Những khám phá khoa học đầu tiên của người cổ đại đã cho thấy sự giả dối của bức tranh vũ trụ và nhân sinh quan của các tôn giáo và thần thoại, đòi hỏi con người phải có cách lý giải về
Trang 1MỞ ĐẦU
Khởi điểm từ thời cổ đại, đến nay, phép biện chứng đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn Tuy nhiên, để có thể đạt đến trình độ rực rỡ, toàn diện của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin thì không thể không kể đến sự hình thành manh nha của phép biện chứng mộc mạc, chất phác từ thời cổ đại Điều này được thể hiện rõ nét trong triết học cổ đại của Ấn Độ, Trung Quốc và đặc biệt là Hy Lạp - La Mã cổ đại
Trong dòng chảy xuyên suốt của lịch sử tư tưởng nhân loại, triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại đã khẳng định mình với những đặc trưng rất riêng so với những trường phái triết học khác trong lịch sử về nhiều phương diện Trong
đó, tư tưởng biện chứng, đặc biệt là tư tưởng biện chứng trong triết học của Hêraclít mang một dấu ấn riêng của thời đại, nó đã trở thành một trong cơ sở tiền quan trọng để triết học C.Mác, Ph.Ăngghen kế thừa, phát triển để xây dựng nên phép biện chứng duy vật trong triết học Mác
Nghiên cứu phép biện chứng trong triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại nói chung, trong triết học của Hêraclít nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, đặc biệt là trong giáo dục và đào tạo
Nó là cơ sở khoa học cho việc xem xét các sự vật, hiện tượng đúng hiện thực đang tồn tại, trong mối liên hệ với nhau, trọng trạng thái động và trong khuynh hướng chung là phát triển
Trang 2NỘI DUNG
CHƯƠNG I PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ LỊCH SỬ PHÉP BIỆN CHỨNG HY LẠP CỔ ĐẠI
Hy Lạp cổ đại là một vùng đất rộng lớn bao gồm miền Nam bán đảo Ban -Căng thuộc Châu Âu, nhiều hòn đảo ở biển Êgiê và cả miền ven biển bán đảo Tiểu á Điều kiện địa lý thuận lợi cho nên từ rất sớm ngành nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp Hy Lạp cổ đại đã phát triển
Từ thế kỷ XV đến thế kỷ IX trước công nguyên, chế độ cộng sản nguyên thuỷ ở
Hy Lạp cổ đại tan rã và hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ Thời kỳ này xảy ra biến động lớn về kinh tế và thiết chế trong xã hội Quá trình lịch sử đó gắn liền với sự hình thành và phát triển kinh tế xã hội (KT – XH) và tư tưởng triết học của Hy Lạp thời kỳ
cổ đại
Sự phát triển của sản xuất đã dẫn đến các quan hệ và tổ chức xã hội cũ bị đảo lộn Nếu như trước đây các tổ chức xã hội cũ như bộ tộc, bộ lạc mang tính cộng đồng cao Triết học Hy lạp cổ đại phát triển vào thế kỷ thứ VI trước CN Cơ sở kinh tế của triết học đó là quyền sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và người nô lệ Nếu như trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, cuộc sống của mỗi người "hoà tan" vào cuộc sống cộng đồng, thì giờ đây khi xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu của cải, buộc mỗi người cần phải ý thức về bản thân mình, cần phải có một quan điểm sống phù hợp với hoàn cảnh mới Nhu cầu đó đòi hỏi triết học ra đời Xô-crát đã nhận thấy điều đó khi ông coi triết học là sự tự ý thức của con người về chính bản thân mình
Xã hội phân chia thành giai cấp, có sự phân công giữa lao động trí thức và lao động chân tay, dẫn tới sự hình thành một bộ phận các nhà trí thức chuyên nghiên cứu triết học khoa học, làm phá vỡ ý thức hệ thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ thống trị thời đó vì thế ngay từ khi ra đời các tư tưởng triết học đã mang tính giai cấp sâu sắc Các thế giới quan của giai cấp chủ nô, các trí thức triết học dần dần trở thành các nhà
tư tưởng thống trị trong xã hội nô lệ
Tuy nhiên tất cả những điều đó được thể hiện ở các tư tưởng triết học thời cổ một cách tự phát, chúng không được các nhà triết học cổ đại ý thức một cách tự giác Dưới con mắt của họ triết học ra đời từ nhu cầu hiểu biết của con người Quan niệm
Trang 3đó được Arixtôt viết: chính sự ngạc nhiên đã thức tỉnh mọi người triết lý Lúc đầu họ ngạc nhiên bởi những điều trực tiếp làm họ băn khoăn, sau đó họ dần dần đặt ra những vấn đề cơ bản hơn, chẳng hạn như về sự thay đổi vị trí của mặt trăng, mặt trời
và các vì sao và cả nguồn gốc vũ trụ” Quan niệm trên mặc dù thể hiện dưới hình thức ngây thơ, phù hợp với nhận thức con người thời cổ, nhưng nó đề cập một khía cạnh sâu sắc về cơ sở nhận thức luận của việc hình thành triết học cổ đaị Hy Lạp Nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất thủ công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp và hàng hải ở Hy lạp cổ đại quyết định sự phát sinh và phát triển của những tri thức về thiên văn, khí tượng, toán học và vật lý học Chính sự xuất hiện các tri thức khoa học sơ khai (phát hiện ra lịch, những phát kiến về toán học của Talet, Pitago Hình học của Ơclit; vật lý học của Acsimet ) đã tạo điều kiện rất lớn hình thành triết học - tự nhiên Khoa học lúc đó chưa phân nghành, các nhà triết học đồng thời là các nhà toán học, vật lý học, thiên văn học Như vậy từ khi ra đời triết học Hy lạp cổ đại
đã gắn với nhu cầu thực tiễn và gắn liền với khoa học Chúng làm cho quan niệm thần thoại truyền thống và các tôn giáo nguyên thuỷ vào thế kỷ VI-V trước CN đã không còn đáp ứng và lý giải được các vấn đề thuộc thế giới quan Những khám phá khoa học đầu tiên của người cổ đại đã cho thấy sự giả dối của bức tranh vũ trụ và nhân sinh quan của các tôn giáo và thần thoại, đòi hỏi con người phải có cách lý giải
về thế giới xung quanh và cuộc sống của mình, sự quan sát các hiện tượng tự nhiên một cách trực tiếp như một khối duy nhất và lòng mong muốn giải thích chúng một cách khoa học đã góp phần quy định và làm phát triển thế giới quan duy vật tự phát
và biện chứng sơ khai của triết học Hy lạp cổ đại
1.2 Tiểu sử của Hêraclít
Hêraclít (khoảng 540-475 TCN) xuất thân từ nhà nước thị thành Ephec thuộc vùng Tiểu Á của Hy Lạp Ông sống trong thời kỳ lịch sử căng thẳng của các nhà nước thị thành Hy Lạp, khi mà dân thường đã dành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh gay gắt với tầng lớp quý tộc dòng dõi Ông trưởng thành và sự nghiệp sáng tác của ông rơi vào giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư nổ ra, đó là thời
Trang 4điểm trọng đại của lịch sử Plada cổ đại Sinh thời Hêraclít là một nhà đại quý tộc thuộc dòng dõi Côđơriđốp Theo luật, ông là con trai đầu nên được thừa kế chức Badin, nhưng ông đã nhường đặc quyền ấy cho em trai của mình để đi du lịch khắp nơi và dành thời gian nghiên cứu về triết học Như vậy, Hêraclít vốn là người có nguồn gốc đại quý tộc nhưng ông đã tự tách mình ra, lựa chọn một con đường đi riêng biệt Tuy nhiên, ông cũng không thuộc giai cấp đang lên Tư tưởng triết học của ông thể hiện sự tiến bộ ở chỗ có phản ánh phong trào nhân dân, có nội dung nhân dân thông qua những mâu thuẫn chia rẽ của giai cấp quý tộc
II TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC CỦA HÊRACLÍT
Trong triết học của Hêraclít, phép biện chứng của ông nói riêng ở một chừng mực nào đó là sự xem xét về mặt triết học các sự kiện lịch sử và các chuyển biến xã hội diễn ra ở thời kỳ ông sống Hêraclit giữ vị trí trung tâm trong lịch sử phép biện chứng Hy Lạp cổ đại Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đã dành cho học thuyết của Hêraclít mà cụ thể là cho phép biện chứng của ông sự đánh giá rất cao V.I.Lênin coi ông là “một trong những người sáng lập ra phép biện chứng” Trong bảng tóm tắt cuốn “Những bài giảng về lịch sử triết học” của Hêghen, Lênin lưu ý, chính Hêghen cũng thừa nhận Hêraclít có ảnh hưởng đến ông Lênin cũng thừa nhận phép biện chứng của Hêraclít có tính chất khách quan Trong các luận điểm biện chứng cơ bản của Hêraclít đặc biệt quan trọng là tư tưởng về sự thống nhất (hài hòa)
và đấu tranh giữa các mặt đối lập
2.1 Quan niệm về bản nguyên của vũ trụ
Trong khi Talét cho rằng bản nguyên của thế giới là nước thì Hêraclít lại cho rằng lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi vật: “Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa biến thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng” “ Lửa sống nhờ đất chết, không khí sống nhờ lửa chết, nước sống nhờ không khí chết, đất sống nhờ nước chết” Hêraclít cho rằng, vũ trụ không do ai sáng tạo ra, luôn luôn là lửa, sống động, vĩnh cửu, bùng cháy theo những quy luật của mình: “Thế giới này chỉ
là một đối với mọi cái Không do một thần thánh hay một người nào đó sáng tạo ra
nó, nhưng nó mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh cửu, như là độ đo của những cái đang rực cháy, và mức độ của những cái đang lụi tàn” Theo Hêraclít, sự phát sinh
Trang 5ra vũ trụ từ lửa là con “đường đi xuống”, đồng thời cũng là sự “thiếu hụt lửa” Và, vũ trụ xét về tổng thể là cái đơn nhất nhưng cái đơn nhất đó là tổng thể của sự thống nhất của vạn vật, trong vũ trụ đơn lẻ này những sự vật hiện tượng nội tại nó tự biến đổi đa dạng, vận động chuyển hóa sang mức độ khác nhau, mà tất cả cơ sở của sự biến đổi
ấy là lửa Theo ông, “lửa bao quát tất cả và phân xử tất cả” Hỏa hoạn của vũ trụ cũng đồng thời là tòa án của vũ trụ Theo đó, hỏa hoạn vũ trụ không chỉ là một sự kiện vật
lý đơn thuần mà còn là một hành vi “đạo đức” Bản thân vũ trụ không phải do chúa trời hay một lực lượng siêu nhiên nào tạo ra mà chính là lửa Ngọn lửa trong quan niệm của Hêraclít mang tính vật chất là sự so sánh trực quan cảm tính với logos trừu tượng – cái được dùng để chỉ bản chất lôgic – lý tính của tồn tại và quy định trật tự, như là “độ” của mọi quá trình Do vậy, ngọn lửa mang tính vật chất của Hêraclít là
“có lý tính” có liên quan tới logos là “ngọn lửa có lý tính” Ngọn lửa của Hêraclit thể hiện tính cơ động và tính tích cực của tồn tại, đồng thời cũng thể hiện bản chất ổn định và trật tự bất biến của thế giới, bản chất mang tính vật chất Nếu như Talét coi nước là khởi nguyên của thế giới với tư cách là một thực thể sinh ra mọi vật thì Hêraclít đã hiểu khởi nguyên theo nghĩa độ cao hơn, coi lửa không chỉ là thực thể sản sinh ra mọi vật, mà còn là khởi tổ thống trị toàn thế giới Lửa đó sản sinh ra không chỉ các sự vật vật chất, mà cả những hiện tượng tinh thần, kể cả linh hồn con người Với quan niệm coi toàn bộ vũ trụ như một ngọn lửa bất diệt, thế giới này là lửa thì ông đã tiếp cận được những quan niệm duy vật và nhấn mạnh tính bất diệt và vĩnh viễn của thế giới Ông đã thể hiện những tư tưởng đầu tiên về sự thống nhất vật chất của thế giới khi coi lửa là bản nguyên của tất thảy mọi vật Đánh giá quan niệm này của Hêraclit, Lênin coi đó là “một sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng”
2.2 Logos với tư cách là sự thống nhất ( hài hòa ) và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Lần đầu tiên được Hêraclít sử dụng với tư cách là một trong các khái niệm triết học cơ bản và trở nên rất phổ biến trong toàn bộ triết học cổ đại, đó là thuật ngữ
“logos” Ở người Hy Lạp “logos” tùy thuộc vào văn cảnh ngôn ngữ đã có ý nghĩa rất khác nhau Hêraclít cũng đưa vào “logos” nội dung không như nhau, chẳng hạn trong
Trang 6một câu nói của Hêraclit “logos” có nghĩa là sự thống nhất của mọi cái hiện hữu Sự thống nhất ở đây có nghĩa là sự đồng nhất, hài hòa giữa các mặt đối lập Theo Hêraclít, ngày và đêm, thiện và ác… không phải là một – đó là điều mà ai cũng hiểu Song có điều ngày và đêm, thiện và ác, cũng như mọi mặt đối lập tạo thành một chỉnh thể thống nhất thì ít ai hiểu: vì ngày – đêm, mùa hè – mùa đông, chiến tranh – hòa bình… là nối tiếp nhau tạo thành tính chu kỳ và lặp lại nhất định nhưng người ta lại không hiểu được rằng bản thân tính chu kỳ và tính lặp lại đó được quy định bởi sự thống nhất, hòa hợp giữa các mặt đối lập, tức là bởi “logos” phổ biến Khi coi lửa là bản nguyên vật chất, là nguyên tố vật chất đầu tiên của mọi dạng vật chất, toàn bộ thế giới hay vũ trụ chẳng qua chỉ là sản phẩm biến đổi của lửa “hết thảy mọi sự vật đều chuyển hóa thành lửa, lửa cũng chuyển hóa thành hết thảy sự vật” Hêraclít đã đi đến quan niệm về tính thống nhất của vũ trụ, ông cho rằng vũ trụ - cái thế giới mà con người đang sống trong đó thống nhất ở một cái duy nhất là ngọn lửa vĩnh hằng, bất diệt Sự thống nhất ấy của vũ trụ được Hêraclít hình dung như là sự lan tỏa hương vị với nồng độ khác nhau trong khói thuốc từ một điếu thuốc đang được đốt cháy bởi lửa
Trong quan niệm của Hêraclít, “chiến tranh” hay “đấu tranh” là một trong các hình ảnh – khái niệm quan trọng nhất của ông Ông gọi chiến tranh là cha đẻ và hoàng đế của mọi thứ hiện tồn Chiến tranh có thể biến một số người trở thành thần thánh, số khác là người; nó biến một số người thành nô lệ, số khác là người tự do
“Chiến tranh” vừa là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập vừa là sự thống nhất của chúng Cuộc đấu tranh không những là sự đối lập mà còn là sự liên hệ giữa các mặt đối lập Hêraclít còn cho rằng đấu tranh là nguồn gốc của mọi cái đang diễn ra trong
vũ trụ và đó là một mặt trong “sự sống” của mọi cái đang diễn ra Mặt khác trong “sự sống” ấy là tính hòa hợp, tính có trật tự, tính hài hòa Một chỉnh thể thống nhất bao giờ cũng tồn tại với các mặt đối lập của nó, giống như cái ác bao giờ cũng tồn tại với các mặt đối lập của nó là cái thiện, cái chết với mặt đối lập của nó là cái sống và ngươc lại… Vấn đề là ở chỗ mặt đối lập nào chiếm ưu thế trong một thời điểm cụ thể Hêraclít cho rằng đấu tranh giữa các mặt đối lập là hiện tượng phổ biến trong vũ trụ, không có đấu tranh sẽ không có bất cứ sự hài hòa nào và ngược lại khi đấu tranh
Trang 7không còn thì mọi cái cũng biến mất Điều đó cho thấy trong quan niệm của Hêraclít đấu tranh giữa các mặt đối lập là tất yếu, là quy luật tất yếu của vũ trụ, là logos vũ trụ Với ông, đấu tranh của các mặt đối lập là mang tính phổ biến, là nguồn gốc ra đời của mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ Khi nói tới chiến tranh hay đấu tranh với tư cách
là nguồn gốc của mọi sự vận động và biến đổi, Hêraclít cũng nói tới chiến tranh chính nghĩa “chiến tranh là phổ biến, chính nghĩa tức là chiến tranh” Đề cao chiến tranh và đấu tranh coi chiến tranh như ông hoàng, song Hêraclít cũng kêu gọi con người đừng
có quá kiêu hãnh về chiến tranh Ông cũng luôn cho rằng chiến tranh và đấu tranh một khi vượt quá “độ”, bất chấp “sự công bằng”, “tính hợp lý” của vũ trụ sẽ bị chính
vũ trụ trừng phạt Tất cả quan niệm ấy của Hêraclít về chiến tranh cho thấy mặc dù ông coi “chiến tranh là cha của mọi vạn vật” là “vua của mọi vạn vật” song ông không phải là người tuyên truyền cho cuộc chiến tranh phi nghĩa giữa người với người Việc Hêraclít nhấn mạnh vai trò của chiến tranh luôn gắn liền với việc ông thường xuyên kêu gọi người dân Hy Lạp hãy đứng lên tiến hành đấu tranh vũ trang
để giải phóng các thành phố của đất nước mình khỏi ách thống trị của Batư Về phương diện triết học, quan niệm của Hêraclít về chiến tranh chính là quan niệm của ông về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập với tư cách là nguồn gốc của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ Nếu vũ trụ là cái có thật tự, luôn vận động, biến đổi theo logos của nó và trong vũ trụ ấy “vạn vật ra đời đều dựa vào logos của nó” thì đấu tranh giữa các mặt đối lập trong mỗi sự vật, hiện tượng phải diễn ra trong khuôn khổ của logos, chứ không phải trong khuôn khổ của các vô trật tự của thói tùy tiện vốn mâu thuẫn với logos của vũ trụ Hêraclít là người đầu tiên đã đặt vấn đề nhận thức luận về quan
hệ giữa logos chủ quan và logos khách quan của mình tức là khả năng thống nhất của chúng Hêraclít cho rằng logos thế giới con người (chủ quan) có đủ khả năng để phù hợp với logos thế giới (khách quan) mặc dù điều đó diễn ra không phải thường xuyên
và hoàn toàn không phải ở mọi người Hêraclít phàn nàn rằng dù liên hệ, giao tiếp trực tiếp và thường xuyên với logos khách quan và chi phối mọi sự vật nhưng logos
đó vẫn xa lạ đối với nhiều người thường xuyên va chạm với nó, xong nhiều người vẫn không hiểu được nó Mặc dù vậy, logos khách quan về thực chất là thống nhất, là giống nhau và ở một chừng mực nào đó là đồng nhất Logos của tâm hồn con người
Trang 8và logos của thế giới sinh vật là một logos được xem xét trên hai phương diện: thế giới nội tâm của con người và cấu trúc bên ngoài của các sinh vật Nếu chúng giống nhau và trùng hợp nhau, nếu logos chủ quan của người bằng cách nào đó là đồng nhất với logos khách quan của các sinh vật thì đó suy ra rằng việc nhận thức logos của thế giới bên ngoài là có thể có được bằng con đường tự nhận thức, bằng các nỗ lực của bản thân là cái duy nhất tạo thành phẩm giá cá nhân, công lao cá nhân Tự nhận thức đưa con người đi từ thế giới nội tâm tới thế giới bên ngoài Trên con đường đó tâm hồn con người ngày một phong phú hơn, mở rộng hơn và phát triển hơn “Logos tự phát triển là vốn có ở tâm hồn” Quan niệm của Hêraclít về logos chủ quan một cách vận động chứ không phải đứng im Chỉ nhờ tính tích cực này con người mới có thể có lối thoát ra thế giới sinh vật bên ngoài Dấu hiệu cơ bản về tính sáng suốt đích thực của con người theo Hêraclít là ở việc nhận thức được logos của tồn tại, là nhận thức được sự thống nhất giữa các mặt đối lập Hêraclít đã vạch ra một cách rất độc đáo sự thống nhất mâu thuẫn giữa logos và sự đa dạng của các sinh vật, biện chứng của cái đơn nhất và các số nhiều nói chung Trên thực tế logos là phổ biến, vốn có ở sinh vật nhưng đồng thời về một phương diện nào đó lại nằm ở bên ngoài chúng Đặc trưng của Hêraclít là ý muốn thể hiện bản chất mâu thuẫn của logos khách quan qua logos chủ quan của tâm hồn con người
2.3 Học thuyết về dòng chảy Dựa vào việc nghiên cứu tự nhiên bằng quan sát trực tiếp và căn cứ vào những kinh nghiệm cảm tính Hêraclit đã khái quát thành một kết luận nổi tiếng về vật chất vận động “Mọi sự vật đều trôi đi, chảy đi, không có cái
gì tồn tại mà lại cố định”; rằng “ không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông bởi
vì nước mới không ngừng chảy trên sông” ngay cả “mặt trời cũng mỗi ngày một mới” Với quan niệm về vận động này, nhiều nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã coi Hêraclit là nhà “triết học vận động”và gọi thuyết của ông là “thuyết về dòng chảy” Nếu các nhà triết học thuộc trường phái Mile chú ý nhiều về kết cấu vật chất thì Hêraclit lại chú ý nhiều về vận động Hình ảnh về ngọn lửa cũng là hình ảnh sống động Tán thành quan niệm này của Hêraclit, Hêghen đã lý giải “lửa là thời gian vật
lý, nó là sự không yên tĩnh tuyệt đối” Hêghen còn nhận xét: “Hêraclit nói: Tất cả đều
là sinh thành, sinh thành ấy là nguyên tắc cái đó bao trong thành ngữ, cái tồn tại
Trang 9không hơn gì cái không tồn tại” Quan niệm về sự vận động vĩnh viễn của vật chất hay học thuyết về “dòng chảy” chính là nguyên lý xuất phát trong quan niệm của Hêraclit về vũ trụ là học thuyết xuyên suốt của ông Ở Hêraclit không những dòng sông mà cả mặt trời cũng thường xuyên và liên tục đổi mới, nhưng mặt khác ông lại cho rằng không có gì ổn định và bất biến hơn là dòng sông luôn chảy và hơn mặt trời luôn chiếu sáng Tính biến đổi của dòng sông không loại trừ sự đứng im, là cái mà nhờ đó dòng sông là xác định, ổn định và bất biến, cũng như vậy chúng ta có thể nói rằng sự đứng im và tính xác định của dòng sông không loại trừ sự vận động (chảy) của nó Hêraclit thừa nhận sự thống nhất mâu thuẫn của vận động và đứng im, sinh thành và hiện hữu chứ không phải là ở việc thừa nhận sự vận động là nhờ có sự hy sinh của đứng im Đóng góp cơ bản của Hêraclit trong lịch sử phép biện chứng là cách trình bày đầu tiên về quy luật thống nhất giữa các mặt đối lập Ông đã cố thể hiện bản chất mâu thuẫn của các sự vật trong logos chủ quan và chỉ ra sự thống nhất biện chứng của nhận thức và biện chứng của thế giới Trên con đường đó ông đã vấp phải các trở ngại mà đến nay vẫn chưa khắc phục hoàn toàn Đó là vấn đề khả năng phản ánh bản chất mâu thuẫn của các sự vật, kể cả bản chất mâu thuẫn của vận động vào logic của các khái niệm Hêraclit đã diễn đạt bản chất mâu thuẫn của các sự vật, bản chất của chúng là cái do ông khám phá ra, bằng các hình ảnh, khái niệm.Đó là khiếm khuyết trong phương thức tư duy của ông nhưng đồng thời đó cũng là điểm mạnh của ông Hêraclit đã sử dụng rất hay các tiềm năng về nghĩa và gây ấn tượng – cảm tính của hình ảnh trực quan, các sự so sánh nghệ thuật
2.3 Quan niệm về nhận thức
Theo ông, nhận thức khởi đầu từ cảm tính thông qua các giác quan để con người nhận thức các sự vật cụ thể Ông cũng nhận thấy vai trò không giống nhau giữa các giác quan trong nhận thức “mắt và tai là người thầy tốt nhất nhưng mắt tốt hơn tai” Ông chia nhận thức thành hai cấp độ là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Hêraclit đánh giá cao vai trò của các giác quan trong nhận thức các sự vật đơn lẻ – tức là nhận thức cảm tính Theo ông, nhận thức cảm tính cho phép con người tìm được cái lý Hêraclit cho rằng nhận thức nghiên cứu vũ trụ, logos phải dựa trên cơ sở của cái nhìn và nghe thấy: “tôi thích cái gì mà có thể nhìn thấy được và nghe thấy
Trang 10được” – ông nói Tuy vậy, nhận thức đó mới chỉ dừng lại ở nhận thức cái bề ngoài và
có nhiều hạn chế Vì vậy, theo Hêraclit để nhận thức được đầy đủ về sự vật – nhận thức được chân lý cần phải phải có lý trí – tức là nhận thức bằng lý tính Đó chính là chìa khóa giúp con người nhận thức được về logos Ông viết: “tư duy có một ý nghĩa
vĩ đại và sự thông thái chính là ở chỗ nói lên chân lý, ở chỗ lắng nghe tự nhiên rồi hành động thích hợp với tự nhiên” Và theo ông, không phải ai cũng hiểu được chân
lý – tức là nhận thức được logos ngoại trừ những nhà thông thái Và những nhà thông thái đó là do họ sống tuân theo logos
2.4 Quan niệm về con người
Trong lịch sử triết học Hy Lạp, Hêraclit không chỉ được coi là người sáng lập ra phép biện chứng mà còn là người có quan niệm độc đáo về con người Trong quan niệm về con người theo Hêraclit, con người có 2 mặt đối lập là lửa và ẩm ướt, lửa sinh ra linh hồn Nếu người nào đó có nhiều yếu tố lửa thì người ấy là người tốt vì linh hồn người ấy khô ráo, sạch sẽ Còn người nào có nhiều yếu tố ẩm ướt là người xấu và trong con người luôn có sự đấu tranh và chuyển hóa dưới 2 mặt: bệnh tật và sức khỏe, cái thiện và cái ác, cái đói và cái no, cái mệt mỏi và cái thú vị “Trong con người chúng ta, sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già, trước và sau đều là một, cái sau biến hóa thành cái trước, cái trước biến hóa trở lại thành cái sau”, “mọi vật sinh ra duy nhất, duy nhất sinh ra mọi vật” Về xã hội, Hêraclit đề cao vai trò của tầng lớp quý tộc, coi thường số đông nô lệ Ông nói: “Đối với tôi, một người nếu là ưu tú nhất thì là một chục nghìn người” Ông chủ trương dùng bạo lực để đàn áp phong trào dân chủ Ông cũng là người có cái nhìn hiện thực khi cho rằng sự bất bình đẳng là do bất bình đẳng về lợi ích Sự vận động và phát triển liên tục của mọi sự vật theo Hêraclit
do tính tất yếu khách quan, quy luật (logos) quy định Lời nói, suy nghĩ, ngôn ngữ của con người là logos chủ quan dùng để nêu lên logos khách quan, người nào thấu hiểu logos và làm đúng theo logos thì người đó là người có trí tuệ Với con người, theo ông cũng theo đúng quy luật đó Ông khẳng định, trong cuộc sống con người lo toàn việc sống nhưng nó cũng chết dần; con người vui lòng sinh con đẻ cái để chuẩn
bị cho sự chết Về lý luận nhận thức, Hêraclit cho rằng nhiệm vụ của nhận thức là phải hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, ông quan niệm tư tưởng có một giá trị rất vĩ đại, trí