Víi häc sinh còng vËy, ®éng lùc häc tËp nÕu chØ ë chiÕm lÜnh tri thøc, sù hÊp dÉn cña néi dung bµi häc, kh«ng khÝ líp häc, tÝnh cã vÊn ®Ò do gi¸o viªn ®Æt ra .... th× cha toµn diÖn, kh«n[r]
Trang 1Sở GIáo dục - Đào tạo ninh Bình Trờng THPT Nho quan C
Sáng kiến kinh nghiệm
Đổi mới Kiểm tra đánh giá để thúc đẩy đổi mới phơng pháp dạy học môn Ngữ Văn trong
nhà trờng THPT
Giáo viên thực hiện: Lê Thành Dơng
Tổ : Văn – Sử
Nho Quan, Tháng 2, năm 2009
Cấu trúc đề tài
A Đặt vấn đề
B Nội dung đề tài
I Thực trạng kiểm tra đánh giá trong nhà trờng THPT nói chung và trờng THPT Nho Quan C
1 Thực trạng kiểm tra đánh giá trong nhà trờng THPT
2 Thực trạng kiểm tra đánh giá trong nhà trờng THPT Nho Quan C
II Nguyên nhân của những tồn tại trong kiểm tra đánh giá
2 4
4
4
5 7
Trang 2III Những đổi mới cần thiết trong KTĐG để thúc đẩy đổi mới phơng
pháp
1- Đổi mới trong kiểm tra thờng xuyên (KTTX)
2-Đổi mới kiểm tra định kì (KTĐK)
3 Khâu chấm bài trong bài văn tự luận
C Kết luận
D Tài liệu tham khảo
9 9 12 19 20 23
A Đặt vấn đề
Từ khi lí thuyết mặt trời của Deway ra đời ở Mĩ, vào những năm 1940 nguyên lí dạy học lấy học sinh làm trung tâm đã cho thất tính đúng đắn của nó
Mặc dù vậy việc thực hiện triệt để quan điểm này trong giáo dục nớc ta nói chung, trong giảng dạy môn Ngữ Văn nói riêng còn nhiều khó khăn vớng mắc Cách đây hơn một thập kỉ chúng ta đã tiến hành việc đổi mới dạy học môn Ngữ Văn Đổi mới cũng đã đạt đợc những thành tựu nhất định, xong có thể nói kết quả đạt đợc so với mục tiêu đặt ra cha ngang tầm với vị trí của môn học, cha thúc đẩy tính tích cực hoạt động ở học sinh - học sinh còn thụ động khi đứng
tr-ớc một vấn đề xã hội, một tác phẩm văn học (lời đọc tác phẩm, lời suy nghĩ)
Trong hàng loạt công đoạn của quá trình đổi mới chúng ta đã chú trọng
đổi mới KTĐG (kiểm tra đánh giá), từ việc ý thức tầm quan trọng của đổi mới KTĐG, đến coi kiểm tra đánh giá có vai trò chi phối và có ảnh hởng quyết
định đến toàn bộ quá trình dạy học Kiểm tra đánh giá trớc hết là để tìm hiểu
và đánh giá trình độ năng lực của học sinh ở vào những thời điểm nhất định của quá trình dạy học theo chơng trình và mục tiêu đã quy định, sau đó góp
phần điều chỉnh phơng pháp dạy học của giáo viên và phơng pháp học của học sinh Có nhà s phạm đã nói: “Đề thi là một biện pháp để uốn nắn cách
Trang 3dạy của giáo viên và cách học của học sinh một cách hữu hiệu nhất” Kiểm
tra, đánh giá là khâu cuối cùng quá trình dạy học, đồng thời là cơ sở để mở ra
một quá trình dạy học mới Chính vì vậy khâu kiểm tra đánh giá có một vị trí
và tầm quan trọng đặc biệt đối với toàn bộ quá trình dạy học Trong kiểm tra
đánh giá, việc ra đề lại là công đoạn quan trọng nhất Trong bài Đề thi - “
Cái kích cho một cỗ máy nặng”, Giáo S Phan Trọng Luận viết: “Đề thi là một
khâu đột phá có thể giải quyết đợc nhiều vấn đề trọng đại của nền giáo dục"
Bộ trởng bộ Giáo dục Đào tạo từng khẳng định: Đề thi là th“ ớc đo trình độ văn minh của một nền giáo dục- đề thi là lực nắn cách dạy, cách học Ra đề thi sáng tạo thì tự nhiên đã diệt trừ tận gốc mọi trò phao thi, mọi lò luyện thi Trong nhà trờng sẽ học sáng tạo, dạy thông minh Thực học sẽ đợc phục hng,
h học sẽ bị đẩy lùi ”
Nh vậy đổi mới kiểm tra đánh giá đúng hớng sẽ là một cái kích ,“ ” góp phần nâng cao chất lợng, hiệu quả trong học tập, giúp các nhà quản lý hoạch
định giáo dục đánh giá đúng những mục tiêu đã đặt ra
B Nội dung
Trang 4I Thực trạng kiểm tra đánh giá trong nhà trờng THPT nói chung và trờng THPT Nho Quan C.
1) Thực trạng kiểm tra đánh giá trong nhà tr ờng THPT :
Có thể nói rằng trong tiến trình đổi mới dạy học môn Ngữ Văn chúng ta
đã đạt nhiều kế quả trong KTĐG từ nội dung hình thức ra câu hỏi đến ra đề kiểm tra, thi Nhng nhìn chung chúng ta cha có sự thay đổi một cách đồng bộ, toàn diện (trên cơ sở tìm tòi tiếp thu yếu tố mới, chắt lọc yếu tố tích cực của KTĐG trong quá khứ) Trong thời gian từ khi đa môn Ngữ Văn vào dạy học trong nhà trờng THPT nội dung của đề thi, đề kiểm tra, hình thức câu hỏi cha có những thay đổi lớn Cơ bản vẫn là những dạng câu hỏi tự luận có sẵn nội dung;
Kiểu nh: Phân tích, bình luận, giải thích một cách cứng nhắc, máy móc, mặc
dù chúng ta đều hiểu phân tích, bình luận, giải thích chỉ là một thao tác lập luận trong bài văn nghị luận Hơn nữa trớc sự bùng nổ của tài liệu tham khảo thì
cách ra đề nh vậy không phát huy đợc việc độc lập suy nghĩ, sự sáng tạo của riêng từng học sinh Hơn nửa thế kỉ ra đời Giáo dục THPT có sự phát triển song hình thức kiểm tra thờng xuyên (KTTX) vẫn không có gì thay đổi vẫn là đầu giờ giáo viên gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi, học bài cũ một cách máy móc,
đơn điệu Trong khi đó phơng pháp dạy học theo kiểu vấn đáp, thảo luận nhóm một vài năm trở lại đây đợc thực hiện phổ biến nh một sự bắt buộc, là nhân tố trung tâm quyết định của sự đổi mới dạy học môn Ngữ Văn - lấy học sinh làm trung tâm Chính sự đơn điệu trong KTTX lại là cản trở lớn trong đổi mới phơng pháp dạy học
Thời gian gần đây chúng ta đã áp dụng hình thức ra đề kiểm tra trắc nghiệm Phương phỏp này cú ưu điểm là kiểm tra kiến thức toàn diện, đỏnh giỏ khỏch quan, dễ ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong đỏnh giỏ, chống được hiện tượng học tủ, học lệch Tuy nhiờn, hạn chế rất lớn của phương phỏp này là khụng phỏt huy được tinh thần độc lập suy nghĩ, khả năng diễn đạt, sỏng
