1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án - Từ thực tiễn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

94 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 917,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn được nghiên cứu với mục tiêu nhằm nghiên cứu lý luận, trên cơ sở khảo sát thực tiễn, làm rõ những vướng mắc, khó khăn và những hạn chế để đề xuất các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền của bị can trong TTHS, đặc biệt là trong giai đoạn khởi tố các VAHS.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Trọng Hách Các số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu là trung thực, bảo đảm tính khách quan, khoa học và chưa từng được công

bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

Các số liệu, tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều có chú thích nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2018

Tác giả

Đỗ Hoàng Khang

Trang 2

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Công an quận Hồng Bàng và Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi được tham dự khóa học và cung cấp tài liệu báo cáo cho tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng tác giả luận văn luôn ghi nhớ sâu sắc những tình cảm quan tâm của gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, khích lệ và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2018

Tác giả

Đỗ Hoàng Khang

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA BỊ CAN TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 8 1.1 Khái quát chung về quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 8 1.2 Ý nghĩa và nội dung của bảo đảm thực hiện quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 17 1.3 Các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền của bị can 26 Chương 2 : THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN CỦA BỊ CAN TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 34 2.1 Thực trạng khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng 34 2.2 Những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự tại quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng 39 2.3 Những hạn chế trong thực hiện quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ

án hình sự và nguyên nhân 46 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CAN TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN – TỪ THỰC TIỄN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 56 3.1 Quan điểm bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 56 3.2 Các giải pháp bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án hình

sự 60 KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 4

Bảng 2.2 Tổng hợp số vụ án được đưa ra khởi tố và số vụ án

không đưa ra khởi tố trên địa bàn quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng từ năm 2013 đến 2017

40

Bảng 2.3 Tổng số vụ án và người không tiến hành khởi tố vụ án

hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng từ năm 2013 đến

2017

40

Bảng 2.4 Tổng số tin báo tội phạm và giải quyết tin báo tội

phạm trên địa bàn quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT Cơ quan điều tra

NNPQ Nhà nước pháp quyền QCN Quyền con người THTT Tiến hành tố tụng TTHS Tố tụng hình sự VKS Viện kiểm sát VAHS Vụ án hình sự XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo là trách nhiệm mà Đảng và Nhà nước ta hướng tới trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền (NNPQ) Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị

về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu lên những vấn đề cần phải đảm bảo như quyền con người, sự dân chủ hóa trong hoạt động tư pháp nhằm xây dựng một nền tư pháp vững mạnh, hạn chế đến mức thấp nhất việc oan sai,

bỏ lọt tội phạm trong các vụ án hình sự (VAHS)

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

(bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu rõ: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” [24] Gần đây, thể chế hóa đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 2013, Chương về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” đã được đưa lên vị trí thứ 2, chỉ sau Chương I về “Chế độ chính trị”

Quy định này phản ánh quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong thực hiện quyền con người, quyền công dân [51] Bên cạnh đó, Hiến pháp năm

2013 còn quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân

Từ khi Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 được ban hành và có hiệu lực thi hành, việc quy định quyền của những người tham gia tố tụng trong VAHS đã được định hình khá rõ và ngày càng được các văn bản hướng dẫn cố gắng hoàn thiện phù hợp với tình hình phát triển của kinh tế xã hội, xu thế phát triển của nền kinh tế và các hiệp ước mà Việt Nam ký kết với các khối kinh tế trên thế giới và gần đây nhất là việc ban hành BLTTHS 2015 lần đầu tiên trong lịch sử tố tụng Việt Nam xuất hiện khái niệm bị can, bị cáo là pháp nhân Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện quyền của những người tham gia tố tụng nói

Trang 7

chung mà đặc biệt là quyền của bị can nói riêng trong thực tiễn vẫn chưa được hiệu quả Bị can với địa vị pháp lý bất lợi của mình khi tham gia vào các hoạt động tố tụng hình sự (TTHS) thường gặp những trở ngại khi thực hiện các quyền của mình

Việc bảo đảm thực hiện các quyền của con người nói chung và quyền của

bị can nói riêng bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để thực hiện quyền con người, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật TTHS Hoạt động TTHS chính là công cụ sắc bén của Nhà nước và xã hội trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ cuộc sống bình yên, bảo đảm những giá trị vật chất, tinh thần chân chính của con người và xã hội Việc quy định và bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố VAHS bằng hoạt động của các cơ quan THTT trong việc thực thi pháp luật có hiệu quả là hết sức quan trọng Bởi quyền của bị can trong TTHS là một trong những nội dung thể hiện quyền con người trong TTHS là quyền dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương, nhất là quyền an toàn

về thân thể (quyền được sống, được bảo đảm về tính mạng, sức khỏe…), danh

dự và nhân phẩm của cá nhân Khởi tố VAHS là giai đoạn TTHS đầu tiên mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS tiến hành việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) VAHS liên quan đến hành vi

đó

Quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng là một quận trung tâm, với dân số đông, tốc độ phát triển kinh tế xã hội nhanh, các giao dịch dân sự, kinh tế diễn ra sôi động Chính vì lẽ đó, tình hình tội phạm xảy ra trên địa bàn quận Hồng Bàng diễn ra rất phức tạp Hàng năm, Cơ quan điều tra (CQĐT) công an quận Hồng Bàng khởi tố hàng trăm vụ án với hàng trăm bị can, số lượng VAHS đã khởi tố trên địa bàn quận Hồng Bàng luôn dẫn đầu toàn thành phố Hải Phòng Trong quá trình giải quyết VAHS nói chung trong đó có hoạt động khởi tố VAHS nói riêng các cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về

Trang 8

bảo đảm quyền của bị can nói chung trong TTHS Tuy nhiên, có những thời điểm, tại một số vụ án cụ thể vấn đề này chưa thực sự được quan tâm, còn xảy ra một số hạn chế, tồn tại nhất định

Thực tiễn cho thấy, trong quá trình giải quyết VAHS trong đó có giai đoạn khởi tố VAHS nhìn chung quyền và lợi ích hợp pháp của công dân về cơ bản đã được bảo đảm, đã hạn chế được tình trạng oan, sai Tuy nhiên, thực tế vẫn còn có nhiều trường hợp các cơ quan THTT, đặc biệt là CQĐT chưa bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền của bị can đặc biệt là trong giai đoạn khởi tố VAHS Có thể là các cơ quan tố tụng và những người THTT lạm dụng việc bắt

giữ, khởi tố, bắt tạm giam sau đó phải đình chỉ điều tra do không phạm tội…

Việc nghiên cứu vấn đề về quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố các

vụ án hình để đánh giá thực trạng, làm rõ nguyên nhân và đề xuất những giải pháp hoàn thiện Bộ luật TTHS (BLTTHS), là hết sức cần thiết, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, điều tra viên, kiểm sát viên về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của mình trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được phân công, nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội pham , bảo vệ an ninh quốc gia, trật tư an toàn xã hội, bảo đảm các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Với lý do đó, học viên đã chọn đề tài “Quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án - Từ thực tiễn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng”, làm đề

tài Luận văn thạc sĩ Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền con người nói chung, quyền của bị can trong TTHS nói riêng như:

- “Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật TTHS trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam” [8] Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, do Lê Văn Cảm; Nguyễn Ngọc Chí và Trịnh Quốc Toản đồng

chủ trì, năm 2005 Đây là công trình nghiên cứu trực tiếp về vấn đề bảo đảm quyền con người trong luật hình sự và TTHS Trong nội dung nghiên cứu của

Trang 9

công trình cũng có những nội dung đề cập trực tiếp đến việc bảo vệ quyền con người dưới góc độ áp dụng biện pháp ngăn chặn

- Luận án tiến sĩ “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can trong TTHS Việt Nam” [57], của Lại Văn Trình, TP Hồ Chí Minh, bảo vệ năm

2011 Đây là công trình nghiên cứu trực tiếp về bảo đảm quyền của người bị bắt tạm giữ, tạm giam Biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam là những biện pháp ngăn chặn tác động tiêu cực tới đảm bảo quyền của người bị áp dụng, do đó cần phải tiến hành một cách chặt chẽ và đảm bảo điều kiện cũng như thủ tục nghiêm túc

- Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật TTHS [10], của Nguyễn

Ngọc Chí (2007), Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật (23) Trong bài viết của mình, tác giả phân tích về những nội dung liên quan đến bảo đảm quyền con người bằng pháp luật TTHS có liên quan

Đặc biệt nghiên cứu về địa vị pháp lý của bị can trong TTHS đặc biệt là quyền của bị can trong TTHS có thể thấy một số công trình sau:

- Luận án tiến sỹ luật học “Hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS về quyền của bị can, bị cáo” năm 2015 của tác giả Nguyễn Sơn Hà; Đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật TTHS trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam” - Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội năm 2006; Các bài tạp chí “Bảo đảm quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong TTHS Việt Nam” của Hoàng Thị Minh Sơn, Tạp chí Luật học số 3/2011; Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo của Phạm Hồng Hải, Tạp chí Kiểm sát số 01/2009; “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách

tư pháp” của Trần Văn Độ, Tạp chí Khoa học pháp lý số 6/2011; Võ Quốc Tuấn (2015), “Bảo đảm quyền con người của bị cáo trong hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các VAHS”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 7

Các công trình khoa học, bài viết nêu trên, các tác giả đã luận giải những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung

hoặc quyền con người của một nhóm đối tượng nhất định (như người bị tạm giữ,

Trang 10

bị can nói chung hoặc người chưa thành niên là người bị tạm giữ, bị can), trong toàn bộ quá trình tố tụng từ giai đoạn điều tra đến giai đoạn xét xử, hoặc chỉ tập

trung vào giai đoạn xét xử VAHS Trong Luận văn, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu

về vấn đề quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố VAHS nhằm đưa ra những đánh giá về thực trạng quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố các VAHS, từ đó đề ra những giải pháp hoàn thiện nhằm phát huy các phương thức đảm bảo quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án hình, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc xâm phạm quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố, tránh oan, sai, bỏ lọt tội phạm Để thực hiện luận văn, tác giả đã lựa chọn, kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học nêu trên

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận, trên cơ sở khảo sát thực tiễn, làm rõ những vướng mắc, khó khăn và những hạn chế để đề xuất các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền của bị can trong TTHS, đặc biệt là trong giai đoạn khởi tố các VAHS

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài như khái niệm quyền của bị can, quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án, đặc điểm của quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố VAHS, quy định của pháp luật TTHS về quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố VAHS

- Phân tích thực trạng quy định về quyền của bị can trong giai đoạn khởi

tố các VAHS theo BLTTHS năm 2015 có so sánh đối chiếu với các quy định của BLTTHS trước đó Từ đó rút ra những hạn chế, bất cập của một số quy định pháp luật và hạn chế, bất cập trong thực tiễn thực hiện quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố các VAHS những năm qua

Trang 11

- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện quyền của bị can trong TTHS nói chung

và trong giai đoạn khởi tố VAHS nói riêng trên địa bàn quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng, từ đó đánh giá được những ưu điểm và hạn chế bất cập trong thực tiễn thực hiện quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố VAHS

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thiệu quả bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố các VAHS theo BLTTHS ở Việt Nam hiện nay

3.3 Phạm vi nghiên cứu của Luận văn

Luận văn phân tích, đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố các VAHS theo quy định của BLTTHS 2015 và thực tiễn áp dụng trên địa bàn quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng

Về thời gian Luận văn nghiên cứu: Những vấn đề thực tiễn liên quan đến

đề tài gắn với quá trình thi hành BLTTHS năm 2003 và 2015 trong địa bàn quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng trong 05 năm (2013-2017)

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về Nhà nước và pháp luật, về quyền con người, các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, về xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính như: phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn Ngoài ra, Luận văn cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác như: phương pháp logic, các phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

5 Những điểm mới và đóng góp khoa học của Luận văn

Trang 12

Luận văn đề cập một số vấn đề lý luận về quyền con người, quyền của bị can trong TTHS, đặc biệt là luận giải việc bảo đảm quyền của bị can trong một giai đoạn tố tụng cụ thể là giai đoạn khởi tố VAHS Làm rõ cơ sở xác định nội dung, mục đích, nhiệm vụ bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố các VAHS

Phân tích và đánh giá thực trạng quy định của pháp luật về quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố các VAHS cũng như thực tiễn thực hiện quyền của

bị can trong giai đoạn khởi tố VAHS trên địa bàn quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng Thông qua đó, Luận văn đưa ra được số giải pháp, kiến nghị sửa đổi,

bổ sung BLTTHS và một số các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố các VAHS

6 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quyền của bị can trong

giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Chương 2: Thực trạng thực hiện quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố

vụ án hình sự trên địa bàn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

Chương 3 Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện quyền của bị can

trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự - từ thực tiễn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA BỊ CAN

TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái quát chung về quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ

án hình sự

Để xác định được vấn đề quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố chúng

ta cần xác định các nội dung sau:

1.1.1 Khái niệm quyền của bị can

* Khái niệm bị can

Trong các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng thường quy định các chủ thể tham gia tố tụng và nêu định nghĩa thế nào là bị can tùy vào các đặc điểm, tùy vào các giai đoạn THTT khác nhau Do đó, nghiên cứu và tìm ra một khái niệm thống nhất về bị can trong pháp luật TTHS là điều cần thiết để đi đến nghiên cứu địa vị pháp lý nói chung hay quyền của bị can nói riêng

Bị can là người bị buộc tội Những người này chưa có bản án, quyết định kết tội của Tòa án có hiệu lực nên họ không bị coi là có tội Đây là nguyên tắc

cơ bản, có tính hiến định Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [51]

Những chủ thể bị buộc tội được xác lập địa vị pháp lý tùy theo các giai đoạn tố tụng khác nhau, qua đó có các chủ thể được định danh thành các khái niệm cụ thể Từ trước tới nay, chưa có khái niệm bị can mang tính pháp lý Ngay

cả BLTTHS năm 2015 cũng chỉ quy định mang tính chỉ định, liệt kê từng chủ thể mà theo luật trong từng trường hợp khác nhau họ có tên gọi khác nhau trong hoạt động TTHS BLTTHS năm 2015 cũng quy định tương tự như vậy, mặc dù lần đầu tiên trong lịch sử tố tụng thừa nhận bị can có thể là pháp nhân

Từ những phân tích trên tác giả cho rằng, khi đưa ra khái niệm về một chủ thể có địa vị pháp lý trong TTHS thì khái niệm đó cần phải thể hiện được nội

Trang 14

dung các thành tố tạo nên chủ thể đó Cho nên, khái niệm bị can phải có đầy đủ các yếu tố tạo nên một khái niệm, không thể chỉ dưới hình thức liệt kê là các chủ thể tham gia tố tụng theo luật định Bị can là người bị tình nghi phạm tội tuy nhiên không phải tình nghi một cách thiếu căn cứ, mà sự tình nghi này phải được đặt trong một tiến trình TTHS theo luật định Việc tình nghi phạm tội trong TTHS khác với sự ngờ vực hay suy đoán chủ quan mang tính cảm tính của cơ quan cơ quan THTT, người THTT với một cá nhân bình thường trong đời sống

cụ thể như quyết định khởi tố bị can Các quyết định đó đều gắn với chủ thể bị buộc tội và họ có các quyền và nghĩa vụ được luật định trong các giai đoạn tố tụng khác nhau, họ trở thành những người tham gia tố tụng

Những điều cơ bản được trình bày ở trên hoàn toàn tách biệt bị can theo pháp luật TTHS đối với những đối tượng bị tình nghi là đã có hành vi trái pháp luật trong trường hợp bình thường khác khác

Ví dụ: - A lén lút lấy trộm điện thoại iphone 6s của B để trên quầy hàng

và bị C, D phát hiện bắt quả tang Trong trường hợp này thì rõ ràng A đã có hành vi trộm cắp được quy định trong BLHS Tuy nhiên, lúc này A chưa thể xem là bị can trong TTHS Từ những nội dung đã nêu ở trên chúng tôi đưa ra khái niệm bị can trong TTHS như sau:

Bị can là đối tượng bị điều chỉnh bởi các quyết định tố tụng của cơ quan

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật khi có căn cứ rằng chủ thể đó có dấu hiệu thực hiện hành vi phạm tội hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS

* Khái niệm quyền của bị can trong tố tụng hình sự

Trang 15

Trước khi bàn đến khái niệm quyền của bị can cần tìm hiểu khái niệm quyền và quyền con người, quyền công dân Quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi Về khái niệm quyền con người, hiện nay có nhiềuf định nghĩa khác nhau Một định nghĩa phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên: Quyền con người là những quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người Một khái niệm khác của Văn phòng cao

ủy Liên hợp quốc cho rằng: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người [64, tr.255]

Quyền con người được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người Quyền con người là khái niệm có tính chất bao quát và rộng hơn quyền công dân Quyền con người là quyền được áp dụng cho tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phân biệt quốc tịch, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia hay tư cách cá nhân của chủ thể, thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại Quyền công dân là khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, được xác định bởi chế định quốc tịch Quyền công dân là tập hợp những quyền con người được pháp luật của một nước ghi nhận và chỉ những người mang quốc tịch của một nước thì mới được hưởng các quyền công dân mà pháp luật nước

đó quy định Theo Điều 28 Hiến pháp năm 2013 thì công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân [51]

Như đã trình bày ở trên thì bị can trước hết là con người, là công dân có đầy đủ mọi quyền và nghĩa vụ được hiến pháp công nhận và bảo vệ, nhưng kể từ

Trang 16

khi phát sinh sự kiện pháp lý và được điều chỉnh bằng các hoạt động tố tụng vì

bị nghi ngờ phạm tội, bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì lúc này họ là bị can

Do đó họ gặp các bất lợi bởi bị hạn chế hoặc bị mất một phần hay toàn bộ các quyền công dân Thế nhưng, những bị can không phải là người có tội, họ có tội hay không phải do Tòa án quyết định và chỉ đến lúc có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì người đó mới được xem là có tội Bị can chưa bị coi là có tội vì vậy

họ vẫn được cơ quan THTT, người THTT đảm bảo và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân Khi bị buộc tội thì những bị can cũng có những quyền được pháp luật trao cho được hưởng, được làm và được đòi hỏi Vì là trong thời gian bị buộc tội nên họ là những người tham gia tố tụng, chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng trong các quan hệ pháp luật giữa họ với cơ quan, người THTT

và người tham gia tố tụng khác

Do vậy, có thể kết luận về quyền của bị can như sau: Quyền của bị can là những điều mà pháp luật quy định cho người đã bị khởi tố về hình sự được hưởng, được làm, được đòi hỏi khi tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

* Khái niệm giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

“Khởi tố VAHS là giai đoạn mở đầu của TTHS, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố”[14, tr.235]

Như vậy, khởi tố VAHS là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, ở giai đoạn này cơ quan có thẩm quyền tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để thu thập,

xử lý các thông tin ban đầu, khi có đủ chứng cứ, sẽ ra quyết định khởi tố VAHS hoặc không khởi tố VAHS

Hiến pháp năm 2013 có quy định “mọi công dân điều bình đẳng trước pháp luật” [51] và công dân có những quyền cơ bản được pháp luật bảo vệ,

không ai có thể xâm phạm những quyền hiến định được pháp luật ghi nhận Căn

cứ vào quy định đó, Điều 3 BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc pháp chế

Trang 17

XHCN trong TTHS, mục đích nhằm giải quyết vụ án tuân theo pháp luật và đảm bảo quyền và lợi ích của công dân trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên tắc này không thừa nhận việc áp dụng các hoạt động tố tụng mà không được quy

định trong BLTTHS

Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì quá trình TTHS bao gồm năm giai đoạn là: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Trong đó khởi tố VAHS là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, ở giai đoạn này cơ quan có thẩm quyền (cơ quan THTT và các cơ quan được giao quyền tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu), thu thập, xử lý các thông tin ban đầu và ra quyết định khởi tố VAHS hoặc không khởi tố VAHS Xác định những dấu hiệu tội phạm trong giai đoạn này là việc xác định những dấu hiệu, hành vi và sự kiện phạm tội nhưng chưa kết luận một cách chắc chắn về tội phạm và người phạm tội [52]

Quyết định khởi tố VAHS là cơ sở để các cơ quan THTT tiến hành các hoạt động tiếp theo là điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Quyết định khởi tố

có ý nghĩa rất quan trọng làm phát sinh quan hệ pháp luật TTHS giữa cơ quan có thẩm quyền và người tham gia tố tụng Khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án sẽ là cơ sở pháp lý đầu tiên để thực hiện việc điều tra [14, tr.190]

Khởi tố VAHS là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, từ đó các quan

hệ tố tụng bắt đầu phát sinh Trong giai đoạn này, các cơ quan có thẩm quyền trên cơ sở những thông tin ban đầu thu thập được đi đến xác định có hay không

có căn cứ để khởi tố VAHS hoặc không khởi tố VAHS và trên cơ sở đó mà ra quyết định cho phù hợp Kết quả của giai đoạn này làm cơ sở cho việc mở ra các hoạt động TTHS tiếp theo hoặc có thể chấm dứt mọi hoạt động TTHS đối với tin báo về tội phạm

* Đặc điểm của khởi tố VAHS

Là một giai đoạn độc lập và đầu tiên của quá trình TTHS, thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi nhận được những thông tin đầu tiên về việc

Trang 18

thực hiện hành vi phạm tội và kết thúc bằng quyết định về việc khởi tố hoặc không khởi tố VAHS có liên quan đến hành vi đó

Chủ thể có thẩm quyền khởi tố VAHS là cơ quan THTT và các cơ quan được giao quyền tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu Khi tiếp nhận thông tin, các cơ quan này có trách nhiệm kiểm tra, xác minh nguồn tin nhận được bằng các biện pháp nghiệp vụ như: Khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai của người bị hại, nhân chứng, người bị tạm giữ

Giai đoạn khởi tố VAHS không cần phải xác minh toàn bộ sự thật của vụ

án, mà là không để bỏ lọt bất cứ một dấu hiệu tội phạm nào mà không được xem xét và không để cho bất cứ hành vi tội phạm nào mà không bị phát hiện Mọi hoạt động tố tụng điều tra, áp dụng biện pháp ngăn chặn và những biện pháp khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố VAHS

Thời điểm bắt đầu của giai đoạn khởi tố VAHS được tính từ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhận được những tin tức về tội phạm và kết thúc khi cơ quan THTT ra một trong hai quyết định khởi tố VAHS hoặc quyết định không khởi tố VAHS

Vì vậy, khởi tố VAHS là giai đoạn đầu tiên của quá trình TTHS, trong đó, các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có căn cứ để ra quyết định khởi tố VAHS hoặc quyết định không khởi tố VAHS Kết thúc giai đoạn khởi tố VAHS sẽ là sự khởi đầu cho một giai đoạn mới hoặc chấm dứt quá trình tố tụng

Khởi tố VAHS là một giai đoạn TTHS cơ bản và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền của công dân trước khi khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ của giai đoạn điều tra, cùng với các giai đoạn TTHS khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội

* Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố VAHS

- Chứng minh có hoặc không có tội phạm xảy ra

Khi tiếp nhận về tin tức về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền khởi tố VAHS phải xác định sự tồn tại của sự việc đó có hay không có dấu hiệu tội

Trang 19

phạm để quyết định việc khởi tố hay không khởi tố VAHS Qua đó, kịp thời phát hiện tội phạm, hạn chế tối đa tình trạng bỏ lọt tội phạm, cũng như bảo đảm được nguyên tắc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vô tội Nếu xác định có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ

án, hoặc thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 107 BLTTHS

“Những căn cứ không được khởi tố VAHS”, thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết

định không khởi tố VAHS

Khởi tố VAHS là nhằm “phát hiện chính xác nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội” (Điều 1 BLTTHS năm 2015), [52] vì vậy nhiệm vụ của giai đoạn này là

phát hiện chính xác, nhanh chóng mọi loại tội phạm xảy ra, có biện pháp phù hợp cho việc điều tra làm rõ và xử lý công minh đối với những loại tội phạm đó

Giúp cho cơ quan có chức năng kiểm sát, giám sát hoạt động điều tra nắm được diễn biến tình hình tội phạm và công tác điều tra tội phạm để có thể đặt ra các yêu cầu trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, truy tố, buộc tội người phạm tội, góp phần quan trọng trong công tác giữ gìn an ninh trật tự địa phương

Khởi tố vụ án một cách kịp thời là một trong những bảo đảm quan trọng

để xử lý nhanh chóng, công minh đối với hành vi phạm tội đã xảy ra Ngược lại, nếu các hoạt động TTHS trong giai đoạn khởi tố không đầy đủ, không chính xác thì có thể dẫn đến những sai lệch, khó khăn trong quá trình giải quyết VAHS

Bảo đảm tính khách quan, toàn diện, đầy đủ trong hoạt động điều tra, các quyền lợi cơ bản của công dân phải được tôn trọng Khởi tố VAHS là sự phản ứng nhanh chóng từ phía Nhà nước đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm góp phần phát hiện, điều tra và xử lý một cách có căn cứ và đúng pháp luật hành vi phạm tội và người phạm tội, đồng thời không chỉ là chức năng quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sự mà còn là phương tiện cơ bản để thực hiện tốt nguyên tắc trong TTHS, tránh bỏ lọt tội phạm và phát hiện hành vi phạm tội một cách kịp thời

Trang 20

Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố VAHS là nhằm xác định dấu hiệu của tội phạm, tức là xác định xem sự việc xảy ra có dấu hiệu của một tội phạm cụ thể hay không, nói cách khác là có VAHS đã xảy ra hay không [29] Để thực hiện nhiệm vụ này, cơ quan có thẩm quyền sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, trong phạm vi thẩm quyền của mình và thời hạn luật định phải tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh các tin tức về tội phạm bằng những biện pháp cụ thể:

Kiểm tra giấy tờ tùy thân, hộ khẩu, đăng ký tạm trú của người bị tố cáo; yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân có liên quan đến sự việc cung cấp những tài liệu cần thiết Yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội

có liên quan giải thích rõ sự việc nhằm mục đích làm rõ dấu hiệu tội phạm

Khi yêu cầu giải thích, cơ quan có thẩm quyền không được áp dụng các biện pháp hỏi cung hoặc cưỡng chế tố tụng đối với người được yêu cầu giải thích Nếu bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì tiến hành lấy lời khai của người bị bắt

Trong trường hợp cần thiết thì khám nghiệm hiện trường và tiến hành các biện pháp khác theo quy định của BLTTHS để xác định dấu hiệu tội phạm

- Hoàn thành hồ sơ, thủ tục khởi tố

Khởi tố vụ án là khâu đầu tiên của TTHS, nếu không được thực hiện tốt, khởi tố chậm trễ, điều tra vụ án không khách quan, không có căn cứ, thì dễ để lọt tội phạm hoặc gây ra lãng phí công sức, tiền bạc của Nhà nước và có khi còn gây hậu quả nghiêm trọng làm oan người vô tội Vì vậy, sau khi tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, khi có đủ cơ sở chứng minh, cơ quan THTT sẽ thực hiện một trong hai nhiệm vụ quan trọng đó là:

+ Nếu đủ cơ sở chứng minh có dấu hiệu tội phạm xảy ra, cơ quan THTT

sẽ ra quyết định khởi tố VAHS và vụ án sẽ được tiến hành các bước tiếp theo của quá trình tố tụng

+ Nếu đủ cơ sở chứng minh không có dấu hiệu tội phạm xảy ra, cơ quan THTT sẽ ra quyết định không khởi tố VAHS và vụ án sẽ được khép lại

Trang 21

Việc quy định thủ tục này, góp phần loại trừ các tiêu cực trong hoạt động

tư pháp hình sự, ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định khởi tố VAHS một cách thiếu cân nhắc kỹ, vội vàng và do vậy, có thể sẽ kéo một loạt hậu quả tiêu cực tiếp theo trong việc truy cứu TTHS ở các giai đoạn TTHS tiếp theo như: Điều tra không có căn cứ đối với những hành vi không chứa đựng dấu hiệu của tội phạm hoặc nói chung là không diễn ra trong thực tế khách quan, khám xét, bắt, giam giữ, buộc tội, xét xử một cách vô căn cứ và trái pháp luật, làm oan những người vô tội

Việc đi kèm với một trong hai quyết định khởi tố hoặc không khởi tố VAHS, nhất thiết phải có một số văn bản cần thiết như: Biên bản xảy ra sự việc hoặc biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản ghi lời khai nhân chứng, biên bản ghi lời khai bị hại đây là những văn bản làm

cơ sở cho việc tiến hành các bước tiếp theo

1.1.3 Khái niệm quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Dựa trên cơ sở khái niệm về quyền của bị can trong TTHS nói chung và khái niệm, đặc điểm, nội dung về giai đoạn khởi tố VAHS Có thể nhận thấy trong giai đoạn khởi tố VAHS, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã thực hiện các hoạt động buộc tội Trong đó có thể

là sự buộc tội một chủ thể bị nghi thực hiện tội phạm

Chính vì vậy, trong giai đoạn này, quyền của những chủ thể bị buộc tội trong đó có bị can đã bắt đầu được ghi nhận và bảo đảm Trong đó, có những nội dung thể hiện quyền bào chữa, quyền được bảo vệ các quyền nhân thân, danh

dự, nhân phẩm quyền được suy đoán vô tội, quyền được hưởng các hoạt động

tố tụng sao cho đảm bảo đúng quy định của pháp luật

Đặc trưng cơ bản của các quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố VAHS

đó là tính chất pháp lý của nó Theo đó, BLTTHS phải ghi nhận các quyền của

bị can nói chung trong TTHS và đặc biệt là trong giai đoạn khởi tố VAHS

Quyền của bị can còn được xác định cho một đối tượng cụ thể là bị can

Bị can là người bị buộc tội mà đã có quyết định khởi tố đối với họ và chưa bị

Trang 22

đưa ra xét xử bằng quyết định của Tòa án Do đó, tư cách bị can hình thành từ khi có quyết định khởi tố bị can và kết thúc khi có quyết định đưa vụ án ra xét

xử đối với họ

Đặc trưng quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố VAHS tiếp theo đó là, quyền này được thể hiện cụ thể ở một giai đoạn tố tụng, có thể coi là giai đoạn ban đầu, mở đầu cho hoạt động tố tụng tiếp theo là giai đoạn khởi tố VAHS Giai đoạn này diễn ra rất nhanh chóng, do các cơ quan THTT tiến hành, mà đảm bảo cho vụ án và có thể là bị can bị khởi tố

Do vậy có thể rút ra khái niệm quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố

VAHS đó là những quyền mà pháp luật TTHSu quy định cho người mà đã có quyết định khởi tố về hình sự cho đến khi vụ án được khởi tố xong được hưởng, được làm, được đòi hỏi khi tham gia vào giai đoạn khởi tố VAHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

1.2 Ý nghĩa và nội dung của bảo đảm thực hiện quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

1.2.1 Ý nghĩa của bảo đảm thực hiện quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Quy định quyền của một chủ thể trong pháp luật TTHS giúp phân biệt chủ thể này với chủ thể khác, đồng thời xác định vị trí và tầm quan trọng của chủ thể

đó trong mối quan hệ pháp luật và có ý nghĩa quan trọng về cả chính trị, xã hội

và pháp lý

Về phương diện chính trị - xã hội việc quy định địa vị pháp lý của bị can

trong TTHS làm thể hiện rõ mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, giữa bị cáo với cơ quan THTT và người tiến hành tốt tụng Công dân được Nhà nước quy định cho những quyền cụ thể trong pháp luật; Nhà nước phải bảo đảm cho công dân thực hiện các quyền đó trong khuôn khổ luật định, đồng thời pháp luật cũng quy định những nghĩa vụ cơ tương ứng mà công dân phải thực hiện để bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội

Trang 23

Hoạt động TTHS thể hiện các biện pháp cưỡng chế Nhà nước được áp dụng phổ biến nhất, chính vì vậy hoạt động này rất dễ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng Tuy nhiên, trong số các chủ thể tham gia tố tụng thì vấn đề bảo đảm quyền của bị can có tầm quan trọng đặc biệt và vô cùng nhạy cảm Sự nhạy cảm ở đây thể hiện ở chỗ: bị can là một chủ thể đặc biệt, họ có thể bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết, có thể bị tước đoạt một số quyền công dân để phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử Với vị trí tố tụng như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của họ rất dễ bị người THTT vô tình hoặc cố ý xâm hại bởi hoạt động tố tụng không đúng quy định của pháp luật thì quyền và lợi ích hợp pháp của bị can sẽ bị xâm phạm Vì vậy, việc quy định địa vị pháp lý của bị can trong TTHS có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết

Bị can với việc là người yếu thế trong quan hệ TTHS có quyền yêu cầu cơ quan THTT, người THTT bảo đảm cho họ các quyền và lợi ích chính đáng Cơ quan THTT có quyền yêu cầu, buộc bị cáo phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của chủ thể quan hệ pháp luật TTHS, đồng thời phải có trách nhiệm, nghĩa vụ để bảo đảm việc thực hiện quyền của bị can Bị cáo được quy định cho những quyền nhất định nhằm bảo vệ bản thân trước những bất lợi trong quá trình xét xử

và tìm ra sự thật vụ án Bên cạnh đó, bị can cũng phải thực hiện những nghĩa vụ được quy định để việc giải quyết vụ án có hiệu quả và thuận lợi, nhanh chóng Việc BLTTHS quy định cho bị cáo các quyền và nghĩa vụ giúp họ ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời cũng để tránh sự vi phạm quyền và lợi ích của bị cáo từ những chủ thể khác

Quyền con người trong TTHS nói chung, quyền con người của bị can nói riêng là quyền dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương nhất Do đó, quy định địa vị pháp lý của bị can trong TTHS mà đặc biệt là quy định về quyền của bị can là sự

cụ thể hóa quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Văn kiện quốc

tế, trong Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện đúng tinh thần của Nghị quyết 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số

