Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính, có nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không làm sao tìm được lời giải đúng hoặc đặt lời giải không phù hợp [r]
Trang 1A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Để hòa nhịp vào sự phát triển của xã hội nước ta hiện nay, muốn thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước,đòi hỏi một đội ngũ lao động có trình độ,năng lực,phẩm chất đạo đức tốt Để đào tạo được một đội ngũ lao động như vậy là cả một quá trình lâu dài,trong đó có sự kết hợp của nhiều ngành, nhiều bộ phận liên quan Nhưng quan trọng nhất vẫn là ngành giáo dục, vì trẻ đến trường được đọc, được viết, được tính toán
Sung sướng biết bao nhiêu khi các bậc phụ huynh thấy con mình biết thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia, biết đặt lời giải và giải được những bài toán có lời văn Ta thấy rằng, giải toán ở tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập, vận dụng kiến thức, các thao tác thực hành vào thực tiễn Qua
đó,từng bước giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận lo6gic Thông qua giải toán mà học sinh rèn luyện được phong cách
của người lao động mới: Làm việc có ý thức, có kế hoạch, sáng tạo và hăng
say, miệt mài trong công việc
Môn toán có vai trò quan trọng, nó giúp học sinh nhận biết được số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực, nhờ đó mà học sinh có những phương pháp, kĩ năng nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh Môn toán còn góp phần rèn luyện phương pháp suy luận, suy nghĩ đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, góp phần phát triển óc thông minh, suy nghĩ độc lập, linh động, sáng tạo cho học sinh Mặt khác, các kiến thức, kĩ năng môn toán ở tiểu học còn có nhiều ứng dụng trong đời sống thực tế Toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong chương trình Toán ở tiểu học Các em được làm quen với các bài toán có lời văn ngay từ lớp 1 và xuyên suốt quá trình học của các em tới lớp 5 Toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán được thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ
thuộc, có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày Cái khó của bài
Trang 2toán là làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ, giữa các yếu tố bài toán cho và những yếu tố cần phải tìm trong bài toán Để tìm được những câu lời giải hay và phép tính đúng, viết được đáp số của bài toán
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy khối 3, tôi nhận thấy học sinh khi giải các bài toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập khác Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính, có nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không làm sao tìm được lời giải đúng hoặc đặt lời giải không phù hợp với đề toán đặt ra.Chính vì thế nhiều khi dạy học sinh đặt câu lời giải vất vả hơn so với dạy các em thực hiện các phép tính để tìm ra đáp số của bài toán.Việc đặt lời giải là một khó khăn với ác em học sinh.Vì các em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề,chưa trả lời các câu hỏi của giáo viên nêu: Bài toán cho biết gì? Đến khi giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng,chưa hay hoặc không có câu lời giải
Vậy làm thế nào để học sinh hiểu đề bài, biết cách giải và tìm ra đáp số đúng của bài toán, đó là điều khiến tôi rất trăn trở.Đây là lý do mà tôi chọn đề tài này,mong tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng Để các
em có thể giải thành thạo hơn với những bài toán có lời văn khó ở các lớp trên
B- THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
° NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CHUNG
a *Thuận lợi
- Nhà trường được sự quan tâm của chính quyền địa phương,của hội phụ huynh học sinh
- Ban giám hiệu nhà trường năng nổ nhiệt tình , sáng tạo luôn chỉ đạo sát sao việc dạy học của giáo viên và học sinh
-Đội ngũ giáo viên trong trường luôn nhiệt tình giảng dạy yêu nghề mến trẻ
- Bên cạnh những thuận lợi trên nhà trường còn gặp phải không ít khó khăn
Trang 3B* Khó Khăn :
- Trường là một xã vùng sâu dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông , đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn Chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập cũng như chất lượng học tập của các em
- Nhiều em học sinh nhà rất xa trường mà các em vẫn phải đi bộ đến trường vì cha mẹ các em phải đi làm sớm không đưa các em đi học được
- Học sinh lớp tôi chủ yếu là con em dân tộc nên sự tiếp thu của các em còn chậm chạp , thụ động
- Một số phụ huynh không quan tâm đến con cái tất cả mọi việc học của con đều phó mặc cho nhà trường
- Một số phụ huynh không biết chữ nên không thể kèm cặp được con em mình học tập ở nhà
- Về cơ sở vật chất của nhà trường : Tuy nhà trường có đủ phòng học nhưng thiết bị nhà trường còn nhiều hạn chế
*ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1 Đặc điểm tình hình :
Năm học 2009-2010 tơi được phân công giảng dạy lớp 3E Trường tiểu hocï-THCS Tam Lập Tổng số học sinh là 16 em Với sĩ số này rất thuận lợi cho giáo viên chủ nhiệm Để thực hiện đề tài này , tôi đã tìm hiểu và nắm rõ tình hình học sinh lớp tôi ngay khi được phân công Trước tiên tôi xem sổ chủ nhiệm năm học trước đồng thời trao đổi với giáo viên chủ
nhiệm năm học trước để nắm rõ hơn Sau đó tôi cho học sinh kiểm tra để phân loại từng đối tượng học sinh
2 Nguyên nhân :
+ Việc tóm tắt , tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với một số học sinh trung bình và yếu của lớp 3 Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao , nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động chậm chạp
Trang 4+ Một số em biết tìm ra phép tính đúng nhưng khi đặt lời giải thì còn lúng túng và đặt lời giải cho bài toán chưa hợp lý
+ Thực tế trong một tiết dạy 35 phút , vừa dạy bài mới , vừa làm bài tập và các bài toán có lời văn thường ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề , nêu câu trả lời không được nhiều nên học sinh chưa khắc sâu kiến thức , chưa nắn được mẹo để giải toán
Từ thực trạng trên tôi mạnh dạn cải tiến nội dung , phương pháp giảng dạy như sau :
C MỘT SỐ BIỆN PHÁP
1 Họp phụ huynh – phối hợp với phụ huynh biện pháp giáo dục
Chúng ta đều biết học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói
riêng đến trường còn phụ thuộc hoàn toàn vào sự quan tâm nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô Các em chưa có ý thức tự giác học tập , chính vì vậy giáo dục ý thức tích cực học tập cho các em là một yếu tố không kém phần quan trọng giúp các em học tập tốt hơn
Trong một lớp học , lực học của các em không đồng đều , ý thức học tập của nhiều em chưa cao để thực hiện tốt cuộc vận động “hai không” của ngành giáo dục và giúp cho phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việc giáo dục con cái , tôi đã gặp gỡ , trao đổi với phụ huynh học sinh về chỉ tiêu phấn đấu của lớp và những yêu cầu cần thiết giúp các em học tập như : Mua đầy đủ sách vở , đồ dùng học tập – cách hướng dẫn các em tự học ở nhà Yêu cầu phụ huynh dành thời gian quan tâm nhắc nhở các học tập ở nhà
2 các biện pháp giúp học sinh nắn vững phương pháp giải toán :
a, giúp học sinh đọc thông thạo để hiểu rõ yêu cầu của bài toán
Để giúp cho học sinh cĩ kĩ năng thành thạo trong việc giải toán thì
Trang 5người giáo viên không chỉ hướng dẫn học sinh trong giờ toán mà một yếu tố không kém phần quan trọng đó là luyện kĩ năng nói trong tất cả các môn học
*Đối với học sinh lớp 3, đặc biệt là một số em học lực trung bình - yếu còn thụ động, rụt rè trong giao tiếp Chính vì vậy, để các em mạnh dạn tự tinh khi phát biểu, trả lời câu hỏi người giáo viên cần phải luôn luôn gần gũi, khuyến khích các em giao tiếp,tổ chức các trò chơi học tập, được trao đổi, luyện nói nhiều trong các tiết học giúp các em có vốn từ lưu thông, các
em có thể nhận xét và trả lời tự nhiên ,nhanh nhẹn mà khơng rụt rè,tự ti.Bên cạnh đĩ, giáo viên cần phải chú ý nhiều đến kỹ năng đọc cho học sinh: đọc nhanh,đúng,tốc độ,ngắt nghỉ đúng chỗ giúp học sinh cĩ kỹ năng nghe,hiểu được những yêu cầu mà các bài tốn nêu ra
Cho nên để gúp học sinh giải tốn cĩ lời văn thành thạo,tơi luơn luơn chú
ý rèn luyện kỹ năng nghe,nĩi,đọc,viết cho các em bởi vì đọc thơng,viết thạo là
yếu tố “địn bẩy” giúp học sinh hiểu rõ đề và tìm cách giải bài tốn một cách
hợp lý,chính xác
b, Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
+ Trong một tiết dạy để đạt được kết quả cao địi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị tốt Sự chuẩn bị càng tốt thì hiệu quả càng cao Vì vậy, người giáo viên phải nắm vững yêu cầu của từng loại bài để cĩ phương pháp cụ thể phù hợp với loại bài đĩ.Ngồi ra người giáo viên phải cĩ thao tác linh hoạt và khắc sâu kiến thức từng dạng bài tập cho học sinh
+ Nguyên nhân cơ bản dẫn đến các em khơng làm được bài là: Năng lực tư duy của các em phát triển khơng đồng đều,khả năng suy luận cịn rất kém.Mặc
dù giáo viên đã hướng dẫn các em nêu đề tốn,tìm hiểu đề và gợi ý nêu miệng lời giải nhưng cách trình bày,sự trau chuốt lời giải của các em chưa được thành thạo.Hiểu được những thiếu sĩt đĩ của các em,tơi thường dành nhiều thời gian
để hướng dẫn kỹ và kết hợp trình bày bài mẫu nhiều bài giúp các em ghi nhớ
và hình thành kỹ năng
Trang 6+Ví dụ 1 : (BT 4-SGK toán 3- trang 49)
Tổ một trồng được 25 cây ,tổ Hai trồng gấp 3 lần số cây của tổ Một.Hỏi tổ Hai trồng được bao nhiêu cây?
Khi gặp bài toán này một số học một số em rất lúng túng không biết làm phép tính gì đây?(có em lại làm phép tính cộng )
Tôi hướng dẫn học sinh như sau:Trước tiên các em phải đọc kĩ đề toán và cho cô biết:
Bài toán cho biết gì? Tổ Hai trồng số cây gấp mấy lần tổ 1?
Bài toán hỏi gì? Mời 1 học sinh lên tóm tắt bài toán
Tóm tắt:
Tổ 1 trồng: 25 cây
Tổ 2 trồng: gấp 3 lần tổ 1
Tổ Hai trồng ? cây
-Muốn tìm được số cây của tổ Hai trồng ta làm thế nào?(lấy số cây của tổ 1 nhân với 3)
Tổ Hai trồng được số cây là:
25 x 3=75 (cây) -Ở bài toán này tôi chú ý cho học sinh tìm những từ ngữ quan trọng trong bài toán để tìm ra phép tính, đó là từ: “gấp 3”.Khắc sâu kiến thức cho HS khi
bài toán cho có từ“ gấp” thì chắc chắn sẽ có phép tính nhân khi giải bài toán đó.
Yêu cầu học sinh trình bày bài giải:
Bài giải
Tổ Hai trồng được số cây là:
25 x 3 = 75 (cây)
Đáp số:75 cây
Ví dụ 2: Bài tập 3( Trang 50-SGk tốn 3)
27kg
Trang 7Baogạo
Bao ngô
-Tôi cho học sinh đọc thầm,đọc miệng tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời theo yêu cầu:
Học sinh nêu đề: Bao gạo nặng 27 kg, bao ngô nặng hơn bao gạo 5 kg.Hỏi
cả hai bao gạo và ngô nặng tất cả bao nhiêu kg?
-Hỏi: Muốn tìm cả hai bao nặng bao nhiêu kg ta phải tìm gì trước? ( Tìm bao ngô nặng bao nhiêu kg trước - dựa vào bài cho bao ngô nặng hơn bao gạo 5kg)
Bao ngô cân nặng là: 27 + 5 = 32 (kg)
Bài giải:
Bao ngô cân nặng là:
27 + 5 =32 (kg)
Cả hai bao cân nặng là:
27 + 32 = 59 (kg)
Đáp số: 59 kg
Tôi chú ý cho học sinh các từ ngữ quan trọng trong bài toán “ nặng hơn” “cả hai” để khi gặp những bài tập tương tự như vậy các em sẽ biết cách làm ngay
3, Các bước giải một bài toán có lời văn:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán.
Cần cho học sinh đọc kỹ đề toán giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từ ngữ quan trọng nói lên những tình huống toán học bị che lấp dưới cái vỏ ngôn từ thông thường như: “gấp đôi”, “ , ”, “ tất cả’, “ cả hai”, “ nhiều hơn”,” ít
3
1 4 1
hơn”
Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó ở trong bài toán đang làm, sau đó giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đặt câu hỏi đàm thoại:
“ Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?”và dựa vào tóm tắt để nêu đề toán Đối với những học sinh kỹ năng đọc hiểu còn chậm,tôi dùng phương pháp
Trang 8giảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh họa, vẽ sơ đồ để các em hiểu được yêu cầu của bài tốn và dựa vào câu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bài tốn rồi cho các em tự trình bày bài giải vào
vở bài tập
Bước 2: Tìm cách giải bài tốn:
a, Chọn phép tính giải thích hợp:
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề tốn để xác định cái đã cho và cái phải tìm Cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Chọn “phép chia” nếu bài tốn yêu cầu “ tìm , .” Chọn “ phép trừ” nếu bài tốn cho “ bớt
3
1 4 1
đi” hoặc “ tìm phần cịn lại” hay là “ lấy ra” Chọn “ phép nhân” nếu bài tốn cho cĩ từ “ gấp đơi, gấp 3 ” Chọn “phép cộng” nếu bài tốn cho cĩ từ “ nhiều hơn, cả hai”
b, Đặt câu lời giải thích hợp:
Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước quan trọng và khĩ khăn nhất đối với một số học sinh trung bình,yếu lớp 3 Chính vì vậy việc hướng dẫn học sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khĩ khăn đối với người dạy Tùy từng đối tượng học sinh mà tơi lựa chọn các cách hướng dẫn sau:
Cách 1 :(được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất) Dựa vào câu hỏi của bài tốn rồi bỏ bớt từ đầu “ Hỏi” thay từ “ mấy”, “ bao nhiêu” bằng từ “ số” rồi thêm từ “ là” để cĩ câu lời giải: VD: Bài tốn hỏi: Hỏi nhà An cịn lại bao nhiêu con gà? Thì câu lời giải là: Nhà An cịn lại số con gà là: ( đây là đối với bài tốn cĩ một phép tính)
Cách 2: ( đối với bài tốn cĩ hai phép tính) Một đội cơng nhân phải sửa quãng đường dài 1215 m, đội đã sửa được quãng đường Hỏi đội cơng nhân
3 1
đĩ cịn phải sửa bao nhiêu m đường nữa? ( BT 2 -trang 119 tốn 3)
Hướng dẫn học sinh tìm câu lời giải bằng cách tôi nêu câu: “ muốn biết đội cơng nhân đĩ cịn phải sửa bao nhiêu m đường nữa trước hết ta phải tìm gì?”
để học sinh trả lời miệng: “ tìm số m đường đã sửa” Rồi chèn phép tính vào để cĩ
Trang 9cả bước giải (câu lời giải và phép tính):
Số m đường đã sửa là:
1215 : 3 = 405 (m)
Tĩm lại : Tùy từng đối tượng, từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các em cách
lựa chọn đặt câu lời giải cho phù hợp
Trong một bài tốn,học sinh cĩ thể cĩ nhiều cách đặt lời giải khác nhau Nên trong khi giảng dạy,ở mỗi một dạng bài cụ thể tơi để cho các em suy nghĩ, thảo luận theo bàn, nhĩm để tìm ra các câu lời giải đúng và hay nhất phù hợp với câu hỏi của bài tốn đĩ
Tuy nhiên cần hướng dẫn học sinh lựa chọn cách hay nhất (ngắn gọn,dễ hiểu, phù hợp với các em) cịn các cách kia giáo viên đều cơng nhận là đúng và phù hợp nhưng cần lựa chọn để cĩ câu lời giải hay nhất ghi vào bài giải
Ví dụ:Một đội công nhân phải sửa quãng đường dài 1215 m, đội đã sửa được quãng đường Hỏi đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu m đường
3
1
nữa?(Bài tập 2-119)
Để giải được bài toán này, học sinh phải tìm được mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm.Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu hỏi gợi ý như :
+Bài toán cho biết gì?(phải sửa quãng đường dài 1215 m.)
+Bài toán còn cho biết gì nữa?(đã sửa được quãng đường.)
3 1
+Bài toán hỏi gì?(Đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu m đường nữa ?)
+Tôi gạch chân một số từ ngữ quan trọng trong bài sau khi học sinh trả lời
+ Muốn biết đội công nhân còn phải sửa bao nhiêu m đường nữa trước
hết ta phải tìm gì?(tìm số m đường đã sửa )
+Sau khi tìm được số m đường đã sửa ta tiếp tục tìm gì?(Tìm số m đường
Trang 10còn phải sửa)
+Nêu cách tìm? (Lấy tổng số mét đường phải sửa trừ đi số mét đường đã sửa.)
Mời học sinh lên trình bày bài giải:
Bài giải
Số mét đường đã sửa là:
1215: 3 = 405 (m) Số mét đường còn phải sửa là:
1215 - 405 = 810(m)
Đáp số:810 m đường
Tôi khắc sâu kiến thức cho học sinh khi xuất hiện“ ” trong bài tốn
3 1
thì chắc chắn sẽ có phép tính chia, bài toán cho hỏi “còn phải sửa”thì sẽ có phép tính trừ giúp các em nắm chắc dạng bài tập này để khi gặp những ø bài tập sau các em sẽ biết cách làm ngay
+ Đàn vịt có 48 con, trong đó số con vịt đang bơi dưới ao, Hỏi trên bờ
8 1
còn bao nhiêu con vịt ?(Bài tập 3-trang 62)
+Một công ti dự định xây 36 ngôi nhà ,đến nay đã xây được số nhà đo.ù
9 1
Hỏi công ti còn phải xây tiếp bao nhiêu ngôi nhà nữa?(BT3-trang 77)
+Theo kế hoạch ,một tổ sản xuất phải dệt 450 chiếc áo len, Người ta đã làm được kế hoạch đó, Hỏi tổ đó còn phải dệt bao nhiêu chiếc áo nữa?(Bài
5
1
tập 4-trang 76)
Bước 3: Trình bày bài giải:
Như chúng ta đã biết, các dạng tốn cĩ lời văn học sinh đã phải tự viết câu lời giải, phép tính, đáp số, thậm chí cả tĩm tắt nữa
Chính vì vậy,việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa học,đẹp