1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính: Pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp - từ thực tiễn cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam

25 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn cũng đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp. Điều này góp phần bổ khuyết cho những thiếu sót của những quy định trong pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp hiện tại, đồng thời là cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian tới.

Trang 1

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP – TỪ THỰC TIỄN

CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính

Mã số: 838102

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT

HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI- NĂM 2020

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP5 1.1 Bảo hiểm thất nghiệp 5

1.2 Khái quát chung pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 5

1.3 Các yếu tố tác động đến pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 8

1.4 Khái lược lịch sử phát triển của pháp luật về BHTN ở Việt Nam 9

1.5 Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 10

Kết luận chương 1 12

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CƠ QUAN 13

BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM 13

2.1 Đánh giá thực trạng pháp luật về BHTN 13

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về BHTN tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam 13

Kết luận chương 2 16

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM 17

3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 17

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 19

3.3 Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam 20

Kết luận chương 3 23

KẾT LUẬN 24

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội mà hầu hết các nước trên thế giới phải đương đầu Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia là rất lớn, nó đẩy người lao động bị thất nghiệp vào tình cảnh túng quẫn, lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong những nguyên nhân

cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình trệ; thất nghiệp còn làm tăng chi tiêu của Chính phủ, của doanh nghiệp và xã hội do phải thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp và các chi phí cho hoạt động đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, dịch vụ việc làm

Ở Việt Nam, thị trường lao động đang phát triển, nhưng thất nghiệp đã, đang

và sẽ là vấn đề cấp thiết mà Đảng, Nhà nước và toàn xã hội phải tập trung giải quyết Trước yêu cầu cấp thiết cần phải có chính sách BHTN đối với người lao động ở nước

ta trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngày 29/6/2006, Quốc hội đã thông qua Luật BHXH, trong đó quy định pháp luật về BHTN Sau 4 năm thực hiện, ngày 16/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Việc làm, trong đó các quy định pháp luật về BHTN đã được sửa đổi thay thế trong Luật BHXH và được thực hiện bắt đầu từ ngày 01/01/2015 Với nỗ lực bảo đảm ASXH của Đảng và Nhà nước ta, sự ra đời của Pháp luật về BHTN thực sự là một bước tiến lớn trong con đường phát triển của hệ thống ASXH của Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay, một số văn bản pháp luật quy định về BHTN còn những hạn chế như chậm ban hành, chưa đồng bộ và còn chồng chéo; công tác quản lý BHTN còn nhiều bất cập

Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về Bảo hiểm

thất nghiệp - từ thực tiễn cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ

luật học của mình với mong muốn tìm ra những vướng mắc, tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về BHTN trong cả nước nói chung và tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam nói riêng từ đó làm cơ sở để tìm ra những giải pháp nhằm bảo đảm quyền được BHTN của NLĐ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Nghiên cứu về “Triển khai thực hiện chính sách BHTN ở Việt Nam” năm 2008

do Tiến sĩ Phạm Đình Thành - Viện khoa học BHXH - BHXH Việt Nam làm chủ biên; Nghiên cứu về “Những lý luận cơ bản về BHTN hiện đại” năm 2009 do tiến sĩ Trịnh Thị Hoa - Trung tâm Nghiên cứu khoa học, BHXH Việt Nam làm chủ biên; Nghiên cứu về “Lý luận về BHTN năm 2012 do Phó giáo sư - tiến sĩ Mạc Văn Tiến chủ biên; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ về “Đánh giá và hoàn thiện cơ chế chính sách BHTN nhằm tăng cường tính bền vững” năm 2013 do Lê Quang Trung làm Chủ nhiệm; Luận văn thạc sĩ luật học “BHTN trong luật BHXH ở Việt Nam - Thực trạng

Trang 4

và giải pháp” (2014) của Ngô Thu Phương; Luận văn thạc sĩ luật học “Bảo hiểm thất nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay” (2017) của Dương Thị Nguyệt Khuê; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ về “Hoàn thiện quản lý BHTN ở Việt Nam” năm 2018 do Tiến

sĩ Đỗ Văn Sinh làm Chủ nhiệm Ngoài ra, Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý như: “BHTN và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ”; “Những bất cập trong thi hành pháp luật về BHTN”; “Kết quả 6 năm thực hiện BHTN theo quy định của Luật BHXH”; “Những điểm mới về chính sách BHTN”