tạo của người học, kiến thức thiếu chiều sõu, khõu ra đề hay bị “lỗi”, ngõn hàng
đề thi khú đỏp ứng đủ nhu cầu
Không nói đâu xa lạ, đề thi tốt nghiệp THPT những năm gần đây cũng cha
có sự thay đổi Vẫn chỉ kiểm tra ở phần nghị luận văn học, nội dung kiểm tra chỉ xoay quanh vài chục đề trong sách giáo khoa (SGK) Làm văn, bó gọn trong vài chục tác phẩm của chơng trình đã đợc các thầy cô giáo và những ngời viết
tài liệu tham khảo “xào đi nấu lại” kĩ càng Khối lợng, tỉ lệ kiến thức qua các
đề thi hoàn toàn có thể đoán trớc:
Trang 5- Tỉ lệ 2/8 (mời năm trở về trớc) trong đó 20% điểm thuộc về một câu hỏi tái hiện kiến thức, 80% điểm thuộc về một câu hỏi tổng hợp - phát hiện, khái quát, rút ra ý nghĩa
- Tỉ lệ 2/3/5 (mời năn trở lại đây) trong đó 20% điểm thuộc về một câu
hỏi tái hiện kiến thức, 30% điểm thuộc về một câu hỏi phát hiện, khái quát; 50% điểm thuộc về một câu hỏi tổng hợp
Nói tóm lại thực trạng của việc ra đề môn Văn lâu nay đã bộc lộ nhiều hạn chế: nhà trờng phổ thông hiện nay, kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Văn của học sinh chủ yếu bằng đề tự luận, không phát huy đợc tính sáng tạo của học sinh trong tình hình mới Hình thức ra đề trắc nghiệm không áp dụng
đợc ở mọi câu hỏi trong đề kiểm tra vì nh vậy sẽ không kiểm tra đợc kĩ năng trình bày diễn đạt của học sinh Trong KTTX còn có những mâu thuẫn giữa yêu cầu thực hiện với tính khả thi Những hạn chế trên càng cho thấy sự cần thiết phải đổi mới việc ra đề văn ở THPT
2) Thực trạng kiểm tra đánh giá trong nhà trờng THPT Nho Quan C :
Cũng giống nh các trờng THPT khác, trờng THPT Nho Quan C cũng gặp phải những bất cập trong KTĐG nh đã nêu ở trên Hơn nữa nhà trờng lại mới
đ-ợc thành lập cha đầy 2 năm tuổi, đội ngũ giáo viên dạy Văn đa số còn trẻ về tuổi
đời và tuổi nghề (sáu giáo viên trẻ trên tổng số tám giáo viên dạy văn) Đa phần các giáo viên mới đợc tập hợp về từ nhiều trờng khác nhau Vì vậy kinh nghiệm giảng dạy cha nhiều; kĩ năng, kinh nghiệm ra đề kiểm tra đánh giá còn nhiều hạn chế, đôi khi cha tìm đợc tiếng nói chung thống nhất
Khắc phục những khó khăn nh vậy Nhóm Ngữ Văn của nhà trờng đã cố gắng xây dựng hệ thống câu hỏi, đổi mới hình thức trong KTTX, xây dựng ngân hàng đề KTĐG với những thay đổi về nội dung và hình thức, căn cứ trên năng lực của học sinh (học văn kém hơn so với các trờng trong tỉnh), căn cứ khung nội dung chơng trình, và yêu cầu đổi mới phơng pháp dạy học (thúc đẩysự tự giác sáng tạo của học sinh trong quá trình học) Phần này chúng tôi sẽ trình bày
cụ thể trong phần "Những đổi mới cần thiết trong KTĐG để thúc đẩy đổi mới phơng pháp dạy học môn Ngữ Văn trong nhà trờng THPT"
Trang 6II Nguyên nhân dẫn đến tồn tại trong kiểm tra đánh giá.
