Từ thực trạng thực hiện pháp luật nêu trên, luận án chỉ ra những bất cập, hạn chế của pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước: i quy định về các loại nghĩa vụ tài chính cụ thể vẫn ch
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của Pgs.Ts Phạm Thị Giang Thu và Pgs.Ts Nguyễn Thị Nga Các số liệu, minh chứng trong luận án đều được trích dẫn nguồn trung thực Những kết luận của luận án chưa được ai công bố trong công trình khoa học nào
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 7
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
CỦA LUẬN ÁN 7
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 7
1.2 Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và các vấn đề luận án cần nghiên cứu 17
1.3 Cơ sở lý thuyết của luận án 21
1.4 Về hướng tiếp cận của luận án 25
Chương 2 27
LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT VÀ VỀ PHÁP LUẬT NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 27
2.1 Lý luận về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước 27 2.2 Lý luận pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước 46
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước 55
Chương 3 69
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT 69
ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 69
3.1 Thực trạng pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay 69
3.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay 116
Chương 4 128
Trang 5ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 128 4.1 Quan điểm và định hướng hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay 128 4.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước 133 KẾT LUẬN 149 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
BĐS : Bất động sản
GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tào sản khác gắn liền với đất KTTT : Kinh tế thị trường
NSDĐ : Người sử dụng đất
NVTC : Nghĩa vụ tài chính
QSDĐ : Quyền sử dụng đất
SHTD : Sở hữu toàn dân
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đất đai là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế của các quốc gia Ở Việt Nam, đất đai là tài sản công và quyền quản lý, thu lợi của Nhà nước đối với tài sản công được chế định bằng pháp luật đất đai Đất đai được khai thác, sử dụng hiệu quả hay không phụ thuộc vào mức độ vốn hóa để chuyển tài nguyên thành tài sản, thành vốn Đảm bảo quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng tài sản công của mọi chủ thể trong nền kinh tế chính là đảm bảo công bằng cả về kinh tế và xã hội của các chủ thể trong quan hệ đất đai Trong bốn công cụ quản lý của các lý thuyết
về quản lý đất đai hiện nay [14], công cụ tài chính đất đai giữ vai trò cân bằng lợi ích của các bên một cách trực tiếp nhất
Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI)
- Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31 tháng 10 năm 2012 đã xác định hoàn thiện pháp luật về tài chính đất đai là một nội dung cần thực hiện trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Tiếp tục thực hiện mục tiêu này, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị Trung ương 5 Khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường ở Việt Nam đã định hướng yêu cầu cải cách với những tiêu chí rõ ràng; cụ thể “cải cách mạnh mẽ chính sách tài chính về đất đai theo hướng đơn giản, ổn định, công khai, minh bạch và công bằng”[26] là một trong các nhiệm vụ trước mắt
Tính đến hết 31/12/2018, diện tích đất đưa vào sử dụng ở nước ta là 93.7% tổng diện tích đất tự nhiên [88] Thu ngân sách từ đất giai đoạn 2013 – 2018, chiếm
tỉ trọng trung bình khoảng 14,4% thu nội địa Từ sau khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực, tỉ lệ thu ngân sách từ đất trên tổng thu nội địa tăng đáng kể cả về tổng thu lẫn tỉ
lệ phần trăm; Cụ thể từ 11,1% (năm 2013), 11,4% (năm 2014) lên 13.3% (năm 2015), 15,9% (năm 2016), 16,8% (năm 2017) và 17,9% (năm 2018) Nội dung thu ngân sách từ đất hiện tập trung chủ yếu vào nghĩa vụ tài chính (NVTC) của người
sử dụng đất (NSDĐ) đối với Nhà nước Mặc dù kết quả thu ngân sách từ đất luôn tăng cao trong những năm gần đây nhưng nguồn thu mang yếu tố quyết định lại không ổn định, thiếu bền vững Thuế thu từ đất có cơ sở thu ổn định nhưng mức thu lại thấp, tỉ trọng thu thuế đất trên tổng thu từ đất chưa đến 1,3%, thấp hơn chi phí quản lý thuế Theo một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới thì chi phí hoạt động quản lý thuế của Việt Nam chiếm đến 2% tổng thu từ thuế [29] Như vậy, thuế đất
Trang 8đai hiện nay không đủ để bù đắp chi phí hành thu Ngược lại, tiền sử dụng đất là khoản thu ngân sách từ đất chiếm tỉ trọng lớn nhất, trung bình khoảng 70% nguồn thu ngân sách từ đất nhưng cơ sở thu không bền vững Gần đây nhất, báo cáo số 42/BC-KTNN ngày 11 tháng 5 năm 2020 của Kiểm toán Nhà nước về quyết toán ngân sách năm 2018 cho thấy thu ngân sách năm 2018 bằng 110,7% năm 2017, song kết quả tăng thu nội địa chủ yếu từ thu tiền sử dụng đất Tiền sử dụng đất chỉ thu được một lần cho một diện tích đất cụ thể, không thu hàng năm Với tỉ lệ đất tự nhiên đã đưa vào sử dụng cao như hiện nay, tương lai thu từ đất trong tương lai sẽ giảm mạnh, không bảo đảm quyền kinh tế của chủ sở hữu đất
Tình hình hoạt động quản lý, sử dụng đất tại các địa phương từ năm 2013 đến năm 2020 [102] qua thanh tra của Thanh tra Chính phủ và kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước [101] cho thấy tồn tại những hạn chế trong quy định về NVTC của NSDĐ và sai phạm trong thực thi pháp luật Hầu hết các địa phương đều xảy ra tình trạng thất thu ngân sách từ đất, phổ biến là xác định không đúng NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước, tính không đúng, không đủ, chậm thu, chậm nộp mà không phạt chậm nộp Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ thực trạng pháp luật NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước chưa hoàn thiện Quy định về xác định NVTC như loại đất, đơn giá, chu kỳ giá, thuế suất… còn nhiều bất cập Thực trạng pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước vẫn còn nhiều kẽ hở và khoảng trống pháp lý dẫn tới gian lận, trốn và tránh thực hiện pháp luật Thực hiện pháp luật còn tồn tại tình trạng không tuân thủ, không thi hành pháp luật từ phía NSDĐ và áp dụng pháp luật không chính xác từ phía cơ quan quản lý đất đai, cơ quan thuế NSDĐ trốn và tránh thực hiện NVTC đất đai, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, không làm thủ tục hợp pháp để trốn nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, thuế thu nhập
Cơ quan quản lý đất đai và cơ quan thuế áp dụng pháp luật còn nhiều sai phạm như: không ký hợp đồng thuê đất, không làm phiếu chuyển thông tin địa chính nên không thể xác định NVTC của NSDĐ, tính không đúng, không đủ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế, áp dụng quy định miễn giảm không đúng đối tượng Tất cả thực trạng trên đã và đang gây thất thu ngân sách Nhà nước từ đất ở Việt Nam
đất đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay là rất cấp thiết Nghiên cứu này sẽ góp
phần giải quyết những tồn tại trong thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về tài chính đất đai Công cụ tài chính trong quản lý đất đai được hoàn thiện sẽ phát huy tốt nguồn lực đất đai, thúc đẩy quá trình vốn hóa đất đai được hiệu quả
Trang 92 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về nghĩa vụ tài
chính và lý luận về pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước: Cụ thể phân tích làm rõ các cơ sở lý thuyết về nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của NSDĐ; vai trò của tài chính về đất trong quản lý đất đai, đặc điểm pháp luật về NVTC của NSDĐ; tiêu chí, nguồn luật, cơ cấu nội dung của pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp
luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất trong bối cảnh cải cách tài chính đất đai để hướng tới hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN Luận án tập trung phân tích nội dung các quy định về thời điểm phát sinh nghĩa vụ, phạm vi nghĩa vụ, thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ, trình tự thủ tục thực hiện từng loại tiền trong nhóm NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước
Thứ ba, trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và những khó khăn, hạn chế,
nguyên nhân, yêu cầu điều chỉnh pháp luật, luận án đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu các lý thuyết kinh tế về địa tô của Karl Marx, lý thuyết
về đánh thuế đất đai của Adam Smith, Henry George để làm tiền đề cho lý luận về pháp luật NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Thứ hai, nghiên cứu các quy định pháp luật về NVTC của NSDĐ từ Luật đất
đai năm 1987 đến pháp luật hiện hành và thực trạng pháp luật
Thứ ba, nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật NVTC của NSDĐ đối với
Nhà nước ở một số tỉnh thành và kết quả hành thu tài chính đất đai trên phạm vi cả nước
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Do tính chất phức tạp và rộng lớn của đề tài, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở việc đi sâu phân tích, tìm hiểu các quy định hiện hành về nghĩa vụ tài chính
Trang 10của NSDĐ đối với Nhà nước, gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất và lệ phí trước bạ
Về không gian: nghiên cứu việc thực hiện pháp luật trên phạm vi cả nước;
Về thời gian: Do quyết toán ngân sách Nhà nước được thực hiện chậm hơn
so với năm hành thu khoảng hai (02) năm nên số liệu thu ngân sách từ đất được sử dụng trong khoảng thời gian từ 2013 đến 2018
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa và phương pháp luật học so sánh
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng khi đánh giá thực trạng pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước để rút ra những kết luận, nhận định tổng quát; làm cơ sở cho xây dựng quan điểm và đề xuất giải pháp hoàn thiện
- Phương pháp hệ thống hóa được sử dụng trong toàn bộ các chương của luận án nhằm trình bày các nội dung, vấn đề theo một bố cục hợp lý, gắn kết
- Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chương trong luận án để luận giải các vấn đề đặt ra từ lý luận đến thực tiễn về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước
- Phương pháp luật học so sánh được sử dụng vào chương 2 và chương 4 của luận án Trên cơ sở quy định của các quốc gia trên thế giới về NVTC của chủ đất đối với Nhà nước, luận án rút ra những điểm tương đồng, khác biệt, so sánh để đánh giá được những ưu, nhược điểm của pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà
nước ở Việt Nam; trên cơ sở đó xây dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật
5 Những điểm mới của luận án
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu liên quan đến NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước, với sự nghiên cứu độc lập và nghiêm túc, luận án có những đóng góp khoa học sau đây:
- Thứ nhất, luận án đã tổng hợp và xây dựng một cách hệ thống những vấn
đề lý luận về nghĩa vụ tài chính và lý luận pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước Các lý thuyết kinh tế về địa tô của K Mark, lý thuyết về đánh thuế đất đai của Adam Smith và Henry Goerge được phân tích để luận giải cơ sở thu, cơ sở hình thành nghĩa vụ tài chính của NSDĐ đối với Nhà nước Bên cạnh đó, luận án còn làm rõ đặc điểm, cơ cấu nội dung pháp luật, tiêu chí, nguồn của pháp luật và các yếu tố tác động đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước Dựa trên cơ sở lý thuyết, luận án đề xuất cơ sở xây dựng cấu trúc
Trang 11từ đất” trong pháp luật hiện hành, làm cơ sở xây dựng quy định các khoản thu cụ thể
- Thứ hai, luận án đã phân tích thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về
nghĩa vụ tài chính của NSDĐ đối với Nhà nước Dựa trên xây dựng cấu trúc nội dung pháp luật NVTC của NSDĐ, luận án đánh giá thực trạng quy định của pháp luật về nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập
từ chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí đất đai
Một trong những điểm mới của luận án chính là cách thức tiếp cận thực trạng pháp luật về các khoản thu từ đất mà NSDĐ phải nộp Luận án phân tích quy định theo cơ cấu nội dung pháp luật về NVTC của NSDĐ mà luận án đã xây dựng ở phần lý luận Quy định của pháp luật về nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất (QSDĐ) và lệ phí đất đai phải được làm rõ theo cơ cấu: thời điểm phát sinh nghĩa vụ, phạm vi nghĩa vụ (mức nộp, giá đất, cách xác định), cơ sở thu, thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ, thủ tục thực hiện, chính sách miễn giảm
Từ thực trạng thực hiện pháp luật nêu trên, luận án chỉ ra những bất cập, hạn chế của pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước: (i) quy định về các loại nghĩa vụ tài chính cụ thể vẫn chưa bao quát hết các cơ sở thu, chưa bảo đảm tính ổn định, minh bạch, công bằng và thực tiễn hành thu vẫn tồn tại nhiều gian lận, thất thoát; (ii) thất thoát tiền sử dụng đất do quy định về nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất còn bất cập; (iii) thất thoát tiền thuê đất do công tác quản lý đất đai lỏng lẻo và thiếu quy định điều chỉnh; (iv) thuế thu nhập từ chuyển nhượng QSDĐ hiện nay có cơ sở thuế không thống nhất giữa Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật thuế thu nhập
cá nhân; (v) quy định về NVTC của NSDĐ chưa điều chỉnh kịp thời những sản phẩm BĐS mới phát sinh trên thị trường hiện nay
- Thứ ba, luận án đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước, phù hợp với mục tiêu cải cách tài chính đất đai và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay: (i) xây dựng các loại nghĩa vụ tài chính có cơ sở thu là giá trị tăng thêm từ đất bằng công cụ thuế, bổ sung thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm; (ii) bổ sung chế tài trong trường hợp chậm xác định NVTC; (iii) hoàn thiện quy định về thủ tục cho thuê đất để quy định thống nhất thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp tiền thuê đất; (iv) hoàn thiện quy định đơn giá thuê đất trả tiền hàng năm không thông qua đấu giá theo hướng xác định theo từng năm tài chính; (v) các giải pháp tránh thất thoát tiền thuê đất; (vi) thuế sử dụng đất cần quy định thuế suất ở mức hợp lý hơn, phù hợp với cơ sở thu; (vii) thống nhất quy định cơ sở thuế của thuế thu nhập từ chuyển nhượng QSDĐ của cá
Trang 12nhân và doanh nghiệp là như nhau theo hướng đánh trên thu nhập ròng để bảo đảm nhất quán với bản chất thuế này; (viii) hoàn thiện cơ sở dữ liệu địa chính và hình thức thanh toán trong giao dịch đất đai Những giải pháp luận án đưa ra bao quát từ
cơ sở thu đến thủ tục thực hiện, từ quy định chung đến quy định cụ thể
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Thứ nhất, về mặt lý luận, luận án là công trình khoa học nghiên cứu một cách
hệ thống các vấn đề từ cơ sở lý thuyết, lý luận đến thực trạng pháp luật về nghĩa vụ tài chính của NSDĐ đối với Nhà nước Luận án đã tổng hợp, vận dụng các lý thuyết của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển như lý thuyết kinh tế về địa tô, lý thuyết về đánh thuế đất đai để luận giải cơ sở hình thành NVTC đất đai của NSDĐ Cơ sở lý luận cho pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước cũng được luận án làm
rõ Những nghiên cứu về mặt lý luận của luận án có thể góp phần giúp các nhà nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các nguyên tắc, tiêu chí của NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước khi sửa đổi, bổ sung Luật đất đai năm 2013
Thứ hai, về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực
tiễn thực hiện pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước của luận án đã chỉ
ra những bất cập, vướng mắc, khoảng trống trong điều chỉnh pháp luật hiện nay Luận án đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về NVTC đối của NSDĐ với Nhà nước; gợi mở cho các nhà lập pháp tham khảo như một quan điểm đề xuất sửa đổi Luật đất đai năm 2013
7 Cơ cấu của luận án
Luận án gồm có: Phần mở đầu; Bốn chương; Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo;
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của luận án Chương 2: Lý luận về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất và về pháp luật nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước
Chương 3: Thực trạng pháp luật và đánh giá việc thực hiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CỦA LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Trong phần tổng quan, luận án chỉ tập trung trình bày kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan tới các vấn đề cơ bản mà luận án nghiên cứu, cụ thể như:
những vấn đề lý luận về tài chính đất đai và nghĩa vụ tài chính, cơ sở lý thuyết của nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện các khoản thu tài chính đất đai ở Việt Nam Trên cơ sở tóm tắt
kết quả của các công trình nghiên cứu, luận án đánh giá những vấn đề đã được các tác giả giải quyết, những vấn đề luận án kế thừa và những vấn đề luận án cần làm sáng tỏ
1.1.1 Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến những vấn đề lý luận
nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của người sử dụng đất
Chính sách tài chính đất đai và nghĩa vụ tài chính của NSDĐ là hai thuật ngữ pháp lý được sử dụng phổ biến trong pháp luật đất đai hiện hành Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, không có văn bản pháp luật nào giải thích hay định nghĩa hai thuật ngữ nêu trên một cách đầy đủ, trọn vẹn Khái quát tình hình nghiên cứu cho thấy các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã tập trung vào các vấn
Trang 14quyền sử dụng đất; đồng thời chưa có chính sách tài chính hữu hiệu để chống đầu
cơ đất
+ Sách “Bí ẩn của vốn” của tác giả, do Nguyễn Quang A dịch, xuất bản bởi
Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, năm 2016, đã nêu lên những luận điểm liên quan đến tác động hữu cơ giữa sở hữu đất đai với vốn hóa đất đai Người dân ở những nước chậm phát triển thường không có quyền pháp lý đối với đất đai ở mức cao, chỉ tiệm cận ít hay nhiều với sở hữu mà thôi Khi quyền tài sản bị giới hạn, ví dụ như người dân sinh sống trên một bất động sản mà họ không có quyền sở hữu, thì khả năng vốn hóa đất đai là rất thấp Đó sẽ chỉ là những tài sản chết, không thể lưu thông và chuyển hóa thành vốn Ngược lại, những khu vực giải phóng các nguồn lực, trong đó có đất đai, khỏi những ràng buộc thể chế thì đất đai có thêm các thuộc tính động, vốn hóa dễ dàng
+ Đề tài cấp Bộ “Cơ chế tài chính phục vụ quản lý đất đai ở nước ta” năm
1996 do PTS Phạm Đức Phong, Cục trưởng Cục quản lý công sản (Bộ Tài chính) làm chủ nhiệm đề tài đã phân tích một cách khoa học những cơ chế tài chính phục
vụ quản lý đất đai ở nước ta từ năm 1955 đến 1996 và đưa ra những định hướng nhằm tăng cường và hoàn thiện cơ chế tài chính phục vụ quản lý đất có tính khả thi như sau: Định giá đất đai theo hướng đưa vào các yếu tố khả năng sinh lợi, quan hệ cung cầu về đất khắc phục tình trạng định giá đất theo yếu tố chủ quan Theo đó Nhà nước xác định giá đất cụ thể cho các trường hợp sản xuất kinh doanh, xây dựng nhà ở có khả năng sinh lợi cao; giá đất bồi thường khi thu hồi đất và giá đất ở những nơi nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng Nghiên cứu cũng đề xuất quá trình sử dụng đất, nhà nước chỉ nên thu thuế sử dụng đất đối với đất giao và tiền thuê đất đối với đất thuê Bên cạnh đó, cần điều tiết thu nhập có được từ chuyển quyền SDĐ bằng thuế thu nhập Đối với thuế sử dụng đất nên thực hiện tính thuế dựa vào giá trị đất Tuy nhiên, đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian Luật đất đai năm 1993 còn hiệu lực nên hầu hết các vấn đề nhóm nghiên cứu đề xuất đến nay đã được quy định trong pháp luật hiện hành
+ Đề tài cấp Nhà nước “Thể chế về đất đai trong quá trình phát triển đất nước” năm 2015 do PGS.TS Nguyễn Cúc, Học Viện chính trị Khu vực I làm chủ
nhiệm đề tài đã nghiên cứu các lý thuyết hiện đại về quan hệ đất đai và thể chế đất đai của Việt Nam từ trước đến nay Đề tài cũng đề cập đến các chính sách có liên quan trong đó có chính sách tài chính đất đai Tuy nhiên, đề tài chỉ bàn sâu và bao quát những bất cập đối với chính sách tài chính đất đai giai đoạn từ năm 2003 đến
Trang 15năm 2013 Giai đoạn sau khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực được đề tài quan tâm đề xuất liên quan đến thuế đất, định giá đất và giám sát tài chính đất đai Nghiên cứu của tác giả có ý nghĩa đối với luận án trong nhận thức mối liên hệ, tương quan giữa chính sách tài chính về đất đai với các chính sách khác
+ Sách chuyên khảo“Vốn hóa đất đai trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” năm 2013 của PGS.TS Trần Thị Minh Châu,
do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản đã đưa ra những phân tích và nhận định về một
số loại nghĩa vụ tài chính đất đai của người sử dụng đất dưới cái nhìn của vốn hóa đất đai như sau: i) Quyền thực thi các chính sách tài chính đối với đất như thu các loại thuế là quyền có tính hai mặt: một là quyền của Nhà nước với tư cách là cơ quan công quyền thu thuế từ đất nhằm huy động nguồn tài chính phục vụ hoạt động của Nhà nước (là nội dung của chính sách tài chính đất đai) và hai là Nhà nước thực hiện quyền thu địa tô về cho chủ sở hữu; ii) Thuế thu nhập từ chuyển nhượng quyền
sử dụng đất là phương thức hợp lý nhất để Nhà nước thu vừa với tư cách là người quản lý, vừa với tư cách là nhà đầu tư xã hội để phân phối lại lợi ích từ đất đai không do đầu tư mà có; iii) Chính sách tài chính được xây dựng theo hướng thu ngân sách từ tiền sử dụng đất tăng cả về quy mô và tốc độ đã chứng tỏ Nhà nước tích cực chuyển tài sản đất thành tiền để đầu tư lĩnh vực khác
+ Luận án tiến sĩ “Pháp luật về hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất”
của Trần Quang Huy năm 2008 cũng đã đề cập đến một trong các loại nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của người sử dụng đất, đó là tiền sử dụng đất Tuy nhiên, đề tài chủ yếu tập trung vào cơ chế giá áp dụng trong giao đất là giá giao chỉ định do
