1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính: Xử lý vi phạm hành chính ở đô thị - Từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

93 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn được nghiên cứu với mục tiêu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về xử phạt vi phạm hành chính ở đô thị, trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động xử phạt vi phạm hành chính ở đô thị từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, đề xuất giải pháp tăng cƣờng bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính ở đó hiện nay.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HOÀNG VĂN NGỌ

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH Ở ĐÔ THỊ

TỪ THỰC TIỄN CÔNG AN QUẬN HỒNG BÀNG,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN QUỐC SỬU

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “Xử lý vi phạm hành chính ở đô thị - Từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng” là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên

ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính của tác giả tại trường Học viện Hành chính Quốc gia

Tác giả cam đoan đây là công trình của riêng tác giả Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình nghiên cứu khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Hoàng Văn Ngọ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu đã quan tâm, giúp đỡ tận tình, hướng dẫn và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn

Đồng thời, tác giả cũng xin gửi tới Ban Lãnh đạo, các đơn vị thuộc Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng lời cảm ơn chân thành vì đã quan tâm, tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Hoàng Văn Ngọ

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH Ở ĐÔ THỊ 7

1.1 Những vấn đề cơ bản về xử lý vi phạm hành chính ở đô thị 7

1.1.1.Vi phạm hành chính 7

1.1.2.Xử lý vi phạm hành chính 11

1.1.3.Xử lý vi phạm hành chính ở đô thị 14

1.1.4 Đặc điểm xử lý vi phạm hành chính ở đô thị 15

1.2 Quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở đô thị 17

1.2.1.Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính 17

1.2.2.Hành vi vi phạm bị xử phạt ở đô thị 18

1.2.3.Hình thức xử phạt vi phạm hành chính ở đô thị 19

1.2.4.Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính ở đô thị 24

1.3 Các yếu tố tác động đến xử lý vi phạm hành chính ở đô thị 28

1.3.1.Chất lượng của pháp luật 28

1.3.2.Tổ chức thực hiện pháp luật 29

1.3.3.Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật 29

1.3.4.Ý thức pháp luật của cán bộ, công chức và nhân dân 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH Ở ĐÔ THỊ CỦA CÔNG AN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 32

Trang 6

2.1 Tình hình kinh tế - xã hội của quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

có ảnh hưởng tới vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính 32

2.1.1.Tình hình kinh tế 32

2.1.2.Tình hình xã hội 33

2.2 Tình hình xử lý vi phạm hành chính ở đô thị của Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng 36

2.2.1.Tình hình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 37

2.2.2.Tình hình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội 45

2.2.3.Tình hình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội 55

2.3 Đánh giá hoạt động xử lý vi phạm hành chính ở đô thị của Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng thời gian qua 56

2.3.1.Những thành tựu, kết quả và nguyên nhân 56

2.3.2.Những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân 58

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 63

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH Ở ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN CÔNG AN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 64

3.1 Quan điểm tăng cường bảo đảm xử lý vi phạm hành chính ở đô thị 64

3.2 Giải pháp tăng cường bảo đảm xử lý vi phạm hành chính ở đô thị từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng 67

3.2.1.Nhóm giải pháp chung 67

3.2.2.Nhóm giải pháp riêng 70

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 80

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1: Tổng hợp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông

đường bộ của Công an quận Hồng Bàng từ năm 2013 - 2017 38

Bảng 2.2: Tổng hợp hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ 39

Bảng 2.3: Tổng hợp số vụ vi phạm quy định vận tải đường bộ 44

Biểu đồ 2.1: Tình hình xử lý vi phạm hành chính của Công an quận 36

Biểu đồ 2.2: Tổng số vụ xe máy 40

Biểu đồ 2.3: Tổng số vụ ô tô 40

Biểu đồ 2.4: Số vụ người điều khiển ô tô và mô tô không giấy phép khi tham gia giao thông bị xử phạt trên địa bàn quận Hồng Bàng 43

Biểu đồ 2.5: Tổng hợp tình hình xử phạt vi phạm hành chính của Công an quận Hồng Bàng trong lĩnh vực an ninh, trật tự và an toàn xã hội 54

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong đời sống kinh tế - xã hội (KTXH) Đây cũng là vấn đề trực tiếp liên quan đến cuộc sống hàng ngày của nhân dân, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, được Đảng, nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm

Với mục tiêu hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực XLVPHC, qua đó tăng cường hiệu lực và hiệu quả thực thi pháp luật, đồng thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, ngày 20/6/2012 tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật XLVPHC, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013 Luật XLVPHC được ban hành, đánh dấu bước phát triển mới trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật XLVPHC nói riêng ở Việt Nam, đồng thời khẳng định một bước phát triển mới về bảo đảm nguyên tắc pháp chế và trật tự, kỉ cương trong QLNN

Theo thống kê từ năm 2012 đến tháng 6/2017, trên địa bàn cả nước có 520.617 vụ việc vi phạm pháp luật, trong đó các vụ việc vi phạm pháp luật liên quan tới hình sự, kinh tế, ma tuý chiếm 35,7%; trật tự công cộng là 91.055 vụ, chiếm 17,5%; vi phạm hành chính là 180.184 vụ, chiếm 34,6% Trong tổng số 184.841 vụ việc vi phạm hành chính về trật tự an toàn xã hội thì số vụ việc liên quan đến vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông, trật tự công cộng chiếm số lượng lớn nhất là 97.780 vụ, chiếm 52,9%; tệ nạn xã hội là 34.935 vụ, chiếm 19% và trong các lĩnh vực khác là 52.126 vụ, chiếm 28,3% [8]

Và tại đô thị, XLVPHC sẽ có những đặc điểm riêng liên quan đến đời sống đô thị Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay

Trang 10

trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển KTXH của

cả nước, của cả một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện Trong đô thị luôn tồn tại các nhu cầu ăn, ở, đi lại, làm việc, học tập, chữa bệnh, vui chơi giải trí… Các nhu cầu đó ngày càng đòi hỏi cao hơn và các nhu cầu mới thường xuyên phát sinh Để đáp ứng các nhu cầu đó việc tổ chức xã hội đô thị một cách khoa học, QLNN là yêu cầu khách quan nhằm xác lập trật tự đô thị

Thực tiễn cho thấy, hoạt động XLVPHC ở đô thị của lực lượng Công an nhân dân bên cạnh việc thực hiện một cách nghiêm túc, đảm bảo đúng quy trình, thẩm quyền, đối tượng, thời hiệu và thủ tục theo quy định; vẫn còn tồn tại một số khó khăn vướng mắc, cụ thể như: việc xây dựng, ho

trật tự an toàn giao thông

Và tại quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, lực lượng Công an nhân dân cũng gặp phải những khó khăn, vướng mắc trên khi tiến hành XLVPHC trên địa bàn Tình hình các đối tượng vi phạm pháp luật, chống người thi hành công vụ diễn biến phức tạp, trong khi công cụ hỗ trợ, phương tiện phục vụ công tác của các lực lượng tham gia còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu Việc

rà soát đối tượng để áp dụng biện pháp XLVPHC giáo dục tại các phường trên địa bàn quận Hồng Bàng còn gặp nhiều khó khăn do thời gian quy định là

6 tháng quá ngắn Hay như công tác XLVPHC của lực lượng Công an quận Hồng Bàng có phạm vi rộng liên quan đến nhiều lĩnh vực trong khi đó cơ chế

Trang 11

phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan chưa được xây dựng nên rất khó khăn trong việc đánh giá, tổng hợp đầy đủ công tác XLVPHC

Vì vậy, để góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, có những giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm XLVPHC ở đô thị nói chung và quận Hồng

Bàng, thành phố Hải Phòng nói riêng, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Xử lý vi

phạm hành chính ở đô thị - Từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng” làm nội dung nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Hiện nay, các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận văn mà tác giả nghiên cứu gồm:

Cuốn sách: “Bình luận Luật xử lý vi phạm hành chính và trình tự, thủ tục, xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính”, do tác giả

Nguyễn Ngọc Duy biên soạn, Nxb Hồng Đức, 2014 Với phương pháp bình luận mới, tác giả đã phân tích khá chi tiết và dễ hiểu đối với từng điều luật, xác định những nội dung cơ bản của Luật XLVPHC Ngoài ra, cuốn sách còn khẳng định việc ban hành Luật XLVPHC lần này nhằm đáp ứng yêu cầu tăng cường pháp chế và nâng cao hiệu lực QLNN trong tình hình hiện nay, đồng thời thay thế những quy định không phù hợp của Pháp lệnh XLVPHC năm

2002 và bổ sung những quy định mới bảo đảm cho việc phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với mọi hành vi vi phạm hành chính [16]

Đặng Thanh Sơn (2010), Cơ chế bảo đảm thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội Đề tài đã đề cập một

cách toàn diện về hệ thống cơ chế bảo đảm cho việc thi hành Luật XLVPHC

Từ đó, đề tài làm nền tảng, xác định các yếu tố đảm bảo cho hoạt động xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có

ở đô thị [10]

Nguyễn Thanh Hải (2014), Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật

tự đô thị từ thực tiễn quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ

Trang 12

Luật Hành Chính, Học viện Khoa học xã hội Đề tài đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và pháp lý về XLVPHC nói chung và XPVPHC trong lĩnh vực trật tự đô thị nói riêng từ thực tiễn quận Hà Đông; có những đánh giá về kết quả đạt được cũng như hạn chế của hoạt động này; từ đó đưa ra phương

hướng và các giải pháp trong thời gian tới [18]

Bùi Thị Kim Cúc (2010), Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà

Nội Đề tài đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm quyền của lực lượng Cảnh sát biển trong XLVPHC trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; đánh giá đúng thực trạng

về pháp luật, về XLVPHC của lực lượng Cảnh sát biển trong thời gian qua Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả XLVPHC của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam [2]

Bùi Thị Đào (2014), Luật xử lý vi phạm hành chính - bước tiến mới của pháp luật xử lý vi phạm hành chính và một số vấn đề cần trao đổi, Tạp chí Luật

học số 6/2014, tr11 Bài viết đã tập trung phân tích một số điểm mới trong luật XLVPHC: nguyên tắc XPVPHC, thời hiệu XPVPHC, hình thức xử phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng bên cạnh những thay đổi thể hiện sự tiến bộ của pháp luật về XPVPHC nói trên thì luật XLVPHC cũng còn một số quy định cần được tiếp tục nghiên cứu, khẳng định

cơ sở lí luận và phải được kiểm nghiệm giá trị trên thực tế [3]

Nguyễn Hoàng Việt (2015), Điều kiện bảo đảm cho công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số

4/2015, tr27 Bài viết tập trung phân tích tình hình bảo đảm các điều kiện cho việc thi hành pháp luật về XLVPHC kể từ thời điểm luật XLVPHC có hiệu lực thi hành cho đến nay, đánh giá những mặt đạt được, những mặt còn tồn tại, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế và trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất cụ thể [19]

Trang 13

Trên đây là một số công trình nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính

và các vấn đề liên quan Các công trình có giá trị khoa học cao, là nguồn tài liệu tham khảo hữu hiệu cho đề tài luận văn Tuy nhiên, công trình nghiên cứu

về XPVPHC ở đô thị không có nhiều và đặc biệt từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng thì chưa có đề tài nào

Do vậy, luận văn “Xử lý vi phạm hành chính ở đô thị - Từ thực tiễn Công

an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng” sẽ kế thừa một phần cơ sở lý luận

của các nghiên cứu trên, đồng thời sẽ phản ánh thực trạng vi phạm hành chính trên địa bàn quận Hồng Bàng, thuộc thẩm quyền xử lý của Công an quận là căn cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật XLVPHC, tăng cường bảo đảm XLVPHC ở đô thị

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích: làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về XLVPHC ở

đô thị, trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động XLVPHC ở đô thị từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, đề xuất giải pháp tăng cường bảo đảm XLVPHC ở đó hiện nay

3.2 Nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về XLVPHC ở đô thị;

- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động XLVPHC của Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng;

- Đề xuất, luận giải một số giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm XLVPHC

ở đô thị từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt

động XLVPHC ở đô thị

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 14

- Phạm vi về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động XLVPHC ở đô thị thuộc thẩm quyền của Công an quận Hồng Bàng trong một

số lĩnh vực cụ thể như an ninh trật tự, vi phạm giao thông

- Phạm vi về thời gian: từ năm 2013 đến 2017

- Phạm vi về không gian: trên địa bàn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận: luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng

- Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng các phương pháp nghiên

cứu truyền thống trong nghiên cứu khoa học xã hội là: phương pháp phân tích

hệ thống; phương pháp tổng hợp so sánh; phương pháp thống kê, kết hợp quan sát thực tiễn (qua quá trình công tác) với khái quát hóa

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận: luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về XLVPHC ở

đô thị

- Về mặt thực tiễn: luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong

giảng dạy và nghiên cứu của cán bộ giảng viên, sinh viên trong trường đại học chuyên ngành luật, hành chính hoặc sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho

những người quan tâm, nghiên cứu về XLVPHC ở đô thị

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở pháp lý về xử lý vi phạm hành chính ở đô thị

Chương 2: Thực trạng hoạt động xử lý vi phạm hành chính ở đô thị của Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường bảo đảm xử lý vi phạm hành chính ở đô thị từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

Trang 15

Những hành vi vi phạm các quy tắc QLNN, vi phạm pháp luật được nêu trên đây thể hiện rất đa dạng, phong phú và xảy ra trong hầu hết các lĩnh vực QLNN

Trong khoa học pháp lý, pháp luật là những quy tắc hành vi, quy tắc xử

sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành, thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Hệ thống pháp luật là một chỉnh thể thống nhất, được chia thành các ngành luật, mỗi ngành luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực pháp luật, có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng Mỗi ngành luật được chia thành các chế định, mỗi chế định pháp luật là một nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội gần gũi nhau, cùng tính chất Chế định pháp luật về XLVPHC

là một chế định pháp luật thuộc ngành luật hành chính, là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về hành vi vi phạm hành chính, các biện pháp

Trang 16

XLVPHC, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong XLVPHC, trình tự thủ tục áp dụng các biện pháp XLVPHC

Do tính đặc thù của quản lý hành chính nhà nước, sự đa dạng, phức tạp của vi phạm hành chính, nên trong mọi lĩnh vực của quản lý hành chính nhà nước đều có những hành vi vi phạm quy tắc quản lý hành chính nhà nước Vì vậy, chế định XLVPHC là một chế định rất lớn, bao gồm nhiều những “chế định” nhỏ, hay “tiểu chế định”, trong đó có “chế định” XLVPHC [17]

Định nghĩa vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu ra trong Pháp lệnh

XPVPHC ngày 30/11/1989 Điều 1 Pháp lệnh này quy định: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải b ịxử phạt hành chính” Định nghĩa trên cho

chúng ta thấy được các dấu hiệu pháp lý cơ bản của VPHC là: chủ thể, hành

vi, tính trái pháp luật của hành vi, có lỗi và bị xử phạt hành chính [14]

Pháp lệnh XLVPHC năm 1995 không trực tiếp đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính nhưng Khoản 2 Điều 1 của Pháp lệnh này đã định nghĩa vi

phạm hành chính một cách gián tiếp: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” [24]

Tại Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (được sửa đổi, bổsung năm 2007 và năm 2008), vi phạm hành chính cũng được quy định một

cách gián tiếp: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân,

cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc

vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải

là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” [25]

Tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt, quan niệm về vi phạm hành chính trong các văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất về những dấu hiệu bản

Trang 17

chất của loại vi phạm pháp luật này Khái quát những dấu hiệu bản chất đó, Khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 đã trực tiếp đưa ra định nghĩa về vi

phạm hành chính, theo đó: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân,

tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” [22]

Tóm lại, những hành vi vi phạm pháp luật trên thể hiện rất đa dạng, phong phú, ở hầu hết các lĩnh vực của QLNN, song đều có chung một số đặc điểm sau:

Một là, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, tác hại (tính nguy

hiểm) do hành vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và hành vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về XPVPHC Đây chính là dấu hiệu “pháp định” của vi phạm Đối với một số loại vi phạm hành chính cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách quan có tính chất phức tạp, không đơn thuần chỉ có một dấu hiệu nội dung trái pháp luật trong hành vi mà còn có thể có sự kết hợp với những yếu tố khác Thông thường, những yếu tố này có thể

là thời gian, địa điểm, công cụ phương tiện, hậu quả và mối quan hệ nhân quả

Hai là, vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi thể hiện dưới hình thức

cố ý hoặc vô ý Nói cách khác, người thực hiện hành vi này phải trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã

vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội (lỗi vô ý) hoặc nhận thức được điều đó nhưng vẫn cố tình thực hiện (lỗi cố ý) Khi có đủ căn cứ để cho rằng chủ thể thực hiện hành vi trong tình trạng không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành

vi, chúng ta có thể kết luận rằng đã không có vi phạm hành chính xảy ra Ngoài dấu hiệu lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của mọi vi phạm hành chính, ở một số trường hợp cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc của một số loại vi phạm hành chính Luật XLVPHC hiện hành quy định tổ chức bị XPVPHC về mọi vi phạm hành

Trang 18

chính do mình gây ra Đồng thời, nó phải có trách nhiệm xác định lỗi của người thuộc tổ chức mình trực tiếp gây ra vi phạm hành chính trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được giao để truy cứu trách nhiệm kỷ luật và để bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật

Ba là, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là tổ chức hoặc cá

nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính Đối với tổ chức, thì hành vi này được thực hiện bởi cá nhân nhưng dưới danh nghĩa tổ chức (do tổ chức giao, phân công hoặc thực hiện hành vi nhân danh tổ chức đó) Các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là tổ chức hoặc cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị XPVPHC về vi phạm hành chính do cố ý Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có vi phạm hành chính hay không cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ Luật XLVPHC hiện hành không định nghĩa thế nào là lỗi cố ý hoặc vô ý trong vi phạm hành chính Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, thông thường người thực hiện hành vi với lỗi cố ý là người nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm đoán nhưng vẫn cố tình thực hiện Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị XPVPHC về mọi vi phạm hành chính (vi phạm

do lỗi cố ý hay vô ý)

Tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính, là cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật Tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng là chủ thể vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, gia nhập

có quy định khác

Bốn là, vi phạm hành chính cũng như mọi hành vi vi phạm pháp luật

khác đều xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Nói cách

Trang 19

khác, khách thể của quan hệ hành chính là quan hệ xã hội về QLNN trong các lĩnh vực bị hành vi vi phạm xâm hại

1.1.2 Xử lý vi phạm hành chính

Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính

* Xử phạt vi phạm hành chính

Xử phạt vi hành chính thực chất là một loại hoạt động quản lý hành chính Nhà nước Đó là loại hoạt động đặc biệt và rất phức tạp bao gồm một loạt các hành vi cụ thể liên quan mật thiết với nhau như phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của vi phạm hành chính, xác định thẩm quyền xử phạt, đối chiếu với quy định của pháp luật, áp dụng hình thức và mức phạt và ra quyết định xử phạt hành chính

XPVPHC là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính

Quyết định xử phạt hành chính khi được ban hành sẽ gây một hậu quả pháp lý đặc biệt, làm phát sinh trách nhiệm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, tức là buộc họ phải chịu hậu quả bất lợi trước Nhà nước về tinh thần (bị hạn chế quyền) hoặc về tài sản (bị phạt tiền, bị tịch thu tang vật, phương tiện,…)

XPVPHC có những đặc điểm cơ bản sau:

- XPVPHC là một loại hoạt động cưỡng chế Nhà nước, mang tính quyền

lực Nhà nước Tính cưỡng chế và tính quyền lực Nhà nước thể hiện ở chỗ hoạt động xử phạt hành chính luôn luôn được các cơ quan hoặc cán bộ có thẩm quyền thực hiện Chỉ có các cơ quan hoặc cán bộ Nhà nước nào được Nhà nước trao thẩm quyền xử phạt hành chính và được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có quy định về xử phạt hành chính mới có quyền quyết định xử

Trang 20

phạt Xử phạt hành chính là phản ứng của Nhà nước trước các hành vi xâm hại quy tắc QLNN Biểu hiện của phản ứng đó chính là việc áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính Việc áp dụng các biện pháp xử phạt này có tác dụng trực tiếp điều chỉnh hành vi xử sự của chủ thể vi phạm, tức là buộc chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi trước Nhà nước và tác dụng đình chỉ VPHC qua đó mà bảo vệ và duy trì trật tự QLNN

- Cơ sở để xử phạt hành chính là VPHC Chỉ có hành vi nào xâm phạm

quy tắc QLNN mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự do các cá nhân, tổ chức đủ năng lực chủ thể thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý mới bị XPVPHC Đặc điểm có tính nguyên tắc trên đây đã được khẳng định tại điểm

d khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC: “Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định” [19]

- Từ quy định trên, khi áp dụng các biện pháp xử phạt đòi hỏi các cơ

quan hoặc cán bộ Nhà nước có thẩm quyền phải xác định rõ có vi phạm hành chính xảy ra hay không, tính chất và mức độ của vi phạm như thế nào, hành vi

vi phạm đó có quy định trong các văn bản pháp luật quy định về xử phạt hành chính hay chưa

- Hoạt động xử phạt hành chính được tiến hành qua nhiều khâu, nhiều

giai đoạn nhưng kết quả của hoạt động này phải được thể hiện bằng quyết định xử phạt hành chính Trong xử phạt hành chính, các chủ thể có thẩm quyền tiến hành xử phạt luôn được thực hiện hai loại hành vi: (1) Hành vi ban hành quyết định xử phạt hành chính Quyết định xử phạt hành chính phải được thể hiện bằng văn bản hay bằng một hình thức khác do pháp luật quy định; (2) Hành vi hành chính khác, như nhằm đình chỉ hành vi vi phạm, lập biên bản vi phạm, giải thích hành vi vi phạm và thông báo điều khoản văn bản pháp luật được áp dụng cho cá nhân hoặc tổ chức vi phạm Hai loại hành vi trên luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, hành

vi ban hành quyết định xử phạt là cơ bản và chủ yếu nhất Các hành vi hành

Trang 21

chính khác được thực hiện nhằm hướng tới việc ra quyết định xử phạt hoặc thực hiện trên cơ sở quyết định xử phạt Đặc biệt, khi ban hành quyết định xử phạt sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý là làm phát sinh trách nhiệm hành chính Quyết định xử phạt hành chính là hình thức thể hiện công khai ý trí và thái độ của Nhà nước phản ứng trước các hành vi vi phạm hành chính và mức cưỡng chế của Nhà nước đối với chủ thể vi phạm

- Hoạt động xử phạt hành chính được tiến hành trong khuôn khổ pháp

luật và phải tuân thủ pháp luật về trình tự, thủ tục hành chính Tất cả các cơ quan, cán bộ có thẩm quyền xử phạt hành chính khi thực hiện các hành vi xử phạt đều phải tuân thủ theo các trình tự, thủ tục hành chính do pháp luật quy định chứ không tuân theo các quy định về Tố tụng hình sự kể cả trường hợp Tòa án nhân dân thực hiện quyền xử phạt hành chính

* Biện pháp xử lý hành chính

XLVPHC còn là việc áp dụng các biện pháp hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính xảy ra Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự (AN, TT)

và an toàn xã hội (ATXH) nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các Điều 89 (Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn), Điều

91 (Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng), Điều 93 (Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc), Điều 95 (Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) [19]

Từ những phân tích và luận giải trên có thể rút ra khái niệm XLVPHC như sau:

Xử lý vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành áp dụng hình thức xử phạt, các biện pháp xử lý hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính

Từ khái niệm XLVPHC có thể đi đến quan niệm pháp luật XLVPHC, đó là: Tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh

Trang 22

các quan hệ xã hội phát sinh khi có vi phạm hành chính, bao gồm các quy phạm xác định hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính

1.1.3 Xử lý vi phạm hành chính ở đô thị

* Khái niệm đô thị

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đô thị:

Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Một đô thị hay khu đô thị là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó Các đô thị có thể là thành phố, thị xã, trung tâm dân cư đông đúc nhưng thuật từ này thông thường không mở rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp.” [31]

Theo khoản 1, điều 3 Luật Quy hoạch đô thị năm 2015 định nghĩa: “Đô thị là nơi tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp; là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-

xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương; bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn” [24] Theo Giáo trình quản lý nhà nước về đô thị (2005), “Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao chủ yếu là lao động phi nông nghiệp; họ sống và làm việc theo phong cách văn minh, hiện đại hơn, khoa học và có hiệu quả

kinh tế, văn hóa cao” [12]

Như vậy, từ những quan niêm trên, để phù hợp với cách tiếp cận của

luận văn, cần nghiên cứu đô thị theo định nghĩa: “Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao chủ yếu là lao động phi nông nghiệp; có cơ sở hạ tầng thích hợp; là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển KTXH của một nước, một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, huyện”

Trang 23

Đô thị có những đặc điểm như:

- Là nơi cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phát triển có tính liên

thông, đồng bộ;

- Là nơi tập trung dân cư với mật độ rất cao, tối thiểu phải đạt một mức

nhất định tùy vào các quy ước mang tính chủ quan mà nhà nước đặt ra;

- Là nơi lực lượng sản xuất phát triển và tập trung rất cao;

- Là nơi có nếp sống, văn hóa của thị dân gắn liền với đặc điểm sinh

hoạt, giao tiếp rất đặc thù khác với nông thôn;

- Là nơi dễ tập trung, phát sinh các tệ nạn xã hội là thử thách đối với

công tác quản lý;

- Có địa giới hành chính và điều kiện sinh sống của người dân khá chật

hẹp so với địa bàn nông thôn

* Xử lý vi phạm hành chính ở đô thị

Từ khái niệm XLVPHC và đô thị đã tìm hiểu ở trên, có thể đưa ra định

nghĩa về XLVPHC ở đô thị như sau: Xử lý vi phạm hành chính ở đô thị là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước ở đô thị, căn

cứ vào các quy định pháp luật hiện hành áp dụng hình thức xử phạt, các biện pháp xử lý hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính ở đô thị

1.1.4 Đặc điểm xử lý vi phạm hành chính ở đô thị

Xuất phát từ bản chất của hoạt động XLVPHC nói chung và XLVPHC ở

đô thị là áp dụng các chế tài hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm trật

tự QLNN ở đô thị theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nên XLVPHC trong ở đô thị có một số đặc điểm riêng, thể hiện:

Thứ nhất, việc XLVPHC ở đô thị căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp

luật do nhiều cơ quan ban hành:

- Quốc hội: nhiều quy định về xử phạt hành chính hoặc áp dụng các biện

pháp hành chính khác được quy định trong các luật Ví dụ, một số luật thuế quy định về thẩm quyền và hành vi vi phạm hành chính về thuế cùng khung,

Trang 24

mức phạt cụ thể như Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật thuế giá trị gia tăng

- Chính phủ: nhiều nghị định do Chính phủ ban hành quy định về

XPVPHC trong các lĩnh vực QLNN ở đô thị, các nghị định quy định chi tiết thi hành pháp lệnh XLVPHC, các nghị định quy định về chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành các thông tư hướng dẫn thi hành

các Nghị định về xử phạt hành chính, nhiều thông tư của các bộ, cơ quan ngang bộ, thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ được ban hành để hướng dẫn thi hành các nghị định của Chính phủ quy định XPVPHC trong các lĩnh vực QLNN ở đô thị

Các văn bản quy phạm pháp luật về XPVPHC ở đô thị hoặc có liên quan đến đô thị thường được sửa đổi, bổ sung do sự biến động của thực tế và sự thay đổi thường xuyên, nhanh chóng của thực tế QLNN về đô thị, quy định về

AN, TT và ATXH Điều này dễ dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định về XPVPHC trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Trong XLVPHC nói chung và XLVPHC ở đô thị nói riêng thì việc xác định và quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về các hành vi vi phạm hành chính sao cho đồng bộ thống nhất là một vấn đề nổi cộm đang được đặt ra vì các nghị định quy định về XPVPHC do nhiều cơ quan soạn thảo và thường ban hành chậm, nhiều trường hợp hành vi vi phạm còn có sự trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn với nhau

Thứ hai, hoạt động áp dụng pháp luật về XLVPHC do nhiều cơ quan,

nhiều người có thẩm quyền thực hiện Xuất phát từ việc quy phạm xử phạt hành chính ở đô thị được quy định ở nhiều văn bản do nhiều cơ quan khác nhau ban hành về những lĩnh vực khác nhau, nên thẩm quyền áp dụng cũng

do nhiều cơ quan áp dụng, nhiều cấp áp dụng Ví dụ như lực lượng: Công an nhân dân, Cảnh sát biển, Bộ đội biên phòng, Quản lý thị trường, một số thanh

Trang 25

tra chuyên ngành Trong khi đó, vi phạm hành chính diễn ra phổ biến, hàng ngày, hàng giờ trong đời sống xã hội dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng Việc áp dụng pháp luật XLVPHC được tiến hành trực tiếp với người dân, với các tổ chức và cũng trực tiếp động chạm đến các quyền tự do dân chủ của công dân, do vậy công tác giám sát, kiểm tra rất khó thực hiện sâu sát và

có hiệu quả Điều này đòi hỏi tinh thần trách nhiệm và tính tự giác, ý thức tổ chức kỷ luật cao của nhân viên, công chức, người có thẩm quyền XLVPHC trong khi thực thi công vụ Người có thẩm quyền XPVPHC phải bảo đảm phù hợp với các quy định của Luật XLVPHC, Nghị định XPVPHC và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành

Thứ ba, lối sống của dân cư đô thị mang tính chất cạnh tranh cao Bởi vì

không phải tất cả cư dân ở đô thị họ đều có việc làm và thu nhập ổn định, một phần lớn dân cư đô thị lại là dân di cư đến Vì vậy, các hình thức vi phạm hành chính tại đô thị sẽ rất đa dạng, phức tạp dẫn đến việc XLVPHC ở đô thị cũng khó khăn, gặp nhiều vướng mắc hơn

Thứ tư, ở đô thị người có thẩm quyền XPVPHC chỉ được thực hiện

quyền xử phạt vi phạm hành chính của mình trong phạm vi thẩm quyền đã được xác định Những trường hợp quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng biện pháp hành chính khác vượt thẩm quyền được pháp luật quy định cho phép là vi phạm pháp luật và phải bị xử lý Ví dụ, đối với chủ tịch UBND

xã với hình thức phạt cảnh cáo và phạt tiền không quá 5.000.000 đồng, đối với chủ tịch UBND huyện là không quá 50.000.000 đồng

1.2 Quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở đô thị

Xử lý vi phạm hành chính ở đô thị về bản chất vẫn là XLVPHC nói chung, vì vậy cơ sở pháp lý về XLVPHC ở đô thị sẽ căn cứ vào Luật XLVPHC năm 2012

1.2.1 Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính

Theo Điều 3 Luật XLVPHC năm 2012, nguyên tắc XPVPHC bao gồm:

Trang 26

- Mọi VPHC phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý

nghiêm minh, mọi hậu quả do VPHC gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;

- Việc xử phạt VPHC được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách

quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;

- Việc xử phạt VPHC phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi

phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

- Chỉ xử phạt VPHC khi có hành vi VPHC do pháp luật quy định;

- Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh VPHC Cá

nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không VPHC;

- Đối với cùng một hành vi VPHC thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng

02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân [22]

1.2.2 Hành vi vi phạm bị xử phạt ở đô thị

Khoản 5 điều 2 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ban hành ngày 19 tháng 7 năm 2013 về chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định hành vi vi phạm hành chính phải được quy định tại các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực QLNN tương ứng, phù hợp với tính chất vi phạm của hành vi đó Trường hợp hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực này nhưng do tính chất vi phạm đặc thù của hành

vi đó, thì có thể quy định và xử phạt trong nghị định xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực khác Trong trường hợp này, hình thức, mức xử phạt quy

Trang 27

định phải thống nhất với quy định tại Nghị định xử phạt vi phạm hành chính của lĩnh vực QLNN tương ứng

Như vậy, hành vi vi phạm bị xử phạt ở đô thị sẽ bao gồm một số lĩnh vực chính như sau: lĩnh vực AN, TT và ATXH, lĩnh vực giao thông đường bộ

1.2.3 Hình thức xử phạt vi phạm hành chính ở đô thị

Các hình thức xử phạt được chia thành hai nhóm: hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung

bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung

Theo Khoản 1 Điều 21 Luật XLVPHC năm 2012, các hình thức xử phạt VPHC bao gồm:

- Cảnh cáo;

- Phạt tiền;

- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc

đình chỉ hoạt động có thời hạn;

- Tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC (gọi

chung là tang vật, phương tiện VPHC);

- Trục xuất

Trong đó, cảnh cáo và phạt tiền chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính; các hình thức xử phạt còn lại có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính

Trang 28

* Cảnh cáo

Cảnh cáo là hình thức xử phạt chính được áp dụng đối với:

- Cá nhân, tổ chức VPHC không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và

theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo;

- Mọi hành vi VPHC do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16

tuổi thực hiện Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản (Điều 22 Luật XLVPHC năm 2012)

* Phạt tiền

- Mức phạt tiền trong xử phạt VPHC từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000

đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực thuế; đo lường, sở hữu trí tuệ;

an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm hàng hóa; chứng khoán; hạn chế

cạnh tranh theo quy định tại các luật tương ứng

- Đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc trung ương thì

mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá 02 lần mức phạt chung

áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường

bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội

- Chính phủ quy định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt đối với hành

vi VPHC cụ thể theo một trong các phương thức sau đây:

+ Xác định số tiền phạt tối thiểu, tối đa; Ví dụ: “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng vốn đầu tư công không đúng mục đích, không đúng đối tượng hoặc vượt tiêu chuẩn, định mức đã được phê duyệt” (Khoản1 Điều 8 Nghị định số 50/2016/NĐ-CP ngày 01/6/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực kế hoạch

và đầu tư)

+ Xác định số lần, tỷ lệ phần trăm của giá trị, số lượng hàng hóa, tang vật vi phạm, đối tượng bị vi phạm hoặc doanh thu, số lợi thu được từ vi phạm hành chính Ví dụ: Hành vi lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ sai về số

Trang 29

lượng, giá trị để khai thuế thấp hơn thực tế bị phạt tiền 1,5 lần tính trên số tiền thuế trốn, gian lận đối với người nộp thuế trong các trường hợp: vi phạm lần đầu có tình tiết tăng nặng hoặc vi phạm lần thứ hai có một tình tiết giảm nhẹ (Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế)

- Mức phạt tiền cụ thể đối với một hành vi VPHC là mức trung bình của

khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế thì mỗi tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ được tính tăng hoặc giảm 20% mức phạt trung bình của khung phạt tiền Khi xác định mức phạt tiền đối với người nộp thuế vi phạm vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ thì xem xét giảm trừ tình tiết tăng nặng theo nguyên tắc một tình tiết giảm nhẹ được giảm trừ một tình tiết tăng nặng Sau khi giảm trừ theo nguyên tắc trên, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung phạt tiền, nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung phạt tiền

Đối với các hành vi vi phạm quy định về giá, phí, lệ phí, hóa đơn, trường hợp có một tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì áp dụng mức trung bình tăng thêm hoặc mức trung bình giảm bớt Mức trung bình tăng thêm được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối đa và mức trung bình Mức trung bình giảm bớt được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối thiểu và mức trung bình Trường hợp có từ hai tình tiết tăng nặng thì áp dụng mức tối đa của khung phạt tiền Trường hợp có từ hai tình tiết giảm nhẹ thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt Trường hợp vừa có tình tiết tăng nặng và tình

Trang 30

tiết giảm nhẹ thì bù trừ theo nguyên tắc một tình tiết tăng nặng trừ cho một tình tiết giảm nhẹ

- Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực QLNN đối với cá nhân được quy định như sau:

+ Phạt tiền đến 30.000.000 đồng: hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; bạo lực gia đình; lưu trữ; tôn giáo; thi đua khen thưởng; hành chính tư pháp; dân số; vệ sinh môi trường; thống kê;

+ Phạt tiền đến 40.000.000 đồng: an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; giaothông đường bộ; giao dịch điện tử; bưu chính;

+ Phạt tiền đến 50.000.000 đồng: phòng cháy, chữa cháy; cơ yếu; quản

lý và bảo vệ biên giới quốc gia; bổ trợ tư pháp; y tế dự phòng; phòng, chống HIV/AIDS; giáo dục; văn hóa; thể thao; du lịch; quản lý khoa học, công nghệ; chuyển giao công nghệ; bảo vệ, chăm sóc trẻ em; bảo trợ, cứu trợ xã hội; phòng chống thiên tai; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; quản lý và bảo tồn nguồn gen; sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi, cây trồng; thú y; kế toán; kiểm toán độc lập; phí, lệ phí; quản lý tài sản công; hóa đơn; dự trữ quốc gia; điện lực; hóa chất; khí tượng thủy văn; đo đạc bản đồ; đăng ký kinh doanh; + Phạt tiền đến 75.000.000 đồng: quốc phòng, an ninh quốc gia; lao động; dạy nghề; giao thông đường sắt; giao thông đường thủy nội địa; bảo hiểm y tế; bảo hiểm xã hội;

+ Phạt tiền đến 100.000.000 đồng: quản lý công trình thuỷ lợi; đê điều; khám bệnh, chữa bệnh; mỹ phẩm; dược, trang thiết bị y tế; sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi, phân bón; quảng cáo; đặt cược và trò chơi có thưởng; quản lý lao động ngoài nước; giao thông hàng hải; giao thông hàng không dân dụng; quản lý và bảo vệ công trình giao thông; công nghệ thông tin; viễn thông; tần số vô tuyến điện; báo chí; xuất bản; thương mại; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; hải quan, thủ tục thuế; kinh doanh xổ số; kinh

Trang 31

doanh bảo hiểm; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quản lý vật liệu nổ; bảo

vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản;

+ Phạt tiền đến 150.000.000 đồng: quản lý giá; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng

kỹ thuật; quản lý, phát triển nhà và công sở; đấu thầu; đầu tư;

+ Phạt tiền đến 200.000.000 đồng: sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; + Phạt tiền đến 250.000.000 đồng: điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước;

+ Phạt tiền đến 500.000.000 đồng: xây dựng; quản lý rừng, lâm sản; đất đai;

+ Phạt tiền đến 1.000.000.000 đồng: quản lý các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý hạt nhân và chất phóng xạ, năng lượng nguyên tử; tiền tệ, kim loại quý, đá quý, ngân hàng, tín dụng; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo

vệ môi trường

Đối với tổ chức, mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực QLNN nói trên bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân

* Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn

- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là

hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề

- Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 01

tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành Người

có thẩm quyền xử phạt giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề (Điều 25)

Trang 32

* Đình chỉ hoạt động có thời hạn

- Đình chỉ hoạt động có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối

với cá nhân, tổ chức VPHC trong các trường hợp sau:

+ Đình chỉ một phần hoạt động gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mà theo quy định của pháp luật phải có giấy phép;

+ Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ hoặc hoạt động khác mà theo quy định của pháp luật không phải có giấy phép và hoạt động đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường và trật tự, an toàn xã hội

- Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết

định xử phạt có hiệu lực thi hành (Điều 25)

* Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

Tịch thu tang vật, phương tiện VPHC là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến VPHC, được áp dụng đối với VPHC nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức (Điều 25)

* Trục xuất

Trục xuất là hình thức xử phạt buộc người nước ngoài có hành vi VPHC tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 27) [19]

1.2.4 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính ở đô thị

Luật XLVPHC năm 2012 trao thẩm quyền xử phạt VPHC cho hơn 185 chức danh cụ thể, bao gồm: Chủ tịch UBND các cấp (Điều 38) và các chức danh thuộc lực lượng Công an nhân dân (Điều 39); Bộ đội biên phòng (Điều 40); Cảnh sát biển (Điều 41); Hải quan (Điều 42); Kiểm lâm (Điều 43); Cơ quan Thuế (Điều 44); Quản lý thị trường (Điều 45); Thanh tra (Điều 46); Cảng

Trang 33

vụ hàng hải, Cảng vụ hàng không, Cảng vụ đường thủy nội địa (Điều 47); Tòa

án nhân dân (Điều 48); Cơ quan thi hành án dân sự (Điều 49); Cục trưởng Cục quản lý lao động ngoài nước (Điều 50) và Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài (Điều 51)

Tuy nhiên, trong phạm vi của đề tài luận văn, tác giả nghiên cứu XLVPHC ở đô thị, từ thực tiễn công an quận Hồng Bàng, vì vậy tác giả sẽ trình bày thẩm quyền XLVPHC của lực lượng Công an nhân dân

- Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:

- Trưởng Công an cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trạm trưởng Trạm

Công an cửa khẩu, khu chế xuất có quyền:

- Trưởng Công an cấp huyện; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh

sát giao thông đường bộ, đường sắt, Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh

Trang 34

sát đường thủy; Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát trật tự, Trưởng phòng Cảnh sát phản ứng nhanh, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh

tế và chức vụ, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, Trưởng phòng Cảnh sát đường thủy, Trưởng phòng Cảnh sát bảo vệ và cơ động, Trưởng phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu

hộ, cứu nạn, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn trên sông, Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Trưởng phòng An ninh chính trị nội bộ, Trưởng phòng An ninh kinh tế, Trưởng phòng An ninh văn hóa, tư tưởng, Trưởng phòng An ninh thông tin; Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy các quận, huyện thuộc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy; Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, có quyền:

+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ và

k khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC

- Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa

cháy có quyền:

+ Phạt cảnh cáo;

Trang 35

+ Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng;

+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;

+ Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất;

+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ, i

và k khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC

- Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục trưởng Cục An ninh kinh

tế, Cục trưởng Cục An ninh văn hóa, tư tưởng, Cục trưởng Cục An ninh thông tin, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường

bộ, đường sắt, Cục trưởng Cục Cảnh sát đường thủy, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn, Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo

vệ, Cục trưởng Cục Theo dõi thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao có quyền:

Trang 36

+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ, i

và k khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC

- Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh có thẩm quyền xử phạt theo

quy định tại khoản 6 Điều này và có quyền quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất

1.3 Các yếu tố tác động đến xử lý vi phạm hành chính ở đô thị

XLVPHC ở đô thị bản chất cũng giống như XLVPHC nói chung, nên cũng chịu sự tác động của các yếu tố sau:

1.3.1 Chất lượng của pháp luật

Pháp luật về XLVPHC nói chung và ở đô thị nói riêng với các nguyên tắc của nó đã thể hiện vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang trong quá trình đổi mới toàn diện mọi mặt đời sống xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng giao lưu hội nhập quốc tế, từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam xã hội chủ nghĩa

Để thực hiện việc củng cố, tăng cường pháp luật XLVPHC ở đô thị, cần phải có cơ sở pháp luật Nhà nước phải có một hệ thống pháp luật với đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội và để thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình

Không có một hệ thống pháp luật toàn diện, đầy đủ, ổn định và có tính khả thi cao thì không thể có sự nghiêm minh của pháp luật Nhưng nếu mặc

dù đã có hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ mà chất lượng không cao, có nhiều mâu thuẫn chồng chéo hoặc đã lạc hậu, không còn phù hợp, thì pháp luật cũng không thể duy trì và bảo đảm với chất lượng cao do việc thi hành và

tổ chức thi hành pháp luật sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp từ thực trạng hệ thống pháp luật như vậy Để cho hệ thống pháp luật được xây dựng và hoàn thiện có chất lượng cao thì vấn đề đặt ra là phải xây dựng một cơ chế xây dựng pháp luật có hiệu quả cao

Trang 37

1.3.2 Tổ chức thực hiện pháp luật

Một yếu tố khác cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động XLVPHC là vấn đề

tổ chức thực hiện pháp luật Thực tế đã chứng tỏ rằng, có một hệ thống pháp luật toàn diện, đầy đủ và chất lượng cao là vô cùng cần thiết nhưng yếu tố đó chưa đủ để tạo nên một nền luật pháp có chất lượng, hiệu quả cao vì bản thân

hệ thống pháp luật đó chỉ nằm trên giấy nếu không được tổ chức thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn Công tác tổ chức thực hiện pháp luật có vai trò và ý nghĩa to lớn, là khâu quan trọng bậc nhất để tăng cường và hoàn thiện pháp luật bởi đó chính là khâu đưa pháp luật vào trong đời sống xã hội, là một khâu biến các quy phạm pháp luật trở thành yếu tố vật chất tác động vào thực tế đời sống nhằm bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm minh

Để việc tổ chức thực hiện pháp luật đạt hiệu quả cao thì hoạt động tuyên truyền và giáo dục pháp luật về XLVPHC nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân là hết sức quan trọng và cần thiết Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước, các cấp, các ngành cần thường xuyên kiện toàn, củng cố các tổ chức pháp chế để tạo điều kiện nắm vững và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật

1.3.3 Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật

Kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật XLVPHC và xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật là hoạt động không thể thiếu nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của luật pháp Chất lượng hoạt động của công tác này ảnh hưởng lớn đến tình trạng thực thi pháp luật

Trước tiên, có thể nói kiểm tra, giám sát nhằm mục đích uốn nắn, chấn chỉnh hoạt động chấp hành và thực thi pháp luật, kịp thời có những biện pháp

để bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, chính xác trong thực

tế Bên cạnh đó, kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật còn để kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật để xử lý nghiêm minh, bảo đảm nguyên tắc: mọi vi phạm pháp luật phải được phát hiện và xử lý kịp thời; thực hiện mọi

Trang 38

người đều bình đẳng trước pháp luật Nếu công tác này không được chú trọng thường xuyên, không được tổ chức và tiến hành có hiệu quả thì vai trò của pháp luật XLVPHC sẽ bị suy giảm

Xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật là nhân tố vô cùng cần thiết bảo đảm kỷ cương và sự vững mạnh của luật pháp Sử dụng nhuần nhuyễn giáo dục và cưỡng chế trong QLNN, điều hành xã hội bằng pháp luật, giữ nghiêm kỷ cương, phép nước chính là chìa khóa để duy trì tính nghiêm minh của pháp luật một cách hiệu quả

1.3.4 Ý thức pháp luật của cán bộ, công chức và nhân dân

Ý thức pháp luật của cán bộ, công chức và nhân dân cũng là một yếu tố

có ý nghĩa rất lớn ảnh hưởng đến tình trạng tuân thủ pháp luật Pháp luật chỉ

có thể được chấp hành nghiêm chỉnh và chính xác nếu như mọi người dân, trong đó có cán bộ, công chức nắm vững và hiểu rõ về luật pháp Hiểu biết về pháp luật chính là tiền đề cho việc tôn trọng và tuân thủ pháp luật Bên cạnh vấn đề hiểu biết về luật pháp thì ý thức chấp hành luật pháp, tôn trọng luật pháp, “sống và làm việc theo pháp luật” cũng là nhân tố quan trọng tạo nên ý thức pháp luật của quần chúng nhân dân, của cán bộ, công chức Thực tế thời gian vừa qua, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, nhiều tổ chức cá nhân, mặc dù hiểu biết về luật pháp nhưng lại cố tình vi phạm pháp luật hoặc tìm cách để “lách luật” vì mục đích, động cơ vụ lợi Bên cạnh công tác tuyên truyền pháp luật được tiến hành thường xuyên và nâng cao hiệu quả cả về bề rộng và bề sâu thì việc quan trọng hơn là phải giáo dục ý thức tuân thủ, tôn trọng và làm theo luật pháp Đây là công việc thường xuyên, lâu dài với một loạt các giải pháp đồng bộ như nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo, giáo dục tính tự giác, tinh thần kỷ luật, tăng cường giáo dục đi đôi với cưỡng chế nghiêm minh nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương xã hội đi vào nề nếp

Trang 39

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Thông qua cơ sở pháp lý và những nội dung cơ bản về XLVPHC nói chung và ở đô thị nói riêng, có thể thấy: VPHC ở đô thị là một hoạt động phức tạp với nhiều nhóm hành vi VPHC Việc XLVPHC nói chung, XLVPHC ở đô thị nói riêng phải tuân theo trình tự, thủ tục nhất định; đúng thẩm quyền, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc vượt quyền trong thực thi công vụ

Hoạt động XLVPHC ở đô thị là công tác còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp; nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì kỉ cương, trật tự trong QLNN về đô thị, đảm bảo cho mọi hoạt động hành chính ở đô thị được diễn

ra nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật, xử lý những hành vi vi phạm, hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường sống; góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân ở đô thị Muốn thực hiện tốt điều này, chúng

ta cần phải có nhận thức đầy đủ cơ sở pháp lý về XLVPHC ở đô thị Từ đó, phân tích thực trạng XLVPHC ở đô thị qua thực tiễn ở Công an quận Hồng Bàng và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường đảm bảo hoạt động XLVPHC ở đô thị

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Ở ĐÔ THỊ CỦA CÔNG AN QUẬN HỒNG BÀNG,

Quận Hồng Bàng có vị trí quan trọng về chính trị, hành chính, kinh tế, an ninh quốc phòng và văn hoá - xã hội đối với thành phố Hải Phòng Vị trí địa

lý của quận thuận lợi cho phát triển kinh tế dịch vụ thương mại, du lịch, tài chính, viễn thông CNTT, dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe, giáo dục-đào tạo, kinh doanh bất động sản, dịch vụ môi trường… Phát triển các ngành công nghiệp có công nghệ kỹ thuật cao như đóng tàu và sửa chữa tàu biển, sản xuất sản phẩm cơ khí siêu trường siêu trọng, dây cáp ngầm điện cao thế, hoá chất… Đồng thời phát triển hệ thống cảng sông thuận tiện cho việc giao lưu vận tải bằng đường sông, đường biển tới các vùng trong cả nước và quốc tế Phát triển hoạt động dịch vụ thương mại của đô thị trung tâm và dịch vụ du lịch kết nối theo tour, tuyến trong nước và quốc tế

Trên địa bàn quận tính đến tháng 5/2018 có 1.668 doanh nghiệp, tổ chức kinh tế đang hoạt động sản xuất- kinh doanh; 13 trung tâm thương mại; gần 5.000 hộ kinh doanh cá thể

Quận Hồng Bàng hiện tại là khu vực có mật độ tập trung cao nhất các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch, là đầu mối bán buôn, bán lẻ nhiều loại hàng hoá, tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng của vùng đồng bằng Bắc Bộ

Ngày đăng: 01/04/2021, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Thị Kim Cúc (2010), Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Kim Cúc
Năm: 2010
3. Bùi Thị Đào (2014), Luật xử lý vi phạm hành chính - bước tiến mới của pháp luật xử lý vi phạm hành chính và một số vấn đề cần trao đổi, Tạp chí Luật học số 6/2014, tr11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật xử lý vi phạm hành chính - bước tiến mới của pháp luật xử lý vi phạm hành chính và một số vấn đề cần trao đổi
Tác giả: Bùi Thị Đào
Năm: 2014
10. Đặng Thanh Sơn (2010), Cơ chế bảo đảm thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo đảm thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Đặng Thanh Sơn
Năm: 2010
11. Đinh Văn Mậu (2008), Luật Hành chính Việt Nam, sách, Nxb Giao thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hành chính Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Mậu
Nhà XB: Nxb Giao thông
Năm: 2008
13. Hồ Thanh Hiền (2012), Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ - qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ - qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Hồ Thanh Hiền
Năm: 2012
15. Nguyễn Minh Đức (2013), Một số bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính, báo Luật Việt 22/7/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Nguyễn Minh Đức
Năm: 2013
16. Nguyễn Ngọc Duy (2014), Bình luận 2014 Luật xử lý vi phạm hành chính và trình tự, thủ tục, xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận 2014 Luật xử lý vi phạm hành chính và trình tự, thủ tục, xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
Tác giả: Nguyễn Ngọc Duy
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2014
17. Nguyễn Thị Hồi (2009), Hoạt động áp dụng pháp luật - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động áp dụng pháp luật - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thị Hồi
Năm: 2009
18. Nguyễn Thanh Hải (2014), Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị từ thực tiễn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Luật Hành Chính, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị từ thực tiễn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thanh Hải
Năm: 2014
19. Nguyễn Hoàng Việt (2015), Điều kiện bảo đảm cho công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 4/2015, tr27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện bảo đảm cho công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Nguyễn Hoàng Việt
Năm: 2015
20. Phạm Hồng Thái (2009), Lý luận nhà nước và pháp luật, Giáo trình, Nxb Tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Phạm Hồng Thái
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2009
23. Quốc hội (2013), Luật Phòng cháy và chữa cháy (sửa đổi) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Phòng cháy và chữa cháy
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
30. Viện nghiên cứu chính sách, pháp luật và phát triển (2012), Tính minh bạch của quyết định hành chính, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính minh bạch của quyết định hành chính
Tác giả: Viện nghiên cứu chính sách, pháp luật và phát triển
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2012
1. Bộ Công an (2015), Thông tư số 10/2015/TT-BCA quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực liên quan an ninh, trật tự, an toàn xã hội Khác
4. Chính phủ (2013), Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình Khác
5. Chính phủ (2013), Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính Khác
6. Chính phủ (2013), Nghị định số 93/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông hàng hải, đường thủy nội địa Khác
7. Công an quận Hồng Bàng (2017), Báo cáo Tổng kết thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính trong lực lượng Công an quận Hồng Bàng Khác
8. Cục Cảnh sát giao thông - Bộ Công an (2016), Xây dựng hệ thống giám sát, xử lý vi phạm TTATGT đường bộ và cơ sở pháp lý việc xử lý vi phạm bằng hình ảnh Khác
9. Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w