KTĐG là khâu cuối cùng trong chu trình dạy học, vì vậy KTĐG phụ thuộc nhiều vào các khâu trớc đó Có thể khẳng định về cơ bản chúng ta đã giải quyết
đợc rất nhiều khâu tạo tiền đề cho đổi mới KTĐG đi đúng mục tiêu, trong đó
đặc biệt đổi mới chơng trình nội dung SGK Mặc dù vậy theo chúng tôi vẫn tồn tại ở một số vấn đề khiến đổi mới kiểm tra đánh giá gặp khó khăn:
- Sự đổi mới còn cha đồng bộ ở tất cả các khâu, trong đó có KTĐG
- Cha có sự đầu t nghiên cứu (trao đổi, thảo luận, hội thảo chuyên đề) thoả
đáng về nội dung này từ phía giáo viên cũng nh phía nhà quản lí, nhà khoa học
- Qui mô lớp học quá lớn, so với yêu cầu của đổ mới phơng pháp dạy học
- Sức ì của giáo viên THPT là quá lớn – Phải chăng ảnh hởng từ thuộc tính bền vững của tri thức s phạm
- Trình độ của giáo viên cha ngang tầm với yêu cầu của đổi mới KTĐG
- Cha có sự chỉ đạo quyết liệt từ phía nhà quản lí giáo dục
- Trớc sự phát triển của các ngành giải trí, của văn hoá nghe nhìn, các bộ môn nghệ thuật khác, HS cha chú trọng học môn Ngữ Văn, dẫn đến kết quả KTĐG cha đạt yêu cầu đề ra
- Học sinh theo học các trờng đai học thuộc khối KHXHNV ra trờng cơ hội kiếm việc làm khó, cũng ảnh hởng tới tâm lí học môn Ngữ Văn
Với tất cả những tồn tại khách quan và chủ quan nói trên, KTĐG cha thực
sự là động lực điều chỉnh nội dung, phơng pháp, phơng tiện dạy học đặc biệt phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh
Trong những nguyên nhân trên, chúng tôi cho rằng những có khó khăn khách quan nh: qui mô lớp học, cha có sự chỉ đạo quyết liệt từ phía nhà quản lí giáo dục, sự lấn sân của văn hoá nghe nhìn thuộc tầm vĩ mô chờ sự vào cuộc của nhiều ngời, nhiều ngành Chủ quan về phía giáo viên làm công tác giảng
Trang 7dạy bộ môn ngữ văn trong nhà trờng THPT chúng tôi cho rằng mỗi giáo viên cần xác định rõ vai trò trách nhiệm của mình, không ngừng trau đồi trình độ
năng lực chuyên môn nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu đặt ra Chú trọng đổi mới nội dung và hình thức, quy trình KTĐG tạo sự thuận lợi trong đổi mới
phơng pháp thúc đẩy tích cực, sáng tạo trong học tập Sao cho học sinh thấy yêu môn Ngữ Văn hơn, môn Ngữ Văn thực sự có tác dụng trong việc giáo dục tâm hồn, hoàn thiện nhân cách cho các em
III Những đổi mới cần thiết trong KTĐG để thúc đẩy
đổi mới phơng pháp dạy học môn Ngữ Văn trong nhà
trờng THPT.