Ủy ban nhân quy định và giá đấu giá khi thực hiện phương thức giao đất thông qua đấu giá, đấu thầu các dự án có sử dụng quỹ đất Các quy định được luận án nghiên cứu, làm sáng tỏ đều là Luật đất đai năm 2003 và hiện tại cũng đã được sửa đổi
+ Luận án tiến sĩ “Pháp luật về kinh doanh bất động sản ở Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2012 của tác giả Vũ Anh cũng đề cập đến
giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bất động sản, trong đó có giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật điều tiết thị trường bất động sản bằng công
cụ tài chính thông qua các luật thuế về bất động sản Luận án cũng đề xuất thống nhất luật thuế sử dụng đất và hoàn thiện quy định về tiền sử dụng đất
+ Luận án tiến sĩ “Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân” của tác giả Huỳnh
Văn Diện năm 2016 đã nghiên cứu một cách hệ thống thuế thu nhập cá nhân, đánh giá thực trạng thu thuế mà trọng tâm là thực tiễn tại địa bàn Thành phố Cần Thơ
Trang 16Tuy nhiên, nghiên cứu được thực hiện trên tất cả các khoản thu nhập chịu thuế của
cá nhân mà không chuyên sâu vào thu nhập từ chuyển QSDĐ Nghiên cứu có giá trị cho luận án tham khảo những nhận thức chung về thuế thu nhập cá nhân
Thứ hai, về cơ sở cho việc hình thành nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước
+ Đề tài cấp Bộ “Lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề ruộng đất và vận dụng nó vào hoàn thiện Luật đất đai Việt Nam” năm 2006 do PGS.TS
Nguyễn Đình Kháng, Viện Kinh tế Chính trị học (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) làm chủ nhiệm đã nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận, trong đó
có cơ sở lý thuyết hình thành quyền tối cao của chủ sở hữu đất ở Việt Nam; những vận dụng của Việt Nam qua các thời kỳ trong xây dựng chính sách đất đai Nghiên cứu có giá trị to lớn đối với luận án trong việc tiếp thu những nhận thức quan trọng
về lý thuyết kinh tế địa tô của Mác trong luận giải cơ sở hình thành tài chính đất đai
+ Sách chuyên khảo “Kinh tế tài nguyên đất” năm 2002 do Pgs.Ts Ngô Đức
Cát chủ biên, Nxb Nông nghiệp xuất bản, là công trình nghiên cứu ở góc độ kinh tế học về đất đai Nghiên cứu đã chỉ ra một số lý thuyết kinh tế có thể ứng dụng trong quản trị đất đai Mặc dù không xem xét vấn đề ở góc độ luật học nhưng nghiên cứu
có giá trị lớn đối với luận án trong xây dựng cơ sở lý thuyết, góp phần giúp luận án phát triển phần lý luận và luận giải cho quyền thực hiện về mặt kinh tế của chủ sử hữu đất bằng quy định nghĩa vụ tài chính cho NSDĐ
+ Bài viết “Cơ sở hình thành các chính sách kinh tế trong quản lý đất đai theo cơ chế thị trường” của tác giả Hoàng Văn Cường đăng trên Tạp chí Địa chính,
số 2 năm 2006 đã khái quát được mối liên hệ giữa chính sách kinh tế và sự thay đổi các quyền năng về đất đai Bên cạnh đó, bài viết cũng khẳng định và phân tích vấn
đề phân phối địa tô chính là cơ sở hình thành chính sách đất đai Trong chính sách đất đai, giá đất giữ vai trò quan trọng trong chính sách cung về đất còn chính sách thuế lại giữ vai trò trong kiểm soát cầu về đất đai
+ Bài viết “Tác động của chính sách thuế đến thị trường bất động sản” của
tác giả Phạm Hữu Hồng Thái đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 9 – Tháng 9/2017 đã chỉ ra vai trò của thuế đối với giá nhà đất Bài viết cũng đã nêu các lý thuyết kinh tế chính liên quan đến vai trò của thuế đối với thị trường bất động sản (BĐS)
Thứ ba, về một số nghĩa vụ tài chính đất đai cụ thể của các quốc gia trên thế giới có thể so sánh, gợi mở cho Việt Nam
Trang 17+ Sách tham khảo “Thuế tài sản – Kinh nghiệm thế giới và hướng vận dụng tại Việt Nam” năm 2003 của TS Qúach Đức Pháp và Ths Dương Thị Ninh, do
NXB Chính trị quốc gia xuất bản trình bày khái lược quy định và các khoản thu từ đất ở Việt Nam giai đoạn trước năm 2003 Nghiên cứu này đã gợi mở cho luận án những so sánh vận dụng vào Việt Nam một loại nghĩa vụ tài chính mà một số quốc gia khác trên thế giới đã áp dụng – đó là thuế tài sản đối với đất
+ Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở lý luận và quy định về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai của một số quốc gia trên thế giới, rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam” năm 2012 của tác giả Trần Tú Cường, Viện Chiến lược, Chính sách
Tài nguyên môi trường (Bộ Tài nguyên và môi trường) làm chủ nhiệm đề tài đã nghiên cứu về sở hữu đất đai của các quốc gia điển hình như Cộng hòa Liên Bang Nga, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Cộng hòa Malaysia, Trung Quốc
và Nhật Bản Từ vấn đề sở hữu đất đai của từng quốc gia, đề tài đã nghiên cứu quyền của Nhà nước lên việc sở hữu, sử dụng đất của công dân trong đó có quyền thu thuế về đất đai và bán đất công Tuy chỉ đề cập đến các khoản thu từ đất không nhiều nhưng nghiên cứu của tác giả có ý nghĩa cho luận án trong việc tham khảo để liên hệ, so sánh với Việt Nam trong xây dựng nghĩa vụ tài chính của NSDĐ
1.1.2 Các công trình khoa học liên quan đến thực trạng pháp luật nghĩa vụ tài
chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước
+ Bài viết “Khai thác nguồn thu từ bất động sản (đất đai) cho ngân sách Nhà nước trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Lê Văn Bính đăng trên Tạp chí Nghiên
cứu Kinh tế số 1 (452) năm 2016 đã khái quát tình hình thu tài chính đất đai trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2014 và những tồn tại trong việc thực hiện thu ngân sách từ đất Bài viết đưa ra nhưng đánh giá khái quát về thực tiễn thu tài chính đất đai ở Việt Nam: hệ thống các công cụ tài chính chưa đủ mạnh; kết quả thu cũng như vai trò điều tiết thị trường chưa hiệu quả; nguồn lực tài chính đất đai chưa được huy động đầy đủ; chính sách thuế đất đai chưa đồng bộ với các chính sách về đăng ký, thanh toán giao dịch; xử lý nghĩa vụ tài chính chưa tốt; chưa giao, cho thuê đất qua đấu giá một cách triệt để
+ Bài viết “Tài chính đất đai: Một số vấn đề cần quan tâm” của Ts Đinh
Dũng Sỹ - Phó Vụ trưởng Vụ pháp luật, Văn phòng Chính phủ, được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 21(137), tháng 12/2008 đã nêu khái quát thực trạng pháp luật về các khoản thu tài chính liên quan đến đất đai theo Luật đất đai 2003 bao gồm: thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, tiền sử dụng đất, thuế tài
Trang 18nguyên, tiền thuê đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất Đối với từng khoản thu cụ thể, bài viết đã đưa ra một số nhận xét khái quát và những định hướng cải cách như sau: i) cần cải cách cơ bản căn cứ và phương pháp tính thuế sử dụng đất nông nghiệp; ii) Nêu quan điểm không nên có khoản thu tiền sử dụng đất bởi khó xác định bản chất khoản thu tiền sử dụng đất và đặt khoản thu này bên cạnh các khoản thuế, lệ phí sẽ dẫn đến sự không bình đẳng trong nghĩa vụ tài chính của hai nhóm đối tượng được Nhà nước cho thuê đất và giao đất, nên gộp vào thuế hoặc lệ phí Bài viết cũng cho rằng có sự bất bình đẳng giữa đối tượng được Nhà nước giao đất
có thu tiền với đối tượng được Nhà nước cho thuê đất; vì đối tượng được giao đất ngoài nộp tiền sử dụng đất còn phải nộp thuế sử dụng đất, trong khi đối tượng thuê đất không phải nộp thuế này (iii) Đề xuất gộp chung thuế sử dụng đất nông nghiệp với thuế nhà đất (iv) Cho rằng thuế sử dụng đất đã mang màu sắc của thuế tài sản, nếu xây dựng Luật Thuế tài sản mà không xác định rõ phạm vi thì sẽ trùng với các luật thuế sử dụng đất
+ Bài viết “Kiểm toán thu tiền sử dụng đất tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, thực trạng và kiến nghị” của tác giả Nguyễn Văn Hiệu
– Phòng nghiệp vụ 2, Kiểm toán Nhà nước Khu vực IV, được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu khoa học kiểm toán, số 48 tháng 10/2011 đã khẳng định còn rất nhiều những bất cập, sai phạm trong thực hiện chính sách thu tiền sử dụng đất, cụ thể như sau: (i) Tính tiền sử dụng đất theo đơn giá thấp hơn đơn giá thực hiện nghĩa vụ tài chính tại thời điểm có quyết định giao đất, thời điểm bàn giao đất thực tế như quy định của pháp luật gây thất thu cho ngân sách Nhà nước; (ii) Xác định không đúng
vụ trí thửa đất, dẫn đến áp đơn giá tính tiền sử dụng đất thấp hơn mức quy định như đất vừa giáp mặt tiền, vừa giáp hẻm nhưng tính theo giá đất trong hẻm; Một số trường hợp cơ quan Tài nguyên Môi trường làm phiếu chuyển thông tin địa chính không chính xác; (iii) Khấu trừ tiền bồi thường giải phóng mặt bằng của diện tích đất giao không thu tiền sử dụng đất vào tiền sử dụng đất phải nộp của diện tích đất giao có thu tiền không đúng quy định; (iiii) Có trường hợp giao đất với mục đích là đất ở nhưng thời hạn giao dưới 70 năm là trái với quy định tại Điều 66 Luật đất đai
2003 (ổn định lâu dài) đã làm giảm nghĩa vụ tài chính của các chủ đầu tư với ngân sách Nhà nước, trong khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ổn định lâu dài
+ Bài viết “Những bất cập trong chính sách đối với nguồn thu tiền sử dụng đất và thuế đất ở Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Phó Viện trưởng Viện
Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường – Bộ Tài nguyên và môi trường
Trang 19được đăng trên tạp chí Quản lý kinh tế, số 46 (3+4/2012) đã khái quát chính sách thuế đất và thu tiền sử dụng đất trên cơ sở quy định của Luật đất đai năm 2003 gồm: thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế thu nhập từ chuyển QSDĐ, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước, lệ phí trước bạ nhà đất Bài viết chỉ nêu các văn bản điều chỉnh các khoản thu nói trên mà không trình bày, phân tích quy định pháp luật về tài chính đất đai Tuy nhiên, tác giả đã nêu lên một số bất cập trong các chính sách trên như: sự bất cập giữa các nghị định và thông tư dẫn đến có những hiểu sai và khó thực hiện trong triển khai thực tế; thu tiền thuê đất có sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước; thất thu ngân sách khi
áp giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành trong giao đất qua hình thức chỉ định; chưa có chính sách phù hợp để tăng nguồn thu điều tiết từ phần giá trị tăng thêm của đất do Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, quy hoạch khu thương mại, đô thị
Trên cơ sở những phân tích trên, bài viết đã đề xuất hướng giải quyết những bất cấp cụ thể như: i) Cần ban hành một luật thuế chung về sử dụng đất, thống nhất thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế nhà đất; ii) Giá đất để tính thuế phải sát với giá đất giao dịch trên thị trường và không cứng nhắc; iii) Không nên coi nguồn thu nghĩa vụ tài chính từ đất đai là mục tiêu của quản lý, thay vào đó cần có quan điểm hàng đầu là phát triển quỹ đất, tạo cơ chế cho doanh nghiệp hoạt động tốt, tạo ra thế công bằng hợp lý là có ý thức đầu tư dài hạn
+ Bài viết “Doanh nghiệp chuyển nhượng bất động sản ở Việt Nam: Khe hở pháp luật và khuyến nghị” của tác giả Ngô Thị Hồng Ánh đăng trên Tạp chí Công
Thương, Số 1 – Tháng 1 năm 2020, “Thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản” của tác giả Thanh Bình đăng trên Tạp chí Tài nguyên và Môi trường Tháng 2/2017, “Gian lận thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản” của tác giả Trần Thế Hệ đăng trên Tạp chí Luật sư Việt Nam số 4 năm 2016, Giải pháp nào chống lách thuế, gian lận thuế thu nhập cá nhân trong hoạt động chuyển nhượng bất động sản” [99] của tác giả Ths Lê Hà Diễm Chi, Trường Đại học Tôn
Đức Thắng được đăng trên website của Tạp chí tài chính ngày 07/4/2012 đã đề cập đến những điểm chưa hoàn thiện của thuế thu nhập từ chuyển QSDĐ Theo đó, người tham gia giao dịch chuyển quyền có thể lách luật để chỉ phải trả loại thuế này
ở mức thấp nhất Bài viết đã chỉ ra các cách thức lách luật để trốn hoặc giảm thuế như lách thuế dựa vào phương pháp tính thuế, lách thuế dựa vào các trường hợp miễn thuế Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những gợi ý cho giải pháp chống lách thuế thu nhập từ chuyển QSDĐ
Trang 20+ Bài viết “Cơ sở thu thuế đối với giá trị đất tăng thêm do Nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng” của GS.TS Dương Thị Bình Minh – Trường Đại học Kinh tế
TP Hồ Chí Minh và Ths Nguyễn Thị Mỹ Linh – Trường Đại học Công nghiệp TP
Hồ Chí Minh được đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế, tháng 6/2011 đã đặt vấn đề
về giá trị gia tăng của đất từ các công trình giao thông được đầu tư bởi Nhà nước vẫn chưa được phân bổ hợp lý, chưa mang lại nguồn thu bù đắp cho ngân sách Nhà nước Bài viết cho rằng giá trị đất tăng thêm trong trường hợp này cần được được phân bổ một cách đúng mức giữa lợi ích của nhân dân và lợi ích của Nhà nước Từ
đó tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, đồng thời góp phần tái tạo nguồn vốn đầu tư cho các công trình hạ tầng và bồi thường xứng đáng cho những tổ chức và cá nhân bị thiệt thòi do giải tỏa, bảo đảm thực hiện công bằng xã hội
Bài viết liệt kê hệ thống thuế và thực trạng pháp luật về thuế đánh trên giá trị tăng thêm của đất gồm thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng đất, thuế thu vào hoạt động thừa kế, tặng cho QSDĐ Tác giả khẳng định Việt Nam hiện chưa có chính sách điều tiết địa tô chênh lệch hợp lý đối với các diện tích đất
có khả năng sinh lợi tăng đột biết sau khi được Nhà nước đầu tư hạ tầng Nhằm giải quyết bất cập trên, bài viết nghiên cứu và đề xuất giải pháp thu thuế giá trị đất tăng thêm nhằm điều tiết một phần “thu nhập” từ giá trị đất tăng thêm do Nhà nước đầu
tư cơ sở hạ tầng mang lại với mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và thực hiện công bằng xã hội
+ Nghiên cứu “Unlocking land values to finance urban infrastructure” (Giải
phóng giá trị đất đai cho đầu tư cơ sở hạ tầng) năm 2009 của tác giả George E Peterson (World Bank and Public-Private Infrastructure Advisory Facility) bàn về vấn đề huy động tài chính từ đất đai đầu tư cho cơ sở hạ tầng đô thị ở các quốc gia trên thế giới Theo nghiên cứu này, nhiều quốc gia kể cả phát triển như Anh, Mỹ… đến các quốc gia đang phát triển đều sử dụng công cụ tài chính để huy động nguồn lực đất đai vào phát triển hạ tầng đô thị Cuốn sách đã trình bày chính sách tài chính đất đai của các quốc gia trên thế giới như chính sách thuế, định giá, đấu giá để khai thác tài chính đất đai với các loại thuế như thuế bù đắp tác động, thuế đánh vào phần giá trị tăng thêm từ đất, thuế khu vực lân cận Tác giả cũng đưa ra những đánh giá, phân tích những hạn chế của các quy định về tài chính đất đai ở các quốc gia được viện dẫn Nghiên cứu này có giá trị rất lớn cho luận án trong tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia, vận dụng vào Việt Nam để xây dựng đề xuất của luận án đối với nội dung điều tiết giá trị tăng thêm từ đất không do chủ đất đầu tư
Trang 21+ Nghiên cứu “Tax reform in Vietnam: toward a more efficient and equitable system” (Cải cách thuế ở Việt Nam: hướng tới một hệ thống hiệu quả và
công bằng) của Ngân hàng thế giới (World Bank) do nhóm tác giả Gangadha Prasad Shukla, Phạm Minh Đức, Michael Engelschalk, Lê Minh Tuấn đồng chủ biên thực hiện năm 2011 đã nghiên cứu về thuế đất đai và tài sản ở Việt Nam Nghiên cứu có
ý nghĩa rất lớn đối với luận án trong nhận thức lý luận về thuế trên phần giá trị gia tăng từ đất Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng gợi mở cho luận án một quan điểm khác
về đánh thuế thu nhập từ cho thuê bất động sản, hướng tới việc hoàn thiện quy định pháp luật về thuế liên quan đến đất đai theo hướng kích thích sử dụng đất hiệu quả
và đánh thuế công bằng
+ Nghiên cứu “Vietnam development 2011: natural resourses management”
(Báo cáo phát triển Việt Nam 2011: Quản lý tài nguyên thiên nhiên) của Ngân hàng thế giới (World Bank) đã nêu ra một trong bốn nội dung cần đổi mới để nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thị trường đất đai là phải tăng cường quản lý thuế đối với đất đai và bất động sản Theo nghiên cứu này, Việt Nam chưa có thuế bất động sản đánh trên giá trị Hoạt động định giá đất của Nhà nước sẽ khó bảo đảm bằng giá thị trường do thiếu bằng chứng về thanh toán thực tế trong các giao dịch mua bán Phần lớn ngân sách địa phương phụ thuộc vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất chứ không phải từ tiền thu thuế đất
và bất động sản Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho rằng Việt Nam theo đuổi mục tiêu đơn giản hóa trong xác định thuế nên đã sử dụng giá đất do Ủy ban nhân dân ban hành, nguy cơ gây ra những méo mó cho phát triển kinh tế
+Nghiên cứu “Recognizing and reducing corruption risks in land management in Vietnam” (Nhận diện và giảm thiểu các rủi ro dẫn đến tham nhũng
trong quản lý đất đai ở Việt Nam) của Ngân hàng thế giới (World Bank) năm 2010 tập trung nghiên cứu những nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến tham nhũng trong quản lý đất đai ở Việt Nam Có một luận điểm được nêu liên quan đến đề tài luận án, đó là việc xác định giá đất để giao và cho thuê đất không bảo đảm sự độc lập nên sẽ khó khách quan Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan quyết định giao đất, đồng thời là chủ thể chủ trì thẩm định và quyết định giá đất Họ không chịu sự giám sát bên ngoài cho việc thẩm định và quyết định giá và tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng
1.1.3 Các công trình khoa học liên quan đến hoàn thiện pháp luật nghĩa vụ tài
chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước
+ Đề tài cấp Nhà nước “Sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” năm 2015 do PGS.TS
Trang 22Vũ Văn Phúc - Chủ nhiệm đề tài đã nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực hiện pháp luật đất đai ở ba nội dung: sở hữu, quản lý và sử dụng đất Nghiên cứu đã đề xuất không sử dụng thuật ngữ “người sử dụng đất” trong Luật đất đai, mà thay bằng thuật ngữ “chủ đất” cho các chủ thể sử dụng hiện nay Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề xuất mở rộng quyền của NSDĐ trong Luật đất đai để đồng bộ với các quyền về tài sản trong Bộ Luật dân sự
+ Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách phân phối giá trị tăng thêm từ đất do quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nhằm sửa đổi Luật đất đai 2003” năm 2012 của Tổng cục quản lý đất
đai, do Phan Văn Thọ làm chủ nhiệm đề tài phân tích các khoản thu từ đất theo Luật đất đai 2003, chỉ ra những cơ sở thu là giá trị tăng thêm Nghiên cứu này hướng tới giải quyết vấn đề vốn hóa đất đai và thực hiện quyền của chủ sở hữu đất đai đối với phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do chủ sử dụng đất đầu tư mang lại Các giá trị tăng thêm là đối tượng nghiên cứu được xác định là các giá trị tăng thêm từ đất do quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất và đầu tư phát triểm kết cấu hạ tầng Nghiên cứu này có đối tượng nghiên cứu là quy định của Luật đất đai năm
2003 và hướng tới hoàn thiện luật này Trong các giải pháp đề xuất của đề tài, luận
án đã tiếp thu và kế thừa quan điểm xây dựng chính sách thuế chuyển mục đích sử dụng đất Pháp luật hiện hành quy định chuyển mục đích sử dụng đất thì NSDĐ phải nộp tiền sử dụng đất mà không phải là thuế Giải pháp hoàn thiện pháp luật của nghiên cứu này đã gợi mở để luận án tiếp tục xây dựng giải pháp cụ thể, như một phần giải pháp chung hoàn thiện pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước
+ Bài viết “Đưa tài nguyên đất đai thành nguồn lực phát triển của đất nước”
của PGS.TS Nguyễn Cúc đăng trên Tạp chí Tài nguyên và môi trường, Kỳ 2 –Tháng 10/2015 tập trung nghiên cứu hoàn thiện về thể chế sở hữu, quản lý, sử dụng đất từ nguồn tài nguyên trở thành nguồn lực, nguồn vốn để phát triển đất nước Tác giả đề xuất tiếp tục duy trì chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai nhưng cần chế định ba hình thức sở hữu gồm: (i) sở hữu Nhà nước đối với đất đai phục vụ mục tiêu công cộng, quốc phòng an ninh…(ii) sở hữu tập thể và sở hữu cộng đồng; (iii)
sở hữu ruộng đất của hộ nông dân và đất ở của cư dân nông thôn, cư dân thành thị Bài viết cũng có các giải pháp cụ thể để chuyển hóa nguồn tài nguyên đất đai thành nguồn vốn Luận án đã tiếp thu và kế thừa quan điểm của tác giả trong xây dựng giải pháp liên quan đến điều tiết thu nhập từ sử dụng đất đai vào ngân sách Nhà nước Cụ thể, tác giả đã đề xuất xây dựng thuế chuyển mục đích sử dụng đất thay
Trang 23cho tiền sử dụng đất khi NSDĐ chuyển mục đích sử dụng đất của mình
1.2 Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
và các vấn đề luận án cần nghiên cứu
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu bàn về nghĩa vụ tài chính của NSDĐ đối với Nhà nước ở mức độ khái quát chung và ở mức cụ thể về một loại nghĩa vụ hoàn toàn không phải là mới Tuy nhiên pháp luật về NVTC trong các nghiên cứu trên thường được xem xét, nghiên cứu như là phần ngọn của các nghiên cứu về sở hữu đất đai, về vốn hóa đất đai, về thể chế kinh tế thị trường hay nghiên cứu giá trị tăng thêm từ đất Cho nên, trong các công trình nghiên cứu tổng quát về sở hữu đất đai, về vốn hóa, về giao đất, cho thuê đất, về thuế sử dụng đất hay các nghiên cứu theo khía cạnh hẹp, chúng ta đều thấy ít nhiều bàn về một hoặc một nhóm các NVTC của NSDĐ Hầu hết các nghiên cứu liên quan đến tài chính đất đai đều không tiếp cận trực diện NVTC của NSDĐ mà chỉ xem xét đánh giá quy định này như một thước đo các vấn đề về sở hữu, vốn hóa đất đai hay thể chế kinh tế với vấn
đề tuân thủ quy luật thị trường
1.2.1 Những nội dung nghiên cứu liên quan được luận án kế thừa
Thứ nhất, những nội dung liên quan đến cơ sở lý luận nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước được luận án kế thừa
Một là, luận án đã tiếp thu cơ sở lý thuyết hình thành tài chính đất đai và
NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước; gồm các lý thuyết kinh tế về địa tô, lý thuyết
về đánh thuế đất đai của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển K.Mark, Henry George Theo các lý thuyết này, Nhà nước có quyền điều tiết về mặt kinh tế các lợi ích có được từ việc sử dụng đất của chủ thể khác Đây là cơ sở cho việc thực hiện quyền kinh tế đối với đất đai của chủ sở hữu đất Với hình thức sở hữu đất đai của Việt Nam và dưới góc độ luật học, đây cũng chính là một trong những cơ sở quan trọng hình thành nên NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước Những nội dung này được luận
án tổng hợp và kế thừa để hoàn chỉnh nhận thức về cơ sở lý thuyết hình thành pháp luật về NVTC của NSDĐ
Hai là, tài chính đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng và được coi là phần
hồn của chính sách đất đai nói chung trong việc đưa quan hệ đất đai vận động theo
cơ chế thị trường Pháp luật về NVTC của NSDĐ là công cụ quan trọng để thực hiện công bằng trong tiếp cận đất đai, động viên công bằng về mặt kinh tế giữa các chủ sử dụng đất và điều tiết thị trường bất động sản Kết luận trên chính là nội dung luận án kế thừa từ kết quả nghiên cứu của các công trình về sở hữu đất đai, vốn hóa
Trang 24đất đai, thể chế kinh tế thị trường Các công trình này đã giúp luận án có được những nhận thức cơ bản về vai trò của tài chính đất đai trong quản lý đất đai, phát triển thị trường bất động sản, trong thực hiện công bằng xã hội và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Ba là, các quốc gia với các chế độ sở hữu đất khác Việt Nam đã có những
chính sách tài chính đất đai khác nhau nhưng tựu trung đều đánh trên giá trị đất và giá trị tăng thêm từ đất Tùy quan điểm lập pháp mà các quốc gia điều tiết, động viên kinh tế từ chủ đất ở những mức độ cao thấp khác nhau với tên gọi nghĩa vụ tài chính khác nhau như thuế BĐS, thuế giao dịch BĐS, thuế đất, thuế đánh vào giá trị tăng thêm, thuế thu nhập từ mua bán BĐS, thuế bù đắp tác động Đây là những
nội dung được luận án kế thừa từ kết quả nghiên cứu của nhóm các công trình liên
quan đến sở hữu đất đai ở Việt Nam, chính sách đất đai của các quốc gia trên thế giới trong đó có chính sách thuế đất, chính sách điều tiết giá trị tăng thêm từ đất để phát triển hạ tầng đô thị Cùng với kết luận trên, các nghiên cứu này cũng gợi mở cho luận án những thông tin cần thiết để so sánh đối chiếu với Việt Nam Nhìn chung, những nghiên cứu này giúp luận án có được cách nhìn nhận và đánh giá vấn
đề bao quát và toàn diện
Thứ hai, những nội dung liên quan đến thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất với Nhà nước được luận án kế thừa
Một là, giá trị tăng thêm từ đất khi khả năng sinh lợi tăng được thể hiện
bằng giá trị tính thành tiền Gía trị tăng thêm từ đất mang lại không do NSDĐ tạo ra
sẽ thuộc về chủ sở hữu đất Người sử dụng đất chỉ được hưởng những giá trị tăng thêm từ đất do chính họ đầu tư Vì thế, mọi giá trị tăng thêm từ đất sẽ thuộc về Nhà nước sau khi trừ đi phần giá trị thuộc về NSDĐ Đây chính là nguồn thu ngân sách Nhà nước, được phân phối trở lại cho toàn xã hội thông qua pháp luật về tài chính, ngân sách
Hai là, quy định thu tiền sử dụng đất cho trường hợp chuyển mục đích sử
dụng đất (với cách tính là 100% phần chênh lệch giữa giá của mục đích sử dụng mới với giá của mục đích sử dụng cũ) góp phần tăng thu ngân sách, quản lý đất đai hiệu quả; nhưng không phù hợp với thị trường quyền sử dụng đất NSDĐ nhận chuyển quyền và chuyển mục đích là các hoạt động ở thị trường thứ cấp, nên sử dụng công cụ phân phối gián tiếp để điều chỉnh Việc sử dụng công cụ điều tiết của
Trang 25thị trường sơ cấp là phân phối trực tiếp (tiền sử dụng đất, tiền thuê đất) đối với giao dịch ở thị trường thứ cấp là không phù hợp
Ba là, chính sách thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất chưa thực hiện
điều tiết có hiệu quả đối với giá trị tăng thêm từ đất không do NSDĐ tạo ra
Bốn là, thực trạng thực hiện pháp luật về NVTC của NSDĐ tồn tại vấn đề
không tuân thủ, thi hành pháp luật như trốn thuế và tránh thuế đất đai Việc áp dụng pháp luật cũng còn nhiều bất cập, giá đất trong xác định NVTC của NSDĐ chưa phù hợp với giá trị thị trường của đất Các kết quả nghiên cứu này được luận án sử dụng để viện dẫn và minh chứng khi phân tích và giải thích, lập luận hay nêu quan điểm của chính luận án như một ý kiến đồng thuận hay trái chiều Điều này có giá trị rất lớn cho luận án có được những đánh giá luật thực định, đánh giá việc thực hiện pháp luật một cách toàn diện hơn
Thứ ba, những nội dung liên quan đến các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước được luận án
kế thừa
Một là, hầu hết các nghiên cứu liên quan đến tài chính đất đai, đến thị trường
bất động sản, đến thể chế KTTT hay vốn hóa đất đai đều đưa ra yêu cầu hoàn thiện giá đất làm cơ sở tính nghĩa vụ tài chính Các nghiên cứu đều đề xuất giá đất trong tính giao, thuê, thuế đất là giá đất trên thị trường, tránh tình trạng thất thu ngân sách
từ đất Tuy nhiên, một giải pháp mang tính triệt để làm thay đổi cục diện về giá đất như các nhà nghiên cứu mong muốn thì chưa được đề cập và điều này đã được thực tiễn chứng minh Các nghiên cứu về chính sách giá thường tập trung sâu vào nguyên tắc và phương pháp xác định giá đất để nhằm đạt được một mức giá tiệm cận giá thị trường Những giải pháp của các nghiên cứu trên có giá trị rất lớn đối với luận án trong việc xác định hướng hoàn thiện chính sách giá đất Theo đó, luận án
sẽ không hoàn thiện chính sách giá đất theo hướng tập trung vào nguyên tắc và phương pháp định giá
Hai là, có những nghiên cứu đưa ra đề xuất xây dựng thuế tài sản đánh đối
với đất như tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 Khóa XII đã nêu Hiện nay thuế sử dụng đất ở Việt Nam cũng mang bản chất của thuế tài sản Đề xuất trong các công trình nghiên cứu chưa làm rõ được nội hàm đạo luật thuế mới có gì khác so với chính sách đang triển khai Năm 2018, Bộ Tài chính đã xây dựng Dự thảo Luật Thuế tài sản Khi Dự thảo được công khai đã tạo ra các luồng quan điểm trái chiều mạnh mẽ và dư luận phản ứng tiêu cực từ xã hội Từ góc độ khoa học luật và cơ sở
Trang 26lý thuyết đã nghiên cứu, luận án vẫn tiếp thu những quan điểm của cơ quan xây dựng dự thảo Luật thuế tài sản để xây dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước
Ba là, có 02 nghiên cứu đề xuất xây dựng thuế chuyển mục đích sử dụng đất
thay cho thu tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích Có nghiên cứu chỉ đưa ra đề xuất này ở mức độ định hướng, chưa đưa ra được nội dung của thuế Có nghiên cứu đưa ra mức thuế suất 40-60% tính trên giá đất của mục đích sử dụng mới Đây cũng
là một gợi mở cho luận án trong phát triển ý tưởng để hoàn thiện pháp luật về NVTC của NSDĐ ở Việt Nam hiện nay
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Bên cạnh tiếp thu những kết quả đạt được từ các công trình nghiên cứu có liên quan đến nghĩa vụ tài chính của NSDĐ, luận án cần phải giải quyết được các
vấn đề sau:
Thứ nhất là về mặt lý luận, luận án phải tiếp tục nghiên cứu các nội dung còn
bỏ ngỏ liên quan đến cơ sở lý luận về NVTC đối với Nhà nước của NSDĐ gồm: (i) Khái niệm, đặc điểm, vai trò của NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước; (ii) Khái niệm, đặc điểm pháp luật về NVTC của NSDĐ; (iii) Các nguyên tắc, tiêu chí của pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước; (iv) Cơ cấu nội dung pháp luật
về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước, dùng làm căn cứ xây dựng, đánh giá thực trạng pháp luật; (v) Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước và (vi) Nguồn luật của pháp luật về NVTC của NSDĐ
Thứ hai là về thực trạng pháp luật, luận án phải làm rõ thực trạng pháp luật
về từng loại nghĩa vụ cụ thể mà NSDĐ phải nộp theo cơ cấu nội dung pháp luật về NVTC của NSDĐ được luận án xây dựng ở phần cơ sở lý luận Quy định của pháp luật về nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập
từ chuyển quyền SDĐ và lệ phí đất đai phải được làm rõ theo cơ cấu: thời điểm phát sinh nghĩa vụ, phạm vi nghĩa vụ (mức nộp, giá đất, cách xác định), cơ sở thu, thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ, thủ tục thực hiện, chính sách miễn giảm
Thứ ba là về kiến nghị hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả thực hiện
NSDĐ đối với Nhà nước để đề xuất giải pháp hoàn thiện ở hai cấp độ:
Một là, luận án phải đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định chung về tài chính
đất đai trong Luật đất đai Quy định hiện hành về thuật ngữ tài chính đất đai là cơ sở xây dựng quy định về NVTC của NSDĐ Tuy nhiên, nội hàm tài chính đất đai gồm
Trang 27các nghĩa vụ cụ thể nào thì chưa có nghiên cứu nào làm rõ Về mặt quy định pháp luật, nội dung này còn nhiều bất cập
Hai là, luận án phải đưa ra giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật đối
với từng loại nghĩa vụ tài chính cụ thể Trên cơ sở thực trạng pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước, luận án phải đề xuất giải pháp cho những bất cập còn tồn tại theo ba nhóm: (i) Bãi bỏ, sửa đổi những quy định hiện hành về nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí đất đai; (ii) Căn cứ cơ sở thu NVTC, đề xuất bổ sung khoản thu mới và điều chỉnh khoản thu không phù hợp; (iii) giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước
1.3 Cơ sở lý thuyết của luận án
1.3.1 Lý thuyết nghiên cứu
Các lý thuyết nghiên cứu được sử dụng trong luận án gồm có:
Một là, lý thuyết kinh tế về địa tô của các nhà kinh tế học mà trọng tâm là lý
thuyết kinh tế về địa tô của Karl Marx (1818-1883)
Theo Karl Marx (1818-1883) thì “địa tô là toàn bộ số tiền mà nhà tư bản trả cho người sở hữu ruộng đất theo hợp đồng để được phép sử dụng tư bản của mình vào ruộng đất của người đó Số tền trả thường được tính theo năm Đương nhiên số tiền trả đó được hình thành một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn riêng của chủ ruộng hay nhà tư bản theo mặt bằng chung về mức lợi nhuận trong toàn nền kinh tế Số tiền đó dù là trả về ruộng đất canh tác, hay đất xây dựng, hầm mỏ, ngư trường, rừng gỗ đều được gọi
là địa tô”[19,tr.246] Ngoài nghiên cứu địa tô thu được trên đất nông nghiệp, K Marx còn nghiên cứu địa tô đất xây dựng, địa tô hầm mỏ, địa tô lũng đoạn Theo ông, dù biểu hiện ở loại hình nào thì địa tô cũng “là hình thái theo đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế, tức là đem lại thu nhập cho người sở hữu ruộng đất đó”[12,tr.38] Cho nên với tư cách là đại diện thực hiện quyền của chủ sở hữu đất, Nhà nước được quyền điều tiết địa tô khi chuyển giao đất cho chủ sử dụng
Hai là, châm ngôn về thuế của Adam Smith (1723-1790) Theo đó thuế có tác
dụng tăng nguồn thu của chính phủ và điều tiết các hoạt động kinh tế Adam Smith
đã đưa ra bốn châm ngôn về thuế để động viên kinh tế từ nhân dân
Ba là, lý thuyết về đánh thuế đất đai của Henry Goerge (1839-1897) Xuất
phát từ đặc điểm cung về đất bị cố định, đường cung về đất không co giãn, Henry George đã chỉ ra mức thuế đối với đất đai cố định không làm thay đổi mức địa tô
Trang 28mà người sử dụng đất phải trả Các chủ đất sẽ chịu đánh thuế vào đất đai cố định còn chính phủ sẽ thu được phần tô kinh tế thuần túy
Đây là những lý thuyết kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng các quy định pháp luật về các khoản thu từ đất và điều chỉnh các quan hệ đất đai ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam
1.3.2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
(1) Về khía cạnh lý luận
- Câu hỏi nghiên cứu: Nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước
là gì? Cơ sở hình thành nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước?
Giả thuyết nghiên cứu: Nghĩa vụ tài chính của NSDĐ trong quan hệ pháp
luật đất đai không chỉ phát sinh với Nhà nước mà còn phát sinh với NSDĐ khác hoặc định chế tài chính trung gian Luật đất đai có quy định NSDĐ phải thực hiện
“nghĩa vụ tài chính” (Điều 170 Luật đất đai năm 2013) nhưng không có bất kỳ giải thích nào về nội hàm của loại nghĩa vụ này Từ trước đến nay, Luật đất đai chưa định nghĩa chính xác về NVTC đối với Nhà nước của NSDĐ Nếu dựa vào quy định thu tài chính từ đất đai, có thể hiểu tương ứng với quyền thu tài chính từ đất của Nhà nước là NVTC của NSDĐ Tuy nhiên, nội dung quy định của luật hiện hành lại không nhất quán được nội hàm của tài chính đất đai để làm cơ sở xác định nghĩa vụ tương ứng của NSDĐ
Nhà nước trong quan hệ đất đai hiện nay vừa có tư cách của đại diện chủ sở hữu đất, vừa có tư cách của chủ thể quản lý xã hội Từ góc độ chủ sở hữu đất, Nhà nước được quyền thu địa tô khi chuyển đất cho người khác sử dụng Từ góc độ của chủ thể quản lý xã hội và có quyền quản lý mọi tài nguyên quốc gia trong đó có tài nguyên đất, Nhà nước tự thân có quyền thu thuế Để đất đai được khai thác, sử dụng hiệu quả, Nhà nước cần đưa ra mức động viên kinh tế từ đất hợp lý dưới hình thức nghĩa vụ tài chính của NSDĐ Công cụ tài chính hiện nay là một trong bốn công cụ
để thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai Vì vậy, nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đóng vai trò quan trọng trong quản lý đất đai, góp phần thực hiện công bằng trong tiếp cận đất đai và phân bổ hợp lý lợi ích giữa Nhà nước và người sử dụng đất, đảm bảo quyền thu lợi của Nhà nước đối với tài sản công và tạo nguồn thu thường xuyên, ổn định cho ngân sách Nhà nước
- Câu hỏi nghiên cứu: Các tiêu chí và cơ cấu nội dung pháp luật về nghĩa vụ tài
chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước?
Trang 29Giả thuyết nghiên cứu: Một trong các giải pháp được Hội nghị Trung ương 5
Khóa XII đề ra để thực hiện nhiệm vụ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường là “Cải cách mạnh mẽ chính sách tài chính về đất đai theo hướng đơn giản, ổn định, công khai, minh bạch và công bằng”
+ Pháp luật về NVTC của NSDĐ phải minh bạch: Các quy định phải rõ ràng,
đầy đủ, nhất quán để tránh tình trạng lách luật từ cả chủ thể quản lý lẫn chủ thể sử dụng
+ Pháp luật về NVTC của NSDĐ phải đơn giản, dễ tính toán nhưng chính
xác: Vì là khoản thu từ đất nên tính chính xác là đòi hỏi tất yếu;
+ Pháp luật về NVTC của NSDĐ phải bảo đảm sự công bằng giữa những
NSDĐ: Đây là khoản thu mang tính chất động viên ngân sách từ nguồn lực đất đai,
do đó nếu không bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể sử dụng đất trong thực hiện loại nghĩa vụ tài chính này thì sẽ không khuyến khích và tạo động lực cho họ trong việc khai thác các giá trị đất đai, dẫn tới quản lý đất đai không hiệu quả
+ Pháp luật về NVTC của NSDĐ phải ổn định: Tính ổn định sẽ giúp hoạt
động hành thu trên thực tế ít bị xáo trộn và sai sót trong áp dụng pháp luật Bên cạnh đó, tính ổn định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất sẽ góp phần tạo sự bình đẳng cho NSDĐ, tránh tình trạng điều kiện giống nhau nhưng thực hiện nghĩa vụ tài chính này ở thời điểm khác nhau (dù cách nhau khoảng thời gian ngắn) mà lợi ích hoàn toàn cách biệt
Pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước phải đảm bảo cơ cấu nội dung gồm thời điểm phát sinh nghĩa vụ, phạm vi NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước, thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ và thủ tục thực hiện
(2) Về khía cạnh luật thực định
- Câu hỏi nghiên cứu: Thực trạng pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ tài chính của
người sử dụng đất đối với Nhà nước?
Giả thuyết nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về
nghĩa vụ tài chính của NSDĐ đối với Nhà nước ngày một hoàn thiện, đảm bảo khai thác hiệu quả tiềm lực đất đai Tuy nhiên, pháp luật về đất đai nói chung và pháp luật về NVTC nói riêng có tính ổn định thấp Điều này cũng tạo ra sự không bình đẳng giữa những NSDĐ trong việc phải động viên kinh tế cho NSNN Các loại nghĩa vụ tài chính đất đai cụ thể hiện nay gồm có: tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển QSDĐ và lệ phí đất đai Tên gọi các loại nghĩa vụ cụ thể này không thay đổi so với các luật đất đai trước đây, nhưng cách
Trang 30tính, căn cứ tính, đối tượng được điều chỉnh khác Nội hàm thuật ngữ “nghĩa vụ tài
chính” của NSDĐ đối với Nhà nước trong pháp luật hiện hành cần được quy định rõ và
phù hợp với nội dung thu tài chính về đất đai Quy định về NVTC thu trên phần giá trị tăng thêm từ đất không do đầu tư của NSDĐ mang lại vẫn còn bất cập: (i) giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của NSDĐ mang lại khi thì được điều tiết bằng khoản thu mang tính chất thuế, khi thì không; (ii) giá trị tăng thêm từ đất do Nhà nước đầu tư mang lại chưa được động viên hợp lý; (iii) cơ sở thu tài chính đất đai không phân định rõ ràng đánh trên giá trị đất và đánh trên giá trị tăng thêm của đất; (iv) quy định về các loại NVTC cụ thể vẫn chưa bao quát hết các cơ sở thu, tồn tại nhiều gian lận, thất thoát
- Câu hỏi nghiên cứu: Thực tiễn thực hiện pháp luật về nghĩa vụ tài chính của người
sử dụng đất đối với Nhà nước hiện nay như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu: Nghĩa vụ tài chính của NSDĐ đối với Nhà nước là
loại nghĩa vụ luật định NSDĐ chỉ có thể thực hiện pháp luật ở hình thức tuân thủ
và thi hành pháp luật Cơ quan quản lý đất đai, cơ quan thuế thực hiện pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước ở hình thức áp dụng pháp luật Thực tiễn hiện nay, không ít trường hợp NSDĐ không tuân thủ pháp luật để trốn và tránh thực hiện nghĩa vụ tài chính đất đai Nhiều khu vực người dân tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, không làm thủ tục hợp pháp để trốn nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất Sự tồn tại của thị trường đất đai phi chính thức ở Việt Nam, với khoảng ¾ giao dịch không đăng ký chính là minh chứng cho ý đồ trốn tránh, gian lận trong thi hành nghĩa vụ tài chính đất đai của NSDĐ Về phía cơ quan quản lý đất đai và cơ quan thuế, việc
áp dụng pháp luật còn nhiều sai phạm như: không ký hợp đồng thuê đất, không làm phiếu chuyển thông tin địa chính nên không thể xác định NVTC của NSDĐ, tính không đúng, không đủ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế, áp dụng quy định miễn giảm không đúng đối tượng Tất cả thực trạng trên đã và đang gây thất thu ngân sách Nhà nước ở Việt Nam
(3) Đề xuất, kiến nghị
- Câu hỏi nghiên cứu: Giải pháp để hoàn thiện quy định pháp luật về NVTC của
NSDĐ đối với Nhà nước?
Giả thuyết nghiên cứu: Trên cơ sở yêu cầu cải cách tài chính đất đai theo
hướng phù hợp với thể chế KTTT, pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước phải được hoàn thiện từ cơ sở tính thu, chính sách miễn giảm, mức độ động viên, chính sách giá đất để đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực để phát triển đất
Trang 31nước Trên cơ sở đánh giá tổng quát tình hình thực hiện thu ngân sách từ đất, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật, đề tài đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Giải pháp hoàn thiện cần bảo đảm phù hợp với các tiêu chí của pháp luật
về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước là minh bạch, công bằng, ổn định và phát triển bền vững Bên cạnh đó, xây dựng giải pháp hoàn thiện cần bảo đảm hài hòa với thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật như cơ sở dữ liệu địa chính, ý thức pháp luật của người dân, yếu tố hội nhập Giải pháp hoàn thiện pháp luật gồm hai nhóm: giải pháp hoàn thiện quy định chung về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước và giải pháp hoàn thiện theo từng loại NVTC cụ thể như: hoàn thiện nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, hoàn thiện nghĩa vụ nộp tiền thuê đất, hoàn thiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất và giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về NVTC của NSDĐ đất đối với Nhà nước
1.4 Về hướng tiếp cận của luận án
Luận án kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã được công bố trước
đề tài này bao gồm những vấn đề ở cả ba phương diện lý luận, thực trạng pháp luật
và định hướng hoàn thiện pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước Luận
án sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp so sánh để nghiên cứu
lý thuyết kinh tế kinh điển, kinh nghiệm của nước ngoài và thực tiễn thực hiện pháp luật để nghiên cứu các nội dung về cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật
Căn cứ kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về NVTC của NSDĐ; kết hợp với phân tích đánh những thành tựu và hạn chế, vướng mắc, luận án đề xuất giải pháp xây dựng và hoàn thiện các quy định của luật Việt Nam về nghĩa vụ tài chính của NSDĐ đối với Nhà nước
Hướng tiếp cận của luận án là tổng hợp, phân tích và đánh giá toàn diện các vấn đề từ thể chế đất đai đến thực tiễn thực hiện pháp luật đối với từng khoản thu cụ thể trong thu tài chính đất đai ở Việt Nam Nghiên cứu được thực hiện dựa trên nền tảng hệ thống quan điểm về cải cách tài chính đất đai và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
1 Các nhà nước trên thế giới dù với tư cách đại diện chủ sở hữu đất hay tư cách chủ thể quản lý xã hội đều thực hiện việc động viên kinh tế từ chủ đất hoặc từ người sử dụng đất vào quỹ ngân sách nhà nước Trong thời gian qua, có nhiều các công trình, các bài báo khoa học nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ
Trang 32tài chính đối với Nhà nước của NSDĐ ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến đề tài luận án đã cho thấy các tác giả giải quyết được một
số vấn đề về lý luận, thực trạng pháp luật cùng những bất cập, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện
2 Về lý luận, các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài luận
án đã trình bày được cơ sở hình thành tài chính đất đai nói chung và NVTC của NSDĐ nói riêng Các tác giả cũng đã đưa ra các đánh giá đa dạng, ở nhiều góc độ
về vai trò của tài chính đất đai trong chính sách đất đai Tuy nhiên, các các công trình trên vẫn chưa giải quyết được nội dung mang tính nền tảng là khái niệm, đặc điểm nghĩa vụ tài chính của NSDĐ và khái niệm, đặc điểm, cơ cấu nội dung, nguyên tắc của pháp luật về NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước Ngoài ra, các công trình này cũng chưa giải quyết một cách hệ thống, đầy đủ về mặt lý luận, bản chất kinh tế của từng loại NVTC cụ thể của NSDĐ
3 Về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về NVTC của NSDĐ, các nghiên cứu đã nêu được thực trạng pháp luật về các khoản thu ngân sách từ đất Tuy nhiên, hầu hết những nghiên cứu này chỉ dừng lại ở đánh giá riêng
lẻ một loại tiền cụ thể trong các NVTC mà NSDĐ phải thực hiện, theo các luật điều chỉnh cụ thể Để có thể hoàn thiện quy định NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước, phải đánh giá tổng thể thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về NVTC, từ đó xây dựng mô hình điều chỉnh thống nhất
4 Về giải pháp hoàn thiện, các nghiên cứu cũng đã phân tích một số bất cập, hạn chế trong quy định các khoản thu ngân sách từ đất, từ đó đề xuất các giải pháp Tuy nhiên, giải pháp cho hầu hết các vấn đề mang tính trọng tâm của chính sách tài chính nói chung và pháp luật về nghĩa vụ tài chính đất đai nói riêng đều chỉ dừng lại
ở mức độ gợi mở như một số khoản thuế đất Có những giải pháp liên quan đến hoàn thiện giá đất làm cơ sở tính NVTC được đưa ra, nhưng đến thời điểm hiện tại vẫn chưa khắc phục được những hạn chế về giá đất, hiệu quả chưa cao
5 Trên cơ sở đánh giá tổng quát nội dung các nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài luận án, tác giả đã chỉ ra những điểm, những nội dung kế thừa có phát triển từ các nghiên cứu trước Đồng thời, luận án cũng xác định những nội dung cần giải quyết ở các chương tiếp theo
Trang 33Chương 2
LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT VÀ
VỀ PHÁP LUẬT NGHĨA VỤ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT
ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 2.1 Lý luận về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm người sử dụng đất
2.1.1.1 Khái niệm người sử dụng đất
Đất đai là tư liệu sản xuất cần thiết của mọi quốc gia và là đối tượng của quan hệ sở hữu Quan hệ giữa chủ sở hữu và đối tượng sở hữu là quan hệ về tài sản Dựa trên mức độ thực hiện quyền của chủ thể sở hữu đối với đối tượng sở hữu, các nhà kinh tế hiện đại đã phân chia quyền sở hữu thành các cấp độ khác nhau: quyền
sở hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Một khi được pháp luật hóa, tức là được thừa nhận tính hợp pháp chính đáng của nó thì quan hệ sở hữu trở thành quyền sở hữu Trong khi đó, quyền sử dụng là quyền mà chủ thể của nó chỉ được sử dụng đối tượng sở hữu theo mục đích, nguyện vọng nào đó và được hưởng lợi ích từ việc sử dụng mang lại Người chủ sở hữu và người sử dụng có thể là một người, cũng có thể phân hóa thành nhiều người Quyền định đoạt là quyền thực hiện toàn diện đối với đối tượng sở hữu như mua bán, cải tạo hoặc hủy bỏ đối tượng sở hữu Theo C Mac, khi lực lượng sản xuất phát triển đến một quy mô nhất định, ở trình độ cao thì
có xu hướng tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng [46, tr.25-28] Ở cấp độ khái quát, sở hữu chỉ có hai loại hình (ownership type) là công hữu và tư hữu Trong mỗi loại hình sở hữu lại có nhiều hình thức sở hữu (ownership form) khác nhau
Sở hữu đất đai ở các quốc gia trên thế giới hiện nay tồn tại ở hai mô hình: đa
sở hữu và đơn sở hữu Mô hình phổ biến nhất là đa sở hữu, thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đối với đất đai Mô hình đa sở hữu về đất đai ở các quốc gia trên thế giới hiện nay có nhiều kiểu khác nhau, nhưng đặc trưng cơ bản là sự công nhận sở hữu tư nhân đối với đất đai Ở các quốc gia có chế độ đa sở hữu như Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Hà Lan quyền sở hữu đất đai là quyền về tài sản và bất khả xâm phạm Quyền của chủ sở hữu được thực hiện thông qua việc chiếm giữ, sử dụng, bán, cho thuê, thừa kế, thế chấp, tặng và địa dịch Quyền sử dụng ở các quốc gia này chỉ có nội dung là chiếm giữ sử dụng đúng mục đích và thời hạn Người sử dụng đất có thể
là chủ sở hữu đất hoặc là chủ thể thuê đất theo hợp đồng thuê Có thể thấy, ở các quốc gia theo mô hình đa sở hữu nêu trên, người sở hữu và người sử dụng đất đều thực hiện quyền của mình một cách cụ thể bằng chính hành vi của mình Chủ sở
Trang 34hữu có thể tự mình thực hiện việc nắm giữ, khai thác sử dụng và định đoạt đất đai một cách trực tiếp, không có cơ chế đại diện đương nhiên khi thực hiện quyền Khi chủ thể khác thay họ thực hiện quyền của chủ sở hữu thì việc thực hiện thay cũng phải thông qua hành vi ủy quyền cụ thể NSDĐ ở các quốc gia này chỉ nắm giữ sử dụng đất đúng mục đích và thời hạn theo hợp đồng thuê Các loại NVTC mang bản chất thuế như thuế tài sản, thuế bất động sản, thuế chuyển nhượng, phí địa dịch đều
do chủ sở hữu đất phải nộp [14, tr.58], chủ sử dụng sẽ không phát sinh NVTC đất đai này với Nhà nước Chủ sử dụng đất có quyền sử dụng thông qua hợp đồng thuê đất với chủ sở hữu, do vậy họ chỉ phát sinh NVTC với chủ sở hữu đất là tiền thuê đất
Mô hình đơn sở hữu là mô hình chỉ thừa nhận duy nhất hình thức sở hữu đất đai của Nhà nước Mô hình này khá phổ biến ở các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây nhưng không phải chỉ tồn tại duy nhất ở nhóm các quốc gia này Trong những năm đầu của nhà nước Xô Viết, từ lý thuyết về địa tô, Lênin đã đưa ra
cơ sở lý luận về quốc hữu hóa ruộng đất nhằm chuyển địa tô cho Nhà nước Hiện nay, mô hình đơn sở hữu đất đai, điển hình như Indonesia, quyền của chủ sở hữu sẽ gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt (bán, cho thuê, giao sử dụng) Quyền
sử dụng đất được xác lập đối với đất thuê thông qua hợp đồng thuê đất Không thể phủ nhận chế độ sở hữu và chế độ chính trị có mối quan hệ biện chứng Sở hữu thuộc phạm trù kinh tế, không phải tư tưởng của con người nên sở hữu quyết định
hệ thống chính trị chứ không phải ngược lại Mặc dù giữ vai trò cơ sở cho chế độ chính trị, nhưng chế độ chính trị lại là nhân tố tác động lớn nhất đến sự hình thành, vận động và phát triển của chế độ sở hữu
Việt Nam là quốc gia có chế độ sở hữu đất đai đặc biệt, chỉ thừa nhận đất đai thuộc một chủ sở hữu duy nhất là sở hữu toàn dân Phải khẳng định chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu Nhà nước về đất đai là hoàn toàn khác nhau Trong chế
độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam, Nhà nước là chủ thể đại diện thực hiện quyền của chủ sở hữu Tuy nhiên, cả chủ thể toàn dân và Nhà nước đều trừu tượng, không thể tự mình bằng hành vi tác động vào tư liệu sản xuất thông qua công cụ lao động cụ thể Việc sử dụng đất về mặt thực tế phải thực hiện thông qua các thực thể khác Đó là lý do Nhà nước chuyển giao quyền năng này cho các chủ thể khác thực hiện, làm hình thành chủ thể người sử dụng đất ở Việt Nam
Quy định về sở hữu đất đai ở Việt Nam dường như đã đi một đường vòng và
hệ quả đã làm giảm quyền năng của chính những chủ thể hợp thành chủ sở hữu Đất
Trang 35đai thuộc sở hữu toàn dân, vốn dĩ thuộc sở hữu của tất cả người dân Sở hữu chung dẫn tới chủ sở hữu trở nên trừu tượng Từ đây xuất hiện chủ thể đại diện chủ sở hữu
là Nhà nước Nhà nước tương tự cũng không thể bằng hành vi của chính mình để khai thác giá trị nội tại của đất, nên đã chuyển giao QSDĐ cho từng cá thể là người dân, đồng thời Nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ của NSDĐ Rõ ràng hiện nay, người dân lại được trao QSDĐ từ chính chủ thể đại diện cho họ Thực tế hiện nay việc sử dụng đất của người dân bị hạn chế về thời gian, diện tích, và chỉ được thực hiện giao dịch trong phạm vi được trao quyền Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, người dân khi nộp thuế sử dụng đất thì họ lại xuất hiện với tư cách và bản chất của chủ sở hữu đất đai, bởi thuế sử dụng đất là dạng thuế tài sản
Về bản chất, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai phải được hiểu là một chế độ trong đó người dân và Nhà nước cùng nhau làm chủ đất đai [58, tr.253] Trong thực hiện quyền sở hữu, người dân nếu thực hiện hiệu quả hơn thì nên để người dân làm chủ đất đai trực tiếp Pháp luật cần mở rộng quyền năng cho họ theo hướng họ là một thành tố hợp thành của chủ sở hữu, có quyền sở hữu đất hạn chế Cũng từ quan điểm nhận thức bản chất sở hữu toàn dân về đất đai là chế độ sở hữu mà người dân
và Nhà nước cùng làm chủ đất đai, có ý kiến cho rằng nên thay thuật ngữ “người sử dụng đất” thành “chủ đất”
Có thể nói, chủ thể “người sử dụng đất” ở Việt Nam hình thành trên chế độ
sở hữu đất đai đặc thù, dẫn đến sự phân hóa chủ sở hữu và chủ sử dụng đất là hai chủ thể khác nhau Đối với tài sản thông thường khác, dễ dàng nhận thấy có khi chủ
sở hữu tài sản đồng thời là chủ sử dụng, có khi không đồng thời Nhưng đối với đất đai ở Việt Nam từ sau khi Hiến pháp 1980 có hiệu lực, chúng ta không thể chỉ ra được bất kỳ trường hợp nào chủ sở hữu đất đồng thời là chủ sử dụng đất Điều này
có thể hiểu, nếu chế độ sở hữu toàn dân đối với đất ở Việt Nam được thay thế bằng chế độ đa sở hữu trong đó có hình thức sở hữu tư nhân đối với đất, thì chủ thể
“người sử dụng đất” sẽ mang nội hàm, bản chất khác Khi đó, cá nhân, hộ gia đình,
tổ chức sẽ là chủ đất và tương tự như các quốc gia có chế độ đa sở hữu, người thuê đất của chủ đất bằng hợp đồng thuê sẽ có tên gọi là NSDĐ
Trong ba quyền năng của quyền sở hữu, NSDĐ ở Việt Nam chỉ có quyền sử dụng Quyền này có thể hình thành do Nhà nước trao cho chủ thể trực tiếp khai thác đất đai hoặc do họ tự xác lập mà chưa được Nhà nước công nhận QSDĐ Từ QSDĐ
về mặt thực tế đó, sẽ có chủ thể có giấy tờ ghi nhận quyền này của họ là hợp pháp,
có chủ thể không được ghi nhận vì chưa được Nhà nước công nhận Tuy vậy, không
Trang 36phải bất kỳ chủ thể nào cũng có thể trở thành NSDĐ ở Việt Nam mà phạm vi NSDĐ phụ thuộc vào pháp luật Việt Nam dự liệu cho những chủ thể nào được tham gia vào quan hệ đất đai
Nhìn chung, người sử dụng đất là người được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất, công nhận QSDĐ hoặc đang sử dụng đất chưa được nhà nước công nhận QSDĐ; bao gồm hộ gia đình, cá nhân; tổ chức trong nước; tổ chức nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cộng đồng dân cư và cơ sở tôn giáo
Người sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay gồm bảy nhóm: tổ chức trong nước;
hộ gia đình, cá nhân trong nước, cộng đồng dân cư; cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; người Việt Nam định cư ở nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Có thể hiểu thuật ngữ “người sử dụng đất” chính
là quy định về năng lực pháp luật trong sử dụng đất ở Việt Nam; là khả năng pháp luật dự liệu cho ai đó được phép tham gia vào quan hệ sử dụng đất Nếu không nằm trong vùng dự liệu được phép sử dụng đất, đồng nghĩa với việc không có năng lực pháp luật sử dụng đất thì quan hệ đất đai họ tham gia sẽ vô hiệu do không có năng lực chủ thể Vì vậy, phạm vi “người sử dụng đất” không phải là bất biến, được mở rộng hay thu hẹp phụ thuộc vào quan điểm của đại diện chủ sở hữu ở thời điểm ban hành luật Đơn cử như giai đoạn Luật đất đai năm 1993 hoàn toàn không có chủ thể người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất Đối tượng này trong một thời gian rất dài muốn đầu tư vào đất đai ở Việt Nam đều phải thực hiện thông qua người thân, bạn bè và đã tạo ra những hệ lụy về sau Tương tự, ở giai đoạn Luật đất đai 2003, người nước ngoài và tổ chức kinh tế nước ngoài lại được xác định là chủ thể sử dụng đất ở Việt Nam
So với các Luật đất đai trước thì Luật đất đai 2013 không thừa nhận cá nhân nước ngoài và tổ chức kinh tế nước ngoài là một trong các chủ thể sử dụng đất; đồng thời quy định mới chủ thể doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dù thực tiễn
áp dụng không mới Tuy nhiên, Luật Nhà ở 2014 lại ghi nhận cá nhân nước ngoài,
tổ chức kinh tế nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở Cho dù các chủ thể này tạo lập nhà ở riêng lẻ hay căn hộ chung cư thì đều có quyền sử dụng đất, hoặc sử dụng chung hoặc sử dụng riêng QSDĐ trong trường hợp sở hữu căn hộ chung cư là quyền sử dụng chung theo phần không thể phân chia Tỷ lệ phần QSDĐ được tính bằng tỷ lệ diện tích căn hộ chia cho tổng diện tích sàn của các căn hộ trong nhà chung cư Cho nên hiện nay, dù phạm vi “người sử dụng đất” trong Luật đất đai không có tổ chức, cá nhân nước ngoài nhưng các chủ thể này vẫn là NSDĐ theo
Trang 37Luật nhà ở Theo quy định hiện hành, Nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ của NSDĐ đất phù hợp với hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ, nguồn gốc sử dụng đất và NVTC của NSDĐ
Như vậy, NSDĐ là các chủ thể được Nhà nước dự liệu cho phép tham gia vào quan hệ sử dụng đất ở Việt Nam Chỉ khi các chủ thể này bằng hành vi của chính mình tham gia vào quan hệ sử dụng đất thì mới làm phát sinh nghĩa vụ đối với Nhà nước, trong đó có nghĩa vụ tài chính
2.1.1.2 Đặc điểm của người sử dụng đất
Một là, người sử dụng đất là chủ thể được đại diện chủ sở hữu đất trao quyền
sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất Do QSDĐ là một trong ba quyền năng của quyền sở hữu nên chỉ những ai được Nhà nước dự liệu cho phép sử dụng đất thì mới được trao quyền hoặc nhận chuyển QSDĐ Người sử dụng đất là thuật ngữ dùng để chỉ những ai có năng lực pháp luật trong sử dụng đất, không chỉ là một
cá nhân mà có thể là tổ chức, cơ sở tôn giáo…
Hai là, người sử dụng đất không đồng thời là người sở hữu đất Do sở hữu
đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, thuộc về tất cả mọi người, nên chủ sở hữu rất trừu tượng Người sử dụng đất là một chủ thể rất cụ thể, có thể bằng hoạt động của chính mình để khai thác các giá trị nội tại của đất thay cho chủ sở hữu So với các tài sản thông thường như căn nhà, chiếc xe, rất dễ chỉ ra trường hợp chủ sử dụng tài sản đồng thời là chủ sở hữu tài sản Trong đất đai, kể từ sau Hiến pháp năm
1980, chủ sở hữu đất và chủ sử dụng đất luôn phân hóa thành hai chủ thể độc lập
Ba là, người sử dụng đất không có quyền định đoạt đất đai, quyền này chỉ
thuộc về chủ sở hữu Việc cá nhân, hộ gia đình thực hiện các giao dịch chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho QSDĐ không phải là đang định đoạt đất Các chủ thể này chỉ đang sử dụng các quyền mà chủ sở hữu tài sản trao cho họ Quyền thực hiện các giao dịch về QSDĐ chính là quyền phái sinh từ QSDĐ với mảnh đất mà họ đã xác lập
Bốn là, quyền và nghĩa vụ của NSDĐ do Nhà nước quy định Do tính phụ
thuộc và phái sinh của người sử dụng đất nên quyền và nghĩa vụ của họ sẽ do đại diện chủ sở hữu quy định, không phải do họ tự thỏa thuận mà có Đại diện chủ sở hữu -Nhà nước thể hiện sự đối xử của mình với chủ sử dụng đất bằng cách quy định quyền và nghĩa vụ tương ứng cho từng loại người sử dụng đất cụ thể Cho nên cá nhân trong nước sẽ có quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất khác với người Việt
Trang 38Nam định cư ở nước ngoài Tương tự, tổ chức kinh tế trong nước sẽ có quyền và nghĩa vụ khác với cơ sở tôn giáo dù trong nhiều trường hợp đều là pháp nhân
2.1.2 Khái niệm tài chính đất đai và nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước
2.1.2.1 Khái niệm, bản chất tài chính về đất đai
Thuật ngữ “tài chính về đất đai” được ghi nhận trong pháp luật đất đai lần đầu tiên là ở Luật đất đai 2003 Theo đó, “chính sách tài chính về đất đai” gồm thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền
sử dụng đất; và điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người
sử dụng đất mang lại (Khoản 3 Điều 5 Luật đất đai năm 2003) Thuật ngữ này tiếp tục được sử dụng trong Luật đất đai 2013 khi quy định quyền của Nhà nước đối với đất đai Có nhiều nghiên cứu trong nước về chính sách, thể chế, vốn hóa, sở hữu đất đai trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Các nghiên cứu này đều đề cập ít nhiều đến nội dung chính sách tài chính về đất đai Tuy nhiên, gần như các nghiên cứu này không đề cập đến quan niệm, khái niệm tài chính về đất đai
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam “Tài chính là phạm trù kinh tế thuộc khâu phân phối, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước, phát triển theo quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hóa và quan hệ hàng hóa – tiền tệ”[38] Theo nghĩa hẹp, tài chính là dấu hiệu tài sản dưới dạng tiền được trao đổi, phân phối, cho vay tùy thuộc vào quy mô và dự định của người nắm giữ sở hữu hay quyền quản lý Theo nghĩa rộng, tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định [61, tr.40] Bản chất của tài chính được thể hiện qua các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư; giữa các định chế tài chính trung gian với các cơ quan tổ chức kinh tế phi tài chính, dân cư; giữa các cơ quan đơn vị kinh tế, dân cư với nhau; và các quan hệ kinh tế trong nội bộ các chủ thể đó
George E Peterson trong nghiên cứu “Unlocking land values to finance urban infrastructure” (Giải phóng giá trị đất đai để cung cấp tài chính cho cơ sở hạ tầng đô thị) có sử dụng thuật ngữ “land-base financing”, được hiểu là huy động tài chính dựa trên đất đai Không đưa ra định nghĩa hay quan niệm về tài chính từ đất nhưng George E Peterson có đặt vấn đề “nguồn tài chính dựa vào đất đai có phải
Trang 39là tài chính thị trường (market finance) hay không” [92,tr.2] Ông cho rằng trên thực
tế, nhiều kỹ thuật được sử dụng để huy động tài chính dựa trên đất đai hoàn toàn tuân theo quy luật thị trường Nhưng cũng có những kỹ thuật có tham chiếu đến thị trường nhưng không hoàn toàn theo quy luật thị trường George E Peterson cho rằng tự thân tiềm năng tạo nguồn thu lớn của đất đã khiến đất đai trở thành nguồn tài chính Và nếu mục tiêu là vốn hóa đất đai thì huy động tài chính dựa trên đất đai
là một hình thức khác của tài chính thị trường [92,tr.21]
Từ nền tảng cơ sở phạm trù tài chính, tài chính về đất đai được hiểu là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối đất đai dưới hình thức giá trị, phát sinh
trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong
nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định
Tài chính về đất đai, xét về hiện tượng, biểu hiện những hoạt động phát sinh liên quan đến sự chuyển giao tiền tệ giữa các chủ thể kinh tế, cụ thể là: NSDĐ nộp thuế đất, tiền sử dụng, tiền thuê đất cho Nhà nước hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước từ đất Qũy tiền tệ này lại được sử dụng, phân phối để đầu tư hạ tầng đất đai, tạo quỹ đất sạch, làm tăng giá trị đất Khả năng sinh lợi của đất tăng thì chủ sử dụng đất càng dễ dàng trong việc chuyển đất thành vốn như chuyển nhượng, góp vốn, thế chấp QSDĐ…hình thành quỹ tiền tệ của người sử dụng Cũng cần lưu ý rằng, mỗi hoạt động trên phản ánh một quyết định phân phối: hoặc là tạo lập quỹ tiền tệ, hoặc
là đầu tư sử dụng quỹ tiền tệ đó như thế nào
Tài chính về đất đai cũng gồm tài chính công, tài chính doanh nghiệp và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình Theo đó, chỉ các hoạt động thu chi tài chính từ đất đai hình thành quỹ ngân sách nhà nước và các hoạt động tài chính của đơn vị sự nghiệp công về đất (tổ chức phát triển quỹ đất, văn phòng đăng ký đất đai) thuộc phạm trù tài chính công về đất Hoạt động tài chính đất đai của các doanh nghiệp kinh doanh BĐS sẽ là tài chính doanh nghiệp; và tài chính đất đai đươc sử dụng bởi
cá nhân sẽ là tài chính cá nhân Trong quan hệ pháp luật tài chính đất đai, nghĩa vụ tài chính của NSDĐ cũng sẽ đa dạng Đó có thể là nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, cũng có thể là nghĩa vụ tài chính với định chế tài chính trung gian, và cũng có thể là nghĩa vụ tài chính với NSDĐ khác
Như vậy, phạm trù tài chính công và tài chính đất đai có sự giao thoa nội hàm Tài chính công bao gồm quỹ ngân sách nhà nước, quỹ ngoài ngân sách, tài chính các đơn vị quản lý hành chính, đơn vị sự nghiệp Nguồn thu tạo lập các quỹ này rất đa dạng Đơn cử như nguồn thu ngân sách nhà nước không phải chỉ có từ
Trang 40đất đai Phần giao thoa nội hàm của phạm trù tài chính công với phạm trù tài chính
về đất đai chính là tài chính công về đất đai Đây cũng là nội dung được pháp luật đất đai điều chỉnh Trên cơ sở quy định quyền của Nhà nước đối với đất là “quyết định chính sách tài chính về đất đai”, Chương III, Mục 1 Luật đất đai 2013 đã cụ thể hóa chính sách tài chính về đất đai dưới các khoản thu ngân sách từ đất như tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng
đất, lệ phí về đất đai…Như vậy, xét về nội hàm, phạm trù tài chính về đất đai trong pháp luật Việt Nam hiện nay chính là tài chính công về đất đai, hoàn toàn không có tài chính doanh nghiệp và tài chính cá nhân về đất Đây cũng chính là cơ sở làm
hình thành NVTC của NSDĐ đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Theo Điều 19 Luật đất đai 2013, Nhà nước quyết định chính sách tài chính
về đất đai ở hai nội dung (i) Nhà nước quyết định chính sách thu, chi tài chính về đất đai và (ii) Nhà nước điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của NSDĐ mang lại thông qua chính sách thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, đầu
tư cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ cho người có đất thu hồi Như vậy, chính sách tài chính về đất đai ở Việt Nam bao gồm chính sách thu tài chính đất đai, chính sách chi tài chính đất đai và chính sách điều tiết giá trị tăng thêm từ đất không do NSDĐ đầu tư
2.1.2.2 Khái niệm nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của người sử dụng đất
Căn cứ Điều 274 Bộ Luật dân sự năm 2015, “nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền” Như vậy, nghĩa vụ được hiểu như mối liên hệ pháp
lý, mà ở đó người có quyền được yêu cầu người khác - người có nghĩa vụ, chuyển giao một quyền, tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc Tham gia vào quan
hệ nghĩa vụ sẽ gồm người có quyền, người có nghĩa vụ và đối tượng của nghĩa vụ Đối tượng của nghĩa vụ chính là nội dung sự đáp ứng của chủ thể có nghĩa vụ với chủ thể có quyền Theo định nghĩa về nghĩa vụ nêu trên, đối tượng của nghĩa vụ trong luật Việt Nam có thể khái quát thành hai nhóm: phải chuyển giao quyền, tài sản và phải thực hiện hoặc không thực hiện một công việc Với nhóm đối tượng của nghĩa vụ là phải làm hoặc không làm một công việc, quan điểm lập pháp của hầu hết các quốc gia đều quan niệm đây là loại nghĩa vụ mà khi người có nghĩa vụ không tự giác thực hiện thì chỉ có thể cưỡng chế thực hiện bằng hình thức xử phạt