1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính: Phòng Tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người - Từ thực tiễn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

106 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động của phòng Tư pháp huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng trong việc bảo vệ quyền con người để đưa ra các quan điểm và giải pháp bảo vệ quyền con người của Phòng Tư pháp nói chung, Phòng Tư pháp huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng nói riêng.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Minh Sản Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện Hành chính quốc gia

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Minh Sản đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành tốt luận văn này

Tác giả trân trọng cảm ơn đến các thầy, cô Khoa Sau đại học, Ban Giám đốc của Học viện Hành chính Quốc gia; Ủy ban nhân dân huyện Kiến Thụy, phòng Tư pháp huyện Kiến Thụy đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tác giả nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Hồng Vân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP HUYỆN TRONG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 9 1.1 Quyền con người 9 1.2 Phòng tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người 14 1.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động của phòng tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người 32 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35 Chương 2 HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 37 2.1 Khái quát về tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng 37 2.2 Thực trạng hoạt động của phòng tư pháp huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng trong bảo vệ quyền con người 38 2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động của phòng tư pháp huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng trong bảo vệ quyền con người 58 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 74 Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP HUYỆN TRONG BẢO VỆ 75 QUYỀN CON NGƯỜI 75 3.1 Quan điểm bảo đảm hiệu quả hoạt động của phòng tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người 75 3.2 Giải pháp bảo đảm hiệu quả hoạt động của phòng tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người 79 KẾT LUẬN 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 6

: Xã hội chủ nghĩa : Quy phạm pháp luật

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Quyền con người là một phạm trù lịch sử có ảnh hưởng lớn đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, là vấn đề vô cùng nhạy cảm và phức tạp Bản Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền đã và đang trở thành một chuẩn mực chung cho tất cả mọi người, các dân tộc và quốc gia phấn đấu nhằm bảo đảm

và thực hiện các quyền và tự do cơ bản của con người, khuyến khích và tăng cường sự khoan dung, tôn trọng nhân phẩm và giá trị của con người

Ở Việt Nam, vấn đề giải phóng con người, bảo vệ quyền con người được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong bản Tuyên ngôn độc lập năm

1945 và đây cũng là nguyên tắc được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam từ 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 (sửa đổi) Các bản Hiến pháp đều đã ghi nhận nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, công dân bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, việc bảo vệ quyền con người là trách nhiệm của các cơ quan tổ chức và toàn thể Nhân dân Trên thực tế, nhiều cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền con người, quyền công dân như thông qua Tòa

Để thực hiện chức năng này, Phòng Tư pháp có nhiệm vụ và quyền hạn trình UBND cấp huyện ban hành quyết định, ch thị; quy hoạch, kế hoạch dài

Trang 8

hạn, 05 năm và hàng năm về lĩnh vực tư pháp; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân HĐND và U ND cấp huyện trong lĩnh vực tư pháp;

tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực tư pháp sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; ch đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ về công tác tư pháp ở cấp xã và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật Việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Tư pháp cũng chính

là quá trình hiện thực hóa quyền con người, quyền công dân được bảo đảm trên thực tế

Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, một số quyền con người, quyền công dân của người dân tiếp cận dưới góc độ bảo đảm tư pháp còn bị vi phạm ở các mức độ khác nhau Những vi phạm này xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, có ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của Nhân dân vào các cấp chính quyền

Để tạo được một hệ thống các quy tắc pháp lý có sự đổi mới cơ bản, có nguyên tắc, định hướng và mục đích pháp lý đầy đủ, rõ ràng, đồng bộ, thống nhất và có tính khả thi cao trong bảo đảm các quyền con người thông qua các hoạt động tư pháp, đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN của Nhân dân,

do Nhân dân và vì Nhân dân đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận, pháp lý cần phải được giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn Vì vậy, việc nghiên

cứu đề tài "Phòng Tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người - Từ thực

tiễn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng" là yêu cầu khách quan và tất

yếu, cấp thiết cả về lý luận, pháp lý và thực tiễn

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu về quyền con người, về bảo vệ quyền con người bằng hoạt động của nhà nước pháp quyền Trong khoa học pháp lý quốc tế, quyền con người được nhiều tác giả ở nhiều quốc gia khác nhau nghiên cứu ở nhiều phương diện, nhiều góc nhìn khác nhau Dưới đây là một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến quyền con người và bảo

vệ quyền con người mà tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu luận văn, gồm các tác phẩm và bài viết:

"Nhân quyền, bảo vệ nhân quyền theo Công ước quốc tế về quyền dân

sự và chính trị" của Lippman Matther, tạp chí Quốc tế California, số 10-1980 Trong bài viết của mình tác giả Lippman Matther đưa ra phân tích về các khái niệm liên quan đến quyền con người (nhân quyền), vấn đề bảo vệ quyền con người theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị Ngoài ra trong bài viết tác giả còn phân tích những nội dung có liên quan đến phương thức thực hiện các hoạt động bảo vệ quyền con người [29]

"Việc áp dụng Hiệp ước châu Âu về nhân quyền của Tòa án Pháp" của Steiner Eva, tạp chí Luật kings Collages, số 6, 1996 Tại bài viết này, tác giả Steiner Eva đã đưa ra phân tích về việc vận dụng Hiệp ước châu Âu về nhân quyền tại Tòa án Pháp Tòa án Pháp là một tòa án thuộc liên minh Châu Âu

do đó, việc vận dụng Hiệp ước nhân quyền của Châu Âu có một ý nghĩa rất quan trọng Đặc biệt trong bối cảnh mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật của Pháp là rất phức tạp và khó khăn [41]

"Các đảm bảo quyền cá nhân theo Hiến pháp Liên bang Hoa Kỳ" của Scialia Antomin, nhà xuất bản Martinus Nijhoff publishers, Dordrecht 1994, trong sách này, tác giả Scialia Antomin phân tích về vấn đề đảm bảo các quyền cá nhân theo Hiến pháp Hoa Kỳ Hiến pháp Hoa Kỳ được coi là bản hiến pháp bảo vệ quyền con người rất mạnh mẽ, bằng việc giới hạn quyền lực nhà nước để đảm bảo cho các quyền con người không bị xâm phạm tới Do

Trang 10

đó, trong tác phẩm này, tác giả đã đưa ra các phân tích về phương thức, nội dung của hoạt động bảo đảm quyền cá nhân theo quy định của Hiến pháp Hoa

Kỳ [40]

Bài viết “Human rights and the courts in Canada” Quyền con người và Tòa án ở Canada) của Nancy Holmes, Tạp chí Law and Government Division, tháng 11- 1991 Trong tác phẩm này, tác giả phân tích nội dung của pháp luật Canada về quyền con người, các cơ chế bảo đảm và thúc đẩy quyền con người phát triển trong thời đại toàn cầu hóa Theo tác giả, cùng với Hiến pháp, Luật về quyền con người và Tòa án là những yếu tố pháp lý giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người phát triển [31]

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam vấn đề về con người luôn được đặt vào vị trí trung tâm để xác lập các tiền đề vững chắc thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện

Do đó, vấn đề về quyền con người từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Trong những năm gần đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu về quyền con người trên các lĩnh vực:

- "Tính con người và những vấn đề của đạo đức, pháp luật", của Tác giả Hoàng Thị Kim Quế, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2-2004 Trong bài viết của mình, tác giả Hoàng Thị Kim Quế đã phân tích được mối quan hệ giữa con người và pháp luật và đạo đức Quyền con người xuất phát từ bản tính tự nhiên, vốn có của con người Quyền con người có ảnh hưởng và liên quan trực tiếp đến các yếu tố đạo đức, pháp luật về quyền con người [33]

- "Đảm bảo quyền con người trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam", Luận án Tiến sĩ Luật học, Tường Duy Kiên, 2004 Trong luận án của mình, tác giả Tường Duy Kiên đã phân tích và nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của bảo đảm quyền con người cũng như khái niệm bảo đảm quyền con người trong hoạt động của Quốc hội Bên cạnh đó, trong luận án của mình tác giả còn nghiên cứu xác định nội dung bảo đảm quyền con người trong hoạt động của Quốc hội ở Việt Nam [22]

Trang 11

- Đề tài cấp cơ sở năm 2008: "Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm quốc gia trong quá trình thực hiện quyền phát triển của con người", Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm đề tài tác giả Nguyễn Duy Sơn Trong đề tài này, tác giả tập trung phân tích về những vấn đề lý luận có liên quan đến hoạt động bảo đảm quyền con người như là mục tiêu quốc gia Trong đề tài có các đề xuất cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người trong quá trình xây dựng NNPQ của Việt Nam hiện nay [39]

- "Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (Sách chuyên khảo) của tác giả Trần Ngọc Đường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008 Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay Quyền con người, quyền công dân có liên quan mật thiết với nhau và là hai nội dung của cùng một vấn đề Việc xác định khái niệm, các thuộc tính của quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN là rất quan trọng trong bối cảnh này [9]

- Đề tài cấp Bộ: "Một số vấn đề cơ bản thực hiện quyền con người vì mục tiêu phát triển con người ở Việt Nam", Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu con người, Viện Khoa học xã hội Việt Nam Chủ nhiệm đề tài Vũ Thị Minh Chi Trong đề tài này các tác giả nghiên cứu về mối liên hệ giữa quyền con người và mục tiêu phát triển con người của Việt Nam Về cơ bản đề tài cũng đã xác định được một số nội dung có liên quan đến mục tiêu phát triển con người trong giai đoạn hiện nay

- Hội thảo "Cơ quan nhân quyền quốc gia", do Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Ban quản lý dự án Trung tâm quyền con người

và Đại sứ Quán Đan Mạch, tổ chức vào ngày 19-12-2009 Tại hội thảo có 11 tham luận của các nhà nghiên cứu khoa học; - Trung tâm Nghiên cứu quyền con người và quyền công dân thuộc Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập tháng 4-2007) triển khai 9 đề tài nghiên cứu về quyền con

Trang 12

người trong thời gian 2008 - 2009, cụ thể như sau: Nhóm 1: Các vấn đề quốc tế: 1 Nhận thức và lịch sử phát triển về quyền con người trên thế giới 2 Phương pháp nghiên cứu, giáo dục quyền con người 3 Những vấn đề và nội dung cơ bản của luật nhân quyền quốc tế 4 Luật quốc tế về quyền của các nhóm dễ bị tổn thương; Nhóm 2: Quyền con người ở Việt Nam: 5 Nhận thức

và lịch sử phát triển về quyền con người ở Việt Nam 6 Quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam 7 Bảo đảm quyền dân sự và chính trị trong pháp luật và thực tiễn ở Việt Nam 8 Bảo đảm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trong pháp luật và thực tiễn ở Việt Nam 9 Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền của các nhóm dễ bị tổn thương ở Việt Nam

Tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, sách chuyên khảo, luận án, bài báo trong chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về quyền con người và việc bảo vệ quyền con người trong tình hình mới

Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên biệt về Phòng Tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và

chuyên biệt về "Phòng Tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người - Từ

thực tiễn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng" dưới góc độ Luật Hiến

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

Trang 13

Thứ nhất, luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về bảo vệ quyền con

người của Phòng Tư pháp huyện thông qua việc làm rõ khái niệm, đặc điểm, các nhóm quyền con người; khái niệm, đặc điểm, vai trò và nội dung cơ bản trong hoạt động của phòng Tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người; luận giải các yếu tố tác động đến hoạt động của phòng Tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người

Thứ hai, luận văn phân tích thực trạng hoạt động của phòng Tư pháp

huyện Kiến Thụy, Thành phố Hải Phòng trong bảo vệ quyền con người; qua

đó đánh giá về những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và ch rõ nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong bảo vệ quyền con người qua hoạt động của phòng Tư pháp huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

Thứ ba, luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm chất

lượng hoạt động của Phòng Tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn

về hoạt động của Phòng Tư pháp huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng trong bảo vệ quyền con người

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Dưới góc độ tiếp cận của khoa học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, luận văn nghiên cứu về bảo vệ quyền con người của Phòng Tư pháp huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng từ năm 2013 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu của luận văn

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh

và quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người và bảo vệ quyền con người

Trang 14

5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, dự báo để chọn lọc những tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn về bảo vệ quyền con người của Phòng Tư pháp cấp huyện ở Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những bổ sung quan trọng góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền con người; đồng thời nâng cao nhận thức về vị trí pháp lý và vai trò của Phòng Tư pháp huyện trong bảo vệ và thúc đẩy việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được tham khảo trong nghiên cứu, xây dựng pháp luật về bảo vệ quyền con người; khẳng định giá trị thực tiễn và vai trò quan trọng của của Phòng Tư pháp huyện trong việc bảo vệ và thúc đẩy việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam; có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong các khóa bồi dưỡng chuyên đề đối với cán bộ làm công tác tư pháp

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động của phòng Tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người

Chương 2: Hoạt động của Phòng Tư pháp huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng trong bảo vệ quyền con người

Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo hoạt động của phòng Tư pháp huyện bảo vệ quyền con người

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP

HUYỆN TRONG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

1.1 Quyền con người

1.1.1 Khái niệm, đặc trưng quyền con người

1.1.1.1 Khái niệm quyền con người

Những ý tưởng về quyền con người đã ra đời từ rất sớm cùng với sự phân chia giai cấp trong xã hội và hình thành Nhà nước Ở Nhà nước chiếm hữu nô lệ, tư tưởng về bình đẳng, dân chủ, pháp luật hoá tư tưởng về quyền con người đã được thể hiện dù còn hạn chế, điển hình là trong Bộ luật Hammurabi (khoảng 1780 trước công nguyên), Bộ luật của Cyrus Đại đế (khoảng 550 trước công nguyên), Bộ luật của Ashoka (khoảng 273-231 trước công nguyên đã đề cập đến việc bảo vệ các quyền lợi chính đáng của con người Trong pháp luật phong kiến của Việt Nam, quyền con người tuy còn được bảo vệ một cách hạn chế nhưng bước đầu đã được thừa nhận, bảo vệ đặc biệt là trong các văn bản pháp luật thời kỳ này như Quốc triều hình luật thời

Lê Thế kỷ XVII - XVIII ở châu Âu, trường phái pháp luật tự nhiên với các đại diện như: Spinoda, Hobbes, Kant đã mở ra một trang mới cho sự phát triển tư tưởng bảo vệ quyền cá nhân chống lại sự vi phạm từ phía quyền lực

Tư tưởng này góp phần vào thắng lợi của cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến tàn bạo, thiết lập nhà nước mà ở đó phẩm giá con người được nâng lên thành công dân của xã hội chứ không phải thần dân của vua

Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ năm 1776 khẳng định: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền được sống, quyền tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc"[11, tr.41] Những tuyên bố này đã được tái khẳng định trong Bản Tuyên ngôn Quyền công dân và Quyền con người 1789 của nước Pháp và Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trang 16

Tư tưởng về quyền con người thực sự trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu và dần được thể chế hóa toàn diện, có tính hệ thống vào pháp luật và đời sống chính trị quốc tế bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi các

tổ chức quốc tế lớn ra đời như: Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc

tế năm 1863 , Hội Quốc Liên (1919), Tổ chức lao động Quốc tế 1919 Đặc biệt, sau khi Liên Hợp Quốc ra đời năm 1945 và ban hành Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 thì vấn đề quyền con người đã trở thành mục tiêu chung và căn bản của toàn nhân loại, là động lực đấu tranh của tất cả nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới Đoạn một Lời nói đầu của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 có nhấn mạnh: “Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới” [12, tr.47]

Đưa ra khái niệm về quyền con người, Văn phòng Cao ủy Liên hiệp Quốc về quyền con người đã định nghĩa: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân

và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions)

mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do

cơ bản (fundamental freedoms) của con người" [11, tr.37]

Cách hiểu về quyền con người của các chuyên gia, cơ quan nghiên cứu

ở Việt Nam cũng không hoàn toàn đồng nhất, nhưng nhìn chung, đa số đều hiểu rằng quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia

và các thỏa thuận pháp lý quốc tế Quyền con người được tiếp cận dưới góc

độ là những quyền tự nhiên, vốn có nhưng phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền con người được coi là những chuẩn mực được cộng đồng quốc

tế thừa nhận, tuân thủ và được áp dụng cho tất cả mọi người trên thế giới

Trang 17

1.1.1.2 Đặc trưng quyền con người

Các đặc trưng quyền con người, theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có bốn đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất: Tính phổ biến (universal) thể hiện ở chỗ quyền con người là

những gì bẩm sinh, vốn có của con người sinh và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người, không có sự phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do nào ( chẳng hạn như về chủng tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, xuất thân…

Thứ hai: Tính không thể bị tước bỏ(inalienable): Các quyền con người

không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào,

kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước, trừ một số trường hợp đặc biệt do luật pháp quy định Ví dụ, quyền tự do có thể được hạn chế nếu một người bị kết án là phạm một tội theo quy định của pháp luật bởi một bản án có hiệu lực của tòa án có thẩm quyền

Thứ ba: Tính không thể phân chia (indivisible): Mọi quyền con người

đều có tầm quan trọng như nhau, nên về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào: Đó là các quyền dân sự và chính trị như quyền sống, bình đẳng trước pháp luật và tự do ngôn luận; các quyền kinh tế,

xã hội và văn hóa, như các quyền được làm việc, an sinh xã hội và giáo dục; hoặc quyền của nhóm như quyền phát triển và tự quyết định Tuy nhiên, tùy vào một số trường hợp mà một số quyền được ưu tiên áp dụng Ví dụ, trong khu vực môi trường nước ô nhiễm nặng thì quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền được tiếp cận nguồn nước sạch sẽ được ưu tiên quan tâm hơn quyền bầu cử

Thứ tư: Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelatedand, interdependent): Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây

ảnhhưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác Một xã hội phát triển, đảm bảo tốt các quyền và tự

do chính trị, dân sự sẽ có những tác động tích cực trực tiếp và gián tiếp đảm

Trang 18

bảo các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội Và ngược lại, các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được đảm bảo thì các quyền chính trị, dân sự sẽ được thực thi tốt

Các quyền của con người là những giá trị xã hội được con người nhận thực, thừa nhận và dần được thể chế hóa trong các văn kiện quốc tế về quyền con người; được các quốc gia thừa nhận, cam kết thực hiện Các quyền công dân là hình thức pháp lý, biểu hiện cụ thể của quyền con người được pháp luật của quốc gia ghi nhận Vì vậy, có không ít những trường hợp giữa quyền con người và quyền công dân vẫn có những khoảng cách nhất định

Bảo vệ quyền con người, quyền công dân là việc xác định các biện pháp pháp lý, các biện pháp tổ chức, cơ chế để bảo vệ các quyền con người, quyền công dân khi bị xâm phạm từ phía cơ quan công quyền hay từ các chủ thể khác nhằm khôi phục các quyền đã bị xâm hại

1.1.2 Các nhóm quyền con người

Nghiên cứu về lý luận quyền con người có thể thấy việc phân loại các nhóm quyền con người thành từng nhóm khác nhau cần phải dựa vào các tiêu chí nhất định Và như vậy, việc xác định tiêu chí của nhóm quyền con người sẽ xác định được nội dung của các nhóm này

- Dựa trên cơ sở tiêu chí về các lĩnh vực của đời sống nhân loại: quyền con người được phân thành 02 nhóm gồm:

Nhóm các quyền dân sự, chính trị: quyền sống, quyền tự do biểu đạt, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, quyền tham gia quản lý xã hội, quyền bầu cử ứng cử

Nhóm các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội như: quyền được làm việc, quyền hưởng thụ văn hóa, quyền chăm sóc y tế, quyền có việc làm, quyền tham gia bảo hiểm xã hội [11,tr.62]

Như vậy, theo tiêu chí xác định trên thì hoạt động bảo vệ quyền con người của Phòng tư pháp huyện sẽ gắn bó mật thiết với nhóm quyền về dân

sự, chính trị của con người: như quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về danh dự, nhân phẩm…

Trang 19

- Dựa trên cơ sở tiêu chí về nguồn gốc của quyền thì ta có 02 nhóm quyền là: quyền tự nhiên và quyền pháp lý

Quyền tự nhiên là các quyền nảy sinh từ bản chất tự nhiên của con người kể từ khi con người mới sinh ra và lớn lên mà không một ai, kể cả nhà nước, xã hội, có quyền ngăn cản hoặc tước đoạt Đó là các quyền được sống, quyền được ăn, uống, mặc, ngủ, ngh , quyền được mưu cầu hạnh phúc, quyền được kết hôn, quyền được tự do

Quyền pháp lý là các quyền mà gắn bó với sự ra đời của nhà nước, được nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng các quy định pháp luật ví

dụ quyền bầu cử, ứng cử, quyền có việc làm, quyền tự do kinh doanh…

Như vậy, theo cách phân loại này thì nhóm quyền tự nhiên như quyền sống, quyền kết hôn, quyền khai sinh, khai tử là quyền được bảo vệ trong hoạt động của Phòng tư pháp huyện

- Dựa trên cơ sở tiêu chí điều kiện hưởng thụ quyền có 02 nhóm: quyền tuyệt đối và quyền có điều kiện

Quyền tuyệt đối là những quyền phải được tôn trọng và áp dụng trong mọi hoàn cảnh và không cần điều kiện gì kèm theo như quyền sống; quyền không bị tra tấn, nhục hình, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo… trong khi quyền

có điều kiện là những quyền ch được áp dụng nếu thỏa mãn những yêu cầu nhất định (ví dụ, quyền được kết hôn; quyền bầu cử, ứng cử…đòi hỏi chủ thể quyền phải đáp ứng các yêu cầu về độ tuổi và về năng lực hành vi) [11, tr.68]

- Dựa trên cơ sở tiêu chí cách thức thực thi/bảo đảm có 02 loại quyền

là quyền chủ động và quyền thụ động

Quyền thụ động đòi hỏi các chủ thể khác phải kiềm chế không can thiệp vào việc thực thi/hưởng thụ quyền của chủ thể quyền (ví dụ, để bảo đảm quyền được biểu đạt của một cá nhân, chủ yếu đòi hỏi nhà nước và các chủ thể khác không ngăn cấm hoặc can thiệp vô lý vào việc trao đổi ý kiến, quan điểm của chủ thể quyền Trong khi đó, quyền chủ động đòi hỏi các chủ thể khác phải có nghĩa vụ tương ứng phải hành động để bảo đảm quyền của chủ

Trang 20

thể quyền (ví dụ, để bảo đảm quyền có mức sống thích đáng của công dân, các nhà nước có nghĩa vụ thực thi các biện pháp có thể để hỗ trợ người dân có thu nhập và bảo đảm các điều kiện sống… Như vậy ở đây quyền thụ động chủ yếu nói đến các quyền dân sự, chính trị; trong khi quyền chủ động chủ yếu đề cập đến các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa [11, tr.68]

1.2 Phòng tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người

1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Tư pháp huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

Cùng với sự phát triển và hoàn thiện tổ chức các CQCM thuộc UBND

t nh thành phố trực thuộc trung ương thì các CQCM thuộc UBND huyện, thị

xã, thành phố thuộc t nh và quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương cũng được sắp xếp, tổ chức lại theo hướng gọn nhẹ, khoa học và phù hợp với điều kiện đặc thù của UBND cấp huyện, trong đó có phòng Tư pháp huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

Thực hiện Nghị định số 37/2014/NĐ-CP, ngày 04/02/2008 của Chính phủ về việc quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc t nh; Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV, ngày 22/12/2014 của Bộ Tư pháp, ộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân t nh, thành phố trực thuộc trung ương và Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc t nh; Quyết định số 1616/2014/QĐ-UBND ngày 01/8/2014 của Ủy ban nhân dân huyện

về quy định tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Ngày 28/7/2015 UBND huyện Kiến Thụy đã ban hành Quyết định số 2100/2015/QĐ-UBND về ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và quan hệ công tác của Phòng Tư pháp huyện Kiến Thụy Trong đó xác định rõ: Chức năng: Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Kiến Thụy, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân huyện quản lý nhà nước về: công tác xây dựng và

Trang 21

thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; nuôi con nuôi; hộ tịch; chứng thực; bồi thường nhà nước; trợ giúp pháp lý; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

và công tác tư pháp theo quy định của pháp luật

Phòng Tư pháp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự ch đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Uỷ ban nhân dân huyện, đồng thời chịu sự

ch đạo, kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Tư pháp

Nhiệm vụ, quyền hạn: Phòng tư pháp huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

Trình Ủy ban nhân dân huyện ban hành quyết định, ch thị; quy hoạch,

kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm về lĩnh vực tư pháp; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện trong lĩnh vực tư pháp

Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện dự thảo các văn bản về lĩnh vực

tư pháp thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện

Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực tư pháp sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Ch đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ về công tác tư pháp ở cấp xã

Về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Phối hợp xây dựng quyết định, ch thị thuộc thẩm quyền ban hành của Ủy ban nhân dân cấp huyện do các cơ quan chuyên môn khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện chủ trì xây dựng; Thẩm định dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện; góp ý dự

Trang 22

thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện theo quy định của pháp luật; Tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật, pháp lệnh theo sự ch đạo của Ủy ban nhân dân cấp huyện và hướng dẫn của Sở Tư pháp

Về theo dõi thi hành pháp luật: Xây dựng và trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn; Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện và công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại địa phương; Tổng hợp, đề xuất với Ủy ban nhân dân huyện về việc xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực tư pháp thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân huyện

Về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật: Giúp Hội đồng nhân dân và

Ủy ban nhân dân huyện tự kiểm tra văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện ban hành; hướng dẫn công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân xã ban hành; Thực hiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của pháp luật; trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện quyết định các biện pháp xử lý văn bản trái pháp luật theo quy định của pháp luật

Tổ chức triển khai thực hiện việc rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện theo quy định của pháp luật; đôn đốc, hướng dẫn, tổng hợp kết quả rà soát, hệ thống hóa chung của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện và của

Ủy ban nhân dân cấp xã.Về kiểm soát thủ tục hành chính: Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính theo ch đạo của Ủy ban nhân dân huyện, hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên và theo quy định của pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính; Tham mưu giúp Ủy ban nhân

Trang 23

dân huyện ch đạo, tổ chức thực hiện rà soát, đánh giá thủ tục hành chính thực hiện trên địa bàn huyện để kiến nghị, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ; Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện niêm yết công khai thủ tục hành chính, báo cáo tình hình, kết quả giải quyết thủ tục hành chính và tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính của cơ quan chuyên môn huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã

Về phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải ở cơ sở: Xây dựng, trình

Ủy ban nhân dân huyện ban hành chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thực hiện sau khi chương trình, kế hoạch được ban hành; Theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra công tác phổ, biến giáo dục pháp luật tại địa phương; đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện, cơ quan, tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên địa bàn huyện Kiến Thụy; Thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật huyện Kiến Thụy; Xây dựng, quản lý đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật theo quy định của pháp luật; Hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật ở cấp xã và ở các cơ quan, đơn vị khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật; Tổ chức triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về hoà giải

Trang 24

tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái với quy định của pháp luật (trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật); Quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu

hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích lục hộ tịch theo quy định; Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch; lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định pháp luật

Thực hiện nhiệm vụ quản lý về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật

Về chứng thực: Hướng dẫn, kiểm tra về nghiệp vụ cho công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký; Thực hiện cấp bản sao

từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký theo quy định của pháp luật

Về bồi thường nhà nước: Đề xuất, trình Ủy ban nhân dân huyện xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp người bị thiệt hại yêu cầu hoặc chưa có sự thống nhất về việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật; Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc giải quyết bồi thường; Cung cấp thông tin, hướng dẫn thủ tục

hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính; Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc giải quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường và thực hiện trách nhiệm hoàn trả theo quy định của pháp luật đối với trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giải quyết bồi thường

Thực hiện nhiệm vụ trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật

Về quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính: Giúp Ủy ban nhân dân huyện theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương; Đề xuất với

Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng kiến nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, xử lý các quy định xử lý vi phạm hành chính không khả thi, không phù hợp với thực tiễn hoặc chồng chéo, mâu thuẫn với nhau; Hướng

Trang 25

dẫn nghiệp vụ trong việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; Thực hiện thống kê về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý của địa phương

Giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án dân sự, hành chính theo quy định của pháp luật và quy chế phối hợp công tác giữa cơ quan tư pháp và cơ quan thi hành án dân sự địa phương do

Bộ Tư pháp ban hành

Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước

về công tác tư pháp đối với công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã, các tổ chức

và cá nhân khác có liên quan theo quy định của pháp luật

Tổ chức ứng dụng khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Phòng

Thực hiện công tác thông tin, thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của Ủy ban nhân dân huyện và Sở Tư pháp

Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, tham gia thanh tra việc thực hiện pháp luật trong các lĩnh vực quản lý đối với tổ chức, cá nhân trên địa bàn; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong hoạt động tư pháp trên địa bàn theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân huyện

Quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, thực hiện chế độ tiền lương, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với công chức thuộc phạm vi quản lý của Phòng theo quy định của pháp luật, theo phân công của Ủy ban nhân dân huyện

Quản lý và chịu trách nhiệm về tài sản, tài chính của Phòng theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân huyện

* Về cơ cấu tổ chức và biên chế của Phòng tư pháp huyện Kiến Thụy

Trang 26

Phòng Tư pháp huyện Kiến Thụy có Trưởng phòng, và 02 Phó Trưởng phòng và 02 công chức

Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Kiến Thụy và trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn được giao và toàn bộ hoạt động của Phòng và công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trên địa bàn huyện Kiến Thụy

Phó Trưởng phòng là người giúp Trưởng phòng phụ trách và theo dõi một số mặt công tác; chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng và trước pháp luật

về nhiệm vụ được phân công Khi Trưởng phòng vắng mặt, một Phó Trưởng phòng được Trưởng phòng ủy nhiệm điều hành các hoạt động của Phòng;

Việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, cho từ chức, thực hiện chế độ, chính sách đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Kiến Thụy quyết định theo quy định của pháp luật

Biên chế công chức của Phòng Tư pháp do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Kiến Thụy quyết định trong tổng biên chế công chức của huyện được

Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng phê duyệt

Việc bố trí công tác đối với công chức của Phòng Tư pháp Kiến Thụy phải căn cứ vào vị trí việc làm, chức danh, tiêu chuẩn, cơ cấu ngạch công chức theo quy định và đảm bảo đủ lực lượng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao

1.2.2 Khái niệm, đặc điểm hoạt động của phòng Tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người

1.2.2.1 Khái niệm

Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống các cơ quan hành chính

tư pháp qua các thời kỳ: có thể thấy ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước,

tổ chức các cơ quan chính quyền địa phương đều được quy định khác nhau Chẳng hạn, ở thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền địa phương của triều đình nhà Nguyễn được chia thành t nh, có phân biệt giữa

Trang 27

t nh lớn và t nh nhỏ, t nh chia thành phủ, mỗi phủ miền xuôi chia thành huyện, còn t nh miền núi chia thành nhiều đạo và châu Sau này, chính quyền địa phương vẫn được chia thành ba cấp (t nh, huyện và xã nhưng ở cấp t nh và huyện có các cơ quan chuyên môn - một bộ phận cấu thành quan trọng của UBND, giúp UBND trong quản lý các lĩnh vực công tác ở địa phương Mặc dù ở mỗi thời kỳ khác nhau, tên gọi, vị trí của các cơ quan này khác nhau, nhưng chúng luôn có vai trò quan trọng trong việc giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước thống nhất về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến địa phương

Đầu những năm 1990, công cuộc đổi mới nói chung và cải cách bộ máy nhà nước nói riêng đã được tiến hành một cách khá tích cực, khẩn trương Hiến pháp 1992 và các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước được Quốc hội khoá IX thông qua vào tháng 10/1992 đã đặt ra những nguyên tắc nền tảng cho cải cách tư pháp Ngày 4/6/1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của ộ Tư pháp Nghị định gồm 6 điều, theo đó:

Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước thống nhất về công tác tư pháp; xây dựng và tham gia xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý

về mặt tổ chức Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự quân khu và tương đương, Toà án quân sự khu vực; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp lý và quản lý các công tác tư pháp khác được Chính phủ giao [3]

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của cơ quan tư pháp địa phương được quy định tại Thông tư số 12/TTL ngày 26/7/1993 Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, an Tư pháp là cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và chịu sự ch đạo và quản lý về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan tư pháp cấp trên

Trang 28

Hiện nay, theo quy định tại Điều 4, Thông tư liên tịch số:

23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22 tháng 12 năm 2014 của ộ Tư pháp, ộ

Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của

Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân t nh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc t nh:

Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: công tác xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; thi hành án dân sự; chứng thực; hộ tịch; trợ giúp pháp lý; hoà giải ở cơ sở và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật

Phòng Tư pháp có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của

Ủy ban nhân dân cấp huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Tư pháp [2]

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Phòng tư pháp có các nhiệm

vụ quyền hạn liên quan đến các hoạt động của Uỷ ban nhân dân và hoạt động

tư pháp nói chung Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, phòng tư pháp có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người

Như vậy qua phân tích trên và khái niệm về bảo vệ quyền con người

chúng ta xác định khái niệm: Phòng tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con

người là tổng thể các hoạt động thể hiện vị trí, vai trò, nội dung bảo vệ quyền con người của phòng tư pháp với tư cách là cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân huyện khi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật

Trang 29

Chính quyền địa phương được phân cấp và giao quyền ngày càng mạnh hơn để chủ động triển khai những chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm thực hiện quyền con người tại địa phương Ở địa phương, các cơ quan chuyên môn thuộc U ND nói chung và phòng tư pháp nói riêng là cơ quan có thẩm quyền chuyên môn thuộc UBND huyện, có chức năng tham mưu, giúp việc cho UBND huyện quản lí về ngành, lĩnh vực công tác trong phạm vi quản lí của UBND huyện Vì vậy, các cơ quan chuyên môn không phải là cơ quan hiến định, mà hiện nay cơ quan này được thành lập trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật dưới Hiến pháp (chủ yếu trong các nghị định của Chính phủ) Vì vậy, việc tổ chức, hoạt động, thực hiện chức năng nhiệm vụ của phòng chuyên môn trong đó có phòng tư pháp đều trực tiếp tác động tới việc bảo đảm thực hiện và phát triển quyền con người trên địa bàn huyện quản lý và được quy định của thể trong văn bản quy phạm pháp luật dưới luật

Thứ hai, Hoạt động bảo vệ quyền con người của phòng tư pháp chịu sự chi phối toàn diện của pháp luật

Quyền con người, là một giá trị cơ bản và quan trọng của nhân loại Đó

là thành quả của sự phát triển lịch sử, là đặc trưng của xã hội văn minh Quyền con người cũng là một quy phạm pháp luật, đương nhiên nó đòi hỏi tất

cả mọi thành viên của xã hội, không loại trừ bất cứ ai, đều có quyền và nghĩa

vụ phải tôn trọng các quyền và tự do của mọi người Là một phạm trù đa diện,

Trang 30

song quyền con người có mối liên hệ gần gũi hơn cả với pháp luật Điều này trước hết là bởi cho dù quyền con người có là bẩm sinh, vốn có (nguồn gốc tự nhiên) hay phải do các nhà nước quy định (nguồn gốc pháp lý), thì việc thực hiện hay bảo vệ các quyền vẫn cần có pháp luật [49, tr.133] Hầu hết những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người (các quyền tự nhiên) không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải ch tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở thành những quy tắc ứng xử chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội Chính vì vậy, quyền con người gắn liền với các quan hệ pháp luật và là một phạm trù pháp lý

Thực tế cho thấy, với tư cách là chủ thể của pháp luật, con người – cùng với quyền, tự do và nghĩa vụ, những thuộc tính xã hội gắn liền với nó – luôn là đối tượng phản ánh của các hệ thống pháp luật Pháp luật xác lập và bảo vệ sự bình đẳng giữa các cá nhân con người trong xã hội và sự độc lập tương đối của các cá nhân với tập thể, cộng đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền và tự do tự nhiên, vốn có của cá nhân Theo nghĩa này, pháp luật có vai trò đặc biệt, không thay thế trong việc ghi nhận, bảo vệ

và thúc đẩy các quyền con người

Pháp luật là công cụ sắc bén của Nhà nước trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người Tính sắc bén của pháp luật trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người được thể hiện ở các quy định về quyền con người trong pháp luật được đảm bảo bằng bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính nhà nước trong đó

có các cơ quân chuyên môn như phòng tư pháp; cách thức tác động quyền lực

của Nhà nước, khi cần thiết thì Nhà nước sử dụng các biện pháp cưỡng chế trên

cơ sở tiến hành các biện pháp giáo dục, thuyết phục bảo đảm cho nội dung quyền con người, quyền công dân được thực hiện và bảo vệ Bên cạnh đó, nhờ

hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật mà mọi hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân đều có khả năng bị phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời

Trang 31

Thứ ba, hoạt động bảo vệ quyền con người của phòng tư pháp hình thành trên cơ sở nhu cầu của cá nhân, của nhà nước

Đây là đặc điểm thể hiện nội dung hoạt động của phòng tư pháp ởi lẽ, phòng tư pháp huyện với đặc điểm là cơ quan có chức năng thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn trong lĩnh vực tư pháp và một số nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật Những hoạt động quản lý nhà nước của Phòng tư pháp hình thành dựa trên cơ sở nhu cầu của cá nhân Điều này xuất phát từ yêu cầu quản

lý của Phòng tư pháp huyện là khi người dân có nhu cầu thực hiện các hoạt động khác nhau thì Phòng tư pháp sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình Ví dụ, phòng tư pháp thực hiện việc chứng thực, đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn, đăng ký nhận cha mẹ con có yếu tố nước ngoài,… Do đó, trong quá trình hoạt động của mình Phòng tư pháp huyện bảo vệ quyền con người xuất phát

từ yêu cầu của cá nhân người dân trong xã hội

Ngoài ra, việc bảo vệ quyền con người của phòng tư pháp còn xuất phát

từ nhu cầu quản lý nhà nước Phòng tư pháp là cơ quan chuyên môn trực thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc t nh Phòng tư pháp giúp việc về chuyên môn trong quản lý nhà nước về lĩnh vực tư pháp, hộ tịch và một số lĩnh vực khác có liên quan Do đó, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Phòng tư pháp huyện bảo vệ quyền con người cũng xuất phát tư yêu cầu của hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói chung Chúng ta đều biết, một trong những hoạt động quan trọng trong bảo vệ quyền con người là bảo vệ thông qua thiết chế nhà nước Nhà nước là chủ thể được Nhân dân trao quyền lực, có đảm bảo về vật chất, có năng lực thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước Trong quá trình đó, việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân của nhà nước là rất quan trọng và cần thiết

Do vậy bằng hoạt động của mình Phòng tư pháp cũng góp phần quan trọng trong việc đảm bảo vai trò của nhà nước trong bảo vệ quyền con người

Thứ tư, hoạt động bảo vệ quyền con người của phòng tư pháp được thực hiện công khai, độc lập và bảo đảm công bằng

Trang 32

Quyền con người là những quyền mang tính chất tự nhiên, tối quan trọng Vì vậy việc bảo vệ quyền con người phải đảm bảo tính công khai, độc lập và công bằng

Trước hết bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền con người của Phòng tư pháp phải đảm bảo tính công khai Việc công khai các quá trình quản lý nhà nước là rất quan trọng Việc công khai thể hiện tính minh bạch, rõ ràng của nhà nước trong bảo đảm quyền con người, không có những khuất tất, thiếu minh bạch trong quá trình quản lý Điều này đòi hỏi trong hoạt động của mình, Phòng tư pháp huyện cần phải đảm bảo công khai hóa, minh bạch hóa những quy trình, thủ tục quản lý hành chính nhà nước; đặc biệt là những thủ tục hành chính (TTHC) liên quan trực tiếp đến quyền con người để người dân dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện, trong quá trình đó việc công khai minh bạch đòi hỏi bắt đầu từ khi TTHC phát sinh, từ khi tiếp nhận, thực hiện và đến khi trả kết quả cho người dân

Bảo vệ quyền con người phải đảm bảo tính độc lập Độc lập trong quá trình quản lý hành chính nhà nước nói chung và quá trình hoạt động của phòng tư pháp nói riêng là yêu cầu quan trọng của công tác quản lý hành chính nhà nước Tính độc lập trong hoạt động bảo vệ quyền con người thể hiện ở việc quá trình bảo vệ quyền con người của Phòng tư pháp phải đảm bảo không có sự can thiệp, gây ảnh hưởng bằng sức mạnh cưỡng chế của các

cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

Cuối cùng, bảo vệ quyền con người phải bảo đảm tính công bằng Công bằng là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình xây dựng NNPQ XHCN của Việt Nam từ trước tới nay Quyền con người vốn dĩ cũng đã thể hiện tính công bằng Đó là sự như nhau, không có sự phân biệt về điều kiện, về cơ hội và các quyền cơ bản Phòng tư pháp muốn bảo vệ quyền bình đẳng giữa các chủ thể thì trong hoạt động quản lý, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn cũng cần tuân thủ các quy định pháp luật để đảm bảo mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau không có bất cứ sự phân biệt nào

Trang 33

1.2.3 Nội dung cơ bản của hoạt động phòng tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người

Bộ máy nhà nước là một ch nh thể thống nhất, được tạo thành bởi các

cơ quan nhà nước Bộ máy nhà nước Việt nam theo Hiến pháp năm 2013 gồm

hệ thống các cơ quan chính: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương

Ở Việt Nam thuật ngữ tư pháp được tiếp cận dưới góc độ rộng, hẹp khác nhau và có sự khác biệt nhất định so với quan điểm của Montesqieu nhưng đều thống nhất quyền tư pháp là quyền xét xử trên luật định Hiểu theo nghĩa này thì trong tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay, quyền tư pháp thuộc Tòa án nhân dân và thực hiện cải cách tư pháp mà trọng tâm là cải cách Tòa án

Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa rộng “Tư pháp” không ch được quan niệm

là xét xử thuộc thẩm quyền của Tòa án mà còn hiểu là toàn bộ hoạt động bảo

vệ pháp luật, kiểm soát quyền lực ở cả quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Trong đó quyền hành pháp là hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền con người, bổ trợ tư pháp phục vụ chính con người trong xã hội hiện tại Đây chính là cơ sở nền tảng hình thành hoạt động tư pháp hành chính, bổ trợ tư pháp thuộc cơ quan hành pháp

Hoạt động bảo vệ quyền con người của phòng tư pháp được thể hiện dưới nhiều cách thức khác nhau, trong đó có những nhóm quyền con người được phòng tư pháp thực hiện bảo vệ đầy đủ, trực tiếp thông qua hoạt động của mình va có những quyền con người phòng tư pháp ch gián tiếp bảo vệ thông qua hoạt động của mình Nội dung bảo vệ quyền con người trong hoạt động của Phòng tư pháp huyện được xác định cụ thể thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng tư pháp huyện theo quy định

Phòng tư pháp có 26 nhiệm vụ quyền hạn thuộc các lĩnh vực: về xây dựng, tổ chức thực hiện văn bản QPPL; kiểm soát thủ tục hành chính, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải ở cơ sở, quản lý và đăng ký

hộ tịch, chứng thực, bồi thường nhà nước, trợ giúp pháp lý, nuôi con nuôi,

Trang 34

quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác

tư pháp khác theo quy định của pháp luật…[2] Qua đó, nội dung bảo vệ và thúc đẩy việc thực hiện quyền con người của Phòng tư pháp huyện được thể hiện như sau:

Thứ nhất, Phòng Tư pháp huyện tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân

huyện tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp, pháp luật góp phần xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính nhằm bảo vệ và thúc đẩy thực hiện quyền con người trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Thông qua hoạt động xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương

Phòng tư pháp huyện là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc tham mưu thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về tư pháp trên địa bàn huyện như: Trình Ủy ban nhân dân huyện ban hành quyết định, ch thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm về lĩnh vực tư pháp; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính, cải cách

tư pháp, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện trong lĩnh vực tư pháp Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện dự thảo các văn bản

về lĩnh vực tư pháp thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực tư pháp sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Ch đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ về công tác tư pháp ở cấp xã

Phòng tư pháp huyện phải chủ động đề xuất, soạn thảo, thẩm định để trình Uỷ ban nhân dân huyện xem xét thông qua đặc biệt trong việc tham mưu

rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý theo ngành dọc, văn bản QPPL của địa phương ban hành nhằm đảm bảo sự thống nhất, hệ thống tránh mâu thuẫn, chồng chéo với văn bản của cấp trên

Trang 35

Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; do đó cần tiếp tục thực hiện tốt nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước; đề cao dân chủ, thượng tôn pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, việc hạn chế quyền con người, quyền công dân phải do luật định Tinh thần đó cũng đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ xây dựng pháp luật sang tổ chức thi hành pháp luật, trọng tâm trên các lĩnh vực: phổ biến giáo dục pháp luật, kiểm tra rà soát văn bản QPPL, kiểm soát TTHC, theo dõi thi hành pháp luật, quản lý xử lý vi phạm hành chính, bồi thường nhà nước qua

đó góp phần bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm quyền con người, quyền công dân trên thực tế

Thứ hai, Phòng Tư pháp huyện góp phần kiểm soát hoạt động của các

cơ quan hành chính nhà nước trong thực thi, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người

Thực tế cho thấy các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới quyền và lợi ích của con người, của công dân, tới việc bảo vệ và phát triển quyền con người Bởi vậy, nguy cơ lạm quyền, xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân hoàn toàn có thể xảy

ra Trong hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính, hoạt động quản lý hộ tịch chứng thực, hoạt động trợ giúp pháp lý, hoạt động theo dõi thi hành pháp luật

và quản lý xử lý vi phạm hành chính đều là những hoạt động hướng tới việc bảo vệ pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và nghiêm ch nh thực thi trong thực tiễn cuộc sống; với mục tiêu phục vụ Nhân dân, phục vụ đất nước là mục tiêu cao nhất

Đăng ký quản lý hộ tịch là việc đăng ký và quản lý các sự kiện nhân thân của mỗi cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết như: khai sinh, kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, thay đổi quốc tịch, khai tử…

Trang 36

Các sự kiện này có liên quan trực tiếp và chặt chẽ với các nhân thân của

cá nhân; việc đăng ký hộ tịch tạo cơ sở pháp lý để người dân hưởng các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời tạo cơ sở để Nhà nước bảo

Hoạt động của các cơ quan hành chính nói chung, trong đó có phòng tư pháp nói tiêng suy cho đến cùng là hoạt động vì con người, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, tránh các hành vi xâm hại từ phía các cá nhân,

tổ chức kể cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực thi công vụ gây ra Do đó, vấn đề đổi mới hệ thống cơ quan hành pháp, cải cách hành chính nhà nước là yêu cầu cấp bách, bảo đảm hệ thống cơ quan hành chính công quyền là hệ thống tổ chức bộ máy của dân, do dân và vì dân, là công vụ hữu hiệu bảo đảm thực hiện và phát triển quyền con người

Thứ ba, Phòng Tư pháp huyện tham mưu cho Uỷ ban nhân dân huyện

thực hiện hoạt động kiểm tra hành chính tư pháp và xử lý vi phạm hành chính qua đó góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân có thể bị xâm hại

từ phía công quyền hay từ các chủ thể khá, được bảo vệ, khôi phục trước hết bởi bộ máy hành chính Với chức năng kiểm tra liên quan đến các lĩnh vực phòng tham mưu phụ trách, Phòng tư pháp trực tiếp có vai trò phát hiện, xử lý các vi phạm liên quan đến việc thực hiện các quyền cơ bản của con người và bảo đảm tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật Đặc biệt, đối với hành vi vi phạm pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức xâm phạm và gây thiệt hại đến quyền con người cũng được phòng tư pháp giúp U ND huyện

Trang 37

theo dõi, quản lý đưa ra các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường theo quy định của Luật Bồi thường nhà nước Như vậy, Phòng tư pháp huyện đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện nguyên tắc được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: "Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật" [35]

Thứ tư, Phòng Tư pháp huyện là cơ quan tham mưu Uỷ ban nhân dân

huyện đổi mới và quản lý quá trình cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính nhằm nâng cao năng lực hành chính nhằm bảo đảm và thúc đẩy việc thực hiện quyền con người

Cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước nói riêng là một tất yếu trong việc bảo đảm và thúc đẩy việc thực hiện quyền con người Cải cách hành chính là tạo ra khả năng tiếp cận nền hành chính, khả năng sử dụng nền hành chính bảo đảm quyền lực Nhân dân Mục tiêu của công cuộc cải cách hành chính là hướng tới xây dựng một nền hành chính gần dân, trong sạch, hiệu quả; chuyển từ nền hành chính truyền thống, mang tính "quản lý", "cai trị" sang nền” hành chính phục vụ”, phát triển, một nền hành chính của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Cải cách thể chế và cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá góp phần hướng mạnh vào bảo đảm cuộc sống, quyền lợi của dân, tạo khung cơ chế chính sách để mọi người dân hoàn toàn chủ động trong làm kinh tế, thuận lợi trong việc thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí, đến đời sống tinh thần và các phúc lợi dân sinh khác cho cả cộng đồng… Thông qua quá trình rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính, Phòng tư pháp huyện cũng tham mưu với Uỷ ban nhân dân huyện hướng đến xóa bỏ những quy định và thủ tục mang nặng tính hành chính, quan liêu, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, gây phiền hà, sách nhiễu cho doanh nghiệp và Nhân dân

Trang 38

1.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động của phòng tư pháp huyện trong bảo vệ quyền con người

vụ cơ bản của công dân… Đó chính là cơ sở pháp lý để xây dựng một xã hội

có cơ cấu tổ chức và chế độ chính trị hướng tới tôn trọng, bảo vệ quyền con người Đảng lãnh đạo chặt chẽ hoạt động tư pháp, các cơ quan tư pháp; khắc phục tình trạng cấp ủy đang buông lỏng lãnh đạo hoặc can thiệp không đúng vào hoạt động tư pháp

Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội, ngày 2-6-2005 đã đề ra mục tiêu: Xây dựng nền

tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước Nhà nước Việt Nam khẳng định con người

là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu "dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", tất cả vì con người và cho con người

Do đó, trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của mình Phòng Tư pháp luôn bám sát chủ trương, Nghị quyết của Huyện ủy triển khai Nghị quyết 49- NQ/ TW; xác định toàn diện nhiệm vụ cải cách Tư pháp giai đoạn 2011- 2020, nhằm xây dựng cơ quan Tư pháp trong sạch, vững mạnh hoạt

Trang 39

động có hiệu lực, hiệu quả, góp phần ổn định chính trị, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; xây dựng

và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.3.2 Yếu tố pháp luật

Quyền con người dù có nguồn gốc tự nhiên hay nguồn gốc pháp lý thì việc thực hiện các quyền vẫn cần có pháp luật Xuất phát từ chủ trương không ngừng phát triển quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã và đang xây dựng

và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm các quyền con người được tôn trọng và thực hiện một cách đầy đủ nhất Quyền con người, một khi đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, sẽ trở thành ý chí chung của toàn xã hội, được xã hội tuân thủ và được pháp luật bảo vệ

Công tác tư pháp nói chung trong đó có hoạt động của phòng tư pháp

là hoạt động hướng tới việc bảo vệ pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và nghiêm ch nh thực thi trong thực tiễn cuộc sống Nền tư pháp XHCN lấy mục tiêu phục vụ Nhân dân, phục vụ đất nước là mục tiêu cao nhất Hoạt động tư pháp suy cho cùng là vì con người, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, tránh các hành vi xâm hại từ phía các cá nhân, tổ chức kể cả các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực thi công vụ gây ra

1.3.3 Yếu tố kinh tế - xã hội

Quyền con người phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Do vậy không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác [11, tr.415] Phát triển kinh tế tạo cơ sở vật chất là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thực hiện quyền con người Quyền con người gắn bó chặt chẽ với điều kiện kinh tế, do điều kiện kinh tế đó quyết định Song việc phát triển kinh tế phải đi đôi với việc phát triển xã hội nhằm mục đích vì quyền con người Phát triển văn hóa giáo dục, nâng cao dân trí cũng phải được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật, bảo đảm cho con người được phát triển tự do và toàn diện, tạo điều kiện cho mọi người được độc lập, nghiên cứu nâng cao nhận thức về mọi mặt

Trang 40

Trong công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta luôn xác định đặt con người vào vị trí trung tâm của các chính sách phát triển Tăng trưởng và phát triển kinh tế vì con người đi đôi với phát triển các mặt văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ và cải thiện môi trường

1.3.4 Yếu tố hội nhập

Có thể nhận định rằng bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trước hết

là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên hợp quốc có tính đến hoàn cảnh của mỗi nước để bảo đảm cho người dân được thụ hưởng quyền con người một cách tốt nhất Do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa… nên cách tiếp cận về quyền con người của mỗi quốc gia có thể khác nhau Việc hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu cần thiết và khách quan [11, tr.422] Việt Nam ủng hộ việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người Việt Nam cũng cho rằng không nước nào có quyền sử dụng vấn đề quyền con người làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia, gây đối đầu, gây sức ép chính trị, thậm chí sử dụng vũ lực hoặc làm điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với nước khác

Trong bối cảnh kinh tế, chính trị thế giới và trong nước có những chuyển biến quan trọng và có tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của ngành Tư pháp thì mục tiêu xây dựng ngành Tư pháp phù hợp với yêu cầu của NNPQ XHCN, hoạt động chuyên nghiệp, hiệu quả

và đủ năng lực thực hiện tốt các chức năng được giao, góp phần đắc lực vào

sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân là tất yếu khách quan

Ngày đăng: 01/04/2021, 08:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2005
3. Chính phủ (1993), Nghị định số 38/1993/NĐ-CP của Chính phủ quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Bộ tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 38/1993/NĐ-CP của Chính phủ quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Bộ tư pháp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1993
4. Chính phủ (2014), Nghị định số 37/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 5/5/2014 quy định về tổ chức của các cơ quan chuyên mộ thuộc Uỷ ban nhân dân quận huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 37/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 5/5/2014 quy định về tổ chức của các cơ quan chuyên mộ thuộc Uỷ ban nhân dân quận huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
5. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng 2009 , Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
9. Trần Ngọc Đường (2008), Quyền con người, Quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người, Quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
10. Trần Ngọc Đường, Ngô Đức Mạnh (2008), Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Đường, Ngô Đức Mạnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
11. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng 2009 , Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
13. Vũ Công Giao 2005 , "Chủ quyền và nhân quyền", Cộng sản, (23), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ quyền và nhân quyền
14. Vũ Công Giao 2007 , "Tiếp cận pháp luật và tƣ pháp: nhìn từ quan điểm quốc tế", Kỷ yếu Hội thảo: Tiếp cận pháp luật và tư pháp trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận pháp luật và tƣ pháp: nhìn từ quan điểm quốc tế
15. Trần Thị Hòe (2002), Vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo Quyền con người ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo Quyền con người ở nước ta hiện nay
Tác giả: Trần Thị Hòe
Năm: 2002
16. Trần Thị Hòe (2005), "Bảo đảm quyền con người trong thời kỳ đổi mới", Lý luận chính trị, (5), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Trần Thị Hòe
Năm: 2005
17. Hội Luật gia Việt Nam (2007), Tập hợp các văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản về quyền con người, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập hợp các văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản về quyền con người
Tác giả: Hội Luật gia Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2007
18. Chu Hồng, Vũ Công Giao, Tường Duy Kiên (2007), Pháp luật quốc gia và quốc tế về bảo vệ quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật quốc gia và quốc tế về bảo vệ quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương
Tác giả: Chu Hồng, Vũ Công Giao, Tường Duy Kiên
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
19. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Luật Nhân quyền quốc tế - Những vấn đề cơ bản, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Nhân quyền quốc tế - Những vấn đề cơ bản
Tác giả: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2010
20. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người, tập hợp những bình luận/ khuyến nghị chung của Ủy ban Công ước Liên hợp quốc, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người, tập hợp những bình luận/ khuyến nghị chung của Ủy ban Công ước Liên hợp quốc
Tác giả: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2010
21. Tường Duy Kiên (2001), "Mấy nét về nhân quyền trong thế kỷ XX và dự báo thế kỷ XXI", Lý luận chính trị, (10), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nét về nhân quyền trong thế kỷ XX và dự báo thế kỷ XXI
Tác giả: Tường Duy Kiên
Năm: 2001
22. Tường Duy Kiên 2003 , "Nhà nước: cơ chế bảo đảm quyền con người", Nghiên cứu lập pháp, (2), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước: cơ chế bảo đảm quyền con người
23. Tường Duy Kiên (2004), Đảm bảo quyền con người trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo quyền con người trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam
Tác giả: Tường Duy Kiên
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w