Trang 24

nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 49 ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Nước ta đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng NNPQ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế của pháp luật trong xã hội; vì thế những quy định cụ thể,

rõ ràng, dân chủ, tiến bộ thì pháp luật sẽ dễ dàng phát huy vị thế, được nhân dân tiếp thu và thực hiện một cách nghiêm túc Pháp luật có tính răn đe, vì vậy pháp luật không chỉ tác động tới hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật mà còn tác động về tư tưởng đối với toàn xã hội nói chung, sự tác động mang tính chất giáo dục

Ý nghĩa pháp lý là phương tiện quan trọng để điều chỉnh các quan hệ xã

hội nói chung, các quan hệ pháp luật nói riêng Pháp luật tác động lên các quan

hệ đó bằng cách quy định cho các bên tham gia các quan hệ một số quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, đồng thời pháp luật cũng thiết lập cả điều kiện để bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó được thực hiện Cho nên, khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, các chủ thể cần biết rõ hoặc được cơn quan THTT, người THTT thông báo các quyền và nghĩa vụ của mình để tự mình thực hiện các hành vi hợp pháp nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân, không vượt quá các quyền của mình, cũng như biết được những nghĩa vụ mà bản thân cần phải thực hiện Bị can là người tham gia tố tụng, có vị trí trung tâm trong quá trình giải quyết VAHS Họ là đối tượng bị pháp luật coi là những người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì vậy họ dễ bị xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Do đó, việc pháp luật quy định rõ địa vị pháp lý của bị can có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói riêng, công cuộc cải cách

tư pháp và xây dựng NNPQ nói chung

Trên cơ sở quy định đầy đủ, cụ thể quyền và nghĩa vụ của bị can, Bộ luật

sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho bị can xác định được phạm vi quyền và nghĩa

vụ của mình khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, giúp họ có thể lựa chọn được cách xử sự phù hợp nhất,

Trang 25

có lợi cho bản thân và cho xã hội Về phía các cơ quan và người có thẩm quyền THTT, việc quy định rõ ràng, cụ thể quyền và nghĩa vụ của bị can cũng đặt trách nhiệm cao hơn với các cơ quan và người có thẩm quyền THTT trong việc bảo đảm quyền của bị can, đồng thời, có cơ chế pháp lý cụ thể để xử lý trong trường hợp bị can không chấp hành nghĩa vụ đã được luật định Đồng thời, việc quy định địa vị pháp lý của bị can là cơ sở pháp luật để cơ quan THTT, người THTT xác định được quyền và nghĩa vụ của mình trong mỗi quan hệ pháp luật TTHS với bị can Đây cũng là cơ sở để các chủ thể tham gia tố tụng khác biết được quyền và nghĩa vụ của bị can để có những hành vi phù hợp, tránh xâm phạm lợi ích của bị can

1.2.2 Nội dung pháp luật về quyền của bị can

Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 BLTTHS năm 2015 thì “bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự” [52]; Bị can hay bị cáo chỉ là các tên gọi khác nhau của cùng một người khi ở các giai đoạn tố tụng khác nhau BLTTHS năm 2015 quy định về quyền của bị can (Khoản 2 Điều 60)

* Quyền được biết lý do mình bị khởi tố

Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì Bị can cần phải biết tội danh

mà họ bị khởi tố Trong quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ tội danh, điều khoản luật được áp dụng đối với bị can Đây cũng chính là giai đoạn mở đầu của quá trình THTT và bắt đầu THTT để chứng minh hành vi bị nghi ngờ phạm một tội được quy định trong Luật Hình Sự Trong vai trò đối lập với những lời buộc tội của cơ quan tiên hành tố tụng thì bi can cũng cần biết mình phạm tội gì để bảo vệ những quyền và lợi cích hợp pháp của mình;

Những cũng từ đây thi bị can cũng có những nghĩa vụ nhất định để không

bị cơ quan có thẩm quyền có quyền buộc tội và áp dụng các biện pháp ngăn chặn là một trong các biện pháp cưỡng chế TTHS được pháp luật TTHS quy định, do người có thẩm quyền THTT quyết định áp dụng đối với bị can nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ, không để họ tiếp tục phạm tội mới hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, hoặc nhằm bảo đảm việc thi hành án

Trang 26

Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc, ảnh hưởng đến quyền tự do cá nhân và lợi ích hợp pháp của công dân nhưng mục đích cuối cùng vẫn là đảm bảo việc xác định sự thật vụ án Theo quy định tại điều 79, BLTTHS năm 2015 các biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Đồng thời với căn cứ này giúp cho họ có thể đảm bảo được quyền bào chữa, phủ nhận việc buộc tội đó đối với họ

* Quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ

Pháp luật đã quy định trách nhiệm của người THTT khi áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người, tạm giữ và tạm giam đều phải giải thích cho đối tượng bị áp dụng các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ Trong các văn bản áp dụng pháp luật TTHS (các lệnh bắt, luyết định tạm giữ hay lệnh tạm giam) đều phải đọc, giải thích rõ cho đối tượng; trong quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ tội danh, điều khoản luật được áp dụng đối với bị can; trong phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo trong thủ tục bắt đầu phiên tòa Việc đảm bảo quyền này của bị can có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo quyền con người của bị can; giúp họ hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình cũng như cũng như góp phần nhanh chóng kịp thời giải quyết vụ án, xác minh

sự thật vụ án

* Quyền được nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố và các quyết định tố tụng khác

Bị can phải được nhận các quyết định khởi tố; bản cáo trạng, quyết định truy tố là giai đoạn bắt đầu THTT để nhận biết mình bị truy tố về tội danh nào

và có đúng với hành vi phạm tội của mình không, có tương xứng với tính chất

Trang 27

nguy hiểm cho xã hội của hành vi minh gây ra không Từ cơ sở này bị can biết mình phải thực hiện những việc gì và không được làm những việc gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Các quyết định tố tụng do cơ quan THTT ban hành ít nhiều đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của bị cáo Cho nên, bị can phải được giao quyết định

áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ tố tụng BLTHS quy định bị cáo có quyền được nhận các văn bản, quyết định tố tụng giúp cho bị cáo cập nhật được diễn biến, quá trình giải quyết VAHS Tuy nhiên, trên thực tế quyền được nhận các quyết định, văn bản tố tụng của bị cáo vẫn chưa thực sự được đảm bảo Vì rất nhiều lý do và nguyên nhân khác nhau dẫn đến nhiều trường hợp bị cáo không nhận được các văn bản, quyết định tố tụng Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của họ, đồng thời bị cáo không thể thực hiện được tốt các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình

* Quyền được trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa

ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội

BLTTHS năm 2015 đã chính thức ghi nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền được “trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” Đây có thể được coi là một nội dung của quyền im lặng, quy định này nhằm bảo đảm tính minh bạch của pháp luật, tạo sự nhận thức thống nhất trong quá trình lấy lời khai, hỏi cung Do đó, xét về bản chất, có thể hiểu quyền im lặng không hẳn là quyền không nói gì mà bản chất là quyền không buộc phải khai báo những điều bất lợi cho bản thân, không buộc phải nhận mình có tội Như vậy, trong trường hợp nói trên, cần hiểu quyền im lặng đó là quyền không trả lời những câu hỏi của Công an, Tòa án, khai báo về những vấn đề bất lợi cho bản thân, không buộc phải nhận tội Trên thực tế cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng luôn mong đợi sự hợp tác của người bị buộc tội, nhưng nếu không nhận được sự hợp tác tích cực của người bị buộc tội thì cũng không thể coi đó là tình tiết tăng nặng được Bộ luật Hình sự

Trang 28

hiện hành cũng không coi người bị buộc tội không trả lời cơ quan, người tiến hành tố tụng những vấn đề bất lợi cho bản thân, không buộc phải nhận tội hay

“ngoan cố, không khai báo thành khẩn” là tình tiết tăng nặng

* Quyền được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu

Theo quy định tại BLTTHS năm 1988 thì bị can có quyền đưa ra “chứng

cứ và những yêu cầu” Còn theo quy định mới của BLTTHS 2003 thì bị can có quyền đưa ra “tài liệu, đồ vật, yêu cầu” còn đến BLTTHS năm 2015 thì để đảm bảo nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa mới được bổ sung trong TTHS thì bị can còn được bổ sung quyên đưa ra chứng chứ Như vậy đã có sự thay đổi trong quy định của pháp luật từ việc bị can có quyền đưa ra chứng cứ thì nay chuyển thành những tài liệu, đồ vật và hiện nay là quyền đưa ra chứng cứ Sự thay đổi này trong quy định của pháp luật là hoàn toàn hợp lý, góp phần hoàn thiện hơn

hệ thống pháp luật nước ta Bởi vì khi bị can cung cấp cho Cơ quan điều tra những tài liệu, đồ vật thì không phải mọi tài liệu đồ vật đó đều là chứng cứ trong

vụ án Khi Cơ quan điều tra nhận được các tài liệu, đồ vật đó thì họ phải tiến hành kiểm tra, đánh giá khách quan để xác định các tài liệu đồ vật đó có phải là chứng cứ trong vụ án hay không Và chỉ khi các tài liệu đồ vật đó đáp ứng được các yêu cầu theo quy định của pháp luật thì chúng mới trở thành chứng cứ trong

cơ quan tiến hành tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng Hoạt động kiểm tra,

để chứng minh vụ án hình sự; xác định tính chất, ý nghĩa và mức độ liên quan

Trang 29

đồ vật liên quan khác; giá trị của từng chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đối với việc chứng minh các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án; hướng sử dụng hoặc tiếp tục sử dụng chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan Do vậy, bị can có

liên quan mà cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập và sử dụng và yêu cầu người

có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá tính khách quan, tính liên quan đến vụ án của chứng cứ, tài liệu, đồ vật đó

* Quyền đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật

Bị can có quyền đề nghị thay đổi những người THTT, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ không thể vô tư trong khi làm nhiệm vụ và việc họ THTT hoặc tham gia tố tụng có thể làm cho vụ án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can Khi các Cơ quan THTT nhận được yêu cầu thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch của bị can thì cần phải xem xét, giải quyết yêu cầu đó nếu thấy yêu cầu là có căn cứ theo quy định của pháp luật TTHS (quy định cụ thể tại Điều 42 BLTTHS về những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người THTT) Đây là sự thể hiện nguyên tắc cơ bản trong hoạt động TTHS: “bảo đảm sự vô tư của những người THTT” (Điều 14 BLTTHS)

* Quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa

Quyền bào chữa là một tổng thể các quyền và những biện pháp tố tụng cần thiết đảm bảo cho bị can tích cực tham gia TTHS; có khả năng thực tế để bày tỏ thái độ của mình đối với việc buộc tội; lưu ý các cơ quan THTT về những tình tiết này hay tình tiết khác của vụ án; khả năng nêu ra những tình tiết minh oan hoặc giảm nhẹ tội cho bị can Quyền bào chữa được hiến pháp quy định và

là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS Theo quy định của BLTTHS,

bị can có quyền tự bào chữa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức pháp luật, kỹ năng bào chữa và có thể đang bị

Trang 30

giam giữ nên họ không thể thực hiện được việc tự bào chữa có hiệu quả Họ cần

có người khác có khả năng để bào chữa, do đó, bên cạnh quyền tự bào chữa, pháp luật đã quy định họ có quyền nhờ luật sư, trợ giúp viên pháp lý, bào chữa viên nhân dân bào chữa cho mình Những người này sẽ tham gia TTHS để nhằm bác bỏ toàn bộ hoặc một phần sự buộc tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ

Tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa là quyền của bị can và bị cáo, không phải là nghĩa vụ của họ Do vậy, bên cạnh việc quy định các cơ quan THTT yêu cầu Đoàn luật sư phân công luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị can thì cũng quy định quyền của những người này và người đại diện hợp pháp của họ được yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa

* Quyền đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phân công thụ lý, giải quyết

vụ án khi giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản cáo trạng cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội phải thông báo, giải thích lại cho họ được biết về quyền được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa của họ từ sau khi kết thúc điều tra khi

họ có yêu cầu Việc thông báo cho bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội về quyền được đọc, ghi chép tài liệu phải được người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ghi nhận trong biên bản giao nhận bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản cáo trạng và được chuyển cùng hồ sơ

vụ án hình sự Khi bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội yêu cầu được đọc, ghi chép tài liệu thì phải có văn bản yêu cầu gửi đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ

án Nội dung văn bản yêu cầu phải nêu rõ các thông tin của bị can hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội, địa chỉ liên lạc, điện

Trang 31

thoại liên hệ và các tài liệu cần đọc, ghi chép để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết

* Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Không phải trong mọi trường hợp mọi quyết định và hành vi tố tụng của

cơ quan, người THTT đều đúng theo quy định của pháp luật Do vậy, để đảm bảo thực hiện tốt các quy định của pháp luật cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can thì pháp luật đã cho phép bị can có quyền khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của cơ quan THTT, người THTT lên các chủ thể

có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật Các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải xem xét và giải quyết khiếu nại theo đúng quy định và thời hạn pháp luật quy định Kết quả xem xét, giải quyết khiếu nại phải được thông báo bằng văn bản cho bị can biết

1.3 Các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền của bị can

Quyền của bị can cũng như quyền của các chủ thể bất kỳ nào trong các quan hệ pháp luật đều phải được đảm bảo thực hiện bằng các cơ chế mang tính pháp lý mới có giá trị thực tiễn Hệ thống pháp luật TTHS hiện nay thể hiện quyền của bị can được đảm bảo thực hiện thông qua các cơ chế cụ thể đó là các nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS và các quy định cơ bản về quyền của bị can

Thứ nhất, đảm bảo thực hiện quyền của bị can bằng các nguyên tắc cơ bản trong pháp luật TTHS

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS là những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động TTHS Các nguyên tắc này được thể hiện trong BLTTHS năm 2003 từ Điều 3 đến Điều 32 và trong BLTTHS năm 2015 từ Điều 7 đến Điều 33 Ở những mức độ khác nhau, giai đoạn lịch sử khác nhau nhưng cả hai BLTTHS đều mang tinh thần bảo vệ quyền con người trong TTHS Đối với bị can, có các nguyên tắc cơ bản thể hiện rõ tinh thần bảo vệ quyền của họ trong TTHS như sau:

Trang 32

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật Quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật được ghi nhận tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013 “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Không

ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” [51] Quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật trong TTHS được thể hiện cụ thể tại Điều 5 BLTTHS năm 2015: “TTHS tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật” [52] Điều 9 BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung nguyên tắc này như sau: “Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị

xử lý theo pháp luật Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế” [52]

Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật là yếu tố không thể thiếu trong một xã hội dân chủ Trong lĩnh vực TTHS, tình trạng bất bình đẳng trong áp dụng pháp luật đối với những người tham gia tố tụng nói chung và bị can nói riêng đã gây nên những ảnh hưởng tiêu cực đến quyền và lợi ích của công dân Không thể Bị can này thì được đối xử ưu ái, Bị can khác thì bị chèn ép, áp đặt quyền lực vô lối một khi bị tình nghi trong một hoàn cảnh điều kiện như nhau Chính vì những yêu cầu từ thực tiễn này đòi hỏi quyền của những bị can phải được đảm bảo bằng nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Khi tham gia vào hoạt động tố tụng những bị can có sự bình đẳng thì mới có điều kiện thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép nhằm chứng minh cho sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình cũng như tự bảo vệ mình trước sự xâm phạm bất hợp pháp từ phía cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Nội dung nguyên tắc cũng thể hiện yêu cầu mọi công dân khi tham gia vào các hoạt động TTHS thì đều có quyền và nghĩa vụ như nhau không có sự phân biệt, việc áp dụng các biện pháp tố tụng đối với họ

Trang 33

luôn phải dựa trên quy định của pháp luật TTHS và không ai được ưu đãi hay loại trừ áp dụng quy định của pháp luật TTHS trong quá trình tiến hành tố tụng

Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật

Nguyên tắc này còn được gọi là nguyên tắc suy đoán vô tội, một thành tựu của khoa học pháp lý hiện đại trên thế giới Ở nhiều quốc gia đây là nguyên tắc rất quan trọng định hướng cho toàn bộ quá trình TTHS Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền quy định nguyên tắc này như một cách thể hiện sự toàn cầu hóa với ý nghĩa rất lớn của nó: “1 Bất kỳ một người nào bị cáo buộc trong việc thực hiện tội phạm đều có quyền được coi là chưa có tội khi lỗi của họ chưa được chứng minh bằng một phiên tòa công khai theo một thủ tục do pháp luật quy định và tại phiên tòa đó họ được hưởng tất cả những bảo đảm cần thiết cho việc bào chữa của mình; Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt bởi một hành vi mà Bộ luật Hình sự không coi là tội phạm tại thời điểm thực hiện hành

vi đó” Công ước châu Ân về quyền con người cũng ghi nhận rằng “bất cứ người nào bị cáo buộc đã thực hiện hành vi phạm tội sẽ được coi là vô tội cho đến khi chứng minh được họ phạm tội theo quy định của pháp luật” Vấn đề cốt lõi của nguyên tắc này là “mọi nghi ngờ phải được giải thích theo hướng có lợi cho bị can” Không thể bắt đầu hoạt động tố tụng với suy đoán rằng bị can đã thực hiện hành vi phạm tội mà họ bị cáo buộc Việc chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bị can không có nghĩa vụ này [28, tr.77,78] Nếu các cơ quan tiến hành xem bị can là người đã có tội thì sẽ không khách quan trong việc đánh giá các chứng cứ, đánh giá tranh luận của các bên, quyền con người của bị can sẽ vì thế mà không được đảm bảo

Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, tại Điều 31 ghi nhận “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định

và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [51] tắc chỉ ra rằng bị can được coi là không có tội và không được đối xử với họ như là người có tội, ngay cả khi có bản án khẳng định họ có tội nhưng trong thời hạn kháng nghị,

Trang 34

kháng cáo và chưa có hiệu lực pháp luật thì họ vẫn chưa được xem là có tội Do

đó, trong hoạt động tố tụng, người tiến hành tố tụng không được mang định kiến chủ quan, chỉ thực hiện việc đi tìm chứng cứ buộc tội mà không khách quan đi tìm tất cả các chứng cứ làm rõ sự thật khách quan của vụ án Nguyên tắc này đặt

ra yêu cầu luôn luôn khách quan đặt ra các dự liệu khác nhau để xác định các chứng cứ, củng cố các chứng cứ không được ép buộc việc nhận tội, không vội tin ngay vào lời thú tội mà phải có thái độ khách quan khi tiến hành các hoạt động tố tụng Điều 13 BLTTHS năm 2015 quy định về nguyên tắc suy đoán vô tội như sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa

án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người

có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” [52] Quy định này nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, đảm bảo cho hoạt động chứng minh tội phạm được thực hiện một cách khách quan, toàn diện, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can trong tố tụng hình sự

Nội dung quyền bào chữa được ghi nhận tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013, theo đó: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” [51] Bộ luật tố tụng hình sự tại Điều 11 đã xây dựng thành một nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, theo đó quy định người bị tạm giữ,

bị can có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa CQĐT, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

Như đã đề cập, bị can là chủ thể dễ bị xâm phạm quyền con người, quyền

cơ bản của công dân bởi họ bị nhắm vào để xác định có hay không hành vi phạm tội, bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn khắc nghiệt và thực tiễn chứng minh là

Trang 35

không phải khi nào vụ án cũng xác định chính xác, không có oan sai xảy ra Vậy nên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, pháp luật TTHS quy định cho bị can quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa nhằm thể hiện thái độ, quan điểm, đưa ra những tình tiết, chứng cứ chứng minh sự vô tội hoặc để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Người tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện cho bị can được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Quyền tự bào chữa được coi là quyền mặc nhiên của bị can, họ là chủ thể bị buộc tội nên sẽ là phải tham gia tố tụng để phản đối lại các lý lẽ buộc tội, là phía tự mình gỡ tội Bên cạnh đó, bị can được đảm bảo quyền nhờ người khác bào chữa cho mình Đối với những bị can thuộc nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội mà theo luật pháp về trợ giúp pháp lý thì họ có quyền được bào chữa, được sự bào chữa miễn phí theo quy định của pháp luật

Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân

Đây là nhóm nguyên tắc nhằm bảo vệ các quyền cơ bản của công dân nói chung, bị can nói riêng trong pháp luật TTHS Hoạt động TTHS là hoạt động liên quan trực tiếp đến quyền tự do của công dân, nhất là các quyền tự do cơ bản nêu trong Hiến pháp, do đó việc tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Nguyên tắc quy định mọi hoạt động của người tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện tín, điện thoại của công dân Việc sử dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra thu thập chứng cứ được thực hiện khi có đầy đủ các căn cứ và trong giới hạn theo quy định của pháp luật [31, tr.26]

Các biện pháp ngăn chặn thường được áp dụng trong hoạt động TTHS, do

đó đã phần nào hạn chế các quyền cơ bản của bị can, nguyên tắc đảm bảo các quyền cơ bản của công dân chỉ ra trách nhiệm của những người tiến hành tố

Trang 36

tụng phải thường xuyên xem xét tính hợp pháp, sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp đã áp dụng, khi có căn cứ không cần phải áp dụng các biện pháp đó, việc áp dụng là không cần thiết thì phải kịp thời hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp khác Chỉ có tuân thủ một cách nghiêm ngặt nguyên tắc này, thì trong thực tiễn mới giảm bớt sự lạm quyền khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với bị can Nếu nguyên tắc này được thực thi một cách nghiêm túc hiện tượng bị bức cung, nhục hình, bị chèn ép và đối xử bất công trong quá trình tiến hành tố tụng sẽ được hạn chế, quyền của bị can vì thế mà sẽ được đảm bảo hơn

Thứ hai, đảm bảo thực hiện quyền của bị can bằng các quy định đầy đủ, hợp lý địa vị pháp lý của các chủ thể TTHS trong Bộ luật tố tụng hình sự

Qua việc quy định cụ thể, đầy đủ các quyền tố tụng của bị can và cả của người tiến hành tố tụng sẽ là cơ sở để đảm bảo cho việc thực hiện quyền của bị can trong TTHS Đối với bị can, việc quy định đầy đủ các quyền tố tụng của họ

là đảm bảo pháp lý quan trọng để họ sử dụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; đồng thời cũng là cơ sở pháp lý làm phát sinh trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo đảm cho việc thực hiện các quyền của bị can cũng như trách nhiệm pháp lý khi các cơ quan, người tiến hành

tố tụng vi phạm quyền của bị can [25, tr.43] Đối với người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, việc quy định đầy đủ, cụ thể các quyền hạn quyết định hoặc thực hiện các biện pháp cưỡng chế tố tụng cũng như trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng, nhất là trách nhiệm bảo đảm cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền tố tụng của mình, chế độ trách nhiệm đối với vi phạm pháp luật trước công dân thì sẽ hạn chế được việc lạm quyền của các cơ quan, cá nhân để gây thiệt hại cho người tham gia tố tụng, đảm bảo cho bị can thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Hiện nay, trong BLTTHS quyền hạn tố tụng của cơ quan, người tiến hành

tố tụng được quy định tương đối chi tiết, còn trách nhiệm thì được quy định rất

sơ sài, chung chung Ngược lại, đối với người tham gia tố tụng thì quyền tố tụng được quy định chưa thực sự đầy đủ, còn nghĩa vụ thì được quy định cụ thể, chi

Trang 37

tiết [36, tr.41] Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân nói chung, quan

hệ giữa cơ quan, người tiến hành tố tụng với bị can nói riêng thì quyền của công dân (bị can) phát sinh làm phát sinh nghĩa vụ tương ứng của Nhà nước (cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng) Vì vậy, để đảm bảo cho bị can thực hiện quyền của mình cần xây dựng một chế độ trách nhiệm rõ ràng, cụ thể, minh bạch của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử

Thứ ba, đảm bảo thực hiện quyền của bị can bằng cách quy định thủ tục TTHS dân chủ, công khai

Trong Nhà nước pháp quyền, việc dân chủ hóa mọi mặt trong đời sống xã hội nói chung, dân chủ hoạt hoạt động TTHS là một xu thế tất yếu Đối với thủ tục TTHS, việc dân chủ, công khai các quá trình, thủ tục TTHS sẽ đảm bảo cho

bị can thực hiện các quyền tố tụng của mình một một cách hữu hiệu hơn Gần đây có những hiện tượng như bức cung, nhục hình dẫn đến tình trạng oan sai diễn ra gây bức xúc trong dư luận Đã có những ý kiến cho rằng cần phải áp dụng những giải pháp để tăng cường sự dân chủ trong TTHS như lắp camera giám sát hoạt động lấy lời khai, hỏi cung nhằm chống bức cung, nhục hình nhưng đến nay vẫn chưa làm được

Ngoài ra, để đảm bảo thực hiện quyền của bị can trong TTHS thì cần có các quy định hợp lý các biện pháp cưỡng chế tố tụng, quy định cụ thể quyền khiếu nại, tố cáo của bị can đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng; quy định đầy đủ và chặt chẽ chế độ trách nhiệm đối với việc vi phạm quyền con người trong TTHS

Ngoài ra, để đảm bảo thực hiện quyền của bị can trong TTHS thì cần có các quy định hợp lý các biện pháp cưỡng chế tố tụng, quy định cụ thể quyền khiếu nại, tố cáo của bị can đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng; quy định đầy đủ và chặt chẽ chế độ trách nhiệm đối với việc vi phạm quyền con người trong TTHS

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Trong Chương một, trên cơ sở nghiên cứu khái niệm bị can cũng như những vấn đề lý luận khác về quyền của bị can trong TTHS, tác giả đã đưa ra khái niệm quyền của bị can Theo đó, quyền của bị can là những điều mà pháp luật quy định cho người đã bị khởi tố về hình sự được hưởng, được làm, được đòi hỏi khi tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Bị can trong TTHS là chủ thể bị cơ quan, người có thẩm quyền THTT buộc tội khi có căn cứ cho rằng đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm được quy định trong BLHS, bị các quyết định TTHS xác định là bị can và trở thành người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật TTHS

Ngoài ra, tại Chương một, luận văn đã tập trung phân tích đặc điểm chủ thể bị can; cơ sở để quy định quyền của bị can dựa trên yêu cầu về bảo vệ quyền con người của NNPQ Việt Nam, yêu cầu về đấu tranh phòng chống tội phạm; nghiên cứu cơ chế đảm bảo thực hiện quyền của bị can theo đó để đảm bảo thực hiện quyền của bị can cần phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản được quy định trong BLTTHS về việc đảm bảo các quyền của bị can, đồng thời cần phải xây dựng các quy phạm pháp luật chặt chẽ, cụ thể, hợp lý nhằm dân chủ hóa, công khai hóa quá trình tố tụng, làm rõ và cụ thể địa vị pháp lý của các chủ thể TTHS, hợp lý hóa các quy định về cưỡng chế tố tụng, quy định rõ quyền khiếu nại tố cáo trong TTHS, quy định hợp lý việc giám sát và chế độ trách nhiệm của người, cơ quan THTT trong vấn đề đảm bảo quyền của bị can

Cuối cùng, chương 1 phân tích về quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về quyền của bị can gồm những nhóm quyền chung và quyền riêng của bị can

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN CỦA BỊ CAN TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HỒNG

BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1 Thực trạng khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

2.1.1 Khái quát chung về quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng, có đường bờ biển dài 125km Hải Phòng ngày nay là thành phố trực thuộc Trung ương - đô thị loại 1 cấp quốc gia gồm 7 quận, 6 huyện ngoại thành và 2 huyện đảo Trong đó quận Hồng Bàng (trước là khu phố Hồng Bàng) là quận trung tâm của thành phố, được Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định thành lập ngày 05 tháng 7 năm 1961 với

Hồng Bàng có vị trí ở khu vực trung tâm của thành phố Hải Phòng tiếp giáp trực tiếp với sông Cấm Đây là vị trí quan trọng về chính trị, hành chính, kinh tế, an ninh quốc phòng và văn hoá - xã hội của thành phố Cảng Vị trí địa

lý đặc thù của quận thuận lợi cho phát triển dịch vụ thương mại, du lịch, dịch vụ cảng, dịch vụ tài chính, viễn thông CNTT, dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe, dịch

vụ giáo dục - đào tạo; phát triển các ngành công nghiệp, có công nghệ kỹ thuật hiện đại, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao như công nghiệp đóng tàu và sửa chữa tàu biển, sản xuất sản phẩm cơ khí siêu trường, siêu trọng, dây cáp ngầm điện cao thế, hoá chất… Đồng thời phát triển hệ thống cảng sông thuận tiện cho việc giao lưu vận tải bằng đường sông, đường biển tới các vùng trong cả nước

và quốc tế Phát triển dịch vụ du lịch kết nối theo tour, tuyến trong nước và quốc

tế Thuận lợi để quy hoạch phát triển các khu đô thị cao tầng, khu dân cư đô thị mới đồng bộ, hiện đại gắn với phát triển dịch vụ, trung tâm dịch vụ, khách sạn hiện đại dọc theo các trục quốc lộ chính ra vào khu vực trung tâm thành phố Là cửa ngõ giao thông thuỷ, sắt, bộ của thành phố, nối liền với thủ đô Hà Nội, tỉnh

Trang 40

Quảng Ninh tạo thành khu tam giác phát triển kinh tế phía Bắc Việt Nam "Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh"

Hồng Bàng - một vùng đất có bề dày lịch sử và văn hóa lâu đời, khởi nguồn từ các làng cổ An Biên, Gia Viên, hình thành từ đầu Công nguyên đến những năm nửa cuối thế kỷ thứ XIX, phát triển thành một thị tứ phong kiến, từng bước được đô thị hóa, trở thành đô thị - cảng biển, trung tâm kỹ nghệ, cửa khẩu giao thương quốc tế lớn nhất Bắc Kỳ Hồng Bàng được coi là "cái nôi" ra đời của đô thị Hải Phòng và luôn khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình đấu tranh giải phóng, xây dựng, bảo vệ và phát triển thành phố Hải Phòng Ngày

05 tháng 7 năm 1961 theo Quyết định số 92/CP của Hội đồng Chính phủ, nội thành Hải Phòng được chia làm 3 khu phố: khu phố Hồng Bàng được thành lập trên cơ sở các khu Máy Nước, Thượng - Hạ Lý và Trên Sông Ngày 03 tháng 01 năm 1981, Hồng Bàng được đổi từ khu phố thành đơn vị hành chính cấp quận của thành phố với 9 phường là Minh Khai, Hoàng Văn Thụ, Quang Trung, Phan Bội Châu, Phạm Hồng Thái, Hạ Lý, Thượng Lý, Trại Chuối, Sở Dầu.Trước yêu cầu phát triển của đô thị Hải Phòng, ngày 23 tháng 11 năm 1993 Từ ngày 01 tháng 01 năm 1994, quận Hồng Bàng được mở rộng thành 11 phường theo Nghị quyết số 89/CP của Chính Phủ

Quận Hồng Bàng có lợi thế về tổng diện tích đất tự nhiên lớn Quận còn quỹ đất nông nghiệp ở các phường Sở Dầu, Hùng Vương, Thượng Lý, một phần diện tích của xã An Đồng (338,36 ha) và toàn bộ diện tích của xã Nam Sơn (440,25ha) thuộc huyện An Dương sau khi có quyết định điều chỉnh địa giới hành chính của Chính phủ về quận Hồng Bàng sẽ tạo thuận lợi để thực hiện phân bố và điều chỉnh lại mật độ dân cư trên địa bàn quận và thành phố

Là khu vực có mật độ tập trung cao nhất các hoạt động thương mại, dịch

vụ, du lịch, là đầu mối bán buôn, bán lẻ nhiều loại hàng hoá, tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng của vùng đồng bằng Bắc Bộ Số đông dân cư của quận có trình

độ dân trí, thu nhập và mức sống thuộc tốp cao nhất thành phố tạo ra sức mua lớn kích thích các ngành dịch vụ phát triển

Ngày đăng: 01/04/2021, 08:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh (Chủ biên) (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Tác giả: Phạm Ngọc Anh (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
3. C.Mác - Ph.Ăngghen (1998), Về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quyền con người
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
4. C.Mác - Ph.Ăngghen (1986), Toàn tập, tập III, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
5. Lê Văn Cảm (2009), Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng NNPQ, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng NNPQ
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2009
6. Lê Văn Cảm (2010) “Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự” Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam (5-26) , NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự” Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam (5-26)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
7. Lê Văn Cảm (chủ trì) (2013) Đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Hà Nội “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật về tư pháp hình sự - Lý luận, thực trạng và hoàn thiện pháp luật” (Mã số:QG.TĐ.10.16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật về tư pháp hình sự - Lý luận, thực trạng và hoàn thiện pháp luật
8. Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản (2005) “Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật TTHS trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật TTHS trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội”
9. Lê Văn Cảm (2012), Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt Nam trong giai đoạn xây dựng NNPQ, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt Nam trong giai đoạn xây dựng NNPQ
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2012
10. Nguyễn Ngọc Chí (2007) “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật (23), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự”, "Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật (23)
11. Ngô Huy Cương (2001), “NNPQ với việc xây dựng chính quyền”, Nghiên cứu lập pháp, (7), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: NNPQ với việc xây dựng chính quyền”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2001
12. Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
13. Thái Thị Tuyết Dung (2010), “Quyền được thông tin của người tham gia tố tụng trong lĩnh vực TTHS Việt Nam”, Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, tr. 171-185, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền được thông tin của người tham gia tố tụng trong lĩnh vực TTHS Việt Nam”, Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, tr. 171-185
Tác giả: Thái Thị Tuyết Dung
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
14. Đại học luật Hà Nội (2005), Giáo trình luật TTHS, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật TTHS
Tác giả: Đại học luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
15. Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh (2010), Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình Việt Nam
Tác giả: Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
16. Đại học quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật TTHS Việt Nam
Tác giả: Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
18. Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
19. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
20. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 "“Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 “Về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 "“Về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w