là mô hình v ườn nhà hiện đại Sau vườn nhà là vườn đồi
40