Căn cứ vào thực trạng tình hình dạy và học môn Ngữ văn trong khuôn khổ những hiểu biết, suy nghĩ, và kinh nghiệm thực tế chúng tôi mạnh dạn đa ra
những tổng kết, đề xuất, và cũng có thể là những ý tởng để mong đợc trao đổi,
Trang 8từ đó có những đổi mới trong kiểm tra đánh giá, tạo động lực thúc đẩy quá trình
đổi mới phơng pháp dạy học, góp phần đạt mục tiêu giáo dục Nội dung bao gồm:
- Đổi mới trong kiểm tra thờng xuyên (KTTX)
- Đổi mới trong kiểm tra định kì (KTĐK)
- Đổi mới trong thi tuyển sinh, thi tốt nghiệp
1- Đổi mới trong kiểm tra th ờng xuyên (KTTX):
a Cơ sở của đổi mới trong kiểm tra thờng xuyên
Trọng tâm của đổi mới phơng pháp dạy học Ngữ văn là lấy học sinh làm trung tâm, thúc đẩy tính tích cực, tự giác chiếm lĩnh tri thức trong học tập Để thực hiện thành công mục tiêu này chúng ta đã áp dụng nhiều phơng pháp trong giờ lên lớp theo đặc thù phân môn, nội dung bài học: Vấn đáp học sinh, trao đổi thảo luận, phát phiếu học tập Mặc dù vậy chúng ta thờng xuyên chứng kiến câu hỏi đặt ra không có hoặc ít học sinh trả lời, trong nhóm thảo luận học sinh
tham gia mang tính hình thức, không tích cực, thậm chí có học sinh không tham gia Có hiện tợng nh vậy là vì chúng ta cha tạo đợc động lực để cuốn hút học
sinh vào tiết học
Bản chất của con ngời là lời suy nghĩ, ngại tham gia vào các hoạt động xã hội, trong quá trình tơng tác đời sống xã hội, trớc nhu cầu tất yếu của cá nhân bản chất ấy mới mất đi Với học sinh cũng vậy, động lực học tập nếu chỉ ở chiếm lĩnh tri thức, sự hấp dẫn của nội dung bài học, không khí lớp học, tính có vấn đề do giáo viên đặt ra thì cha toàn diện, không thuyết phục; cha vợt qua cái ngỡng của việc lời suy nghĩ ở một bộ phận học sinh
Đặt vấn đề nh vậy chúng tôi cho rằng, tăng cờng KTTX ngay trong tiết học, tồn tại song song với cách kiểm tra đầu giờ nh truyền thống đó là cách tốt cải
thiện chất lợng giờ dạy theo hớng thúc đẩy sự tích cực sáng tạo từ phía học sinh Mặt khác việc đánh giá lấy điểm trong quá trình trả lời câu hỏi của học sinh, trong trao đổi thảo luận nhóm còn giải quyết đợc nhiều bất cập: thời gian thực dạy của 1 tiết học, đảm bảo đủ cơ số điểm theo quy định
Chúng ta đã biết theo quyết định số 40/2006/QĐ-BGDĐT, ngày 5 tháng 10 năm 2006 của bộ Giáo Dục - Đào Tạo về quy chế đánh giá xếp loại học sinh, yêu cầu nh môn Ngữ Văn chơng trình thuộc ban cơ bản dạy 3 tiết/1 tuần có số lần KTTX là 4, trong đó có 1 đến 2 lợt kiểm tra miệng Nh vậy sẽ có trung bìmh trong một học kì có 2 lợt điểm kiểm tra miệng, một lớp trung bình có 45-50 HS phải có 100 lợt học sinh đợc KT đầu giờ Đó là điều bất cập lớn, ai cũng biết, vậy mà bao năm nay chúng ta vẫn cố làm Số tiết trong phân phối chơng trình một học kì chỉ có 52 tiết, trừ đi số tiết KTĐK 8 tiết, 2 tiết kiểm tra 15 phút, 3 tiết bài mở đầu của các phân môn , 10 tiết do bố trí 2 tiết Ngữ văn liên tục Nh vậy sẽ có 23 tiết không thể kiểm tra miệng đầu giờ Còn lại 29 tiết đầu giờ có thể kiểm tra miệng theo cách truyền thống Trong tiết học để kiểm tra đợc 2-3 học sinh mất tối thiểu 12-15 phút Thời gian còn lại của tiết học
30 - 33 phút, không thể hoàn thành tốt tất cả mọi phần việc của bài dạy
Trang 9Với những lí do trên tăng cờng cho điểm trong tiết học không chỉ giải quyết bài toán về thời gian, đảm bảo cơ số điểm, mà còn tạo động lực thúc đẩy quá trình tích cực học tập Với hình thức kiểm tra nh vậy còn thúc đẩy quá trình trao
đổi, thảo luận, rèn luyện kĩ năng giao tiếp, khả năng trình bày trớc tập thể Đáp ứng yêu cầu của Giáo dục học hiện đại - rèn luyện kĩ năng giao tiếp trong cuộc sống cho học sinh
b Hình thức trong đổi kiểm tra thờng xuyên
Hình thức kiểm tra, đánh giá cho điểm trong tiết học có nhiều cách:
- Giáo viên ra câu hỏi, học sinh trả lời, giáo viên nhận xét đánh giá và cho điểm:
Việc đánh giá cho điểm có thể căn cứ vào một lần trả lời câu hỏi, cũng có thể căn cứ kết quả trả lời nhiều câu hỏi trong tiết học sau đó mới quyết định cho
điểm Tất nhiên ở những câu hỏi quyết định cho điểm phải có sức khái quát tổng hợp cao, cần sự đầu t suy nghĩ và năng lực sáng tạo của học sinh Căn cứ vào sự tích cực tham gia trả lời câu hỏi và chất lợng trả lời câu hỏi trong suốt tiết học
để đánh giá cho điểm học sinh có tác dụng tích cực hơn ở hình thức này đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị hệ thống câu hỏi một cách khoa học (trong một câu hỏi bao gồm: phát hiện chi tiết, hệ thống chi tiết tái hiện hình tợng, khái quát nội dung, rút ra ý nghĩa từ nội dung) Nhạy cảm trớc các nội dung tình huống trả lời của học sinh Ghi nhớ quá trình học sinh tham gia phát biểu xây dựng bài
- Cho điểm thông qua thảo luận nhóm trong tiết học :
Nh trên đã nói trao đổi thảo luận nhóm là bớc đột phá trong đổi mới phơng pháp dạy học Trao đổi thảo luận thúc đẩy quá trình chiếm lĩnh tri thức một cách sâu sắc, đa chiều đặc biệt là rèn luyện kĩ năng làm việc theo nhóm Đặc thù của phơng pháp này là trớc một vấn đề mọi thành viên đa ra ý kiến sau đó th kí tổng hợp trình bày trớc tập thể lớp, giáo viên chốt lại hoàn thiện nội dung kiến thức Không ai phủ nhận đợc u điểm của phơng phấp dạy học này Xong thực thi có hiệu quả thì cha đợc nhiều, nhiều học sinh còn chây lời ỉ lại Phải chăng chúng
ta cha tạo đợc động lực làm việc cho sinh?
Qua tiến hành thể nghiệm trên một số tiết giảng tại 2 lớp học 12B và 12E của trờng THPT Nho Quan C tỉnh Ninh Bình Chúng tôi chia mỗi lớp thành 6 nhóm, thực hiện với cùng một giáo án có nội dung trao đổi thảo luận nhóm,
nh-ng khác nhau về cách thực hiện tại 2 lớp Tại lớp 12B đặt ra tình huốnh-ng có vấn
đề yêu cầu học sinh thảo luận, th kí trình bày trớc lớp Tại lớp 12E cũng tơng tự
nh vậy chỉ khác sau khi các nhóm trả lời giáo viên có đánh giá cho điểm theo nhóm (mỗi tiết học chọn cho điểm 1 nhóm không báo trớc), trong đó có cộng
khuyến khích cho th kí trình bày nội dung thảo luận tốt Kết quả thật bất ngờ, học sinh lớp 12E tham gia thảo luận tích cực, trong nhóm tự phát hiện thúc đẩy những thành viên lời suy nghĩ, thậm chí nhiều học sinh mong đợc làm th kí để trình bày nội dung thảo luận Kết quả sau tiết dạy học sinh hiểu, cảm nhận sâu sắc nội dung bài dạy Tiến hành liên tục nh vậy trong các giờ dạy ở học kì I năm học 2008 - 2009 chúng tôi nhận thấy sự thay đổi cách biệt thông qua kết quả, tỉ
Trang 10lệ học sinh khá và trung bình 12E = 80%, cao hơn so với lớp 12B = 69,2% Nh vậy nếu cho điểm thông qua trả lời câu hỏi thảo luận chúng ta đã tạo động lực học tập tích cực ở học sinh - chìa khoá của đổi mới PPDH
Thực ra cách cho điểm trong giờ học thông qua TĐTLN cũng không phải là mới, nhiều thầy cô cũng đã tthực hiện chỉ có điều chúng ta cha có điều kiện nghiên cứu, tổng kết rút ra kinh nghiệm Tại một số nớc trong đó có ốtxtrâylia, trong giờ học, học sinh xuống phòng học Văn, ở đó các em tự đọc tác phẩm sau
đó trao đổi thảo luận Sau khi đọc và tranh luận các em trình bày ý kiến cá nhân
về văn bản, giáo viên đánh giá cho điểm Thầy giáo chuyển điểm trực tiếp về gia
đình, không công bố trớc lớp Tất nhiên chúng ta không thể làm nh vậy song cách KTĐG nh đã thực hiện với lớp 12E đâu đó cũng có nét tơng đồng, sự gặp
gỡ với cách KTĐG ở ốtxtrâylia
Chúng tôi cho rằng cách KTĐG này đợc áp dụng, chúng ta sẽ bắn một mũi tên trúng nhiều đích: một là phát huy tính tích cực, sáng tạo ở học sinh; hai là giải quyết bài toán bị câu thúc về thời gian truyền thụ tri thức tới học sinh mà cách KTĐG truyền thống cha làm đợc; ba là rèn luyện kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng trình bày vấn đề trớc tập thể
- Trong KTTX còn rất nhiều cách nh: KTĐG cho điểm thông qua phiếu học tập, qua kiểm tra đầu giờ học, kiểm tra 15 phút kết hợp vấn đáp với tự luận
(phần này chúng tôi sẽ trình bày lồng ghép ở phần bài KTĐK) Chúng tôi cho
rằng không có một cách nào là có tính vạn năng và nhất thành bất biến, mỗi cách có những u, nhợc điểm riêng vấn đề là những nhà s phạm phải làm chủ kĩ năng sử dụng PPKTĐG, có sự phối hợp hài hoà trong sử dụng PPKTĐG thúc
đẩy quá trình học tập của học sinh đạt đợc mục tiêu giáo dục
2-Đổi mới kiểm tra định kì (KTĐK)
a) Những vấn đề chung
* Phân ra KTTX với KTĐK chúng tôi coi trọng yếu tố định danh hơn nội hàm tên gọi Vì chúng ta đều biết trong KTTX, ở đề kiểm tra 15 phút có cả kiểu câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi tự luận
* Chúng tôi cũng chỉ cố gắng trình bày những gì thuộc về những vấn đề mới
đang trong quá trình hình thành để đi đến khẳng định tính đúng đắn
* Thực chất KTĐGĐK đảm bảo tuân thủ quy trình phức tạp bao gồm nhiều vấn đề:
Nội dung KTĐGĐK bao gồm nhiều vấn đề trong đó phải đảm bảo tính
toàn diện (về kiến thức, kĩ năng, thái độ - trong kiến thức có phát hiện, khái
quát, rút ra ý nghĩa, vận dụng ).
Về hình thức, phơng pháp KTĐG:
+ Phải kết hợp KTĐG của giáo viên với hoạt động tự KTĐG của học sinh + KTĐG qua bài tập, bài soạn về nhà
+ Kết hợp tốt KTĐG bằng câu hỏi tự luận, kết hợp với câu hỏi TNKQ
Tổ chức tốt việc ra đề, coi và chấm thi: