Chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VIẾT HỒNG
CHỨNG MINH VỤ ÁN TIỀN GIẢ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ,
ĐIỀU TRA TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số : 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN NGỌC HÀ
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi
Tác giả luận văn
Nguyễn Viết Hồng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG MINH VỤ ÁN TIỀN GIẢ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA… 7
1.1 Những vấn đề lý luận về chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra 7 1.2 Quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự về chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHỨNG MINH VỤ ÁN TIỀN GIẢ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32
2.1 Đặc điểm có liên quan đến hoạt động chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra 32 2.2 Thực trạng chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra 42
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHỨNG MINH VỤ ÁN TIỀN GIẢ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA… 55
3.1 Yêu cầu của hoạt động chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra 55 3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra 56
KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sư
TTHS : Tố tụng hình sự
CQĐT : Cơ quan điều tra
ANĐT : An ninh điều tra
CSĐT : Cảnh sát điều tra
VKS : Viện kiểm sát
HĐCM : Hoạt động chứng minh
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự, các
cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng mọi phương tiện, biện pháp luật định để thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án Chứng cứ luôn là những vấn đề quan trọng trong quá trình giải quyết mọi vụ án hình sự, là công cụ sắc bén giúp cơ quan tiến hành tố tụng đấu tranh với đối tượng phạm tội Để chứng cứ có đầy đủ giá trị và hiệu lực pháp lý, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện tốt các hoạt động chứng minh (HĐCM) trong tố tụng hình sự (TTHS)
Trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án tiền giả, chứng cứ và chứng minh
là những vấn đề được Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS) quan tâm
và thận trọng trong quá trình thực hiện Nếu HĐCM được thực hiện hiệu quả, đúng pháp luật thì sẽ có tài liệu, chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm cao, ngược lại nếu HĐCM không được thực hiện tốt, không tuân thủ theo đúng quy định pháp luật thì những tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hai giai đoạn này
sẽ không có giá trị chứng minh và không được sử dụng trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo
Thành phố Hà Nội là trung tâm văn hóa chính trị của cả nước, là địa bàn trọng điểm về an ninh, trật tự Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Hà Nội đã được những thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh, quốc phòng, đời sống người dân từng bước được cải thiện Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp với hàng nghìn vụ án hình sự xảy ra mỗi năm, trong đó có các vụ án tiền giả Đây là loại án mà đối tượng phạm tội thường hoạt động với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, luôn tìm mọi cách để đối phó với quá trình điều tra, xử lý của cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, cơ quan An ninh điều tra (ANĐT) Công an thành phố Hà Nội nói riêng
Trang 6Các vụ án tiền giả xảy ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự quản lý kinh tế nói chung, đến việc quản lý tiền tệ của Nhà nước nói riêng, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân Quá trình giải quyết các vụ án này, các HĐCM luôn đóng vai trò hết sức quan trọng và đã đạt được nhiều thành công đáng kể, song vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, những khó khăn vướng mắc cần được nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả HĐCM vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra của Cơ quan ANĐT, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) cấp huyện Công an thành phố Hà Nội
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố
Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình
sự, mã số 60.38.01.04
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như trong thực tiễn áp dụng, vấn đề chứng minh trong vụ án hình sự nói chung và chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra nói riêng luôn được các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Các nhà khoa học, luật gia đưa ra những hệ thống lý luận dưới nhiều góc độ khác nhau làm sáng tỏ vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng Liên quan đến đề tài luận văn, đến nay đã có một số công trình khoa học đã công bố như sau:
Các đề tài liên quan đến chứng cứ và chứng minh vụ án ở các giai đoạn cụ thể trong TTHS: Đỗ Văn Đương (2006), Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự, Nxb Tư Pháp, Hà Nội; Nguyễn Văn Cừ (2005), Chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Hà, Quá trình chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm An ninh quốc gia, Luận án tiến
sĩ, Học viện An ninh nhân dân; Dương Ngọc An (2013), Chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội…Các đề tài này đã đưa ra lý luận về chứng cứ và
Trang 7chứng minh vụ án hình sự nói chung, tuy nhiên các công trình này chưa đi vào nghiên cứu chứng cứ và chứng minh trong từng loại vụ án cụ thể
Các đề tài liên quan trực tiếp đến luận văn “Chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội”: Nguyễn Hoàng Long (2010), Hoạt động thu thập chứng cứ trong điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả do Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc thụ lý, Luận văn Thạc sĩ, Học viện An ninh nhân dân; Lê Nam Anh (2011), Nâng cao hoạt động thu thập chứng cứ trong điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả do Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Nam Định thụ lý, Luận văn Thạc sĩ, Học viện An ninh nhân dân; Trần Anh Tuyên (2014), Thu thập chứng cứ trong điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, Luận văn Thạc sĩ, Học viện An ninh nhân dân…Các đề tài trên mới chỉ nghiên cứu việc chứng minh vụ án tiền giả dưới góc độ hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra các vụ án tiền giả, tuy nhiên, các công trình khoa học này chưa nghiên cứu về các hoạt động kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án tiền giả
Trên cơ sở nghiên cứu cho thấy, các tác giả chủ yếu nghiên cứu ở từng khía cạnh khác nhau của vấn đề này Do nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, góc độ tiếp cận khác nhau nên các công trình khoa học nêu trên hoặc đề cập đến vấn đề chứng minh trong toàn bộ vụ án hoặc trong từng hoạt động cụ thể của quá trình chứng minh hoặc tiếp cận dưới góc độ đặc điểm của địa bàn nghiên cứu Hiện nay cũng chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội
Do vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện đề tài “Chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội” là vấn đề mang tính cấp thiết nhằm hoàn thiện, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, của Cơ quan điều tra (CQĐT) trong quá trình giải quyết vụ án tiền giả nói riêng Kết quả nghiên cứu của các
Trang 8công trình khoa học nêu trên là những nguồn tư liệu quý giá giúp cho tác giả nghiên cứu và hoàn thành tốt đề tài luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn chứng minh vụ
án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra dự báo và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và góp phần nâng cao hiệu quả chứng minh trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án tiền giả trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra
- Nghiên cứu cơ sở pháp lý, nội dung, các giai đoạn của HĐCM vụ án tiền giả trong khởi tố, điều tra do Cơ quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện Công
an thành phố Hà Nội thụ lý
- Nghiên cứu, khảo sát thực trạng và rút ra nhận xét về hoạt động chứng minh trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả xảy ra trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến tháng 6/2017
- Dự báo tình hình và đưa ra một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra trên phạm vi cả nước nói chung, địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chứng minh và thực tiễn về chứng minh
vụ án tiền giả trong khởi tố, điều tra do Cơ quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện Công an thành phố Hà Nội thụ lý
Trang 94.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: tập trung nghiên cứu hoạt động chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra
+ Về thời gian: Từ năm 2012 đến tháng 6/2017
+ Về địa bàn: các vụ án tiền giả do Cơ quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện Công an thành phố Hà Nội thụ lý
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình
sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các văn kiện của Đảng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp chuyên gia, tọa đàm khoa học; phương pháp tổng kết thực tiễn để giải quyết các nhiệm
vụ nghiên cứu
Cụ thể, tác giả sử dụng những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm của Cơ quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện Công an thành phố Hà Nội; nghiên cứu các quyết định tố tụng liên quan đến hoạt động chứng minh vụ án, tổng hợp các tri thức khoa học pháp luật tố tụng hình sự và các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn Ngoài ra, tác giả tham khảo ý kiến của các Điều tra viên trực tiếp tiến hành các hoạt động chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Về mặt lý luận:
Trang 10Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên, có tính hệ thống và tương đối toàn diện về hoạt động chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi
tố, điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp xác định được khái niệm, nội dung và các giai đoạn của HĐCM trong khởi tố, điều tra vụ án tiền giả, từ đó đưa ra những kiến nghị về mặt lập pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật TTHS về vấn đề này Việc xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp, đầy đủ, có hệ thống sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng của HĐCM vụ án tiền giả
6.2 Về mặt thực tiễn:
Tổng kết, rút ra được những kinh nghiệm trong HĐCM vụ án tiền giả từ năm 2012 đến nay do Cơ quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện Công an thành phố Hà Nội thụ lý
Kết quả nghiên cứ của luận văn giúp các Cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, CQĐT nói riêng xác định, áp dụng đúng đắn trình tự, thủ tục trong HĐCM vụ án tiền giả
Bên cạnh đó, tác giả hy vọng luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra
Chương 2: Thực trạng chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG MINH VỤ
ÁN TIỀN GIẢ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA
1.1 Những vấn đề lý luận về chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra
1.1.1 Khái niệm chứng minh vụ án tiền giả
Để có thể đưa ra được một khái niệm khoa học về chứng minh vụ án tiền giả cần thiết phải đi từ việc làm sáng tỏ cái chung (chứng minh) đến cái riêng (chứng minh vụ án tiền giả) Đó là một trong những lôgic khi tiếp cận những vấn đề thuộc khoa học xã hội
“Chứng minh” – theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa năm
2013, là “làm cho thấy rõ là có thật, là đúng, bằng sự việc hoặc lý lẽ” [15, tr
201] Chứng minh ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao trùm tất cả các sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội
Mặt khác, chứng minh còn được hiểu là “một hình thức suy luận để khẳng định tính chân lý của một luận điểm nào đó, bằng cách dựa vào những luận điểm mà tính chân lý đã được thực tiễn xác nhận” [31]
“Chứng minh tội phạm” - Theo Từ điển luật học, Nxb Tư Pháp năm 2006,
là “thu thập kiểm tra, đánh giá chứng cứ để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội” [3, 165] Chứng minh ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp
trong TTHS
Theo GS, TS Võ Khánh Vinh, trong phần bình luận Điều 65 Bộ luật
TTHS năm 2003 có đưa ra khái niệm về chứng minh là “quá trình nhận thức về
vụ án hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện” [29, tr 131]
Tuy các nhà khoa học đều đưa ra các lý giải khác nhau về thuật ngữ
“chứng minh” nhưng các khái niệm trên đều có những điểm chung là:
Trang 12Thứ nhất, chứng minh là hoạt động suy luận logic thông qua quá trình
nhận thức về một sự vật, một sự việc
Thứ hai, trong HĐCM, chủ thể chứng minh sử dụng lý lẽ hoặc tài liệu,
thông tin đã được kiểm chứng, xác nhận
Thứ ba, mục đích của HĐCM nhằm kết luận chân lý khách quan về một
sự vật, một hiện tượng
Từ các phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về chứng minh như sau:
“Chứng minh là hoạt động của con người để nhận thức sự thật khách quan về một sự vật, hiện tượng nào đó thông qua các thông tin, tài liệu được thu thập, kiểm tra, đánh giá tính chân lý”
Theo Từ điển luật học, vụ án được hiểu là “một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết” [3, tr 860]
Theo Quyết định số 130/2003/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 30/6/2003 về việc bảo vệ tiền Việt Nam đã đưa ra khái niệm về “tiền giả” là
“những loại tiền được làm giống như tiền Việt Nam nhưng không phải Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức in, đúc, phát hành” [25]
Thực tiễn chứng minh các vụ án tiền giả cho thấy: tiền giả bao gồm tiền Việt Nam đồng giả và ngoại tệ giả; ngân phiếu giả, công trái giả bao gồm ngân phiếu, công trái giả ngân phiếu, công trái của Việt Nam hoặc của nước ngoài phát hành, nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam
Vụ án tiền giả là vụ án đã được cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng theo quy định của pháp luật TTHS khởi tố hình sự về tội làm, tàng trữ, vận chuyển hoặc lưu hành tiền giả
Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả được quy định tại Điều
180, Chương XVI (nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế) Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):
Trang 13“1 Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm
2 Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm
3 Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình
4 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” [19]
Điều 207 BLHS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 quy định về tội phạm tiền giả như sau:
“1 Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, thì bị phạt tù
4 Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến
03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” [20]
Quy định về tội phạm tiền giả trong BLHS sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 có một số điểm khác biệt só với BLHS năm 1999 đang có hiệu lực thi hành Tội phạm tiền giả quy định trong BLHS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 được cụ thể hóa về định lượng tiền giả làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tương ứng với các khung hình phạt Ngoài ra, tội phạm tiền giả quy định trong BLHS năm 2015 không áp dụng hình phạt tử hình đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Xuất phát từ cơ sở phương pháp luận HĐCM trong khởi tố, điều tra vụ án
Trang 14tiền giả đã phân tích và các khái niệm có liên quan, có thể đưa ra khái niệm về chứng minh vụ án tiền giả như sau:
“Chứng minh vụ án tiền giả là trình tự các bước nhận thức các sự kiện, tình tiết liên quan đến vụ án tiền giả do cơ quan ANĐT và chủ thể khác có thẩm quyền tiến hành thông qua việc áp dụng các phương tiện, biện pháp hợp pháp
để thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục luật định để kết luận, làm rõ đối tượng chứng minh của vụ án tiền giả”
Chứng minh vụ án tiền giả là hoạt động nhận thức sự thật khách quan về
vụ án tiền giả của cơ quan và người có thẩm quyền Hoạt động nhận thức này được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương tiện, biện pháp được quy định trong Bộ luật TTHS Chứng minh vụ án tiền giả gồm có các giai đoạn: thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ
Cơ quan và người có thẩm quyền khởi tố vụ án tiền giả cũng là những cơ quan và người có thẩm quyền được quy định trong Bộ luật TTHS năm 2003, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2009)
và thông tư số 28 ngày 7/7/2014 của Bộ trưởng Bộ công an
Các cơ quan và người có thẩm quyền nêu trên bao gồm: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan ANĐT trong Công an nhân dân (Điều 34, Điều 12 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004); các Cục trưởng các Cục An ninh, Trưởng phòng các phòng An ninh ở Công an cấp tỉnh trực tiếp đấu tranh phòng, chống các tội phạm quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (Điều 24 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004); Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan ANĐT trong Quân đội nhân dân (Điều 34, Điều
16 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004); Bộ đội Biên phòng; Lực lượng Cảnh sát biển (Điều 19, Điều 22 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004)
Mục đích của HĐCM vụ án tiền giả nhằm làm rõ sự thật khách quan của
vụ án thông qua việc thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để xác
Trang 15định, làm rõ đối tượng chứng minh của vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố vụ
án và giai đoạn điều tra vụ án
1.1.2 Nội dung của chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra
1.1.2.1 Đối tượng chứng minh vụ án tiền giả
Đối tượng chứng minh trong khởi tố, điều tra vụ án tiền giả là tổng hợp những sự kiện và tình tiết của vụ án tiền giả mà Cơ quan CSĐT cấp huyện, Cơ quan ANĐT Công an thành phố Hà Nội cần phải xác định, làm rõ bằng chứng
4 Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” [21]
Bộ luật TTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018 quy định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự tại Điều 85:
“Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến
Trang 163 Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
4 Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
5 Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;
6 Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt” [22]
Bộ luật TTHS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 bổ sung thêm hai vấn đề cần phải chứng minh của vụ án quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 85 Những vấn đề này là cần thiết trong quá trình chứng minh vụ án hình sự, phục
vụ cho hoạt động đấu tranh, phòng ngừa tội phạm cũng như việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo
Thực tế HĐCM vụ án tiền giả cho thấy đối tượng chứng minh (những vấn
đề cần phải chứng minh) bao gồm:
Thứ nhất, các tình tiết thuộc 4 yếu tố cấu thành tội phạm của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả
Đây là những tình tiết phản ánh bản chất của vụ án, thể hiện dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả gồm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan Trong đó, Cơ quan ANĐT thường thu thập chứng cứ chứng minh những tình tiết thuộc mặt khách quan trước, trên cơ sở đó mới làm rõ các yếu tố khác của cấu thành tội phạm
+ Tình tiết thuộc mặt khách quan của tội phạm
Đối với tội làm tiền giả: được thể hiện qua các hành vi in, vẽ, phôtô hoặc bằng các hình thức khác để tạo ra các đối tượng giống như tiền thật
Đối với tội tàng trữ tiền giả: được thể hiện qua hành vi cất giữ, che giấu tiền giả một cách trái pháp luật dưới bất kỳ hình thức nào
Đối với tội vận chuyển tiền giả: được thể hiện thông qua hành vi đưa tiền giả từ nơi này đến nơi khác bằng mọi phương thức, thủ đoạn (đường sông, đường bộ, đường thủy…) với mọi phương tiện (tàu, xe, máy bay…)
Trang 17Đối với tội lưu hành tiền giả: được thể hiện qua hành vi đưa tiền giả vào
sử dụng để thanh toán, trao đổi…
Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm thực hiện một trong các hành vi trên
+ Những tình tiết thuộc về chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả là con người
cụ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đã thực hiện hành
vi phạm tội
Vấn đề đầu tiên cần phải chứng minh làm rõ là con người cụ thể nào, công dân Việt Nam, người không quốc tịch hay người nước ngoài thực hiện hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam thì cần chú ý xác định họ có thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao, quyền ưu đãi miễn trừ về lãnh sự hay không?
Chủ thể của tội phạm tiền giả phải đạt độ tuổi theo luật định Độ tuổi này khoa học luật hình sự gọi là tuổi chịu trách nhiệm hình sự và được quy định tại điều 12 BLHS:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” [19]
Theo quy định tại Điều 180 BLHS năm 1999, tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả được chia thành ba khung:
Khung một: có mức phạt tù từ ba năm đến bảy năm, được áp dụng trong
trường hợp người phạm tội có đủ các dấu hiệu cấu thành cơ bản tại khoản 1 Điều
180 BLHS Chủ thể của tội phạm trong trường hợp này là người từ đủ 16 tuổi
Khung hai: có mức phạt tù từ năm năm đến mười hai năm, được áp dụng
trong trường hợp nghiêm trọng Chủ thể của tội phạm trong trường hợp này là
Trang 18người từ đủ 16 tuổi
Khung ba: có mức phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung
thân, được áp dụng trong trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng Chủ thể của tội phạm trong trường hợp này là người từ đủ 14 tuổi
Theo BLHS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2018, tội phạm về tiền giả
có khung hình phạt thứ tư trong trường hợp chuẩn bị phạm tội: cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm
+ Những tình tiết thuộc về mặt chủ quan của tội phạm
Song song với việc chứng minh những tình tiết thuộc về chủ thể của tội phạm thì Cơ quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện phải thu thập chứng cứ chứng minh những tình tiết thuộc mặt chủ quan của tội phạm, đó là lỗi, mục đích và động cơ phạm tội Đây là những vấn đề cần phải chứng minh trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án tiền giả Lỗi là dấu hiệu không thể thiếu của bất cứ cầu thành tội phạm nào, là cơ sở chủ quan để buộc chủ thể thực hiện hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả chịu trách nhiệm hình sự Mục đích
và động cơ phạm tội cũng là tình tiết phải cần phải chứng minh
Đối với vụ án tiền giả thì phải chứng minh được lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý
+ Những tình tiết thuộc khách thể của tội phạm
Tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về phát hành, lưu hành và quản lý tiền tệ Đối tượng tác động của tội phạm này là tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành
Việc chứng minh những tình tiết thuộc khách thể của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả thường không khó khăn, phức tạp như chứng minh những tình tiết thuộc mặt chủ quan, bởi khi đã chứng minh được hành vi khách quan và mục đích phạm tội thì cũng xác định được khách thể (quan hệ xã hội)
mà hành vi phạm tội xâm phạm
Trang 19Thứ hai, những tình tiết ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt của bị can trong vụ án tiền giả