Qua các công trình nghiên cứu trên ở những giác độ khác nhau đã tiếp cận và nghiên cứu Pháp luật về BHTN ở Việt Nam hiện nay, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu thực tiễn tại BHXH Việt Nam, một cơ quan đang triển khai thực hiện các chính sách về BHTN đối với NLĐ Nghiên cứu Pháp luật về BHTN ở Việt Nam hiện nay qua thực tiễn tại BHXH Việt Nam sẽ góp phần tìm hiểu, làm sáng rõ cả về lý luận và thực tiễn, qua đó đặt ra những vấn đề cần có giải pháp để hoàn thiện pháp luật

về BHTN nói chung và việc triển khai các chính sách pháp luật về BHTN tại cơ quan BHXH Việt Nam nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về BHTN; phân tích

thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về BHTN

- Nhiệm vụ: Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về BHTN và pháp luật về BHTN ở

Việt Nam

Thứ hai, tổng hợp, phân tích pháp luật về BHTN của một số quốc gia và rút ra

bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thứ ba, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về BHTN - từ thực tiễn Bảo

hiểm xã hội Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2019, chỉ ra những thành tựu, hạn chế

và nguyên nhân hạn chế trong tổ chức thực hiện pháp luật về BHTN

Thứ tư, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật, trong tổ chức

thực hiện pháp luật về BHTN thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu khái niệm, đặc điểm,

nội dung, vai trò, các yếu tố tác động đến pháp luật về BHTN; lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về BHTN ở Việt Nam; thực tiễn triển khai pháp luật về BHTN đối với NLĐ tại BHXH Việt Nam từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về BHTN ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá

thực trạng pháp luật về BHTN - từ thực tiễn BHXH Việt Nam với khoảng thời gian

từ 2009 đến năm 2019

Trang 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cũng như quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung và pháp luật về BHTN nói riêng Nội dung nghiên cứu bám sát đường lối, chủ trương của Đảng về vấn đề ASXH, với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gắn với việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong đó có quyền được BHTN

- Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng

của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, quan điểm tiếp cận các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp cụ thể được sử dụng trong luận văn

gồm phương pháp lôgíc, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp quy nạp - diễn dịch

6 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật về BHTN - từ thực tiễn cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam, luận văn đã chỉ ra những bất cập, khó khăn trong công tác áp dụng, thực thi pháp luật về BHTN Bên cạnh đó, luận văn cũng đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về BHTN Điều này góp phần bổ khuyết cho những thiếu sót của những quy định trong pháp luật về BHTN hiện tại, đồng thời là cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về BHTN trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện tại cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

Trang 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT

VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1.1 Bảo hiểm thất nghiệp

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp

Ở nước ta, trong tiến trình sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, Đảng và nhà nước đã nhận thức từ ASXH là một trong những vấn đề cần phải được chú trọng Vì thế, lần sửa đổi này đã mở rộng hơn đối tượng có quyền được bảo trợ Cụ thể, tại Điều 35 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền được bảo đảm ASXH” Hơn nữa, ASXH là mục tiêu, chính sách phát triển của mỗi quốc gia nhằm thúc đẩy phúc lợi của người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ trong đó có quyền được BHTN

Do đó, dưới góc độ nhân quyền, quyền được BHTN là quyền con người cần được quan tâm, bảo đảm, bảo vệ Thực chất, đây là quyền lợi riêng nhưng được toàn thể xã hội chung tay bù đắp Tuy nhiên, đó mới chỉ là cách nhìn nhận về BHTN ở từng khía cạnh của đời sống xã hội Ở Việt Nam, tính đến thời điểm trước ngày Luật việc làm ra đời 16/11/2013, chưa có một định nghĩa chính thức nào về BHTN được ghi nhận trong hệ thống các văn bản pháp quy Còn nay, theo Luật Việc làm thì:

“BHTN là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi bi ̣mất việc làm,

hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ BHTN” với khái niệm này cho thấy, BHTN là chế độ nhằm đảm bảo quyền lợi cho

NLĐ bị thất nghiệp So với tiêu chuẩn của Công ước 102 về Quy phạm tối thiểu về ASXH năm 1952 của ILO thì Luật Việc làm đã đưa ra khái niệm về BHTN tương đối toàn diện, đã thể hiện được bản chất của BHTN

1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp

Là một chế độ trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội nên BHTN cũng có các đặc điểm chung giống bảo hiểm xã hội như: Về đối tượng hưởng; Về điều kiện hưởng chế độ; Về nguồn hình thành quỹ; Về nguồn bảo đảm chi trả; Về căn cứ chi trả quyền lợi bảo hiểm

Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm chung, BHTN cũng có những đặc điểm riêng nhất định như: NTN nhận trợ cấp trên cơ sở đóng BHTN; Đối tượng tham gia

và hưởng BHTN; Trong chế độ BHTN, bên cạnh việc bù đắp thu nhập bị mất do mất việc làm còn có các chế độ như: Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; Hỗ trợ Học nghề;

Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động

Trang 7

1.2 Khái quát chung pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

Ở Việt Nam hiện nay, nguồn cơ bản của hệ thống pháp luật về BHTN là các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và các điều ước quốc tế liên quan

mà Việt Nam là thành viên Án lệ về BHTN chưa được xem là một nguồn chính thức

ở Việt Nam Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam được xem là một nguồn chính thức, quan trọng nhất, bao gồm các quy định trong các văn bản như Hiến pháp, Luật Lao động, Luật Việc làm, Luật Bảo hiểm xã hội cùng các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết liên quan như các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các

Bộ trưởng Bên cạnh các văn bản quy phạm do cơ quan có thẩm quyền ban hành, Điều ước quốc tế tương ứng mà Việt Nam đã tham gia cũng được xem là một nguồn pháp luật quan trọng về BHTN ở Việt Nam Tính đến tháng 12/2010, Việt Nam đã phê chuẩn 17 Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó có 2 Công ước ưu tiên đó là Công ước số 81 năm 1947 và Công ước 144 năm 1976 Như vậy, cho thấy, pháp luật về BHTN ở Việt Nam được tiếp cận theo góc độ hẹp Ở khía cạnh tích cực, góc độ hẹp này sẽ cho phép tiếp cận được dễ dàng, tổng thể tất cả các vấn đề

về BHTN Từ những phân tích trên đây, cùng với bản chất của hoạt động BHTN, có

thể đưa ra một khái niệm pháp luật về BHTN ở Việt Nam như sau: Pháp luật về

BHTN là một chế định trong hệ thống các chế định bảo hiểm xã hội, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa NSDLĐ với NLĐ bị mất việc làm; giữa NLĐ thất nghiệp với cơ quan quản lý BHTN và các mối quan hệ khác

có liên quan đến BHTN”

1.2.2 Đặc điểm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

Pháp luật BHTN mang các đặc điểm chung của pháp luật gồm:

- Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện

- Pháp luật có tính quy phạm phổ biến, gồm những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

- Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về hình thức

Bên cạnh đó pháp luật BHTN còn có đặc riêng, bao gồm:

- Pháp luật về BHTN mang tính an sinh xã hội, tính nhân văn Nó đảm bảo phân tán rủi ro, san sẻ tài chính giữa gười lao động với người lao động, giữa người lao động với người sử dụng lao động và giữa những người sử dụng lao động với nhau

- Pháp luật về BHTN đã kết hợp nhiều phương pháp thực hiện để được đạt hiệu quả Điều này xuất phát từ tính an sinh xã hội, tính nhân văn nên để phát huy tốt nhất

Trang 8

hiệu quả của pháp luật về BHTN

- Pháp luật về BHTN được xây dựng và hoàn thiện xuất phát từ điều kiện đặc thù mỗi quốc gia, văn hóa, tập quán pháp luật và điều kiện lịch sử của mỗi nước

1.2.3 Chủ thể của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

Tại Điều 43, Điều 44 Luật Việc làm và Nghị định 28/2016/NĐ-CP quy định chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về BHTN gồm ba nhóm là NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước Nhà nước, chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật về BHTN, Nhà nước tham gia với hai tư cách

Tư cách thức nhất, là Người sử dụng lao động

Tư cách thức hai, là chủ thể của quyền lực công và vai trò quản lý nhà nước,

Nhà nước ban hành chính sách, pháp luật về BHTN và chủ động triển khai, đảm bảo

nó đi vào cuộc sống thông qua hoạt động thực hiện pháp luật về BHTN Ngoài ra, nhằm đảm bảo an toàn xã hội ở mức tối thiểu, với chức năng quản lý xã hội, để tránh những bất ổn về chính trị, xã hội, vì mục tiêu phát triển, ổn định, bền vững, đòi hỏi Nhà nước phải có đóng góp nhất định vào quỹ BHTN

1.2.4 Nội dung của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

1.2.4.1 Đối tượng tham gia BHTN

Đối tượng tham gia BHTN là những người làm công ăn lương theo một thời hạn nhất định trong các đơn vị, doanh nghiệp Về cơ bản, đối tượng này bao gồm: NLĐ và NSDLĐ Tuy nhiên, quy định pháp lý cụ thể với từng nhóm đối tượng này không hoàn toàn giống nhau ở pháp luật của mỗi quốc gia và ở bản thân các điều ước quốc tế được ban hành theo những thời điểm khác nhau

1.2.4.2 Điều kiện giải quyết BHTN

Người thất nghiệp muốn được hỗ trợ, giải quyết quyền lợi BHTN thì phải tham gia BHTN Tuy nhiên, trong số đó không phải ai tham gia cũng được được hưởng quyền lợi mà phải đáp ứng một số điều kiện: phải nộp phí BHTN trong một thời gian nhất định; phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm việc làm tại cơ quan lao động có thẩm quyền do nhà nước quy định

- Người lao động bị thất nghiệp không phải do lỗi của họ Nghĩa là, NLĐ phải chứng minh trong thời gian làm việc, nguyên nhân thất nghiệp không phải ở họ, các hành vi dẫn đến thất nghiệp

- Người lao động phải có sổ bảo hiểm thất nghiệp: Sổ bảo hiểm thất nghiệp là văn bản do cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp phát hành Đây là cơ

sở pháp lý minh chứng sự tham gia BHTN của NLĐ

Trang 9

1.2.4.3 Các nguyên tắc của BHTN trong pháp luật về BHTN Việt Nam

Theo Điều 41 Luật Việc làm quy định nguyên tắc BHTN gồm:

- Bảo hiểm thất nghiệp phải gắn liền trợ cấp thất nghiệp với giải quyết việc làm cho người thất nghiệp Trợ cấp BHTN phải đảm bảo khuyến khích NTN chủ động tìm kiếm việc làm Mức hưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng và có sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHTN

1.2.4.4 Về quy trình hưởng bảo hiểm thất nghiệp

- Người thất nghiệp phải đăng ký thất nghiệp; Nộp hồ sơ đề nghị giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp; Được nhận tiền trợ cấp thất nghiệp

- Tạm dừng và chấm dứt hưởng TCTN khi NLĐ vi phạm các quy định về điều kiện hưởng TCTN

- Hỗ trợ học nghề: NTN khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm lâu dài sẽ được trợ giúp việc làm và khuyến khích tự do lựa chọn việc làm có hiệu quả

1.2.5 Vai trò của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

1.2.5.1 Pháp luật về BHTN là chỗ dựa cho NLĐ trong thời gian bi ̣mất việc, giúp họ có thể ổn định cuộc sống, có điều kiện học nghề và tìm việc làm mới

1.2.5.2 Pháp luật về BHTN góp phần ổn định kinh tế - xã hội, hạn chế những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường

1.2.5.3 Pháp luật về BHTN góp phần ràng buộc nghĩa vụ, đề cao trách nhiệm của NSDLĐ với NLĐ, nhất là khi họ đang chịu rủi ro là thất nghiệp

1.2.5.4 Pháp luật về BHTN là một trong những chính sách ASXH của nhà nước, góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng, công bằng xã hội

1.3 Các yếu tố tác động đến pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

1.3.1 Các yếu tố tác động đến việc xây dựng, ban hành pháp luật về BHTN

- Nhu cầu xã hội: Mặt trái của nền kinh tế thi ̣trường đã và đang có những tác

động không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh Để đứng vững trên thương trường đòi hỏi người kinh doanh phải có chiến lược, song không phải chiến lược kinh doanh nào cũng đáp ứng được yêu cầu của thị trường Do đó, những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả buộc phải đóng cửa kéo theo hàng loạt NLĐ thất nghiệp Trước những rủi ro tiềm ẩn đó, nhà nước cần phải có biện pháp kịp thời mang tính khả thi để đẩy lùi nạn thất nghiệp; vì vậy, việc xây dựng và ban hành pháp luật về BHTN là vấn đề mang tính cấp bách nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người mất việc

- Chính sách của nhà nước: Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu hoàn thiện

Trang 10

hê ̣thống pháp luật, đáp ứng đòi hỏi do xã hội đặt ra, BHTN cũng là chính sách của nhà nước nhằm thực hiện công tác quản lý xă hội Trong vai trò của người bảo trợ, Nhà nước ban hành chính sách BHTN nhằm hỗ trợ NLĐ khi bi ̣mất việc do các nguyên nhân khác nhau Việc ban hành chính sách này sẽ phần nào giảm bớt khó khăn về tài chính cho doanh nghiệp, đồng thời giúp NLĐ yên tâm, ổn định cuộc sống

- Nhận thức của nhà lập pháp: Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng trong

đời sống xã hội Trong lĩnh vực việc làm, pháp luật là phương tiện pháp lý để xác lập mối quan hệ giữa NLĐ, NSDLĐ, nhà nước; là công cụ, phương tiện hữu hiệu để quản

lý, kiểm soát các vấn đề việc làm và bảo vê ̣chống thất nghiệp Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả của pháp luật về BHTN cũng bị chi phối bởi trình độ, năng lực nhận thức của các nhà lập pháp Vì thế, muốn phát huy hiệu lực, hiệu quả của hoạt động xây dựng pháp luật về BHTN trong thực tế đòi hỏi Nhà nước phải có các cơ chế, biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiểu biết của nhà làm luật

- Sự ràng buộc của các cam kết quốc tế liên quan: Là một trong những quốc

gia thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Việt Nam đã gia nhập một số Công ước liên quan đến vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho NLĐ Do vậy, việc xây dựng và ban hành pháp luật về BHTN ở Việt Nam phải trên cơ sở tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh những Điều ước quốc tế đã tham gia hoặc ký kết Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật về BHTN

1.3.2 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật về BHTN

- Vấn đề đóng phí và mức phí đóng BHTN: Do nguồn hình thành Quỹ BHTN

xuất phát từ NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước, nên để pháp luật về BHTN được thực thi có hiệu quả, đòi hỏi phải có quy định cụ thể, phù hợp cho việc đóng phí và mức phí tham gia

- Quy trình, thủ tục giải quyết quyền lợi BHTN: Để việc thực hiện pháp luật về

BHTN mang lại hiệu quả thì quy trình, thủ tục giải quyết quyền lợi BHTN cũng phải đơn giản, dễ thực hiện

- Công tác truyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật: Đây là công việc vô

cùng quan trọng, là cầu nối từ khâu xây dựng, ban hành đến việc tổ chức thực hiện, đảm bảo cho pháp luật về BHTN triển khai có hiệu quả trên thực tế

1.4 Khái lược lịch sử phát triển của pháp luật về BHTN ở Việt Nam

1.4.1 Giai đoạn trước năm 2013

Từ năm 1945, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy định về BHTN , nhưng phải đến ngày 29/6/2006, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Bảo hiểm xã hội,

Trang 11

đây là văn bản pháp lý cao nhất, toàn diện nhất từ trước đến nay được áp dụng cho các đối tượng tham gia bảo hiểm trong đó có chế độ bảo hiểm dành cho NLĐ bị mất việc Sau khi Luật ra đời, Chính phủ đã ban hành một loạt các văn bản hướng dẫn dưới luật quy định chi tiết việc thực hiện các chế độ về BHTN

1.4.2 Giai đoạn từ năm 2013 đến nay

Ngày 16/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Việc làm, tuy nhiên ngày 01/01/2015, Luật mới có hiệu lực Cụ thể hóa các nội dung quy định về BHTN, ngày 12/3/2015 Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2015/NĐ-CP về hướng dẫn thực hiện Luật Việc làm Trong những năm gần đây, Nhà nước và chính phủ đã ban hành một số văn bản sau: Quyết định số 488/QĐ-TTg ngày 14/04/2017 về phê duyệt “Đề

án Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội, giai đoạn 2017-2025, tầm nhìn đến 2030” và

Kế hoạch Hành động triển khai Đề án trợ giúp xã hội được ban hành vào năm 2019

Năm 2018, Nhà nước đã ban hành hai văn kiện mới có vai trò định hướng và xác định phạm vi của hệ thống ASXH tại Việt Nam, đặc biệt là về cải cách hệ thống ASXH: Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương

về cải cách chính sách BHXH; Nghị quyết số 125/NQ-CP ngày /2018 của Chính phủ

về Chương trình hành động của Chính phủ về triển khai Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018

1.5 Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.5.1 Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp của Đức

Chương trình BHTN ở Đức được triển khai từ năm 1927 và được cải cách vào năm 1969 Năm 2006, các dịch vụ cơ bản cho người thất nghiệp tiếp tục được mở rộng, với các chính sách giúp NTN trở lại thị trường lao động và giảm mức trợ cấp nếu NTN tái vi phạm việc không thực hiện các nghĩa vụ của mình Một số trường hợp được tự nguyện tham gia BHTN Ngoài các chế độ cơ bản, Quỹ BHTN còn chi trả trợ cấp ngắn hạn hay còn gọi là chương trình chia sẻ việc làm, được áp dụng nếu có cắt giảm lớn trong sản xuất, kinh doanh Trợ cấp BHTN ngắn hạn sẽ bù lại một phần thu nhập bị mất do giảm giờ làm và có thể lên tới 60% số tiền lương ròng, hoặc bằng 67% trong trường hợp gia đình người lao động có con nhỏ

1.5.2 Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp của Nhật Bản

Cơ quan quản lý bảo hiểm việc làm ở cấp trung ương do Cục an ninh việc làm,

Bộ Y tế - Lao động và Phúc lợi quản lý Còn ở cấp tỉnh, có 47 Sở Lao động quản lý bảo hiểm việc làm dựa vào các văn phòng làm việc địa phương (Hello Work) và đóng

Trang 12

vai trò là tuyến đầu trong giới thiệu việc làm, quản lý BHTN Việc thu phí BHTN vào quỹ bảo hiểm việc làm với mức đóng góp 1,2% tiền lương được chia đều cho NLĐ

và NSDLĐ do Cục an ninh việc làm đảm nhiệm Nhà nước dùng ngân sách quốc gia

để bổ sung cho quỹ bảo hiểm việc làm bằng 1/4 tổng chi phí của hệ thống bảo hiểm việc làm Hệ thống bảo hiểm việc làm ở Nhật Bản có nhiều chính sách chủ động, nhiều chương trình và các chế độ trợ cấp thu nhập tạm thời giúp thúc đẩy quá trình tái làm việc

và tuyển dụng NTN, bên cạnh các biện pháp xúc tiến việc làm hay đào tạo nghề…

1.5.3 Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp của Thái Lan

Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 đã đưa kinh tế Thái Lan vào tình trạng trì trệ với tỷ lệ thất nghiệp rất cao Xuất phát từ tình hình thực tế, Thái Lan

đã xây dựng và triển khai chương trình BHTN cho NLĐ Chế độ BHTN của Thái Lan

có một số đặc trưng, cụ thể:

- Về đối tượng và phạm vi áp dụng: Đối tượng tham gia BHTN chính là đối

tượng tham gia BHXH, gồm tất cả các doanh nghiệp có sử dụng từ 1 NLĐ trở lên

- Về mức đóng góp: Đóng góp BHTN được thu kể từ 01/01/2004; Người sử

dụng lao động và NLĐ hàng tháng đóng một mức như nhau cho Quỹ BHTN là 0,5% mức tiền lương, Nhà nước đóng 0,25% quỹ tiền lương;

- Về điều kiện hưởng BHTN: Đã đóng BHTN ít nhất 6 tháng trong vòng 15

tháng trước khi bị thất nghiệp; đăng ký thất nghiệp với cơ quan dịch vụ việc làm của Nhà nước; có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu một việc làm phù hợp; tham gia các khóa đào tạo nghề được giới thiệu

- Về mức hưởng BHTN: NLĐ có đóng BHTN bị sa thải được hưởng 50% tiền

lương làm căn cứ đóng BHTN với thời gian hưởng không quá 180 ngày trong vòng 1 năm; NLĐ có đóng BHTN mà tự ý bỏ việc được hưởng 30% tiền lương làm căn cứ đóng BHTN và hưởng không quá 90 ngày trong vòng 1 năm và tổng số ngày hưởng BHTN vì thất nghiệp tự nguyện không quá 180 ngày

- Quy định về thất nghiệp: Thất nghiệp không phải vì những lý do không hoàn

thành nhiệm vụ được giao, có hành động vi phạm tội chống lại NSDLĐ, cố ý gây thiệt hại cho NSDLĐ, vi phạm nghiêm trọng quy chế và kỷ luật lao động của NSDLĐ, bỏ làm 7 ngày liên tục mà không có lý do chính đáng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho NSDLĐ do bỏ làm, bị phạt tù, không hưởng lương hưu hàng tháng

1.5.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua nghiên cứu về BHTN ở một số nước trên thế giới, có thể thấy nội dung của chính sách và tổ chức thực hiện chính sách BHTN ở mỗi nước rất khác nhau, bao

Ngày đăng: 26/03/2021, 05:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm