1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn tỉnh ninh bình

95 770 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn tỉnh ninh bình
Trường học Trường Đại học Ninh Bình
Chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

1 Mở đầu 1.1.Tính cấp thiết của đề tài

Đối với mỗi Quốc gia trên thế giới, đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá,

là bộ phận hợp thành của môi trường sống, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố dân cư và tổ chức các hoạt động trên một lĩnh vực kinh tế xã hội,

an ninh quốc phòng

Trong công nghiệp, đất đai là nơi xây dựng nhà xưởng Còn trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt là không thể thay thế Thường thì, không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai Đất đai

được gọi là tư liệu sản xuất đặc biệt vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Con người dùng đất đai để trồng cấy và chăn nuôi, không có đất

đai thì không có sản xuất nông nghiệp Vì thế, số lượng và chất lượng đất đai qui định lợi thế so sánh của mỗi vùng cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và cả vùng Hướng sử dụng đất qui định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác Chỉ có thông qua đất các tư liệu sản xuất tác động đến cây trồng và

sử dụng đất đai đúng hướng còn quyết định đến hiệu quả của sản xuất Từ đây, còn sử dụng đầy đủ hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm vừa làm tăng năng suất đất đai, vừa giữ gìn bảo vệ đất đai Quỹ đất đai phải được bảo tồn cho cả lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài (Phạm Vân Đình) [13]

Nhấn mạnh vai trò của con người trong việc sử dụng đất đai Các Mác cho rằng “Không có đất xấu mà chỉ có con người sử dụng nó không hợp lý” (Các Mác, 1960)[21] Tuy nhiên, việc sử dụng đất đai có hiệu quả là một vấn đề đặt

ra không chỉ cho từng cấp, từng ngành mà là vấn đề của toàn xã hội Việc

đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất đai nói chung và đất canh tác nói riêng

là một vấn đề còn gặp không ít khó khăn

Trang 2

Gia Viễn là một vùng thuộc đồng chiêm trũng đang trong quá trình cải tạo… Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 178,5 km²

Gia Viễn ở phía Tây Bắc của tỉnh Ninh Bình, là cửa ngõ quan trọng về phía Bắc của tỉnh trong quan hệ kinh tế xã hội với các tỉnh vùng Tây Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng và Thủ đô Hà Nội

Gia Viễn là một vùng sinh thái đa dạng, điều kiện kinh tế xã hội có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp của huyện còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn hạn chế, trình độ dân trí chưa đáp ứng với yêu cầu thực tế sản xuất, tài nguyên đất đai và nhân lực chưa được khai thác đầy đủ

Để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp, đồng thời cũng góp phần vào nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác trong nông nghiệp là một nhu cầu bức thiết của Đảng bộ và nhân dân huyện, thúc đẩy quá trình phát triển sản xuất hàng hoá phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và cả nước, tạo ra giá trị lớn về kinh tế, có ý nghĩa xã hội về mặt nâng cao dân trí, phân bố lao

động, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của huyện

Xuất phát từ những nhu cầu thực tế chúng tôi thực hiện đề tài:

“ Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện Gia Viễn – tỉnh Nình Bình.”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu đề tài nhằm giải quyết 2 mục tiêu cơ bản:

- Đánh giá đúng thực trạng hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên

địa bàn huyện

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp thiết thực, phù hợp, nhằm nâng cao hiệu sử dụng đất canh tác của huyện

Trang 3

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2.1 Một số vấn đề lý luận về hiệu quả kinh tế sử dụng đất

2.1.1 Các quan điểm và hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất Hiệu qủa kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt

động sản xuất, nói rộng ra là của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh, phản ánh tương quan giữa kết quả hoạt động, vật tư, tài chính, là chỉ tiêu phản

ánh trình độ, chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất kinh doanh nhằm đạt

được kết qủa kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu Tuỳ theo mục đích đánh giá

có thể đánh giá hiệu qủa kinh tế bằng những chỉ tiêu khác nhau như năng suất

sử dụng vốn, hàm lượng vật tư của sản phẩm, lợi nhuận so với vốn, thời gian thu lại vốn…

Mục tiêu của sản xuất là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất lẫn tinh thần của toàn xã hội, trong khi nguồn lực xã hội ngày càng trở nên khan hiếm

Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội Trong nhiều trường hợp, để phân tích các vấn đề kinh tế có quan hệ chặt chẽ với các vấn đề xã hội, vấn đề môi trường, khi tính hiệu quả kinh tế phải coi trọng hiệu quả về mặt xã hội, hiệu quả về mặt môi trường (như tạo thêm việc làm và giảm thất nghiệp, tăng cường an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội củng cố sự đoàn kết giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân và sự công bằng xã hội)

Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế xuất phát từ các góc

độ nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên chúng tôi đề cập một số quan điểm chủ yếu sau:

Trang 4

* Quan điểm thứ nhất: theo Các Mác về tính hiệu quả thì qui luật kinh

tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là qui luật tiết kiệm thời gian và phân phối thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau

Trên cơ sở thực hiện vấn đề tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động giữa các ngành Theo quan điểm của Các Mác; tiết kiệm là

“tăng cường năng suất lao động xã hội” hay là tăng hiệu quả Các Mác cho rằng: “Nâng cao năng suất lao động, vượt qua nhu cầu cá nhân của người lao

động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội” (Các Mác, 1962)[22]

* Quan điểm thứ hai: hiệu quả kinh tế trên quan điểm thị trường:

Xã hội chịu sự chi phối của qui luật khan hiếm nguồn lực, thực tế các nguồn lực như đất đai, lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên… khan hiếm Trong khí đó nhu cầu xã hội tăng nhanh cả về số lượng, chất lượng Do vậy, vấn đề đặt ra là phải tiết kiệm nguồn lực, từng bước nâng cao hiệu quả sự dụng các nguồn lực, trước hết mỗi quá trình sản xuất phải chọn đầu vào tối ưu (Nguyễn Văn Trưng và Nguyễn Pháp, 1993)[34]

Hiệu quả kinh tế là mối quan tâm chủ yếu của kinh tế học nói chung và kinh tế học vi mô nói riêng, là mối quan tâm đầu tiên của mỗi doanh nghiệp

và toàn xã hội Hiệu quả nói khái quát là không lãng phí nguồn lực và tiết kiệm nguồn lực Nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa là nâng cao trình độ sử dụng nguồn lực Hiệu quả kinh tế với việc tổ chức sử dụng năng lực sản xuất hiện có Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, khi mức sản xuất nằm trên

đường cong năng lực sản xuất của doanh nghiệp

Những điểm có hiệu qủa nhất là điểm cho phép vừa sản xuất tối đa các loại hàng hoá theo yêu cầu của thị trường và sử dụng đầy đủ, hợp lý theo năng lực sản xuất

Trang 5

* Quan điểm thứ ba: các nhà kinh tế xã hội chủ nghĩa, đại diện là Liên Xô cũ dựa vào lý luận chung của Các Mác để phát triển chủ nghĩa xã hội ở

đây được hiểu hiệu quả kinh tế cao được biểu hiện bằng sự đáp ứng yêu cầu qui luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội và hiệu quả kinh tế cao khi được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân cao Do vậy, quan điểm này mới chỉ đề cập đến nhu cầu tiêu dùng, quỹ tiêu dùng là mục đích cuối cùng cần đạt được của nền sản xuất xã hội, nhưng chưa đề cập đến quỹ tích luỹ để làm điều kiện phương tiện đạt được mục đích

đó (Obogomolop, 1996) [24]

* Quan điểm thứ bốn: các nhà kinh tế học Samuelson – Nordaus cho rằng:

“Hiệu qủa có nghĩa là không lãng phí” Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét

đến chi phí cơ hội, “Hiệu quả sản xuất phải diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại sản phẩm hữu hiệu này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả phải nằm trên đường giới hạn và sản lượng tiềm năng và khả năng sản xuất của nó” (Saunuelson, 1989 [28] )

* Quan điểm thứ năm: hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng khối lượng kết quả hữu ích hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích xã hội của nền kinh tế quốc dân

Như vậy, trong thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế Tuy vậy, việc xác định bản chất và khái niệm về hiệu quả cần phải xuất phát từ những luận điểm triết học Mác và những luận điểm lý thuyết

Trang 6

Thứ hai: theo quan điểm lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất

Thứ ba: hiệu quả là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng

mà là mục tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Như vậy, bản chất của hiệu quả được xem là:

- Việc đáp ứng nhu cầu của con người trong đời sống xã hội

- Việc bảo tồn tài nguyên, nguồn lực để phát triển lâu bền

Như vậy, hiệu quả là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của khoa học kinh tế và quản lý Việc xác định hiệu quả là rất khó khăn mà nhiều lý luận cũng như thực tế cần nghiên cứu Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục

đích của sản xuất và phát triển xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về

đời sống vật chất và tinh thần cho con người Vì vậy sản xuất phải không ngừng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu

Việc nâng cao hiệu quả không phải là riêng ai, mà đây là vấn đề mang tính toàn cầu vì xu hướng chung của thế giới ngày nay là phát triển kinh tế theo chiều sâu với phương châm hạn chế nguồn lực mà sản xuất ra một lượng sản phẩm hàng hoá có giá trị cao với mức chi phí thấp nhất

2.1.2 Khái niệm về hiệu quả

Khái niệm về hiệu quả được sử dụng trong đời sống xã hội, nói đến hiệu quả người ta sẽ hiểu là công việc đạt kết quả tốt Như vậy hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người mong đợi và hướng tới; Nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau Trong sản xuất hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận, trong lao động hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian Trong xã hội, hiệu quả xã hội là có tác dụng tích cực đối với một lĩnh vực xã hội nào đó

Trang 7

2.1.3 Phân loại hiệu quả

Trong một thời kỳ dài, nền nông nghiệp nước ta phát triểm chậm, cung không đủ cầu Từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, nền nông nghiệp

đã có những tiến bộ vượt bậc Khoán 10 là một thí dụ sinh động về ảnh hưởng của các chủ trương, chính sách đến sự phát triển nông nghiệp Kết quả là trong những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, cơ cấu kinh tế nước ta đã và đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn Vì vậy, phát triển công tác thuỷ lợi, giống, phân bón, công tác luân canh cây trồng… để ngày càng nâng cao hiệu quả kinh tế, hiệu quả sử dụng đất Tuy nhiên, việc nâng cao hiệu quả kinh tế, hiệu quả sự dụng đất để đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội còn phải đảm bảo cả

về vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững Tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái bền vững

Dựa vào nội dung và bản chất có thể phân biệt thành 3 phạm trù: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường

Hiệu quả kinh tế: được thể hiện ở mức độ đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Khi xác định hiệu quả kinh tế phải tính đến các mối quan hệ, kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối

và đại lượng tuyết đối Hiệu quả kinh tế được biểu thị bằng tổng giá trị sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, mối quan hệ đầu vào và

đầu ra

Hiệu quả kinh tế còn được phân chia theo các thành phần bao gồm:

- Hiệu quả kinh tế: là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh Nó phản ánh lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra nhằm thoả mãn nhu cầu của thị trường với chi phí nguồn lực thấp, đạt

được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận

- Hiệu quả kinh tế – xã hội: là chỉ tiêu phản ánh mối tương quan giữa kết quả đạt được tổng hợp các lĩnh vực kinh tế, xã hội, với chi phí bỏ ra để đạt

Trang 8

được kết quả đó Như vậy, hiệu quả kinh tế xã hội phản ánh một cách toàn diện dưới góc độ xã hội

- Hiệu quả phát triển: chỉ tiêu thể hiện sự phát triển của các doanh nghiệp, các vùng trong nền kinh tế quốc dân Đây là kết quả tổng hợp của nhiều yếu

tố như đời sống vật chất, tinh thần, trình độ dân trí… do kết quả phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế mang lại

- Hiệu quả môi trường: là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích trước mắt, gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất

và môi trường sinh thái

Trong các loại hiệu quả xem xét trên thì hiệu quả kinh tế là trọng tâm và quyết định nhất Hiệu quả kinh tế được nhìn nhận và đánh giá một cách toàn diện nhất có sự kết hợp hài hoà với hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường

Theo đối tượng nghiên cứu thì hiệu quả kinh tế được chia thành các loại sau: + Hiệu quả kinh tế quốc dân: là tính toán, xem xét hiệu quả kinh tế chung cho toàn bộ nền kinh tế Đưa vào chỉ tiêu này, chúng ta đánh giá một cách toàn diện tình hình sản xuất và phát triển sản xuất của nền kinh tế, hệ thống pháp luật, chính sách của nhà nước tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội + Hiệu quả kinh tế vùng: phản ánh hiệu quả kinh tế của một vùng nào đó,

có thể là một đơn vị hành chính tỉnh, huyện, hay một vùng kinh tế náo đó + Hiệu quả kinh tế theo qui mô sản xuất, có thể là qui mô sản xuất lớn, qui mô sản xuất vừa, qui mô sản xuất nhỏ Mỗi qui mô sản xuất có ưu thế riêng Quy mô lớn có ưu thế cạnh tranh xong qui mô nhỏ cũng có ưu thế riêng

là gọn nhẹ, quản lý chặt chẽ… thoả mãn “lỗ hổng cơ cấu” của thị trường

Do vậy, bản lĩnh, trình độ của mỗi nhà doanh nghiệp khi tham gia thị trường là yếu tố cơ bản

Theo quan điểm của Farrell (1957) khi xét đến hiệu quả ở phạm vi vi mô

có phân biệt giữa hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu quả kinh tế nông nghiệp ( David Colman và TreVon Young 1994) [11]

Trang 9

- Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt trên một đơn vị đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất Q= f (x1, x2, x3…xn)có liên quan tới phương diện vật chất của sản xuất nó chỉ ra rằng đơn vị một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm, hoặc thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm

- Hiệu quả phân bố: là chỉ tiêu trong các yếu tố giá thành sản phẩm và giá

đầu vào được tính Để phản ánh giá trị thu thêm tính trên 1 đồng chi phí chi thêm về đầu vào hay nguồn lực

- Hiệu qủa kinh tế: là một phạm trù kinh tế trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất

Tóm lại, phân loại hiệu quả kinh tế một cách tương đối giúp chung ta

thuận tiện trong việc tính toán, đánh giá, phân tích hiệu quả kinh tế Thực tế cho thấy các loại hiệu quả kinh tế nêu trên có quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên chúng ta thấy rằng trong quá trình thực tế sản xuất không phải lúc nào cũng thuận lợi, đôi khi lợi ích của một bộ phận nào đó lại ảnh hưởng xấu tới lợi ích của toàn cục, lợi ích trước mắt ảnh hưởng tới lợi ích lâu dài Vì thế, trong quả trình nghiên cứu những nhận xét, đánh giá, phân tích những biện pháp nêu ra cần phải thận trọng cân nhắc kỹ những ảnh hưởng tiêu cực chi phối trong quá trình sản xuất

2.1.4 ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế

Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ hội để tăng được lợi nhuận, từ đó làm cơ sở để nhà sản xuất tích luỹ vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng Nâng cao hiệu quả kinh tế sẽ làm cho thu nhập của người lao động ngày càng được cải thiện

Đối với sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu qủa kinh tế sử dụng đất canh tác có ý nghĩa rất quan trọng

Trang 10

Để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác thì trọng tâm là phải tiết kiệm nguồn lực, với nguồn lực đất đai có hạn, đòi hỏi người sử dụng đất, người sản xuất là làm thế nào để tạo ra được số lượng nông sản có chất lượng tốt nhất Người sản xuất có cơ hội hơn trong việc tích luỹ vốn đang tập trung vào tái sản xuất mở rộng

Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là xu hướng tất yếu của sự phát triển xã hội Tuy nhiên ở mỗi một lĩnh vực khác nhau thì có những quan tâm khác nhau Đối với sản xuất nông nghiệp việc nâng cao hiệu quả kinh tế là giúp người lao động nông nghiệp tăng lợi nhuận, đối với người tiêu dùng thì được

sử dụng sản phẩm hàng hoá với giá thành hạ và chất lượng lại tốt hơn Nâng cao hiệu quả kinh tế giúp cho cả xã hội có nhiều thuận lợi, lợi ích của người sản xuất, người tiêu dùng ngày càng được tăng lên

2.2 Lý luận về hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác

2.2.1 Đất canh tác và quan điểm sử dụng đất canh tác

Đất canh tác là một bộ phận của đất nông nghiệp được sử dụng trồng cây hàng năm và được gọi là đất trồng cây hàng năm (Dẫn theo Vũ Thị Phượng Thuỵ, 2000) [30]

Đất canh tác là đất có tiêu chuẩn về chất lượng nhất định, được thường xuyên cải tạo, cuốc xới để trồng cây có chu kỳ sản xuất dưới một năm

Đất canh tác có vị trí rất quan trọng trong qúa trình sản xuất nông nghiệp

và chiếm tỷ lệ lớn trong nông nghiệp Phần lớn các sản phẩm của ngành trồng trọt như lương thực, thực phẩm để được sản xuất trên đất canh tác đều cung cấp nhu cầu ăn, uống… Từ đó, làm cơ sở cho các chủ thể có các định hướng

sử dụng tốt đất canh tác, thúc đẩy việc đầu tư vào đất nhằm đem lại kết quả kinh tế cao, đồng thời không ngừng bảo vệ đất và môi trường sinh thái

* Quan điểm nâng cao hiệu qủa kinh tế sử dụng đất canh tác

Trang 11

- Tận dụng triệt để các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học –

kỹ thuật, lao động, đất đai, trao đổi để phát triển cây trồng có tỷ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu

Nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá hình thức sử dụng đất canh tác, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phù hợp với đặc điểm sinh thái và bảo vệ môi trường

Trên quan điểm phát triển hệ thống đất canh tác, thực hiện việc sử dụng

đất theo hướng tập trung chuyên môn hoá, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục Phương thức thâm canh ở nước ta chủ yếu là bằng con đường đầu tư

để phát triển nông nghiệp

- Quan điểm nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác gắn liền với hiệu quả xã hội và phát triển nông nghiệp bền vững Thực hiện sử dụng đất canh tác một cách đầy đủ, hợp lý với quan điểm đúng đắn đảm bảo được sự phát triển nhằm tăng nhanh sản phẩm nông nghiệp, đạt hiệu quả kinh tế cao, tạo ra sự cân bằng sinh thái

2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác

* Nhân tố tự nhiên: điều kiện khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, nông hoá thổ nhưỡng, thuỷ văn, đây là những nhân tố quyết định đến sự lựa chọn cây trồng và vật nuôi, thiết kế đồng ruộng, định hướng đầu tư thâm canh

Từ các đặc điểm đó đã chi phối tình hình kinh tế của quá trình sử dụng, các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tổ chức các phương thức sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác

* Nhân tố kỹ thuật: các biện pháp kỹ thuật là sự tác động hoạt động của con người vào đất, cây trồng, vật nuôi tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao Việc ứng dụng các biện pháp

kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào trình độ đầu tư các cơ sở kinh tế hạ tầng trong

Trang 12

nông nghiệp Theo Frank Ellis (1998)[18]và Dougllass C.North (1998)[12] ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất

* Nhân tố kinh tế - tổ chức

Các nhân tố kinh tế, tổ chức có ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế bao gồm:

- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất

Dựa vào các điều kiện tự nhiên như khí hậu, địa hình, đặc điểm nông hoá thổ nhưỡng, thực vật…làm cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi với cơ cấu hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường sinh thái

- Hình thức tổ chức

Trong sản xuất nông nghiệp, hộ gia đình, cá nhân là đơn vị kinh tế tự chủ, được phát triển trong môi trường kinh tế – xã hội thuận lợi (Đảng cộng sản Việt Nam,1996)[14], do đó có nhiều lợi thế trong sản xuất kinh doanh Phát huy thế mạnh của các loại hình thức tổ chức sử dụng đất trong từng cơ sở

là cần thiết Điều đó đặt ra việc thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó

- Trình độ năng lực của chủ thể

Năng lực của chủ thể thể hiện ở 4 vấn đề :

+ Trình độ khoa học kỹ thuật và tổ chức quản lý của các chủ thể kinh doanh

+ Khả năng đối phó với điều kiện thị trường, môi trường sản xuất kinh doanh và quan hệ đối ngoại

+ Khả năng về vốn và trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của các chủ thể

Đây là điều kiện cần thiết đầu tiên để nâng cao hiệu quả kinh tế sự dụng đất canh tác

ở nước ta hiện nay, ruộng đất đã giao cho hộ nông dân và hộ gia đình trở thành chủ thể trực tiếp sử dụng ruộng đất Do vậy, việc nâng cao năng lực kinh doanh cho các hộ đóng vai trò quyết định trong việc tổ chức sử dụng đất canh tác theo hướng sản xuất hàng hoá và hiệu quả kinh tế của nó

Trang 13

Đặc biệt thị trường đất canh tác ảnh hưởng trực tiếp đến việc quy hoạch, phân bổ và sử dụng đất canh tác trong cơ chế quản lý đất canh tác hiện nay Hơn nữa, quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá cao dẫn tới sức ép xã hội về đất đai + Quan hệ xã hội trong việc sử dụng đất nông nghiệp

Hiện nay, với luật đất đai năm 2003 đã tạo ra các điều kiện thuận lợi cơ bản cho các chủ thể có quyền tự chủ trong sử dụng đất canh tác Luật đất đai xác

định: “Nhà nước giao đất cho các đơn vị kinh tế, hộ nông dân và cá nhân sử dụng lâu dài, và nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng

đất”.Tuy nhiên, để tạo ra điều kiện sử dụng đất canh tác đạt hiệu quả kinh tế cao, nhà nước cần tạo ra môi trường và cơ chế quản lý nhằm thực hiện tập trung hoá

đất đai thuận lợi và từ đó thúc đẩy xu hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá ở nước ta

+ Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của Nhà nước và có tác động đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác như:

- Chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn

- Chính sách đầu tư xây dựng hệ thống dịch vụ sản xuất và kết cấu hạ tầng

- Chính sách đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp

- Chính sách bảo hộ của Nhà nước đối với sản xuất nông nghiệp

Trang 14

- Chính sách tạo việc làm, thực hiện phân công lại lao động trong nông nghiệp, nông thôn và chính sách dân số

- Chính sách khuyến khích đầu tư

Sự ổn định chính trị - xã hội, sự phù hợp của chủ trương chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển nông nghiệp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể sử dụng ruộng đất phát huy năng lực, lựa chọn các hướng đầu tư

có hiệu quả nhất và hạn chế tiêu cực để đẩy mạnh quá trình sử dụng đất canh tác có hiệu quả cao

Các nhóm nhân tố tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế, xã hội có liên quan, tác

động qua lại, làm biến đổi lẫn nhau và cùng ảnh hưởng tới việc tổ chức sử dụng và hiệu quả sử dụng đất canh tác Vì vậy, người ta phải nghiên cứu tổng hợp các nhân tố, từ đó có những đánh giá đúng sự tác động của nó và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác

2.2.3 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế sự dụng đất canh tác

* Đặc điểm đánh giá hiệu quả kinh tế sự dụng đất canh tác

Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác có những đặc thù:

- Quá trình sản xuất trên đất canh tác phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào khác nhau như tiền vốn, giống cây, phân bón, nước tưới, các hoá chất, máy móc… Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trước tiên được

sử dụng bằng kết quả, hiệu quả thu được trên một đơn vị diện tích, thường

là một ha Đồng thời, đảm bảo tính toàn diện khi đánh giá hiệu quả kinh tế cần xét đến hiệu quả các yếu tố đầu vào khác như tính trên 1 đồng chi phí,

1 công lao động đầu tư…

- Trên đất canh tác người ta có thể bố trí các hệ thống luân canh khác nhau Để xác định và lựa chọn các hệ thống luân canh tiến bộ và cần thiết phải tính toán và đánh giá hiệu quả kinh tế của từng hệ thống luân canh trên từng vùng đất

Trang 15

- Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác phụ thuộc vào các yếu tố thời tiết, khí hậu… Do vậy, việc đánh giá nó phải được tiến hành trong một thời gian đủ dài

- Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất canh tác theo chiều sâu, tác

động đến hiệu quả kinh tế trước mắt và lâu dài

- Với thuộc tính của đất canh tác là có độ phì, sự hợp lý trong việc sử dụng và đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác cần phải tính đến độ phì của đất tăng lên sau một quá trình sử dụng Đây là một vấn đề khó xác

định trong điều kiện Việt Nam

- ở nước ta, kinh tế nông hộ là một đơn vị kinh tế tự chủ, việc sử dụng và đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác của từng vùng quyết định bởi trình độ canh tác của các nông hộ Do đó, cần nghiên cứu

từ việc sử dụng đất và hiệu quả kinh tế các loại cây trồng, các dạng luân canh trên đất canh tác ở nông hộ

* Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế – xã hội, đặc thù cho mọi nền kinh tế xã hội Về bản chất của hiệu quả kinh tế không thay đổi, nhưng ở mỗi

hệ thống kinh tế xã hội khác nhau, mỗi một thời kỳ phát triển kinh tế xã hội thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế cũng khác nhau

ở nước ta, trình độ phát triển kinh tế còn thấp, dân số đông, đất đai ít so với các nước trên thế giới, nhưng được phát triển trong hệ thống kinh tế mở Việc xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế còn có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng đều thống nhất như sau:

- Đối với sản xuất nông nghiệp, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là mức đạt được các mục tiêu kinh tế do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, gia súc, tăng chất lượng và sản phẩm hướng tới thoả mãn nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu

Trang 16

- Trong cơ chế thị trường, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh là tăng thu nhập, lợi nhuận trên cơ sở nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh, từ đó tăng lợi ích cho xã hội

- Đối với sử dụng các tài nguyên, tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả kinh tế là mức độ áp dụng nhu cầu của xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí nguồn tài nguyên (Nguyễn Tiến Mạnh,1995)[23]

- Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác có đặc thù riêng, nên tiêu chuẩn đánh giá phải là: trên một đơn vị diện tích đất canh tác (hoặc diện tích gieo trồng) nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất

- Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác là một bộ phận của hiệu quả kinh

tế xã hội và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nông nghiệp, hệ môi trường sinh thái trong nông nghiệp (Phát triển hệ thống canh tác,(tài liệu dịch)-NXB nông nghiệp, Hà Nội, 1995)[26] Vì vậy, đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác phải theo quan điểm sử dụng đất “bền vững” chủ yếu dựa vào ba tiêu chuẩn chung như sau:

+ Bền vững về mặt kinh tế: hệ thống cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao phát triển ổn định, được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển hàng hoá nông nghiệp

là thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm

+ Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng có hiệu quả cao phải bảo vệ

được đất đai, ngăn ngừa được thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên

+ Bền vững về mặt xã hội nhân văn: thu hút được nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập và đảm bảo đời sống xã hội

Vậy đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác theo các tiêu chuẩn:

- Đối với toàn xã hội là khả năng đáp ứng những nhu cầu về nông sản luôn thay đổi, đa dạng của xã hội trong sự hoà nhập với thị trường thế giới gắn với sự phát triển bền vững

Trang 17

- Đối với các chủ thể sản xuất, đó là sự tiết kiệm nhất về chi phí các tài nguyên trên cơ sở quỹ đất canh tác đã xác định, từ đó tăng sức cạnh tranh, tăng tích luỹ, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong đất nước

Do vậy, đánh giá sử dụng đất canh tác phải phù hợp với các đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp của từng thời kỳ và sự phát triển qua các thời

kỳ Đồng thời phải nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác bao gồm nâng cao hiệu quả xã hội và môi trường, hiệu quả trước mắt và lâu dài, hiệu quả bộ phận và hiệu quả toàn bộ

2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác

* Phương pháp chung xác định hiệu quả kinh tế

Muốn đánh giá hiệu quả kinh tế phải có một hệ thống chỉ tiêu xuất phát

từ bản chất của hiệu quả Hệ thống chỉ tiêu đó phải đáp ứng được các yêu cầu:

- Phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung với hệ thống chỉ tiêu của nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng

- Phải đảm bảo tính toàn diện và tính hệ thống: toàn diện thể hiện ở chỗ phải có đầy đủ các chỉ tiêu tổng quát, chỉ tiêu toàn bộ phận, chỉ tiêu chủ yếu, chỉ tiêu bổ sung…Tính hệ thống thể hiện ở chỗ nó phải là một bộ phận thống nhất của hệ thống chỉ tiêu cùng loại của hệ thống kinh tế quốc dân

- Phương pháp tính toán phải nhất quán và đảm bảo có thể so sánh được trình độ hiệu quả kinh tế giữa các vùng khác nhau, các đơn vị khác nhau và có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại

- Hệ thống chỉ tiêu phải có tác dụng kích thích sự phát triển của sản xuất

Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế bắt nguồn từ bản chất hiệu quả kinh tế Đó

là mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra có thể biểu thị chỉ tiêu hiệu quả bằng

sự mô phỏng tổng quát theo các công thức cơ bản sau đây:

Công thức 1

H= Q - C

Trong đó: H: hiệu quả; Q: kết quả thu được; C: chi phí bỏ ra

Trang 18

Ưu điểm của chỉ tiêu này sẽ cho chúng ta biết được quy mô của doanh nghiệp là lớn hay nhỏ Nhưng nhược điểm là họ không biết được hiệu quả của các mức đầu tư, hay không phản ánh được hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra Chỉ tiêu này nếu tính cho toàn bộ quá trình sản xuất thì được tổng hiệu quả kinh tế, chẳng hạn tổng giá trị gia tăng, tổng thu nhập hỗn hợp hay tổng lãi ròng thu được Tuy nhiên, chỉ tiêu này thường được tính cho một đơn vị chi phí bỏ ra như tổng chi phí, chi phí trung gian, chi phí lao động hoặc chi phí một yếu tố đầu vào cụ thể nào đó

Tóm lại, đối với chỉ tiêu tuyệt đối không biết được mức độ của hiệu quả

Khi so sánh, muốn đầy đủ thường kết hợp với chỉ tiêu tương đối

Công thức 2

Hiệu quả= kết quả thu được / chi phí bỏ ra

Hay H=Q/C

Khi hiệu quả tiến tới Max nghĩa là chi phí là nhỏ nhất với kết quả thu được cố

định, hoặc chi phí ở mức cố định còn kết quả thu được ở mức lớn nhất

Công thức này phản ánh rõ hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất Từ công thức chung này, ta có thể tính được các chỉ tiêu sản xuất như: tỷ suất giá trị sản xuất tính theo tổng chi phí trung gian hay chi phí một yếu tố đầu vào cụ thể nào đó Ngoài ra, khi so sánh hiệu qủa kinh tế của việc đầu tư thâm canh người ta thường tính hiệu quả của chênh lệch kết quả thu được và chênh lệch chi phí bỏ

ra Khi đó người ta dùng:

Trang 19

đối tượng cụ thể mà ta cần nghiên cứu Do đó, ở đây cũng có nhiều chỉ tiêu xác định cụ thể, tuỳ từng đối tượng cụ thể mà ta cần nghiên cứu mà lựa chọn chỉ tiêu cho phù hợp

Công thức 3 phản ánh mức hiệu quả đạt được khi cần đầu tư thêm một

đơn vị yếu tố đầu vào nào đó cho sản xuất

Công thức 4 phản ánh mức hiệu quả đạt được khi cần đầu tư thêm một lượng yếu tố đầu vào nào đó Nhóm chỉ tiêu này thường dùng để xác định hiệu quả kinh tế của sự đầu tư thêm hoặc việc hiệu quả kinh tế của việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

* Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác

Căn cứ vào cơ sở khoa học về hiệu quả kinh tế, đặc điểm, yêu cầu nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn một số chỉ tiêu sau:

- Hiệu quả tính trên 1 ha đất canh tác

+ Giá trị sản xuất (GO : Gross Output): là toàn bộ giá trị sản phẩm được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm)

G0 = ∑

=

+

n i

i i i

i P q P Q

1

Trong đó: Qi: Khối lượng sản phẩm chính loại i

Pi: Đơn giá sản phẩm chính loại i

qi: Khối lượng sản phẩm phụ loại i

Pi: Đơn giá sản phẩm phụ loại i

Trang 20

+ Chi phí trung gian (IC: Intermediate cost): là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất Trong nông nghiệp, chi phí trung gian bao gồm các khoản chi phí nguyên vật liệu như: giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dịch vụ làm đất, thuỷ lợi…(Nguyễn Khang, 1996) [20]

IC = ∑

=

n j j

C

1

Trong đó: Cj : Khoản chi phí thứ j

+ Giá trị gia tăng (VA: Value Added): là giá trị tăng thêm của quá trình sản xuất sau khi đã loại bỏ chi phí vật chất và dịch vụ

VA = GO – IC + Thu nhập hỗn hợp ( NVA: Net Value Added): là phần trả cho người lao

động cùng tiền lãi thu được trên từng loại hình sử dụng đất

NVA = VA – DP – T Trong đó: DP : Khấu hao tài sản cố định

T: Thuế sử dụng đất

- Hiệu quả trên 1 đơn vị chi phí vật chất (thường tính cho 1000đ chi phí) + Giá trị sản xuất trên chi phí vật chất : HC

GO=

IC GO

+ Giá trị tăng trên chi phí vật chất:

- Hiệu quả trên 1 đơn vị lao động

+ Giá trị sản xuất trên lao động :

H NVA L =

Trang 21

- Phát triển kinh tế nông nghiệp ở nước ta trong điều kiện hiện nay với yêu cầu là tăng nhanh nông sản hàng hoá, mục tiêu chủ yếu là tăng tổng sản phẩm và thu nhập

2.3 Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên thế giới và Việt nam

2.3.1 Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên thế giới

Nông nghiệp là một ngành sản xuất chính chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ cấu kinh tế của nhiều nước trên thế giới Tại các nước đang phát triển, nông nghiệp không những đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm trong nước mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia

Theo đánh giá của thế giới, hiện tại dân số thế giới khoảng 6 tỉ người thì lượng lương thực có thể đáp ứng được, tuy nhiên có sự không đều giưã các vùng Nông nghiệp sẽ phải chịu sức ép của như cầu lương thực, thực phẩm ngày càng tăng của con người

Theo Nguyễn Đình Bồng [01], hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha

đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỉ ha, còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12 ha, Malaysia 0,27

ha, Philippin 0,13 ha, Thailand 0,42 ha, Việt Nam 0,1 ha

Đến nay, trên toàn thế giới vẫn còn 1/10 dân số thiếu ăn và bị nạn đói đe doạ Hàng năm, mức sản xuất so với nhu cầu sử dụng lương thực trên thế giới vẫn còn thiếu hụt từ 150 đến 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có 6 đến 7 triệu ha

đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn và thoái hoá (W.B.World devolopment Report, 1992) [38] Các quốc gia đều có nhận xét, đánh giá thống nhất về nguyên nhân của tệ nạn phá rừng, tình trạng đất trống đồi núi trọc, hoang hoá

Trang 22

dẫn tới môi trường bị phá huỷ (Tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên và môi trường Việt nam, 1998) [33] là do thiếu lương thực, thiếu chất đốt, thiếu thức ăn gia súc, thiếu cơ sở hạ tầng, thiếu vốn sản xuất kinh doanh, thiếu trí tuệ

Theo Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000 [30], dân số thế giới tăng nhanh trong

25 năm (1965-1990) tăng 68,5% ( từ 3.027 triệu đến 5.100 triệu người), trong khi đó diện tích đất canh tác chỉ tăng 9.7% (từ 1.380 đến 1.520 triệu ha) Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người giảm 45.6% (từ 5.560m2 đến 2.960

m2) Dự kiến tính đến năm 2025 dân số thế giới tăng lên 8.300 triệu người, đất canh tác tăng lên không đáng kể (1.650 triệu ha) do đó diện tích đất canh tác bình quân đầu người sẽ tiếp tục giảm chỉ còn 1.990m2

Kết quả nghiên cứu nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển đã coi nghiên cứu nông nghiệp là một vấn đề sinh thái và đã đề xuất mô hình nông nghiệp phát triển bền vững (T.G Mac Aulay,1997)[37], trong đó tập trung nghiên cứu khai thác đất đai nói chung và đất canh tác nói riêng

Chính phủ các nước đặc biệt quan tâm đầu tư và nghiên cứu việc sử dụng đất canh tác ở vùng đồi gò Tại Indonesia, các chương trình bảo vệ

đất đã được thực hiện nhằm bảo vệ các vùng đất bậc thang và trồng cây theo đường bao Ngoài ra, chương trình xanh hoá (Greening Program)

được thực hiện hợp tác phát triển với các nước (Hà Lan, Phần Lan, Nhật Bản, Đức, úc, và tổ chức đa phương như (FAO, UNDP, ICRAF, Trung tâm Đông – Tây) FAO,1995) [17]

Thực hiện phối hợp các chính sách và chương trình nhằm sử dụng có hiệu quả đất đai, đồng thời bảo vệ môi trường sống cho con người ở các quốc gia trên thế giới

Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế khối nông thôn toàn diện Chính phủ

Trang 23

Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế

độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính tự chủ sáng tạo trong sản xuất trên phạm vi cả nước Thực hiện chủ trương “ly nông bất ly hương” (Hoàng Đạt, 1995) [15] đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp

Để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác, các nhà khoa học nông nghiệp trên thế giới đang tập trung mọi nỗ lực cải tiến hệ thống cây trồng

Trong những năm đầu của thập kỷ 70, ở nhiều vùng đất châu á người ta

đã đưa cây trồng mùa cạn vào hệ thống canh tác trên đất lúa Trong điều kiện chỉ độc canh cây lúa và thiếu nước vụ xuân, chi phí bơm nước cao khó thực hiện, việc đưa cây trồng họ đậu vào hệ thống canh tác này làm cho giá trị tổng sản phẩm tăng lên đáng kể, hiệu quả tăng lên gấp hai lần so với hệ thống cũ,

độ phì cũng được tăng lên (Nguyễn Duy Tính và cộng sự, 1995) [35]

Đối với nông nghiệp châu á, trồng lúa là ngành chủ yếu và phần lớn đất

đai ở đây có độ phì nhiêu thấp Do đó, nghiên cứu phát triển một cách hợp lý

và bón phân để bổ sung dinh dưỡng làm tăng nhanh năng suất lúa là rất cần thiết Quan hệ giữa mức sử dụng phân bón với năng suất lúa được thể hiện khá

rõ trong tài liệu của FADINAD (1993): mức phân bón N, P, K trên 1 ha đạt cao nhất như Hàn Quốc là 465,6 kg và năng suất lúa là 58,1 tạ, Trung Quốc là 302,7 kg và 59,6 tạ, Malaxia là 197,7 kg và 31,6 tạ, Thái Lan là 54,4 kg và 21,3 tạ (Dẫn theo Vũ Thị Phương Thụy, 2000) [30]

Nhờ tăng số lượng và sử dụng hiệu quả phân bón, cùng với các kỹ thuật canh tác tiên tiến nên gần đây một số nước như Trung Quốc, ấn Độ, Inđônêxia, Pakistan… từ chỗ thiếu lương thực đã trở thành tự túc được lương thực và có xuất khẩu Phát triển nông nghiệp bắt đầu sử dụng tốt đất canh tác

Trang 24

gắn với công nghiệp chế biến là tiền đề thúc đẩy sự phân công lại lao động và hợp tác trong kinh tế nông nghiệp ở các nước này

Như vậy, xu hướng tất yếu hiện nay là thực hiện bố trí hệ thống cây trồng phù hợp, tăng cường thâm canh cao nhằm khai thác tối đa năng lực sản xuất của

đất đai và các nguồn lực khác với hiệu quả kinh tế cao Các nước châu á đã coi trọng thuỷ lợi, thực hiện chế độ bón phân hợp lý, đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật khác đạt đến trình độ cao Phát triển sản xuất, kết hợp với đẩy mạnh chế biến nông sản Nhiều nước trong khu vực, đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tích cực, kết hợp nâng cao hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội với bảo vệ môi trường tự nhiên, xây dựng nền sinh thái bền vững

2.3.2 Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đât canh tác ở Việt Nam

* Tình hình sử dụng đất canh tác

Việt Nam có nhiều nét đặc thù so với các nước trên thế giới, với diện tích đất chật, người đông, trình độ phát triển kinh tế thấp và đang trong quá trình đô thị hoá Mặt khác, dân số tăng nhanh làm cho diện tích đất đai trên

đầu người ở nước ta vốn đã thấp lại càng giảm nhanh

Năm 2004, sản xuất nông nghiệp của nước ta phát triển trong điều kiện

có nhiều khó khăn Đầu năm, dịch cúm gia cầm xảy ra trên diện rộng:57 tỉnh thành phố, gây thiệt hại nặng nề, trên 37 triệu gia cầm bị chết và bị tiêu huỷ Thời tiết diễn biến phức tạp, gây bất lợi cho trồng trọt, rét đậm kéo dài gây khó khăn cho sản xuất vụ đông xuân các tỉnh phía Bắc Giữa năm nắng nóng gây kéo dài, đầu tháng 7 mưa lớn làm ngập úng và mất trắng hàng trăm nghìn

ha lúa mùa ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng Cuối năm hạn hán ở các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, lũ lụt lớn ở các tỉnh miền trung Thêm vào đó, thị trường giá cả vật tư nông nghiệp, phân hoá học thế giới tăng cao, giá cả xuất khẩu nông sản không ổn định đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp cả nước (Nguyễn Sinh Cúc, 2005)[05]

Trang 25

Tuy vậy, nông nghiệp cả nước vẫn đạt được những thành tựu to lớn

Sản xuất lương thực tăng nhanh: thành tựu nổi bật của nông nghiệp 2004

là đã giải quyết vững chắc Vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống Sản lượng lương thực có hạt đạt mức cao nhất

từ trước đến nay và tăng tốc độ nhanh so với các năm trước Năm 2004 đạt trên 39,1 triệu tấn, tăng 1,6 triệu tấn (4,2%) so với năm 2003 và tăng 2,1 triệu tấn (5,6%) so với năm 2002 và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra cho năm 2005 Tính chung 4 năm, tốc độ sản lượng lương thực tăng bình quân 6% (1,2 triệu tấn)/năm, cao hơn tốc độ tăng dân số (1,4%)/năm, nhờ đó lương thực bình quân nhân khẩu tăng nhanh : từ 435,5Kg năm 2001 lên 463,6 kg năm 2002, 463,9 kg năm 2003 và 476 kg năm 2004 (Nguyễn Sinh Cúc,2005)[05]

Sản xuất lúa chuyển mạnh theo hướng giảm dần diện tích, tăng năng suất

và chất lượng lúa gạo để phù hợp với yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu gạo Diện tích gieo cấy lúa giảm từ 7,66 triệu ha năm 2000 xuống 7,49

ha năm 2001; 7,45 năm 2003 và 7,42 năm 2004 Như vậy, năm 2004 diện tích gieo cấy lúa cả nước đã giảm trên 240 nghìn ha so với năm 2000, trong đó phần lớn là diện tích đất chua phèn, mặn, thiếu nước, lúa vụ 3 ở ĐBSCL, đất lúa vụ mùa thường bị gập úng chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản hoặc trồng màu, cây công nghiệp, cây ăn quả có lợi hơn Cơ cấu mùa vụ có sự biến đổi tích cực theo hướng tăng diện tích lúa Đông Xuân, lúa hè thu, giảm diện tích lúa mùa, tạo điều kiện để thâm canh tăng năng suất lúa từng vụ và cả năm Với trình độ thâm canh lúa của nông dân cùng với tác động tích cực của khoa học kỹ thuật, nhất là mở rộng diện tích giống lúa mới đã tạo sự phát triển ổn định về năng suất và chất lượng lúa gạo Năng suất lúa trung bình từ 42,4 tạ năm 2001 đã tăng lên 45,9 tạ năm 2002, 46,3 tạ năm 2003

và 48,1 tạ/ha năm 2004

Trang 26

Theo báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Đất đai 1993-2003[02] Đất trồng cây hàng năm tăng đều từ 1990 đến 2000: Năm 1990 diện tích là 5.338.989 ha, năm 1995 là 5.624.407 ha đến năm 2000 là 6.129.518 ha, tăng 505.111 ha so với năm 1995 có 4.113.585 ha, năm 2000 có 4.267.849 ha tăng 154.264 ha so với năm 1995, đến nay còn giữ 4.147.703 ha đất lúa Đất ruộng lúa, lúa màu hàng năm giảm có liên quan đến việc tăng diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản do chủ trương chuyển một phần diện tích lúa nước năng suất thấp sang nuôi cá, tôm Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản năm

1990 là 266.789 ha, năm 1995 là 326.979 ha, năm 2000 là 367.846 ha tăng 101.057 ha so với năm 1990

Ngày nay, việc sử dụng đất đai với hiệu quả cao, bền vững là yêu cầu cấp bách của nước ta cũng như nhiều quốc gia trên thế giới Trong đó, việc phân loại

đất đúng đắn là cơ sở để thực hiện sử dụng đất thích ứng với các yêu cầu trên ở nước ta, dựa vào nguồn đất đai hiện có các nhà nghiên cứu theo phương pháp

đánh giá đất đai của FAO đã phân ra một số loại hình sử dụng đất chính và từng loại hình sử dụng đất được phân chia thành các kiểu sử dụng đất khác nhau, dựa vào việc phân cấp các yếu tố theo các mức độ ảnh hưởng đến quá trình sử dụng

đất (Dẫn theo Vũ Thị Phương Thụy, 2000) [30] cụ thể là:

Những loại hình sử dụng đất bền vững, gồm có các loại:

+ Loại hình sử dụng đất trồng lúa 2 –3 vụ có 51 đơn vị đất trên các nhóm

đất phù sa, nhóm đất glây, nhóm đất cát biển Đất được khai thác sử dụng lâu dài với tầng canh tác là khá phì nhiêu Hiện nay ở những vùng có điều kiện thực tiễn thay đổi cơ cấu cây trồng đã đạt hiệu quả cao hơn

+ Loại sử dụng đất lúa – màu có 59 đơn vị đất đai Tổng diện tích 409,6 nghìn ha, phân bố tập trung ở các nhóm đất xám, đất phù sa và nhóm đất cát, loại hình này chủ yếu là 2 vụ màu và lúa mùa

Trang 27

+ Loại sử dụng trồng cây công nghiệp dài ngày có 82 đơn vị đất đai, chiếm 1,2 triệu ha, loại hình sử dụng trồng cây ăn quả có 30 đơn vị đất đai chiếm 187 nghìn ha, loại hình đất rừng có 166 đơn vị đất đai chiếm 9,5 triệu ha

- Những loại hình sử dụng đất không bền vững về kinh tế, gồm loại sử dụng trồng một vụ lúa, loại hình này chưa tận dụng được đất đai, hệ số sử dụng đất và kết quả, hiệu quả kinh tế thấp và bấp bênh, do đất bị glây mạnh nên môi trường đất bị suy thoái nghiêm trọng

- Loại hình sử dụng đất không bền vững về môi trường, chủ yếu là loại

đất trồng cây cạn ngắn ngày chờ nước trời, loại này có 134 đơn vị đất đai, do

địa hình cao, dốc, thoát nước và không có khả năng tưới, đất trở nên khô hạn

và dễ bị rửa trôi, xói mòn làm môi trường đất bị phá huỷ nghiêm trọng Do đó, trên đất này cần thay đổi cơ cấu cây trồng hợp lý

Loại hình sử dụng đất không bền vững về kinh tế và môi trường, loại hình

đất đồi trọc có 215 đơn vị đất đai với 12,9 triệu ha, chiếm gần 39 % diện tích

đất tự nhiên, nhưng thực tế chỉ có gần 12 triệu ha có thể sử dụng cho các mục

đích khác nhau còn lại là đồi núi không sử dụng được

Như vậy, nguồn đất đai trong nông nghiệp ở nước ta có giới hạn về mặt

số lượng và không đồng nhất về mặt chất lượng, phức tạp về mặt địa hình Cùng với trình độ kinh tế còn thấp nên hạn chế đến việc khai thác tiềm năng

và nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đât canh tác, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp

(Theo Báo cáo hiện trạng sử dụng đất cả nước) [03], diện tích đất đã sử dụng vào mục đích nông nghiệp là 9.531.831 ha, chiếm 28,94 % tổng diện tích tự nhiên và bằng 39,61% diện tích đã sử dụng vào các mục đích, được phân bố ở các vùng như sau:

Trang 28

Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp phân theo

các vùng năm 2003

% so với diện tích tự nhiên vùng

% so với diện tích đất nông nghiệp cả nước

(Nguồn: Báo cáo hiện trạng sử dụng đất cả nước – Bộ TN &MT)

Gần đây, nước ta thực hiện chuyển đổi cơ cấu quản lý theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, điều đó đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ

về cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế – xã hội

Năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị xác định vị trí kinh tế của sản xuất nông nghiệp Chính sách đúng đắn đã đem lại hiệu quả to lớn, làm cho nông nghiệp phát triển một cách toàn diện

Các năm gần đây, sản lượng nông nghiệp tăng trung bình 4,3%/ năm, sản lượng lúa của đồng bằng sông Cửu Long tăng nhanh nhờ việc đầu tư phát triển thuỷ lợi, ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật

Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản đạt 4 tỷ USD, Việt Nam được đánh giá là nhà xuất khẩu hàng đầu về gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu…Gạo xuất khẩu đạt 3,9 triệu tấn với kim ngạch 900 triệu USD, tăng gần 23% so với năm 2003

Trang 29

Hợp tác quốc tế trong nông nghiệp: theo Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, chỉ riêng năm 2004, đã có 31 dự án được ký kết, với tổng vốn 405 triệu USD từ nguồn ODA của hơn 20 nhà tài trợ, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thuỷ lợi, lâm nghiệp, xoá đói giảm nghèo, phòng chống giảm nhẹ thiên tai…nhiều dự

án đã đi vào hoạt động Ngoài ra còn có nhiều dự án hỗ trợ khẩn cấp nhằm giúp nông dân Việt Nam khắc phục hậu quả do thiên tai, bệnh dịch…

Năm 2004, nghành nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia thúc đẩy thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa kỳ…

Với những kết quả đạt được trong thời gian qua, các chuyên gia hy vọng Việt nam sẽ đạt được mục tiêu gia nhập WTO như dự định, tạo thêm cơ hội để cho ngành nông lâm nghiệp thực hiện mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu nông, lâm sản khoảng 7 tỷ USD vào năm 2010, góp phần thực hiện chiến lược hướng mạnh ra xuất khẩu của ngành nông nghiệp trong những năm tới

Những năm gần đây, nông nghiệp ở từng vùng đã xuất hiện những mô hình canh tác mới, hệ thống luân canh đạt hiệu quả kinh tế cao Đánh giá sự phát triển

đa dạng hệ thống canh tác và hệ thống cây trồng có hiệu quả kinh tế cao Đã có các kết quả nghiên cứu được công bố của Nguyễn Sinh Cúc (2005) [05], Đỗ Văn Viện (2005) [36], Hoàng Xuân Phương và Hồ Thị Lam Trà (2005) [25]

Nhiều nhà khoa học đã khẳng định : phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta theo hướng thâm canh trước hết phải dựa vào các điều kiện như tưới, tiêu, phân bón…đặc biệt trong sản xuất lúa, trong thời kỳ 1987 – 1994 cho thấy: tốc độ tăng trưởng sản lượng lúa là 4,3% nhờ việc tăng mức sử dụng phân bón là 12,0%, tăng chi phí thuỷ lợi của Chính phủ 136,8%, tăng sử dụng giống mới là 11,5%, tăng trang bị máy kéo là 27,9% (Dẫn theo Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000)[30]

Trang 30

Ngày nay, nhiệm vụ ngành nông nghiệp nước ta là thúc đẩy nhanh việc ứng dụng các khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất nông nghiệp, tiến hành xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của quốc gia đến năm 2015 Trước mắt phải

đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, ổn định và bền vững, giải quyết những vướng mắc, những vấn đề xã hội, cải thiện đời sống dân sinh, nâng cao tích luỹ, chuẩn bị các nguồn lực để làm tiền đề cho việc phát triển sau này

Định hướng phát triển nông nghiệp Việt nam đến năm 2010 là :

Phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng tạo ra vùng sản xuất hàng hoá tập trung, chuyên canh, thâm canh có năng suất, chất lượng cao, áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới…

Tăng cường đầu tư khoa học, công nghệ là nhiệm vụ hàng đầu của ngành nông nghiệp trong những năm tới để sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn Việt Nam tiếp tục tăng trưởng bền vững, với tốc độ khoảng 5,5% mỗi năm

Quan tâm tới vấn đề giải quyết giống tốt sẽ là khâu quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Đồng thời, đẩy mạnh việc đa dạng hoá ngành nghề nông thôn, lấy phát triển bền vững về kinh tế làm trọng tâm để phát triển bền vững xã hội và môi trường Xây dựng nhiều biện pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nông nghiệp – nông thôn; nâng cao năng lực của người dân; đẩy nhanh việc quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và dân sinh theo hướng hiện đại và bền vững, nhằm cải thiện điều kiện sản xuất và nâng cao mức sinh hoạt của người dân (Nguyễn Sinh Cúc, 2004) [05]

Xây dựng nền nông nghiệp tăng trưởng nhanh và bền vững theo chiều hướng nông nghiệp sinh thái, (Đảng cộng sản Việt Nam, 1996) [14] Thực hiện đa canh, đa dạng hoá sản phẩm, mô hình nông lâm kết hợp với chế

Trang 31

biến, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, tăng nhanh nông sản hàng hoá, tăng cường xuất khẩu và nâng cao đời sống của nhân dân, xây dựng nông thôn mới

Tóm lại: Nhờ có các điều kiện như đất đai, trình độ canh tác, tiến bộ của

khoa học kỹ thuật, giống mới, phân bón, dẫn đến kết quả sử dụng đất có nhiều chuyển biến tích cực Hệ số sử dụng đất tăng lên, cơ cấu cây trồng hợp lý Năng suất cây trồng tăng cao Đây là mục tiêu để nâng cao hiệu quả kinh tế và giải quyết việc làm trong nông nghiệp

Trang 32

3 Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp

nghiên cứu 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu nhũng vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất canh tác Đối tượng trực tiếp là hiệu quả kinh tế của các phương thức sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện Từ việc đánh giá đúng hiệu quả kinh tế theo nội dung trên mà đưa ra giải pháp sử dụng đất canh tác phù hợp đạt hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện

- Phạm vi không gian: nghiên cứu trên địa bàn huyện Gia Viễn – tỉnh Ninh Bình

- Giới hạn về thời gian: các số liệu thống kê được lấy từ năm 2000 đến năm 2004 về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, đất đai của huyện Số liệu về giá cả thị trường vật tư, nông sản phẩm hàng hoá điều tra năm 2004

3.2 Nội dung nghiên cứu:

3.2.1 Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội có liên quan đến đất đai và sản xuất nông nghiệp hàng hoá của huyện

Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên như; vị trí địa lý, đất đai, nông hoá thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thuỷ văn…điều kiện kinh tế xã hội như dân

số, lao động, việc làm, trình độ dân trí, tình hình quản lý và sử dụng đất đai, cơ cấu các ngành nghề…từ đó rút ra những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện

3.2.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất canh tác và phân bố hệ thống cây trồng

- Nghiên cứu các kiểu sử dụng đất hiện trạng, diện tích và sự phân bố các kiểu sử dụng đất trên mỗi vùng

3.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các cây trồng, các loại hình sử dụng

đất trên các vùng đất khác nhau

Trang 33

3.2.4 Định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác của huyện

Dựa vào thực trạng sử dụng đất canh tác của huyện từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp cho việc sử dụng đất canh tác đạt hiệu quả kinh tế cao

- Chọn điểm nghiên cứu

Các điểm nghiên cứu phải là các xã đại diện cho các vùng sinh thái và kinh tế trong huyện Theo đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, huyện Gia Viễn

được chia thành 3 tiểu vùng

+Vùng 1: đại diện là xã Gia Phong, Gia Thịnh

+Vùng 2: đại diện là xã Gia Tiến, Gia Phương

+Vùng 3: đại diện là xã Gia Hoà, Liên Sơn

Đây là các xã có đặc điểm về đất đai, địa hình, tập quán canh tác, hệ thống cây trồng, có lợi thế về đánh giá hiệu quả kinh tế khác nhau

Chọn các hộ điều tra đại diện cho các tiểu vùng theo phương pháp chọn mẫu có hệ thống thứ tự lấy mẫu ngẫu nhiên Tổng số hộ điều tra là 150 hộ

- Thu thập số liệu, tài liệu, bản đồ

Thu thập các tài liệu có sẵn từ các cơ quan, phòng, ban như phòng Nông nghiệp địa chính, phòng thống kê, phòng thuỷ lợi và đê điều…Những số liệu thu thập được chỉ phản ánh tình hình chung của huyện và xã không phản ánh

được chi tiết tình hình sản xuất của các nông hộ vì vậy phải tiến hành điều tra nông hộ, thu thập ý kiến của cán bộ xã, huyện

Trang 34

Tiến hành phỏng vấn nông hộ theo mẫu phiếu điều tra của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, có cải tiến theo yêu cầu của đề tài

Tiến hành điều tra bổ sung ngoài thực địa để điều chỉnh cho phù hợp với thực tế và chuẩn hoá số liệu

- Tổng hợp và phân tích số liệu

Trên cơ sở các số liệu thu thập được, tiến hành tổng hợp, phân bổ theo nhiều loại khác nhau: các khoản chi phí, loại cây, tình hình tiêu thụ… Dựa trên cơ sở các chỉ số tuyệt đối, chỉ số tương đối, số bình quân, phân tích, so sánh để biết được sự biến động qua các năm và rút ra kết luận

Các số liệu thống kê được xử lý bằng chương trình EXCEL, số liệu bản

đồ được số hoá và xử lý bằng phần mền MAPINFO Kết quả được trình bày bằng các số liệu, bản đồ

3.2.2 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của

người dân (Participattory Rural appraisal – PRA)

Cùng làm việc với nông dân và lãnh đạo địa phương, dựa vào sự hiểu biết

và kinh nghiệm của người dân địa phương cùng với nguyện vọng của họ với chính quyền địa phương, ý kiến của lãnh đạo địa phương để nhanh chóng

đánh giá nhu cầu phát triển nông nghiệp, các vấn đề ưu tiên, xem xét tính khả thi của các biện pháp đề xuất Dùng phương pháp SWOT để thu thập, phân tích và đánh giá nguồn thông tin do người dân cung cấp hoặc từ các tài liệu sẵn có

Trang 35

Hệ thống ràng buộc bài toán thể hiện sự tương tác ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, các hoạt động sản xuất diễn ra cũng như thể hiện nhu cầu và khả năng

đáp ứng với từng loại sản phẩm trong vùng Do đó, hệ thống ràng buộc và các tham số xác định càng đầy đủ bao nhiêu thì càng giải quyết đầy đủ các vấn đề có tính hệ thống mà đề tài yêu cầu và đảm bảo bài toán giải có độ tin cậy

Vận dụng mô hình bài toán tối ưu trong việc xác định quy mô, cơ cấu cây trồng hợp lý cho một vùng đất cụ thể hoặc quy mô các công thức luân canh của

một số hộ đại diện cho các tiểu vùng cụ thể trong điều kiện nhất định nào đó 3.2.4 Các phương pháp khác

- Phương pháp kế thừa chọn lọc các tài liệu sẵn có, các kết quả nghiên cứu sẵn

có trong vùng liên quan đến đề tài nghiên cứu, chọn lọc theo yêu cầu của đề tài

- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: từ kết quả nghiên cứu của đề tài chúng tôi tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia cũng như các nông dân

điển hình sản xuất giỏi trong huyện để đề xuất hướng sử dụng đất và đưa ra các giải pháp thực hiện

- Phương pháp dự báo: các đề xuất được dựa trên kết quả nghiên cứu của

đề tài và những dự báo về nhu cầu của xã hội và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp

Trang 36

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

4.1.1 Vị trí địa lý

Gia Viễn nắm ở phía Bắc của tỉnh Ninh Bình có toạ độ địa lý từ 20°13’ ữ 20°25’ vỹ độ Bắc và từ 105°47’ ữ105°57’ kinh độ Đông

Phía Bắc giáp tỉnh Hoà Bình và tỉnh Hà Nam

Phía Tây giáp huyện Nho Quan

Phía Nam giáp huyện Hoa Lư

Phía Đông giáp tỉnh Nam Định

Gia Viễn là cửa ngõ quan trọng của tỉnh trong việc giao lưu phát triển kinh tế – xã hội với các tỉnh vùng Tây Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng và Thủ

Trang 37

nhiều xã trong huỵên, ngoài ra trên địa bàn còn có hệ thống sông ngòi khá dày như: sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Bôi…chạy qua giúp cho Gia Viễn có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế – xã hội

4.1.2 Địa hình

Gia Viễn thuộc vùng bán sơn địa, địa hình phân thành ba khu vực rõ rệt: Vùng núi đá vôi tập trung ở phía Bắc và phía Đông Nam, vùng bán sơn địa ở phía Tây Nam và vùng đồng bằng rộng lớn nằm giữa trung tâm huyện Ruộng

đất canh tác phân bố tương đối bằng phẳng và có xu thế thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Nơi cao nhất của phía bắc là xã Gia Hưng, nơi trũng nhất

là lòng chảo xã Gia Hoà, xã Liên Sơn và ven sông Rịa

* Địa hình vùng núi

Có 2 khu núi đá tập trung ở phía Bắc huyện giáp với tỉnh Hoà Bình và ở phía Đông Nam giáp huyện Hoa Lư Ngoài ra con một số núi đá vôi độc lập phân bố rải rác xen kẽ với đất canh tác tập trung ở các xã: Gia Phương, Gia Lạc, Gia Minh, Gia Tiến, Gia Xuân Vùng này có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển du lịch và chăn nuôi

Bên cạnh núi đá vôi, còn có một số đồi như dải đồi áp với khu núi đá vôi

ở phía Bắc và phía Nam huyện, dải đồi nằm độc lập từ xã Liên Sơn chạy theo hướng Tây Đông đến xã Gia Vân Đồi đất ở đây thường trơ trọi ít mầu mỡ, vùng này thích hợp với việc phát triển trồng rừng khoanh nuôi tái sinh

* Địa hình vùng bán sơn địa

Nằm ở phía Tây Nam huyện tiếp cận với khu núi Đính, thoải dần từ chân núi Đính về ven đê sông Hoàng Long Vùng này có nhiều tiền năng phát triển ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, du lịch, chăn nuôi đại gia súc ( trâu, bò, dê)

* Địa hình vùng đồng bằng

Địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 1ữ1,5m, đất đai vùng này chủ yếu là đất phù sa không được bồi hàng năm Diện tích này nằm

Trang 38

gọn trong đê sông Hoàng Long, đê Hữu Đáy và đê Đầm cút Vùng này có nhiều thuận lợi để phát triển nông nghiệp trồng lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày

4.1.3 Khí hậu thuỷ văn

* Khí hậu:

Cũng như các huyện khác trong tỉnh, Gia Viễn mang những đặc điểm của tiểu vùng khí hậu đồng bằng sông Hồng, có mùa đông lạnh ít mưa, mùa hè nắng nóng mưa nhiều

- Nhiệt độ trung bình năm từ 22ữ 27°C Tổng nhiệt độ trung bình năm từ 8.500 ữ 8.600°C, mùa đông nhiệt độ trung bình là 20°C, tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2 nhiệt độ trung bình có thể dưới 10°C Mùa hè nhiệt độ trung bình là 27°C, tháng nóng nhất là tháng 7 và tháng 8 nhiệt độ trung bình trên 30°C

Tổng nhiệt độ của Gia Viễn khá dồi dào nhưng sự phân bố theo hai mùa lại chênh lệch nhau khá lớn, tổng nhiệt độ vụ chiêm xuân chỉ bằng 60ữ 70% tổng nhiệt độ vụ mùa Với tổng nhiệt độ này vẫn đảm bảo cho cây trồng vụ

đông xuân phát triển, nếu bố trí giống cây trồng với thời vụ thích hợp

- Chế độ mưa

Tổng lượng mưa trung bình năm từ 1.830 ữ 1.970mm (trung bình năm có

129 ữ 161 ngày mưa), lượng mưa thấp tập trung vào tháng 6, mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) chiếm 80 ữ 85% tổng lượng mưa cả năm, lũ lụt cũng thường xảy ra trong thời gian này Vào mùa đông lượng mưa thấp khoảng 15

ữ 20% tổng lượng mưa cả năm, chủ yếu là dạng mưa nhỏ mưa phùn

- Chế độ ẩm

Do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, gió mùa nên huyện Gia Viễn

có độ ẩm tương đối cao, bình quân cả năm từ 84 ữ 85%, chênh lệch độ ẩm

Trang 39

giữa các tháng không nhiều Tháng có độ ẩm cao nhất là 90% (tháng 2), thấp nhất 80% (tháng 10)

- lượng bốc hơi

Lượng bốc hơi trung bình trong năm từ 850 ữ 870mm, trong đó mùa hạ chiếm 60% lượng bốc hơi cả năm, tháng 7 có lượng bốc hơi lớn nhất là 105mm, tháng 2 có lượng bốc hơi nhỏ nhất là 45mm

* Gió

Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, mùa đông hướng gió thịnh hành là hướng Đông Bắc, những tháng giữa và cuối mùa đông gió có xu hướng chênh lệch dần về hướng Đông Mùa hè hướng gió thịnh hành từ

Đông hoặc Đông Nam

Địa bàn huyện Gia Viễn còn ảnh hưởng của gió lục địa, hướng Tây hoặc Tây Nam, gió biển theo hướng Đông Nam Vào tháng 7, 8, 9 thường có bão làm ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt trên địa bàn

* Thuỷ văn

- Hệ thống sông ngòi

Gia Viễn bao gồm hệ thống các sông: sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Bôn, sông Rịa với tổng chiều dài khoảng 42,7km, mật độ sông suối là 0,4km/km²

- Sông Đáy

Là chi lưu của sông Hồng bắt nguồn từ Hát Môn (Phú Thọ, Hà Tây) đi qua địa phận Gia Viễn từ cầu Đoan vỹ đến cầu Gián Khẩu dài 8,4km Dòng chảy của sông Đáy đoạn qua Gia Viễn chịu tác động mạnh mẽ của dòng chảy sông Hồng qua sông Đào – Nam Định Mùa cạn lưu lượng của sông Đáy nhỏ nhưng được bổ sung từ sông Hồng qua sông Đào, mực nước tại Ninh Bình Hmax = 0,60 ữ 0,70m, Hmin = - 0,10 ữ0,10m Mùa lũ trên đoạn sông Đào mực nước dâng cao từ 1,68 ữ 2,95m

Trang 40

Với mực nước sông Đáy như trên, trong khi độ cao của đồng ruộng thay

đổi, địa hình lại cao thấp không đều nên việc tưới tiêu tự chảy không thực hiện

được, chủ yếu phải dùng trạm bơn và tiêu tự chảy khi nước trong đồng cao (bị úng) và phải gặp được lúc triều thấp

- Sông Hoàng Long

Là chi lưu của sông Đáy, bắt nguồn từ Hổ Thường Xung (Nho Quan) đến Gián Khẩu dài 13,1km là trục tiêu chính của huyện, nhận nước mưa trong nội vùng, lượng nước từ vùng đồi núi Hoà Bình, Nho Quan chảy về và chảy qua sông Đáy để đổ ra biển Ngoài nhiệm vụ tiêu nước, sông Hoàng Long còn có nhiệm vụ chuyển nước cho phần lớn diện tích nằm trong khu vực và làm nhiện

vụ vận chuyển đường thuỷ cho các xã ven sông

- Sông Bôi và sông Rịa

Thuộc hệ thống sông Hoàng Long dài 21,3km Lưu lượng của sông này trong mùa lũ rất cao, vào mùa khô hệ thống sông này có tác dụng cung cấp nước tưới cho vùng

Tóm lại: Theo tài liệu của trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn của

Ninh Bình ta thấy: hệ thống sông ngòi của huyện Gia Viễn không đảm bảo tưới tiêu chủ động, mới chủ yếu là cung cấp nguồn nước ngọt cho các trạm bơm phục vụ tưới Về vụ mùa thì tranh thủ tiêu tự chảy tối đa 65% diện tích, còn lại phải bơm tiêu

4.1.4 Tài nguyên đất

Từ kết quả điều tra nông hoá thổ nhưỡng lập bản đồ đất tỉnh Ninh Bình (Trần Văn Chính, Bùi Ngọc Dũng, Hoàng Văn Mùa, Nguyễn Hữu Thành 2001[06] chúng tôi thấy đất đai huyện Gia Viễn bao gồm 17 loại đất và gộp thành 4 nhóm đất chính sau:

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp phân theo - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp phân theo (Trang 28)
Sơ đồ huyện Gia Viễn – tỉnh Ninh Bình - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Sơ đồ huy ện Gia Viễn – tỉnh Ninh Bình (Trang 36)
Bảng 2: Cơ cấu đất đai phân loại theo FAO-UNESCO - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 2 Cơ cấu đất đai phân loại theo FAO-UNESCO (Trang 45)
Bảng 3: Dự kiến khả năng thích nghi đất đai với các - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 3 Dự kiến khả năng thích nghi đất đai với các (Trang 46)
Bảng 4. Tổng hợp giá trị sản phẩm theo ngành kinh tế - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 4. Tổng hợp giá trị sản phẩm theo ngành kinh tế (Trang 49)
Bảng 5: Diễn biến diện tích năng suất, sản l−ợng một số - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 5 Diễn biến diện tích năng suất, sản l−ợng một số (Trang 50)
Bảng 6 : Tình hình chăn nuôi của huyện qua 4 năm - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 6 Tình hình chăn nuôi của huyện qua 4 năm (Trang 52)
Bảng 7: Tình hình dân số – lao động giai đoạn 2000-2004 - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 7 Tình hình dân số – lao động giai đoạn 2000-2004 (Trang 55)
Bảng 9: Hiện trạng sử dụng đất canh tác và hệ thống cây trồng năm 2004 - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 9 Hiện trạng sử dụng đất canh tác và hệ thống cây trồng năm 2004 (Trang 64)
Bảng 12: Hiệu quả kinh tế của các cây trồng vùng III - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 12 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng vùng III (Trang 69)
Bảng 13: Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 13 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt (Trang 72)
Bảng 14: Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 14 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên (Trang 73)
Bảng 18: Kết quả giải bài toán trên máy tính - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 18 Kết quả giải bài toán trên máy tính (Trang 88)
Bảng 19: Định h−ớng bố trí hệ thống cây trồng - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 19 Định h−ớng bố trí hệ thống cây trồng (Trang 89)
Bảng 20: So sánh một số chỉ tiêu cơ bản trước và sau định hướng - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện gia viễn   tỉnh ninh bình
Bảng 20 So sánh một số chỉ tiêu cơ bản trước và sau định hướng (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w