Đây là những tình tiết không có ý nghĩa đối với việc xác định tội danh nhưng có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm hình sự và hình phạt của người thực hiện hành vi phạm tội Vì thế, để xác định chính xác người phạm tội, làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá về vụ án hình sự, Cơ quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện phải thu thập chứng cứ chứng minh có hay không có một trong 18 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 46 BLHS, có hay không có 14 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 48 BLHS, có hay không có 3 tình tiết miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều
25 BLHS và tình tiết dẫn đến miễn hình phạt quy định tại Điều 54 BLHS
Thứ ba, những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án tiền giả
Đây là những tình tiết không thuộc bốn yếu tố cấu thành tội phạm, cũng không thuộc những tình tiết ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội nhưng có ý nghĩa nhất định đối với việc giải quyết vụ án tiền giả được khách quan hơn, hoặc có ý nghĩa trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm nói chung, tội phạm tiền giả nói riêng
Những tình tiết này có thể là: tình trạng phạm tội; mối quan hệ giữa người tiến hành tố tụng với bị can, người bị hại; những tình tiết là cơ sở để ra các quyết định trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án tiền giả (quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, quyết định đình chỉ điều tra,…); những tình tiết do người bào chữa, bị can hoặc người đại diện của họ yêu cầu; nguyên nhân và điều kiện phạm tội…
Giai đoạn khởi tố vụ án tiền giả và giai đoạn điều tra vụ án tiền giả có sự khác biệt về nhiệm vụ chứng minh Trong đó:
Nhiệm vụ chứng minh của giai đoạn khởi tố vụ án tiền giả là khi tiếp nhận về tin tức về tội phạm, Cơ quan CSĐT cấp huyện, Cơ quan ANĐT Công
Trang 20an thành phố Hà Nội phải xác định có sự việc xảy ra hay không, nếu có sự việc xảy ra phải xem xét sự việc đó có hay không có dấu hiệu của tội phạm tiền giả
để làm căn cứ ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án tiền giả
Nhiệm vụ chứng minh của giai đoạn điều tra vụ án tiền giả là xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội tiền giả; xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan và tổ chức hữu quan có biện pháp khắc phục và phòng ngừa; Lập hồ sơ đề nghị truy tố bị can trước pháp luật
Như vậy, đối tượng chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố vụ
án là dấu hiệu tội phạm tiền giả xảy ra trong sự kiện thực tế, bao gồm tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự; tính phải chịu hình phạt Đối tượng chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn điều tra là các sự kiện, tình tiết về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tình tiết có ý nghĩa giải quyết đúng đắn vụ án tiền giả
1.1.2.2 Nghĩa vụ chứng minh vụ án tiền giả
Theo Điều 10 của Bộ luật TTHS năm 2003 có quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội ”
Các cơ quan tiến hành TTHS theo quy định tại Điều 33 Bộ luật TTHS năm 2003 bao gồm: CQĐT, Viện kiểm sát (VKS), Tòa án Dựa vào đặc điểm của những hoạt động tố tụng, quá trình TTHS được chia làm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn do mỗi cơ quan nhất định được pháp luật quy định thực hiện bằng những hoạt động tố tụng cụ thể Ở giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự và truy tố, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về CQĐT, VKS, còn ở giai đoạn xét xử, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về đại diện VKS thực hành quyền công tố và Hội đồng xét xử Tuy các cơ quan tiến hành tố tụng có những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng, nhưng hoạt động trong mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau và đều có trách nhiệm là nhằm phát hiện chính xác,
Trang 21nhanh chóng tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, xử lý đúng đắn theo quy định của pháp luật
Cũng theo quy định tại Điều 10 Bộ luật TTHS năm 2003, bị can, bị cáo có quyền chứng minh mình vô tội, nhưng đó không phải nghĩa vụ của họ Vì vậy, việc bị can, bị cáo không đưa ra được những chứng cứ chứng minh mình vô tội thì cũng không thể coi đó là chứng cứ buộc tội họ
Những người tham gia TTHS khác (người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án) có quyền đưa ra chứng cứ và yêu cầu, nhưng không có nghĩa vụ chứng minh Khác với người tham gia tố tụng nói trên, người bào chữa có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, đảm bảo công lý (Điều 58 Bộ luật TTHS năm 2003)
Trong HĐCM vụ án tiền giả, muốn làm sáng tỏ và có kết luận chính xác
có hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả hay không? con người cụ thể thực hiện hành vi đó…thì phải dựa vào những tài liệu quan trọng và là duy nhất để chứng minh sự kiện pháp lý, đó là chứng cứ
Quá trình thực hiện tội phạm của người thực hiện hành vi phạm tội là quá trình diễn ra trong quá khứ, muốn hình dung ra diễn biến của hành vi đó trên thực tế thì phải dựa vào việc phân tích và đánh giá đúng đắn những tài liệu, sự kiện đã thu thập được Những tài liệu, sự kiện đó phải đảm bảo các thuộc tính khách quan, liên quan và hợp pháp của chứng cứ Đây là nhiệm vụ
cơ bản, xuyên suốt trong HĐCM của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng
Từ các chứng cứ thu thập được sẽ giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định được sự thật khách quan của vụ án hình sự, nhằm đảm bảo nguyên tắc của tố tụng là không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Chứng cứ luôn tồn tại một cách khách quan, trong HĐCM thì chứng cứ có vai trò lần lượt chứng minh và làm tái diễn lại sự thật đã xảy ra Do đó, chứng cứ có vai trò rất quan
Trang 22trọng và có tính quyết định đối với HĐCM trong vụ án hình sự nói chung, vụ án tiền giả nói riêng
1.1.2.3 Giới hạn chứng minh vụ án tiền giả
Giới hạn chứng minh vụ án tiền giả là tổng hợp những chứng cứ khác nhau, kể cả chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có tội, cũng như chứng cứ khác cần thiết và đầy đủ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án
Như vậy, xác định giới hạn chứng minh vụ án tiền giả ở giai đoạn khởi tố, điều tra có nghĩa là CQĐT đã nghiên cứu, đánh giá tất cả chứng cứ, các tình tiết thuộc phạm vi đối tượng chứng minh, cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án
Việc xác định giới hạn chứng minh của vụ án tiền giả phải dựa trên những nội dung chủ yếu sau:
- Nghiên cứu, đánh giá tất cả chứng cứ, các tình tiết thuộc phạm vi đối tượng chứng minh cũng như những tình tiết cần thiết khác cho việc khởi tố, điều tra vụ án tiền giả
- Đã xác định được độ tin cậy của từng chứng cứ, của tổng hợp toàn bộ chứng cứ thu thập được về vụ án tiền giả; những chứng cứ ấy đã đủ số lượng chưa, đã cần thiết cho việc chứng minh những vấn đề cần phải chứng minh của
vụ án tiền giả hay chưa? Nếu chưa đạt những yêu cầu cần thiết và đầy đủ của chứng cứ cho vụ án thì phải thu thập, đánh giá thêm; không được giới hạn chứng minh trong khuôn khổ của những chứng cứ đã có sẵn về vụ án
- Nói đến giới hạn chứng minh của vụ án tiền giả là đã nói đến việc CQĐT khẳng định sự đúng đắn trong kết luận của mình; phủ định những giả thuyết trái với kết luận đó; làm sáng tỏ được nguyên nhân của sự mâu thuẫn giữa các giả thuyết sai và kết luận đúng; giữa các chứng cứ với nhau trong một vụ án tiền giả
Trang 231.1.3 Các giai đoạn của hoạt động chứng minh vụ án tiền giả trong khởi tố, điều tra
1.1.3.1 Thu thập chứng cứ
Thu thập chứng cứ là khâu đầu tiên của HĐCM trong khởi tố, điều tra vụ
án tiền giả Kết quả của hoạt động thu thập chứng cứ có ý nghĩa quan trọng và ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết vụ án
Thu thập chứng cứ là việc cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp và phương pháp theo quy định của pháp luật để phát hiện, thu giữ và bảo quản những thông tin, đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án nhằm phục vụ cho quá trình giải quyết đúng đắn vụ án
Với ý nghĩa như trên, thu thập chứng cứ bao gồm các hoạt động sau: phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ
Phát hiện chứng cứ là tìm ra những sự việc, hiện tượng, dấu vết, tài liệu chứa đựng thông tin có giá trị chứng minh những tình tiết, sự kiện của vụ án tiền giả Việc phát hiện này chính là tìm ra nguồn lưu giữ thông tin về vụ án tiền giả
đã xảy ra Hoạt động này có vai trò quan trọng, giúp cho hoạt động thu thập chứng cứ được tiến hành kịp thời, đảm bảo cho việc giả quyết đúng đắn vụ án
Ghi nhận chứng cứ là việc mô tả, ghi chép những thông tin từ các nguồn phản ánh về vụ án tiền giả Việc ghi nhận được thực hiện bằng các hình thức như: ghi nhận vào biên bản, ghi âm, ghi hình, vẽ sơ đồ hiện trường vụ án,…Trong đó, ghi nhận vào biên bản được coi là hình thức ghi nhận phổ biến nhất được luật TTHS xác định Bằng hình thức ghi nhận vào biên bản có thể tiến hành ghi nhận được nhiều thông tin từ vật chứng, lời khai của bị can, người làm chứng,…
Thu giữ chứng cứ là một trong những hoạt động của quá trình thu thập chứng cứ Thu giữ chứng cứ là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền bằng các phương tiện, biện pháp nghiệp vụ tách các đối tượng vật chất mang thông tin có giá trị chứng minh ra khỏi môi trường xung quanh và bảo quản chúng theo quy
Trang 24định của pháp luật Như vậy, thu giữ chứng cứ thường được tiến hành khi nguồn phản ánh là vật chất, hoạt động thu giữ được thể hiện dưới dạng thu giữ dấu vết, vật, đồ vật với tính chất là vật chứng của vụ án, hoặc sao in, đúc khuôn dấu vết…
Bảo quản chứng cứ là bảo vệ, giữ nguyên vẹn các thuộc tính của chứng cứ nhằm bảo vệ giá trị chứng minh, hiệu lực chứng minh của chứng cứ Tùy theo đặc điểm của từng loại chứng cứ mà có cách bảo quản riêng Chứng cứ được ghi nhận trong các biên bản tố tụng như: biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét, biên bản lấy lời khai, biên bản đối chất, biên bản nhận dạng thì phải được lưu giữ, bảo quản trong hồ sơ vụ án Đối với vật chứng thì phải thu thập và bảo quản theo quy định tại Điều 75 Bộ luật TTHS
Để việc thu thập chứng cứ được tập trung, toàn diện, tránh tràn lan, bỏ sót thì các hoạt động phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và bằng những biện pháp do pháp luật TTHS quy định, đồng thời phải có những phương pháp, phương tiện thích hợp Tùy theo từng giai đoạn tố tụng mà cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ phù hợp
Trong vụ án tiền giả xảy ra tại thành phố Hà Nội, Cơ quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện thường áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ sau:
Triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án
Tiến hành khám xét (bao gồm khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm,
đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm theo quy định của Bộ luật TTHS)
Tiến hành các hoạt động điều tra khác như: hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; đối chất; nhận dạng; thực nghiệm điều tra; trưng cầu giám định; yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân cung cấp, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án trong giai đoạn khởi tố, điều tra tiền giả
Trang 25Những biện pháp thu thập chứng cứ nêu trên không chỉ do Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện tiến hành mà trực tiếp là Điều tra viên thụ lý vụ án
Những người tham gia tố tụng không có trách nhiệm và thẩm quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ này mà chỉ có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án tiền giả Song đối với người bào chữa, theo quy định của pháp luật TTHS họ cũng có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết có liên quan đến người mà mình bào chữa nhưng chỉ trong giới hạn nhất định ( theo quy định tại khoản 2, Điều 58, Bộ luật TTHS năm 2003)
1.1.3.2 Kiểm tra, đánh giá chứng cứ
* Kiểm tra chứng cứ
Chứng cứ là phương tiện để chứng minh tội phạm và người có hành vi phạm tội Do vậy, chứng cứ được sử dụng để chứng minh phải đảm bảo tính chính xác, khách quan và phản ánh đúng các tình tiết của vụ án đã xảy ra trên thực tế Kiểm tra chứng cứ là khâu không thể thiếu trong chứng minh vụ án tiền giả, nó đảm bảo cho chứng cứ có đầy đủ giá trị và hiệu lực chứng minh Kiểm tra chứng cứ là một hoạt động mang tính nguyên tắc trong TTHS
Kiểm tra chứng cứ trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án tiền giả thực chất là việc Cơ quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện xác định thông tin, tài liệu, đồ vật thu thập được có đáp ứng đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ không,
có phải là chứng cứ của tiền giả đang khởi tố, điều tra không Thực tiễn cho thấy, kiểm tra chứng cứ bao gồm các hoạt động cụ thể sau:
+ Kiểm tra, xác minh từng chứng cứ: nghiên cứu, phân tích, xem xét từng tài liệu, thông tin thu thập được để kiểm tra độ tin cậy, cũng như các thuộc tính khách quan, liên quan và hợp pháp của chứng cứ Thông thường trong các vụ án tiền giả, Điều tra viên kiểm tra thuộc tính hợp pháp đầu tiền như việc thu giữ vật chứng là tiền giả có được lập biên bản theo đúng quy định không? Trong biên
Trang 26bản đã mô tả đầy đủ, chính xác các đặc điểm của vật chứng chưa, có thể hiện phương pháp thu giữ vật chứng hay không? Tiếp theo, Điều tra viên có thể kiểm tra thuộc tính khách quan và liên quan của chứng cứ đã thu thập được
+ Kiểm tra tổng hợp toàn bộ chứng cứ: đây là việc so sánh, đối chiếu toàn bộ các chứng cứ đã thu thập được trong vụ án tiền giả để xác định mức
độ tương quan, phù hợp của chúng; xem nó đã đủ và cần thiết để làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh trong tiền giả hay chưa Sự phù hợp ở đây được hiểu là sự tương ứng giữa các tình tiết liên quan đến vụ án tiền giả
do các chứng cứ xác định
+ Thu thập thêm chứng cứ mới nhằm làm sáng tỏ chứng cứ đã thu được Nếu khi kiểm tra toàn bộ chứng cứ mà phát hiện thấy những chứng cứ đã thu được có mâu thuẫn với nhau hoặc chưa thể làm rõ được yêu cầu đặt ra của vụ án thì phải tìm thêm những chứng cứ mới để làm rõ và giải quyết vấn đề đó
Việc kiểm tra chứng cứ phải được tiến hành thường xuyên trong suốt quá trình khởi tố, điều tra vụ án tiền giả Việc kiểm tra chứng cứ không chỉ diễn ra sau khi đã thu thập được chứng cứ mà còn kiểm tra ngay trong quá trình thu thập Bất cứ chứng cứ nào thu thập được cũng phải kiểm tra, xác minh lại một cách thận trọng, khách quan, toàn diện trước khi sử dụng Đây là vấn đề mang tính bắt buộc đối với mọi Điều tra viên và trong mọi vụ án hình sự nói chung, vụ
án tiền giả nói riêng
Trang 27Từ khái niệm trên, ta có thể thấy: hoạt động đánh giá chứng cứ trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án tiền giả phải dựa trên các quy định pháp luật hình
sự, pháp luật TTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan; ý thức pháp luật XHCN; niềm tin nội tâm của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng và Điều tra viên Việc đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án tiền giả phải giải quyết được các vấn đề cơ bản sau:
+ Tài liệu, đồ vật thu thập được có thể sử dụng với vai trò là phương tiện chứng minh để sử dụng trong vụ án tiền giả hay không? Chúng được sử dụng để chứng minh vấn đề gì của vụ án? Giữa các chứng cứ có sự mâu thuẫn nào không? Có phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành không?
+ Mối liên hệ giữa các chứng trong vụ cứ án tiền giả, tính chất và ý nghĩa mối liên hệ đó
+ Tổng thể các chứng cứ đã thu thập được có đáp ứng được những yêu cầu đặt ra của vụ án chưa?
1.1.3.3 Sử dụng chứng cứ
Sử dụng chứng cứ là việc dùng các chứng cứ đã có để tiếp tục phát hiện các chứng cứ khác thông qua các hoạt động điều tra; để xác định những vấn đề cần phải chứng minh thuộc phạm vi chứng minh của vụ án trên thực tế và để thực hiện việc buộc tội, gỡ tội đối với bị can, bị cáo [6, tr 139]
Sự thật khách quan của vụ án hình sự nói chung, vụ án tiền giả nói riêng
là sản phẩm của quá trình nhận thức của các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng Xuất phát từ chủ nghĩa duy vật biện chứng của học thuyết Mác -
Lênin, lý luận nhận thức khẳng định rằng: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” [28, tr 179]
Như vậy, con đường nhận thức sự thật khách quan của vụ án tiền giả được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài để bản chất bên trong
Trang 28Trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án tiền giả, thông tin thu thập được về
vụ án thường không nhiều, chưa cho phép hiểu rõ và đầy đủ bản chất cảu vụ án
Do đó dựa trên cơ sở những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, Điều tra viên phải xây dựng các giải thuyết điều tra giúp CQĐT phát hiện, thu thập được những tài liệu, chứng cứ mới
Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, việc sử dụng chứng cứ để chứng minh không chỉ có Điều tra viên, mà có các chủ thể khác cũng sử dụng chứng cứ như Kiểm sát viên, người bào chữa, người bị buộc tội…trong đó, Kiểm sát viên sử dụng chứng cứ để phục vụ cho công tác kiểm sát quá trình khởi tố, điều tra vụ
án tiền giả; người bào chữa sử dụng chứng cứ để bào chữa cho người bị tạm giữ,
bị can; người bị buộc tội sử dụng chứng cứ giúp cho họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật
Sử dụng chứng cứ để kiểm tra, đánh giá tài liệu, chứng cứ mới thu thập được hoặc ngược lại Quá trình này được tiến hành liên tục trong giai đoạn khởi
tố, điều tra vụ án tiền giả Điều tra viên sử dụng những tình tiết trong lời khai của người làm chứng và vật chứng của vụ án để bác bỏ hay khẳng định tính trung thực trong lời khai của bị can, hoặc người lại sử dụng những chứng cứ do
bị can đưa ra để xem xét các tình tiết của vụ án Trong quá trình hỏi cung bị can phạm tội tiền giả, Điều tra viên, Kiểm sát viên sử dụng chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án để tác động làm thay đổi thái độ khai báo gian dối của bị can, buộc họ phải khai đúng sự thật
1.2 Quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự về chứng minh
vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra
1.2.1 Quy định của pháp luật hình sự về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, về những vấn đề khác liên quan đến đối tượng chứng minh
Theo quy định của BLHS năm 1999, tội về tiền giả được quy định tại một tội danh duy nhất Điều 180 quy định tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành
Trang 29tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả :
“1 Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm
2 Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm
3 Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình
4 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
Vụ án tiền giả gồm có 4 tội danh: tội làm tiền giả, tội tàng trữ tiền giả, tội vận chuyển tiền giả và tội lưu hành tiền giả
Quy định của pháp luật hình sự về các tội tiền giả cũng là một trong những cơ sở pháp lý của HĐCM Bởi vì, quy định của Bộ luật TTHS về đối tượng (những vấn đề) phải chứng minh (Điều 63) phải gắn với cấu thành tội phạm của các tội tiền giả cụ thể được quy định tại Điều 180 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) để vạch ra đối tượng chứng minh trong từng vụ án tiền giả cụ thể
Mặt khác, theo quy định của Điều 63 Bộ luật TTHS năm 2003, Cơ quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện không chỉ thu thập chứng cứ chứng minh những tình tiết buộc tội mà phải thu thập chứng minh các tình tiết gỡ tội, đó là những tình tiết là cơ sở để loại trừ trách nhiệm hình sự như: sự kiện bất ngờ (Điều 11); tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 13); phòng vệ chính đáng (Điều 15), tình thế cấp thiết (Điều 16)…; tình tiết để miễn trách nhiệm hình
sự như: tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 19), các căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 25; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 46)…Những quy phạm pháp luật quy định những vấn đề nêu trên cũng là
cơ sở pháp lý của HĐCM trong khởi tố, điều tra các vụ án tiền giả
Trang 301.2.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứ, chứng minh trong vụ án hình sự
Khoa học luật TTHS luôn xem xét HĐCM vụ án hình sự nói chung, vụ án tiền giả nói riêng là một trong những dạng của hoạt động nhận thức, nhưng do phải chịu sự điều chỉnh của luật TTHS, nên cùng với việc phải tuân theo những quy luật nhận thức sự thật của vụ án, HĐCM của vụ án tiền giả còn phải tuân theo các quy phạm pháp luật mà trước hết và trực tiếp là của các quy phạm pháp luật TTHS điều chỉnh việc thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ cũng như các vấn đề khác liên quan đến HĐCM Tổng hợp những quy phạm pháp luật đó tạo thành một trong những cơ sở pháp lý của HĐCM
Nghiên cứu lịch sử lập pháp TTHS ở nước ta cho thấy, những quy định về chứng cứ, chứng minh trước năm 1988 được ghi trong một số văn bản dưới luật như: Thông tư số 09/ NPCL ngày 02/10/1962; Thông tư số 16/TATC ngày 27/09/1974 của Tòa án nhân dân tối cao Trong những năm gần đây, các quy phạm pháp luật với tính chất là cơ sở pháp lý căn bản, quan trọng của HĐCM chủ yếu là các quy phạm pháp luật của Bộ luật TTHS năm 1988, 2003 về những vấn
đề sau:
- Thứ nhất, các quy định về mục đích, đối tượng chứng minh
Trong Bộ luật TTHS năm 2003, những vấn đề cần phải chứng minh trong VAHS được quy định khá cụ thể tại Điều 63 Đây là những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự nói chung do luật định (còn được gọi là đối tượng chứng minh) Vì vậy, Cơ quan ANĐT phải dựa vào quy định của Điều 63 Bộ luật TTHS năm 2003 để xác định những vấn đề (tình tiết) phải chứng minh trong điều tra các vụ án tiền giả, xây dựng kế hoạch điều tra, đánh giá kết quả điều tra
- Thứ hai, quy định về chứng cứ, nguồn chứng cứ
Đây là những quy phạm pháp luật của Bộ luật TTHS hiện hành về khái niệm chứng cứ, các loại nguồn chứng cứ mà cơ quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện phải căn cứ vào đó khi tiến hành thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng
Trang 31chứng cứ trong khởi tố, điều tra các vụ án tiền giả
Khái niệm chứng cứ được quy định rõ ràng tại khoản 1 Điều 64 Bộ luật
TTHS năm 2003: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án” [21]
Trong Bộ luật TTHS năm 1988, 2003 của nước ta mặc dù chưa chính thức ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm nguồn chứng cứ nhưng cũng đã phân biệt chứng cứ và nguồn chứng cứ tại Điều 64 của Bộ luật TTHS năm 2003
Việc nhận thức đúng đắn các quy định của Bộ luật TTHS về nguồn chứng
cứ có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi lẽ ngoài nguồn mà Bộ luật TTHS quy định, Cơ quan ANĐT nói riêng, các cơ quan tiến hành TTHS nói chung không được tìm chứng cứ từ bất kỳ nguồn nào khác để làm căn cứ xác định có hay không hành vi phạm tội đó, cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn các vụ án tiền giả
- Thứ ba, quy định về chủ thể tham gia vào HĐCM và nghĩa vụ chứng minh
Bộ luật TTHS năm 2003 của nước ta đã đề cập đến chủ thể tham gia vào
HĐCM và nghĩa vụ chứng minh tại Điều 10, theo đó: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” Quy định này xuất phát từ nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2003:“ Không
ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án
đã có hiệu lực pháp luật” Như vậy, theo quy định trên, các cơ quan tiến hành tố
tụng đều có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, nhưng vì chức năng, nhiệm vụ của
ba cơ quan này khác nhau nên việc chứng minh tội phạm của các cơ quan này ở mỗi giai đoạn TTHS cũng có những điểm khác nhau Ở giai đoạn điều tra vụ án
Trang 32xâm phạm ANQG, nghĩa vụ chứng minh tội phạm chủ yếu thuộc về Cơ quan
ANĐT
Cũng theo quy định tại Điều 10 Bộ luật TTHS năm 2003, người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Vì vậy, việc người bị buộc tội không đưa ra được những chứng cứ chứng minh mình vô tội thì không thể coi đó là chứng cứ buộc tội họ
Mặt khác, theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 những người tham gia tố tụng khác như: bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền đưa ra chứng cứ và yêu cầu nhưng không có nghĩa vụ chứng minh Tuy nhiên, khác với những người tham gia tố tụng nói trên, người bào chữa cũng có nghĩa vụ chứng minh
Khoản 3 Điều 58 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định: Người bào chữa có
nghĩa vụ: “Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo…”
Khoản 3 Điều 58 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định: “Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án …”
Với quy định này, nghĩa vụ chứng minh của người bào chữa chỉ trong giới hạn phạm vi hẹp nhằm đảm bảo công lý
- Thứ tư, các quy định về thu thập, bảo quản, kiểm tra và đánh giá chứng
cứ, các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá chứng cứ
Pháp luật TTHS Việt Nam không chỉ đề ra nguyên tắc, mục đích của việc thu thập, đánh giá chứng cứ mà còn chỉ ra con đường để đạt được sự thật của vụ án trong các giai đoạn của TTHS Điều 10 Bộ luật TTHS năm 2003
qui định: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện
và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô
Trang 33tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo”
Để đạt được mục đích trên, Bộ luật TTHS năm 2003 trước hết quy định một cách tương đối cụ thể biện pháp, trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ ( Điều 65)
Về đánh giá chứng cứ, Bộ luật TTHS năm 2003 quy định không chỉ mục đích mà còn chủ thể, các nguyên tắc đánh giá chứng cứ tại Điều 66, theo đó:
“1 Mỗi chứng cứ phải được đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực
và liên quan đến vụ án Việc xác định các chứng cứ thu thập được phải bảo đảm
đủ để giải quyết vụ án hình sự
2 Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm xác định và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết của vụ án” [21]
Tóm lại, trong pháp luật TTHS của nước ta đã ghi nhận những quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hình sự Các quy phạm đó thường đề cập đến mục đích và đối tượng chứng minh trong VAHS; xác định khái niệm chứng cứ, nguồn chứng cứ; nguyên tắc và các biện pháp, trình tự, thủ tục của việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hình sự Tổng hợp các quy phạm pháp luật đó tạo cơ sở cho việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng
cứ trong VAHS nói chung, vụ án tiền giả nói riêng Do đó, trong HĐCM
Cơ quan ANĐT phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật Đồng thời, trên cơ sở các quy định của pháp luật mà vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các biện pháp, thủ thuật cũng như áp dụng có hiệu quả các phương tiện để thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ chứng
minh sự thật của vụ án tiền giả
1.2.3 Quy định trong các văn bản luật, dưới luật khác có liên quan đến hoạt động chứng minh
Ngoài những quy định về chứng cứ, chứng minh trong Bộ luật TTHS, về
Trang 34những vấn đề liên quan đến đối tượng chứng minh trong BLHS, một số quy định trong các văn bản luật, dưới luật khác cũng đóng vai trò là cơ sở pháp lý của HĐCM trong khởi tố, điều tra các vụ án tiền giả như: Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2009) và những văn bản pháp luật quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành văn bản trên, đó là: Quyết định số 130/2003/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/6/2003 về việc bảo vệ tiền Việt Nam; Nghị quyết 02/2003/NQ - HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự; Thông tư số 28/2004/TT – BCA ngày 7/7/2004 quy định về công tác điều tra hình sự trong công an nhân dân… Đây là những văn bản quy phạm pháp luật quy định một số vấn
đề liên quan đến HĐCM, đó là: cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng An ninh nhân dân nói chung, Cơ quan ANĐT nói riêng với tư cách là chủ thể chứng minh; tiến hành các hoạt động TTHS để điều tra xử lý tội phạm tiền giả
Tóm lại, những quy phạm pháp luật nêu trên thực sự phát huy tác dụng tạo lập cơ sở pháp lý cho HĐCM trong khởi tố, điều tra các vụ tiền giả Tuy nhiên, qua thực tế áp dụng cho thấy, một số quy định của Bộ luật TTHS về chứng cứ, chứng minh cũng như các quy định của BLHS quy định về các tội tiền giả đã bộc lộ những hạn chế, bất cấp nhất định, ảnh hưởng đến HĐCM trong khởi tố, điều tra các vụ án tiền giả cần phải sửa đổi, bổ sung
Kết luận chương 1
Trong chương 1 luận văn đi sâu, phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về HĐCM trong khởi tố, điều tra vụ án tiền giả và các vấn đề có liên quan đến HĐCM vụ án hình sự Ngoài ra, tác giả đã làm rõ được những quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự về chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra
Về khái niệm, dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam
Trang 35và các văn bản pháp luật khác về điều tra, truy tố, xét xử, tác giả đưa ra khái niêm về chứng minh vụ án tiền giả: đó là trình tự các bước nhận thức các sự kiện, tình tiết liên quan đến vụ án tiền giả do cơ quan ANĐT và chủ thể khác có thẩm quyền tiến hành thông qua việc áp dụng các phương tiện, biện pháp hợp pháp để thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục luật định để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án
Về nội dung HĐCM trong khởi tố, điều tra vụ án tiền giả: tác giả đi sâu vào các vấn đề chính đó là: xác định chính xác đối tượng chứng minh, giới hạn chứng minh, nghĩa vụ chứng minh, vai trò của chứng cứ và các giai đoạn của HĐCM Hoạt động chứng minh trong khởi tố, điều tra vụ án tiền giả phải toàn diện, đầy đủ và theo đúng quy định của pháp luật Để đảm bảo được các yếu tố này, phải xác định theo ba nội dung cơ bản sau:
- Phải thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh có hành vi tiền giả xảy ra hay không; thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội
- Phải xác định được người thực hiện hành vi phạm tội thuộc một trong các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả quy định tại Điều 180 BLHS năm 1999
- Phải thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh những tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự vả hình phạt của người phạm tội cũng như những vấn
đề khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án tiền giả
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG CHỨNG MINH VỤ ÁN TIỀN GIẢ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Đặc điểm có liên quan đến hoạt động chứng minh vụ án tiền giả trong giai đoạn khởi tố, điều tra
2.1.1 Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả xảy ra trên địa bàn thành phố Hà Nội
Qua nghiên cứu, khảo sát thấy từ năm 2012 đến tháng 6/2017, Cơ quan ANĐT, Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố, điều tra các vụ án tiền giả:
Năm 2012, Cơ quan ANĐT khởi tố, điều tra mới 10 vụ án với 15 bị can
về hành vi tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, số tiền giả thu giữ khoảng
500 triệu đồng
Năm 2013, Cơ quan ANĐT khởi tố, điều tra mới 10 vụ án (khởi tố mới 2
vụ án, tiếp nhận 8 vụ án từ các cơ quan khác) với 13 bị can về hành vi tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, thu giữ 198,5 triệu đồng tiền giả loại Polime mệnh giá 500.000 đòng, 200.000 đồng, 100.000 đồng
Năm 2014, Cơ quan ANĐT khởi tố, điều tra mới 8 vụ án với 9 bị can về hành vi tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (khởi tố 1 vụ án, tiếp nhận 7 vụ
án từ các đơn vị khác), thu giữ 251.6 triệu đồng tiền giả loại Polime mệnh giá 200.000 đồng
Năm 2015, Cơ quan ANĐT khởi tố, điều tra mới 6 vụ án với 8 bị can về hành vi tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, thu giữ 318.600.000 đồng tiền giả các loại mệnh giá 200.000 đồng
Năm 2016, Cơ quan ANĐT khởi tố, điều tra mới 6 vụ án với 7 bị can về hành vi tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, thu giữ 1.070.600.000 đồng tiền giả loại Polime mệnh giá 200.000 đồng Đáng chú ý một số vụ án có số lượng
Trang 37tiền giả được vận chuyển, lưu hành với số lượng lớn đến vài trăm triệu đồng, phương thức thủ đoạn thì thay bằng đường bộ như trước đây, các đối tượng sử dụng đường hàng không Chẳng hạn như vụ “Trần Quốc Thanh cùng đồng phạm lưu hành tiền giả” với số lượng tiền giả lưu hành là 503,2 triệu đồng hoặc như
vụ “Nguyễn Thị Xinh vận chuyển 484,6 triệu đồng tiền giả
Năm 2017, tính đến thời điểm khảo sát hiện tại là tháng 6/2017, Cơ quan ANĐT, Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố và kết thúc điều tra 01 vụ án với
02 bị can về hành vi vận chuyển tiền giả
Qua số liệu phân tích ở trên cho thấy, hoạt động phạm tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả diễn ra ngày càng phức tạp, xâm hại trực tiếp đến chính sách quản lý tiền tệ của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, của thành phố Hà Nội nói riêng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân
Tuy số lượng vụ án tiền giả xảy ra trên địa bàn thành phố Hà Nội không nhiều (khoảng 8 vụ/ 1 năm) nhưng tính chất, quy mô của loại tội phạm này lớn, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, các đối tượng phạm tội luôn tìm mọi cách để cản trở, gây khó khăn cho HĐCM của Cơ quan CSĐT cấp huyện,
Cơ quan ANĐT Công an thành phố Hà Nội Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng HĐCM đối với loại án này là nhu cầu cấp thiết
2.1.2 Đặc điểm địa bàn thành phố Hà Nội liên quan đến hoạt động chứng minh vụ án tiền giả
Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế - chính trị lớn nhất cả nước, mọi diễn biến tốt hay xấu thì đều có ảnh hưởng rộng rãi trong phạm vi cả nước Hà Nội có diện tích 3.324,92 km2, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km, cách thành phố Nam Định 87 km Sau đợt mở rộng địa giới gần
Trang 38đây nhất vào tháng 8 năm 2008, thành phố Hà Nội có 6,233 triệu dân và nằm trong 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới Theo kết quả cuộc điều tra dân số, năm 2009 dân số toàn Hà Nội là 6.451.909 người, dân số trung bình năm 2010
là 6.561.900 người Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2015, dân số Hà Nội là 7.558.956 người [30]
Là thành phố thủ đô và có vị trí ở khu vực trung tâm của miền Bắc, bên cạnh con sông Hồng, giao thông từ Hà Nội đến các tỉnh khác của Việt Nam tương đối thuận tiện, bao gồm cả đường không, đường bộ, đường thủy và đường sắt Đây là những điều kiện thuận lợi để Hà Nội phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhưng cũng xuất phát từ vấn đề này mà phương thức hoạt động của tội phạm tiền giả đa dạng và phức tạp hơn các tỉnh, thành phố khác Tuy nhiên, nhờ sự nỗ lực, tinh thần trách nhiệm của các cơ quan chức năng nên tình hình an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững ổn định
Bên cạnh nhiều thành tựu đã đạt được, tình hình an ninh trật tự vẫn diễn biến phức tạp với hàng nghìn vụ án mỗi năm, trong đó, các vụ án tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả với phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc quản lý tiền tệ của Nhà nước, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân
Địa bàn thành phố Hà Nội thường là điểm cuối cùng trong chuỗi hành vi phạm tội tiền giả, trong đó, hành vi lưu hành tiền giả là rất phổ biến Việc chứng minh vụ án tiền giả chỉ tập trung vào các hành vi tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, đối với hành vi làm tiền giả thì các đối tượng khai báo mua từ Trung Quốc nên HĐCM đối với tội phạm tiền giả là không có hiệu quả Chuỗi hành vi phạm tội tiền giả xảy ra tại nhiệu tỉnh, thành phố với điểm cuối là thành phố Hà Nội, HĐCM của Cơ quan ANĐT mới chỉ chứng minh được hành vi xảy ra tại
Hà Nội, HĐCM đối với hành vi xảy ra tại các tỉnh, thành phố khác còn nhiều hạn chế
Trang 392.1.3 Đặc điểm hành vi phạm tội
Xác định hành vi phạm tội là việc chứng minh những tình tiết thuộc về mặt khách quan của tội phạm tiền giả Đây là yếu tố quan trọng giúp khẳng định một người có thực hiện tội phạm về tiền giả hay không
Các đối tượng thường sử dụng phương thức, thủ đoạn tinh vi để tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả nhằm tránh sự phát hiện của quần chúng nhân dân hoặc các cơ quan chức năng
Về hành vi làm tiền giả: qua khảo sát thực tiễn các vụ án tiền giả do Cơ
quan ANĐT, Cơ quan CSĐT cấp huyện Công an thành phố Hà Nội thụ lý từ năm 2012 đến nay cho thấy 100% tiền giả được làm tại Trung Quốc được các đối tượng vận chuyển về Hà Nội để lưu hành Do đó, từ năm 2012 đến nay, Cơ quan điều tra không khởi tố, điều tra vụ án nào về hành vi làm tiền giả
Về hành vi tàng trữ tiền giả: các đối tượng phạm tội thường sử dụng
những thủ đoạn tinh vi nhằm tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng như giấu vào những nơi kín đáo trên người, trong hàng hóa, túi sách, cốp xe…
Về hành vi vận chuyển tiền giả: các đối tượng đều mua tiền giả từ nơi
khác về Hà Nội lưu hành thông qua đường bộ, đường sắt, đường thủy và từ năm
2016 xuất hiện cả hình thức vận chuyển tiền giả qua đường hàng không Trong quá trình vận chuyển, các đối tượng phạm tội thường sử dụng thủ đoạn tàng trữ tiền giả được nêu ở trên Số lượng tiền giả do các đối tượng vận chuyển trong các chuyến ngày càng tăng Chẳng hạn như vụ án lưu hành tiền giả xảy ra tại Hà Nội vào năm 2016, vào hồi 21h50’ ngày 15/4/2016, Công an huyện Sóc Sơn phối hợp với Đội An ninh soi chiếu ga quốc tế - Trung tâm An ninh hàng không Nội Bài làm nhiệm vụ kiểm tra an ninh thì phát hiện bên trong hành lý của hành khách Trần Quốc Thanh có dấu hiệu bất thường, kiểm tra bên trong hành lý phát hiện 21 xếp tiền, tổng cộng 2101 tờ loại polyme mệnh giá 200.000 đồng, tổng số 420.200.000 đồng, trong đó có nhiều tờ tiền trùng số seri nghi là giả