ục đích nghiên cứu đề tài là phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động xử lý vi phạm hành chính của Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; Đề xuất, luận giải một số giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm xử lý vi phạm hành chính ở đô thị từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-/ -
BỘ NỘI VỤ / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Phản biện 1: ………
………
Phản biện 2: ………
………
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng họp ……., Nhà … - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia
Số: 77 - Đường Nguyễn Chí Thanh - Quận Đống Đa – TP Hà Nội Thời gian: vào hồi … giờ … ngày … tháng … năm 201…
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong đời sống kinh tế - xã hội (KTXH) Đây cũng là vấn đề trực tiếp liên quan đến cuộc sống hàng ngày của nhân dân, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, được Đảng, nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm
Với mục tiêu hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực XLVPHC, qua đó tăng cường hiệu lực và hiệu quả thực thi pháp luật, đồng thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, ngày 20/6/2012 tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật XLVPHC, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013 Luật XLVPHC được ban hành, đánh dấu bước phát triển mới trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật XLVPHC nói riêng ở Việt Nam, đồng thời khẳng định một bước phát triển mới về bảo đảm nguyên tắc pháp chế và trật tự, kỉ cương trong QLNN
Theo thống kê từ năm 2012 đến tháng 6/2017, trên địa bàn cả nước có 520.617 vụ việc vi phạm pháp luật, trong đó các vụ việc vi phạm pháp luật liên quan tới hình sự, kinh tế, ma tuý chiếm 35,7%; trật tự công cộng là 91.055 vụ, chiếm 17,5%; vi phạm hành chính là 180.184 vụ, chiếm 34,6% Trong tổng số 184.841 vụ việc vi phạm hành chính về trật tự an toàn xã hội thì số vụ việc liên quan đến vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông, trật tự công cộng chiếm số lượng lớn nhất là 97.780 vụ, chiếm 52,9%; tệ nạn xã hội là 34.935 vụ, chiếm 19% và trong các lĩnh vực khác là 52.126 vụ, chiếm 28,3%
Và tại đô thị, XLVPHC sẽ có những đặc điểm riêng liên quan đến đời sống đô thị Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển KTXH của cả nước, của cả một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện Trong đô thị luôn tồn tại các
Trang 4nhu cầu ăn, ở, đi lại, làm việc, học tập, chữa bệnh, vui chơi giải trí… Các nhu cầu đó ngày càng đòi hỏi cao hơn và các nhu cầu mới thường xuyên phát sinh Để đáp ứng các nhu cầu đó việc tổ chức xã hội đô thị một cách khoa học, QLNN là yêu cầu khách quan nhằm xác lập trật tự đô thị
Thực tiễn cho thấy, hoạt động XLVPHC ở đô thị của lực lượng Công an nhân dân bên cạnh việc thực hiện một cách nghiêm túc, đảm bảo đúng quy trình, thẩm quyền, đối tượng, thời hiệu và thủ tục theo quy định; vẫn còn tồn tại một số khó khăn vướng mắc, cụ thể như: việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế vẫn còn chậm, thiếu nh
Và tại quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, lực lượng công an nhân dân cũng gặp phải những khó khăn, vướng mắc trên khi tiến hành XLVPHC trên địa bàn Tình hình các đối tượng vi phạm pháp luật, chống người thi hành công vụ diễn biến phức tạp, trong khi công cụ hỗ trợ, phương tiện phục vụ công tác của các lực lượng tham gia còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu Việc rà soát đối tượng để áp dụng biện pháp xử lý VPHC giáo dục tại các phường trên địa bàn quận Hồng Bàng còn gặp nhiều khó khăn do thời gian quy định là 6 tháng quá ngắn Hay như công tác XLVPHC của lực lượng công an quận Hồng Bàng có phạm vi rộng liên quan đến nhiều lĩnh vực trong khi đó cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan chưa được xây dựng nên rất khó khăn trong việc đánh giá, tổng hợp đầy đủ công tác XLVPHC
Vì vậy, để góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, có những giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm XLVPHC ở đô thị nói chúng và quận
Trang 5Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng nói riêng, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Xử
lý vi phạm hành chính ở đô thị, từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng” làm nội dung nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Hiện nay, các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận văn mà tác giả nghiên cứu gồm:
Cuốn sách: “Bình luận Luật xử lý vi phạm hành chính và trình tự, thủ
tục, xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính”, do tác giả
Nguyễn Ngọc Duy biên soạn, Nxb Hồng Đức, 2014 Với phương pháp bình luận mới, tác giả đã phân tích khá chi tiết và dễ hiểu đối với từng điều luật, xác định những nội dung cơ bản của Luật XLVPHC Ngoài ra, cuốn sách còn khẳng định việc ban hành Luật XLVPHC lần này nhằm đáp ứng yêu cầu tăng cường pháp chế và nâng cao hiệu lực QLNN trong tình hình hiện nay, đồng thời thay thế những quy định không phù hợp của Pháp lệnh XLVPHC năm
2002 và bổ sung những quy định mới bảo đảm cho việc phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với mọi hành vi vi phạm hành chính [11]
Đặng Thanh Sơn (2010), Cơ chế bảo đảm thi hành Luật xử lý vi phạm
hành chính, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội Đề tài đã đề cập
một cách toàn diện về hệ thống cơ chế bảo đảm cho việc thi hành Luật XLVPHC Từ đó, đề tài làm nền tảng, xác định các yếu tố đảm bảo cho hoạt động xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có ở đô thị [22]
Nguyễn Thanh Hải (2014), Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
trật tự đô thị từ thực tiễn quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội, Luận văn
Thạc sĩ Luật Hành Chính, Học viện Khoa học xã hội Đề tài đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và pháp lý về XLVPHC nói chung và XPVPHC trong lĩnh vực trật tự đô thị nói riêng từ thực tiễn quận Hà Đông; có những đánh giá về kết quả đạt được cũng như hạn chế của hoạt động này; từ đó
đưa ra phương hướng và các giải pháp trong thời gian tới [12]
Bùi Thị Kim Cúc (2010), Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của
lực lượng cảnh sát biển Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc
gia Hà Nội Đề tài đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
Trang 6thẩm quyền của lực lượng cảnh sát biển trong XLVPHC trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam; đánh giá đúng thực trạng về pháp luật, về XLVPHC của lực lượng cảnh sát biển trong thời gian qua Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả XLVPHC của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam [6]
Bùi Thị Đào (2014), Luật xử lý vi phạm hành chính – bước tiến mới
của pháp luật xử lý vi phạm hành chính và một số vấn đề cần trao đổi, Tạp
chí Luật học số 6/2014, tr11 Bài viết đã tập trung phân tích một số điểm mới trong luật XLVPHC: nguyên tắc XPVPHC, thời hiệu XPVPHC, hình thức xử phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng bên cạnh những thay đổi thể hiện sự tiến bộ của pháp luật về XPVPHC nói trên thì luật XLVPHC cũng còn một số quy định cần được tiếp tục nghiên cứu, khẳng định cơ sở lí luận và phải được kiểm nghiệm giá trị trên thực tế [9]
Nguyễn Hoàng Việt (2015), Điều kiện bảo đảm cho công tác thi hành
pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số
4/2015, tr27 Bài viết tập trung phân tích tình hình bảo đảm các điều kiện cho việc thi hành pháp luật về XLVPHC kể từ thời điểm luật XLVPHC có hiệu lực thi hành cho đến nay, đánh giá những mặt đạt được, những mặt còn tồn tại, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế và trên
cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất cụ thể [30]
Trên đây là một số công trình nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính và các vấn đề liên quan Các công trình có giá trị khoa học cao, là nguồn tài liệu tham khảo hữu hiệu cho đề tài luận văn Tuy nhiên, công trình nghiên cứu về XPVPHC ở đô thị không có nhiều và đặc biệt từ thực tiễn công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng thì chưa có đề tài nào
Do vậy, luận văn “Xử lý vi phạm hành chính ở đô thị, từ thực tiễn
Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng” sẽ kế thừa một phần cơ
sở lý luận của các nghiên cứu trên, đồng thời sẽ phản ánh thực trạng vi phạm hành chính trên địa bàn quận Hồng Bàng, thuộc thẩm quyền xử lý của công an quận là căn cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật XLVPHC, tăng cường bảo đảm XLVPHC ở đô thị
Trang 73 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về XLVPHC ở đô thị, trên
cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động XLVPHC ở đô thị từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, đề xuất giải pháp tăng cường bảo đảm XLVPHC ở đó hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về XLVPHC ở đô thị;
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động XLVPHC của Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng;
- Đề xuất, luận giải một số giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm XLVPHC
ở đô thị từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là
hoạt động XLVPHC ở đô thị
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động XLVPHC ở đô thị thuộc thẩm quyền của Công an quận Hồng Bàng trong một số lĩnh vực cụ thể như an ninh trật tự, vi phạm giao thông
- Phạm vi về thời gian: từ năm 2013 đến 2017
- Phạm vi về không gian: trên địa bàn quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: luận văn sử dụng phương pháp luận duy
vật biện chứng
- Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu truyền thống trong nghiên cứu khoa học xã hội là: phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp tổng hợp so sánh; phương pháp thống kê, kết hợp quan sát thực tiễn (qua quá trình công tác) với khái quát hóa
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về XLVPHC
ở đô thị
Trang 8- Về mặt thực tiễn: luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong
giảng dạy và nghiên cứu của cán bộ giảng viên, sinh viên trong trường đại học chuyên ngành luật, hành chính hoặc sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích
cho những người quan tâm, nghiên cứu về XLVPHC ở đô thị
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở pháp lý về xử lý vi phạm hành chính ở đô thị
Chương 2: Thực trạng hoạt động xử lý vi phạm hành chính ở đô thị của Công an quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường bảo đảm xử lý vi phạm hành chính ở đô thị từ thực tiễn Công an quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
Trang 9Định nghĩa vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu ra trong Pháp
lệnh XPVPHC ngày 30/11/1989 Điều 1 Pháp lệnh này quy định: “Vi
phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải b ịxử phạt hành chính”
Khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 đã trực tiếp đưa ra định
nghĩa về vi phạm hành chính, theo đó: “Vi phạm hành chính là hành vi có
lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản
lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”
1.1.2 Xử lý vi phạm hành chính
* Xử phạt vi phạm hành chính
XPVPHC là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính
* Xử lý vi phạm hành chính:
Xử lý vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành áp dụng hình thức xử phạt, các biện pháp xử lý hành chính đối với cá nhân, tổ chức
vi phạm hành chính
1.1.3 Xử lý vi phạm hành chính ở đô thị
* Khái niệm đô thị
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao chủ yếu là lao động phi nông nghiệp; có cơ sở hạ tầng thích hợp; là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển KTXH của một nước, một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, huyện
* Xử lý vi phạm hành chính ở đô thị
Trang 10Từ khái niệm XLVPHC và đô thị đã tìm hiểu ở trên, có thể đưa ra
định nghĩa về XLVPHC ở đô thị như sau: Xử lý vi phạm hành chính ở
đô thị là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước ở đô thị, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành áp dụng hình thức xử phạt, các biện pháp xử lý hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính ở đô thị
1.1.4 Đặc điểm xử lý vi phạm hành chính ở đô thị
Thứ nhất, việc XLVPHC ở đô thị căn cứ vào các văn bản quy phạm
pháp luật do nhiều cơ quan ban hành
Thứ hai, hoạt động áp dụng pháp luật về XLVPHC do nhiều cơ
quan, nhiều người có thẩm quyền thực hiện
Thứ ba, lối sống của dân cư đô thị mang tính chất cạnh tranh cao Thứ tư, ở đô thị người có thẩm quyền XPVPHC chỉ được thực hiện
quyền xử phạt vi phạm hành chính của mình trong phạm vi thẩm quyền đã được xác định
1.2 Cơ sở pháp lý về xử lý vi phạm hành chính ở đô thị
1.2.1 Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính
Theo Điều 3 Luật XLVPHC năm 2012, nguyên tắc XPVPHC bao gồm:
- Mọi VPHC phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý
nghiêm minh, mọi hậu quả do VPHC gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;
- Việc xử phạt VPHC được tiến hành nhanh chóng, công khai,
khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;
- Việc xử phạt VPHC phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi
phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;
- Chỉ xử phạt VPHC khi có hành vi VPHC do pháp luật quy định;
Trang 11- Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh VPHC Cá
nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không VPHC;
- Đối với cùng một hành vi VPHC thì mức phạt tiền đối với tổ chức
bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân
1.2.2 Hành vi vi phạm bị xử phạt ở đô thị
Khoản 5 điều 2 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ban hành ngày 19 tháng 7
năm 2013 về chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định hành vi vi phạm hành chính phải được quy định tại
các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực QLNN tương ứng, phù hợp với tính chất vi phạm của hành vi đó Trường hợp hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực này nhưng do tính chất vi phạm đặc thù của hành vi đó, thì có thể quy định và xử phạt trong nghị định xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực khác Trong trường hợp này, hình thức, mức xử phạt quy định phải thống nhất với quy định tại Nghị định xử phạt
- Hình thức xử phạt bổ sung là hình thức xử phạt thường được áp dụng
kèm theo hình thức xử phạt chính, làm gia tăng sức mạnh, tính răn đe, tính nghiêm khắc của hình thức xử phạt chính Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định, hình thức xử phạt bổ sung vẫn được áp dụng cho dù không
áp dụng hình thức xử phạt chính1 Đối với mỗi VPHC, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung
Theo Khoản 1 Điều 21 Luật XLVPHC năm 2012, các hình thức xử phạt VPHC bao gồm:
- Cảnh cáo;
1 Trong các trường hợp được quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 65 Luật XLVPHC năm 2012 (VD: không xác định được đối tượng VPHC, hết thời hiệu xử phạt VPHC, cá nhân VPHC chết, mất tích, tổ chức VPHC đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt…), người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt VPHC nhưng có thể ra quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật VPHC thuộc loại cấm lưu hành…(Xem Khoản 2 Điều 65 Luật XLVPHC năm 2012) T ịch thu tang vật, phương tiện VPHC là hình thức xử phạt bổ sung
Trang 12- Phạt tiền;
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn
hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
- Tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC (gọi
chung là tang vật, phương tiện VPHC);
- Trục xuất
Trong đó, cảnh cáo và phạt tiền chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính; các hình thức xử phạt còn lại có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính
- Trưởng Công an cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trạm trưởng Trạm
Công an cửa khẩu, khu chế xuất có quyền:
+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c và
đ khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC
- Trưởng Công an cấp huyện; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh
sát giao thông đường bộ, đường sắt, Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát đường thủy; Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát trật
tự, Trưởng phòng Cảnh sát phản ứng nhanh, Trưởng phòng Cảnh sát điều
Trang 13tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm
về ma tuý, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, Trưởng phòng Cảnh sát đường thủy, Trưởng phòng Cảnh sát bảo vệ và cơ động, Trưởng phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn trên sông, Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Trưởng phòng An ninh chính trị nội bộ, Trưởng phòng An ninh kinh tế, Trưởng phòng An ninh văn hóa, tư tưởng, Trưởng phòng An ninh thông tin; Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy các quận, huyện thuộc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy; Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, có quyền:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến 20% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật XLVPHC nhưng không quá 25.000.000 đồng; + Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;
+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, c, đ
và k khoản 1 Điều 28 của Luật XLVPHC
- Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa
cháy có quyền:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng; + Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;
+ Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất;