1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ GIÁ TRỊ VÀ NHỮNG HẠN CHẾ LỊCH SỬ

30 27 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 160 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thu hoạch Triết học Phương đông của thạc sĩ Triết học. Bài thu hoạch trình bày khaisi quát tư tưởng pháp trị của hàn phi tử trên cơ sở đó chỉ ra giá trị và những hạn chế lịch sử. Bài thu hoạch có dung lượng 30 trang.

Trang 1

TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ - GIÁ TRỊ VÀ NHỮNG

HẠN CHẾ LỊCH SỬ

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong mỗi quốc gia dân tộc, để đảm bảo cho một nền chính trị ổn định,một nền kinh tế phát triển và một xã hội công bằng, thì pháp luật chính làcông cụ tối ưu nhất Nhưng, chỉ có luật pháp không thì chưa đủ, mà cần có sựvận dụng nó một cách đúng đắn mới phát huy được hiệu quả tối đa Điều nàyđược thể hiện một cách rõ ràng trong học thuyết pháp trị của trường phái phápgia với đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử

Pháp gia là trường phái triết học được ra đời tại Trung Hoa Trong lịch

sử thế giới nói chung và lịch sử Trung Hoa nói riêng, học thuyết pháp trị củaHàn Phi Tử được coi là trường phái triết học đầu tiên chủ trương dùng phápluật để trị nước, là những bản chép đầu tiên về pháp luật Tần Thủy Hoàng là

vị vua đầu tiên của lịch sử đã áp dụng tư tưởng này một cách triệt để, có hiệuquả trong việc trị nước Tần Thủy Hoàng thâu tóm lục quốc, thống nhất TrungHoa và xây dựng nhà nước tập quyền Trung ương đầu tiên trong lịch sử TrungQuốc Từ những thành công to lớn này đã khẳng định được vai trò quan trọngcủa học thuyết pháp trị trong việc ổn định chính trị và phát triển xã hội Đồngthời, từ việc nghiên cứu những giá trị của học thuyết pháp trị sẽ tạo điều kiệncho chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn về công và tội của Hoàng đế Tần ThủyHoàng cũng như những giá trị và hạn chế của học thuyết pháp trị

Bên cạnh đó, chúng ta nhận thấy rằng việc nghiên cứu về pháp trị vàpháp luật mang tính thời sự rất cao Bởi qua bao nghìn năm phát triển, phápluật và pháp trị không có thay đổi, mà nhìn chung nó chỉ cải tiến, và hoànthiện mình trước sự thay đổi của thời đại, để phù hợp hơn với thực tiễn xã hội

Và nó không còn là riêng một quốc gia hay dân tộc nào nữa, mà giờ đây nóhiện diện trong từng quốc gia, trong nhiều tổ chức quốc tế

Trang 3

NỘI DUNG

I TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ

Trung Quốc bước vào thời kỳ loạn lạc chưa từng thấy với hơn năm trămnăm chiến tranh đau thương “người chết đầy đống, thây chất đầy thành”(Mạnh Tử) Hiện thực nóng bỏng đó là tiền đề tích cực cho ra đời hàng loạtcác học thuyết tư tưởng nhằm lý giải hiện thực và đề xuất những quan điểm,đường lối chính trị - những phương thuốc cứu đời từ loạn về trị Và trongkhoảng thời gian này, học thuyết pháp trị đã xuất hiện với tư cách là đường lốichiến lược chính trị lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu Đường lối này nhanhchóng trở thành ngọn cờ tư tưởng góp phần đưa sự nghiệp thống nhất của nhàTần đi đến thắng lợi, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử TrungQuốc

1.1 Hàn Phi Tử - cuộc đời và tư tưởng

1.1.1 Bối cảnh xã hội Trung Hoa cổ đại thời Hàn Phi Tử

Trong lịch sử Trung Hoa, nhà Chu tồn tại lâu hơn bất kỳ một triều đạinào Nhà Chu khởi nguồn ở sông Vị, phía tây nền văn minh Thương Nhà Chucoi tất cả đất đai thuộc về thần thánh, và họ là những đứa con của thần thánh

vì vậy tất cả đất đai và dân cư đều thuộc về họ Thấy rằng đất đai mình chinhphục được quá rộng lớn để một người có thể cai trị, các vua nhà Chu đã chiađất đai thành những vùng và chỉ định một người nào đó để cai trị vùng đódưới danh nghĩa của mình (chư hầu) Các chua hầu được vua nhà Chu lựachọn thường là một người thân trong họ, một người có thể tin tưởng trong bècánh, hay vị thủ lĩnh một bộ lạc đã cùng họ chống lại nhà Thương Giai đoạnĐông Chu bắt đầu từ khoảng năm thế kỷ thứ 7 tr.CN tới 221 tr.CN

Ở giai đoạn Xuân Thu, quyền lực được tập trung hoá Giai đoạn này xảy

ra rất nhiều các trận chiến và sự sáp nhập khoảng 170 nước nhỏ

Về kinh tế, canh nông là phương pháp canh tác rất tiến bộ Thời Ânngười ta dùng lưỡi cày bằng gỗ, thời Tây Chu đã có lưỡi cày bằng đồng đỏ;

Trang 4

cuối thời Xuân Thu ở Ngô và Việt, người ta đã tìm ra sắt Sắt lúc đó gọi là “áckim” (vàng, bạc, đồng là mỹ kim) và chỉ dùng chế tạo những đồ dùng tầmthường như lưỡi cày, lưỡi cuốc Do sự gia tăng của số dân nên sự khai hoangđất đai trong giai đoạn này được tập trung Chế độ tỉnh điền không hợp thờinữa Sự sụp đổ dần dần của giới thượng lưu dẫn tới sự mở rộng học hành; tríthức gia tăng lại thúc đẩy tự do tư tưởng và tiến bộ kỹ thuật Tới thời XuânThu công nghệ phát triển hơn, các đồ đồng bằng đồng đỏ, các đồ cẩn, khảm

đã đạt được kỹ thuật cao, đồ bạc và bằng ngọc đã xuất hiện

Vị vua nhà Chu nhận được đồ cống nạp từ các quý tộc cai trị tại nhữngvùng đất mà họ được thừa kế từ tổ tiên Các vị tổ tiên được phong làm quý tộchay công tước tại các nước chư hầu thường là các quan chức có công lao lớnđối với nhà vua và triều đình cai trị Vị vua nhà Chu không trực tiếp kiểm soátcác tiểu quốc chư hầu của mình Thay vào đó, sự trung thành chung của cácquận công và quý tộc tạo nên quyền lực cho ông ta Khi lòng trung thànhgiảm đi, quyền lực của nhà vua cũng giảm sút

Thời kỳ Chiến Quốc bắt đầu từ năm 403 tr.CN, không đánh dấu một biến

cố gì quan trọng đủ để mở đầu một thời đại, chỉ là năm ba đại phu nước Tấn:Hàn Kiều, Triệu Tích, Ngụy Tư được vua Chu phong hầu (do đó mà sau Tấntách ra thành ba nước Hàn, Triệu, Ngụy), còn xã hội, lịch sử Trung Hoa vẫnbiến chuyển liên tục, không bị gián đoạn Tuy nhiên có điều này hiển nhiên làcàng về sau xã hội càng loạn, biến cố càng dồn dập, và xét chung thì thờiChiến Quốc quả có nhiều điểm khác thời Xuân Thu

Về kinh tế, thời Chiến Quốc, sắt đã trở nên thông dụng, được ưu chuộng

trong việc chế tạo binh khí cũng như lưỡi cày Canh nông nhờ đó cũng pháttriển Nước chư hầu nào cũng muốn phú cường để thôn tính các nước bêncạnh, mà muốn phú cường thì trước hết phải khuếch trương canh nông, nghĩa

là phải vừa cải tiến phương pháp canh tác vừa khuyến khích khai phá đất đaimới, vừa thay đổi cách đánh thuế Thời Chiến Quốc chế độ tỉnh điền được bãi

Trang 5

bỏ, đồng thời cũng bỏ luôn phép đánh thuế thời đó gọi là trợ (giúp): tám giađình làm giúp một khoảng ruộng công ở giữa cho chủ điền (tức là cho chínhphủ, cho quý tộc) mà thay bằng thứ thuế thường bằng một phần mười huê lợi,huê lợi có khi tính từng năm một, có khi lấy số trung bình của nhiều năm Tuynhiên, gần thời Chiến Quốc, vua và các chư hầu cần tiền mua khí giới, nuôibinh lính nên đã đánh thuế rất nặng, có nơi bằng 50% huê lợi của dân, chính

vì vậy, dân tình cực điêu đứng Tuy nhiê,n chính sách đóng thuế vào huê lợicũng có lợi cho nông dân về mặt khác: họ tương đối được tự do, độc lập hơnđối với chủ điền, không bị “cột” vào công điền nữa

Về công nghệ, thời Chiến Quốc phát triển thêm đồ sơn, đồ thuỷ tinh; kỹ

thuật đồ gốm, kỹ thuật dệt và nhuộm (có khi người ta nhuộm tới bảy màu),rất tiến bộ và người ta đã tìm được những hợp kim để chế tạo những tấmgương soi mặt rất tốt Nhờ đó, thương mại dần phát triển và phát triển hơn

cả công nghệ

Về chính trị, chế độ phong kiến suy vi Trong Chiến Quốc từ khi dời đô

sang phía đông, nhà Chu suy nhược dần dần, đất đai thì phải chia cắt đểphong cho các chư hầu công khanh, nên mỗi ngày mỗi thu hẹp lại, chỉ còntrông cậy vào sự cống hiến của các chư hầu mà chư hầu như nước Lỗ, trong

242 năm chỉ triều cống có ba lần: không những vậy, vì cái danh nghĩa thiên

tử, đôi khi còn phải giúp lương thực cho chư hầu những năm họ mất mùahoặc có chiến tranh Thời Chiến Quốc, giai cấp quý tộc cũ dần dần tan rã,không nắm quyền hành nữa, xuất hiện giới hữu sản mới lên thay: họ là nhữngngười khai phá những đất mới, những thương nhân làm giàu rồi mua đất vàthành những tân địa chủ, lối sống cũng như bọn quý tộc cũ, nhưng tư tưởngtiến bộ hơn, và một số có tài nhảy ra làm chính trị Thời Xuân Thu đã có một

số ít người trong giai cấp đó chiếm được những địa vị cao: như Bách Lý Hề,Quản Trọng, Ninh Thích , nhưng thời Chiến Quốc mới thực là thời của họtung hoành Họ là những kẻ sỹ áo vải giỏi về chính trị, ngoại giao, kinh tế hay

Trang 6

võ bị, làm quân sư hoặc tướng quốc cho các vua chúa Họ là Tô Tần, TrươngNghi, Cam Mậu, Phạm Tuy, Ngô Khởi, Bạch Khởi, Lã Bất Vi, Lý Tư

Nhà Chu suy nhưng một số chư hầu mỗi ngày một mạnh vì chính trịtốt, kinh tế phát đạt như Tề, hoặc vì sát nhập những nước nhỏ xung quanh

để củng cố quyền lực, khai thác được những đất mới như Sở, Tần Số chưhầu trước kia còn ngàn rưỡi, tới thời Đông Chu (Xuân Thu) chỉ còn lại trênmột trăm, qua thời Chiến Quốc, giảm xuống nữa, còn dưới một chục: Tề,Tần, Sở, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên, Lỗ…; trong đó thất hung gồm Tề, Tần,

Sở, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên, mạnh nhất là Tần, Sở, Tề vì đất đai đã rộng(nhất là Sở) mà tài nguyên lại nhiều Gần cuối thời Chiến Quốc họ thànhnhững quốc gia độc lập, không phục tùng nhà Chu nữa, không chịu xếpmình vào bậc công hay hầu, chư hầu phục tùng nhà Chu, mà tự xưng vương(tức tự coi mình ngang với nhà Chu) Điều này đã mở đầu cho giai đoạnchiến tranh liên miên giữa các nước, nhằm tranh giành đất đai, xưng Đế(vua của các vua)

Càng về cuối thời Chiến Quốc, chiến tranh càng tàn khốc, tình hình dânchúng thật điêu đứng Hơn nửa dân phải đi lính, kẻ ở nhà phải nộp thuế có khitới ba phần tư hoa lợi Những năm được mùa, dân cũng không được hưởng vìtriều đình thu hết lúa để nuôi lính; những năm mất mùa thì kẻ già, người bệnhchết hàng loạt trên đường, trong ruộng Chiến tranh trong hai năm cuối cùngthời Chiến Quốc liên miên bất tuyệt, có khi nào chấm dứt đâu, chỉ tạm dừng ởnước này hay nước khác để chuẩn bị cho một chiến tranh khác

Thấy xã hội từ trên xuống dưới đầy trộm cướp như vậy, bọn quý tộc sasút bất bình, muốn trở lại thời Xuân Thu, ổn định hơn, nhưng bất lực; hạngthư sinh thì chỉ thở dài, giảng nhân nghĩa; còn hạng võ dũng thì chỉ biết dùngthanh gươm để rửa nhục cho kẻ bị oan ức, bênh vực kẻ bị áp bức, thành bọnthích khách mà người ta gọi là “hiệp sỹ” Chúng ta không thấy làm lạ rằngthời Chiến Quốc có nhiều hiệp sỹ hơn các thời khác Dù chiến tranh chấm dứt

Trang 7

thì họa cũng kéo dài hàng chục năm, “vì tổn phí vào chiến tranh, mười nămthu lúa cũng chưa đủ bù”.

Kết thúc giai đoạn Chiến Quốc, Trung Hoa cổ đại được quy về một mối,Tần Thủy Hoàng thống nhất đất nước và lập ra nhà Tần Ông đã lập nên đếchế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, đánh dấu một cột mốc quan trọng Vàchiến thắng của Tần Thủy Hoàng không thể không nói đến học thuyết pháp trịcủa Hàn Phi Tử, chính học thuyết này đã góp phần to lớn trong việc giúp TầnThủy Hoàng tạo ra một đế chế hùng mạnh

1.1.2 Cuộc đời Hàn Phi Tử

Hàn Phi Tử sống cuối đời Chiến Quốc, trong giai đoạn Tần Thủy Hoàngđang thống nhất Trung Hoa Ông thuộc dòng dõi quý tộc nước Hàn (được gọi

là “công tử”), thích cái học “hình danh” Gốc của học thuyết này là ở Hoàng

Đế, Lão Tử Hàn Phi Tử có tật nói ngọng, không biện luận khá nhưng giỏi vềmặt viết sách Trong bảy nước thời Chiến Quốc, tổ quốc của Hàn Phi Tử “vốn

là nước nhỏ, phải chống sự công kích ở bốn phía, chúa nhục, tôi khổ” (TồnHàn, Hàn Phi Tử) Làng giềng lại có cường Tần hung bạo nên tình hình đãkhổ càng thêm khổ; theo Hợp Tung thì bị Tần đánh, theo Liên Hoành lại bịcác nước đánh Hàn Phi Tử muốn phò vua Hàn nhưng không được trọngdụng, nhiều lần dâng kế sách nhưng không được sử dụng Ông nhận thấy vuaHàn “không sửa đổi làm rõ pháp chế” sẽ tạo nên tình trạng các nhà nho dùngvăn làm rối loạn pháp luật, còn hiệp sĩ dùng võ phạm vào điều cấm Sau nàyvua Tần thấy nhìn thấy sự tài hoa của Hàn Phi Tử nên nhân lúc vua Hàn saiHàn Phi Tử đi sứ qua Tần đã mời Hàn Phi Tử ở lại Tần để giúp Thủy Hoàngthực hiện việc thống nhất thiên ha Nhưng Hàn Phi Tử chỉ giúp vua Tần được

ít lâu Vì vua Tần chưa tin dùng ông lắm, hoặc do Lý Tư ganh ghét không chophép ông tiếp cận vua Tần thường, hoặc do cả hai nguyên nhân Lợi dụng việcHàn Phi Tử là công tử nước Hàn, Lý Tư đã lập âm mưu hãm hại và cuối cùngvua Tần đã ban Hàn Phi Tử thuốc độc để tử tự

Trang 8

Những tâc phẩm của Hăn Phi Tử:

Hăn Phi Tử thương xót những người thanh liím, chính trực không đượcbọn tôi gian tă dung tha, nhìn những sự biến đổi tồn vong của câc nước ngăyxưa, viết Cô Phẫn (sự phẫn nộ của con người cô độc), Ngũ Đố (năm thứ sđumọt), Nội Ngoại Trữ Thuyết (sưu tập những lời băn về việc trong vă việcngoăi), Thuyết Lăm, Thuyết Nan (câi khó trong việc du thuyết), tất cả hơnmười vạn chữ Ông cũng tổng hợp tư tưởng của câc phâp gia trước ông, câcnhă nghị luận thời Chiến Quốc, mă viết bộ sâch Hăn Phi Tử Tứ

1.1.3 Cơ sở hình thănh tư tưởng dùng phâp trị của Hăn Phi Tử

Lịch sử Trung Quốc đê từng kiểm nghiệm vai trò câc học thuyết “Nhđntrị”, “Đức trị”, “Vô vi trị”, “Kiím âi” Song tất cả đều tỏ ra bất lực vì khôngđâp ứng được yíu cầu thời cuộc Văo lúc tưởng chừng bế tắc đó, học thuyếtphâp trị đê xuất hiện trín vũ đăi lịch sử với tư câch lă đường lối chiến lượcchính trị lấy phâp luật lăm công cụ chủ yếu Trong quâ trình xđy dựng họcthuyết của mình, Hăn Phi Tử phí phân mạnh mẽ lý thuyết chính trị của Nhogia Ông cho rằng câch cai trị dựa trín tinh thần nhđn đức của nhă cầm quyền

lă trâi với thực tế vă nếu âp dụng quan điểm đó sẽ lăm loạn đất nước Đối vớiông nền tảng của việc cai trị đất nước chính lă sự chế ước bản thđn, một vịquđn chủ cao quý nắm giữ chính quyền sẽ tự nhiín mang lại hòa bình vă ổnđịnh cho đất nước Hăn Phi Tử quan niệm nhă vua cũng lă người bìnhthường như bao người khâc, câi lăm cho đất nước trị hay loạn không phải lẵng vua nước đó ra sao mă lă nền phâp trị của nước đó như thế năo Thenchốt của việc xđy dựng đất nước giău mạnh lă phải dựa văo phâp luật, cóphâp luật được thi hănh một câch phổ biến vă đúng đắn thì xê hội mới được

ổn định, lă một tiền đề quan trọng để xđy dựng đất nước giău mạnh cho dđnchúng được yín bình hạnh phúc Từ chỗ cho rằng “Không có nước năo luônluôn mạnh, cũng không có nước năo luôn luôn yếu Hễ những người thihănh phâp luật yếu thì nước yếu” Vì những suy nghĩ như vậy ông đê đề xuất

Trang 9

tư tưởng “trị nước bằng pháp luật” với chủ trương “luật pháp không phânbiệt sang hèn” Ông hết sức coi trọng pháp luật và cố gắng xây dựng một lýluận hoàn chỉnh, trong đó lấy “pháp” làm hạt nhân, và kết hợp chặt chẽ vớiPháp, Thế, Thuật.

1.2 Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử

12.1 Tiền đề hình thành tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử

Thứ nhất, Tư tưởng triết lí trong quan điểm về “đạo” và “lý”

Hàn Phi Tử đã kế thừa tư tưởng về “đạo”, “đức” và “đạo vô vi” của Lão

tử để hình thành nên tư tưởng về “đạo” và “lý” của mình

Hàn Phi Tử nói: “Đạo là cái khởi đầu của vạn vật”, “là cái lý của vạnvật” Muôn vật được nó mà sống, mà bại, mà thành, phải biết cách dùng đạocho đúng: “Đạo cũng giống như nước, kẻ chết đuối uống nó nhiều quá màchết, người khát uống nó sống ngay Đạo ít thấy nhưng biết được hình dáng:

“Con người ta ít thấy con voi sống nhưng nếu có thấy được xương con voichết thì dựa vào hình dáng của xương mà tưởng tượng ra được con voi sống”.Đạo là vĩnh viễn không thay đổi: “Chỉ có cái gì cùng sinh ra cùng với lúc trờiđất chia tách nhau, cho đến khi trời đất tiêu tán cũng không chết, không suygiảm, thì mới gọi là vĩnh viễn” Như vậy có thể nói, đạo theo Hàn Phi Tử đó

là cái khởi đầu của vạn vật, là quy luật chung chi phối cuộc sống, là vĩnh viễn

và không thay đổi Thuận theo đạo thì thành mà nghịch đạo thì mất

“Lý” theo Hàn Phi Tử là “cái văn vẻ làm thành vạn vật”, “là cái phânbiệt vuông với tròn, ngắn với dài, thô với tinh, cứng với mềm” Như vậy, “lý”chính là cái quy tắc, quy luật riêng của vật trong hoàn cảnh, điều kiện riêng,

có biến đổi, sinh động như ngắn dài, lớn nhở, vuông tròn, cứng mềm, nặngnhẹ, trắng đen tạo nên sự vật phong phú, đa dạng biến đổi khác nhau Bởi thế,

là cái riêng nên “lý” biến đổi không ngừng

Với quan niệm vào “đạo” và “lý” như trên, Hàn Phi Tử cho rằng vạn vậtđều tuân theo “đạo” và “lý” của chúng

Trang 10

Ứng dụng quan niệm về “đạo” và “lý” để trị nước, Hàn Phi Tử khẳngđịnh, ngày nay khi cái hoàn cảnh thay đổi (lý thay đổi) thì phương pháp trịnước cũng phải thay đổi Trị nước phải dựa theo đạo lý mà làm “Lấy đạo màcai trị thiên hạ thì quỷ không thiêng, mà cái thiêng của nó không làm thiệt hạiđến người ta” Người trị vì thiên hạ phải nhận thức được “đạo” và “lý” củavạn vật Đặc biệt, ông kịch liệt phản đối nạn mê tín dị đoan, ông nhấn mạnh,trên thế giới không có gì chứng thực được là có quỷ thần, người cai trị tin vàoquỷ thần sẽ mất nước, đánh giặc mà nhờ cầu khẩn quỷ thần sẽ thất bại.

Thứ hai, Quan điểm về lịch sử xã hội và sự tiến hóa của xã hội với việc

hình thành tư tưởng pháp trị của Pháp gia

Khởi nguồn cho quan điểm của Hàn Phi Tử về lịch sử tiến hóa đó làquan niệm tiến hóa xã hội của Thương Ưởng Trong đó, Thương Ưởng chia

xã hội ra làm tam thế: thượng thế, trung thế và hạ thế Thời thượng thế, dânchỉ biết mẹ mà không biết cha, thân người thân và chỉ biết yêu bản thân mình.Dân đông dễ xảy mâu thuẫn dẫn đến tranh chấp, không được phân xử đúngđắn thì không vừa ý Người hiền xuất hiện, đặt ra những quy tắc công bằng, vìvậy, trung thế dân chuộng người hiền và thích điều nhân Người hiền lại hayhơn thua, tranh chấp lẽ phải, bởi thế, thánh nhân xuất hiện, ổn định xã hội, đặt

ra lệnh cấm, đặt ra chức quan, lập ra vua Vua đã lập thì không chuộng ngườihiền mà quý người sáng lập Bởi vậy, hạ thế thì thích người sang và tôn quân.Lịch sử quan đó của Thương Ưởng nếu so với các nhà tư tưởng cùng thời thìtiến bộ hơn cả do không có gì thần bí mà có tính chất tự nhiên Những việclàm của con người đều là hợp với mỗi thời cả, không thể gọi là tốt hay xấuđược, hễ việc đời biến đổi thì việc hành đạo cũng phải khác

Với tư tưởng lịch sử tiến hóa đó của Thương Ưởng, Hàn Phi Tử đã kếthừa và cho rằng lịch sử xã hội luôn trong quá trình tiến hóa không ngừngtheo “đạo” và “lý” của nó Hàn Phi Tử chia lịch sử Trung Quốc lúc bấy giờlàm bốn giai đoạn: thượng cổ, trung cổ, cận cổ và hiện đại, tức thời Hàn Phi

Trang 11

Tử đang sống Mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng biệt về trình độ sảnxuất, trình độ văn minh, tính chất sinh hoạt xã hội và phong tục tập quán HànPhi Tử còn cho rằng lợi ích vật chất là cơ sở của các quan hệ xã hội và hành

vi con người, đồng thời cho rằng động lực của tiến hóa xã hội cũng nhưnguyên nhân sâu xa của các biến cố xã hội, các cuộc chiến tranh đó chính là

sự thay đổi dân số và số lượng của cải Ông giải thích như sau: “Thời cổ đại,người đàn ông không cày ruộng vì đã có đủ hoa quả hoang dại, còn người phụ

nữ không dệt vải vì đã có đủ lông thú để mặc, lúc đó con người ít mà của cảinhiều Thời hiện đại, người nhiều mà của ít, mọi người phải lao động vất vả

mà không đủ ăn, tất sinh ra cướp giật, đấu tranh với nhau và chiến tranh xảy

ra là lẽ thường tình”

Với quan niệm về lịch sử xã hội và sự tiến hóa xã hội như trên, mỗi giaiđoạn đều có những đặc điểm riêng biệt, khi ứng dụng vào công cuộc trị nước,ông cho rằng: “bậc thánh nhân không cốt trau dồi chuyện xưa, không noi theonhững nguyên tắc bất biến, khi bàn việc làm ở đời thì dựa vào tình hình củathời mình mà đặt ra biện pháp”

Quan niệm của ông xuất phát từ một thực tế của Trung Quốc thời bấygiờ, một xu thế phố biến ở các nhà triết học thời đó, mà tiêu biểu là Khổng vàLão, đó là thói quen vin vào chế độ xưa để lập ngôn Khi cần trình bày mộtvấn đề gì, để tăng thêm tính thuyết phục, những nhà tư tưởng đều đem những

sự việc trong quá khứ từ thời vua Nghiêu, vua Thuấn ra bàn luận, xem nhữngcái đó như là tiêu chuẩn phân định đúng sai trái phải Thói quen này sau đó đãtrở thành lề lối suy nghĩ của cả một dân tộc Trung Hoa Hàn Phi Tử kịch liệtphản đối việc đó, cho nó là “ngu xuẩn”, là “ôm cây đợi thỏ”, là “ảo tưởng”.Bởi thế, Hàn Phi Tử chủ trương, phương pháp cai trị cần phải phù hợpvới hoàn cảnh cụ thể của hiện thực xã hội và không phải là bất biến, nó sẽthay đổi khi hoàn cảnh thay đổi Không có một biện pháp cai trị vĩnh viễn vàcũng không có một thứ pháp luật luôn luôn đúng với mọi thời đại Ngoài ra,

Trang 12

ông còn đưa ra phương pháp “tham nghiệm”, cho rằng bất cứ sự vật, hiệntượng nào cũng như quan điểm nào cũng phải kinh qua hoạt động thực tế vàkiểm nghiệm khách quan mới có thể đánh giá chính xác được Có thể nói,Hàn Phi Tử đã nhìn vào xã hội, vào lịch sử với một con mắt khách quan, duyvật tuy chỉ là tự phát Nếu so sánh với những quan điểm triết học mà đa phầnđều mang đầy tính duy tâm và tôn giáo thời bấy giờ thì có thể thấy cách suyluận vấn đề của Hàn Phi Tử đã tiến một bước dài trong hành trình tư duy củanhân loại Những tư tưởng duy vật biến chứng lịch sử của ông cũng đã đónggóp một phần vào sự phát triển của nền triết học thế giới.

Bàn sâu hơn về vấn đề trị nước, Hàn Phi Tử giải thích pháp luật mỗi thờimỗi khác, vì thế việc thưởng phạt mỗi thời cũng khác Thời xưa không cầnthưởng hậu mà cũng không cần phạt nặng, thế nhưng ngày nay “dù có thưởnggấp đôi và phạt nặng hơn nhiều dân cũng không khỏi làm loạn” Khôngnhững thế, theo Hàn Phi Tử, địa lý khác nhau, mùa khác nhau, của cải khácnhau, hành động khác nhau, nên hình phạt cũng khác nhau, bởi vậy “phạt nhẹkhông phải là nhân từ, phạt nặng không phải là độc ác, cứ phù hợp theo tục

mà làm, cho nên sự việc là dựa theo cái thế mà thay đổi, và việc phòng bị làphải thích hợp với công việc.”

Có thể nói, quan điểm cơ bản trong phép trị nước của hệ thống chính trịPháp gia và Hàn Phi Tử là “thời biến, pháp biến”

Thứ ba, Học thuyết về “tính ác” với việc hình thành tư tưởng Pháp trị

của Pháp gia

Thời kì “Bách gia chư tử”, tư tưởng về tính người muôn hình muôn vẻ,

đó là thuyết tính không thiện, không ác, thuyết tính siêu thiện ác, thuyết tínhvừa thiện vừa ác, thuyết có tính thiện tính ác… Trong đó có thuyết tính ác củaTuân Tử Tuân Tử cho rằng con người bản tính là ác, cần phải dùng đạo đức,

lễ nghĩa để giáo hóa, biến ác thành thiện Hàn Phi Tử, vốn là học trò của Tuân

Tử, đã kế thừa học thuyết này của thầy, thế nhưng, quan điểm của ông khắt

Trang 13

khe hơn Ông cho rằng bản tính con người là “đại ác”, xu thế tự nhiên của conngười là thích điều lợi và ghét điều hại, bởi vậy, không thể dùng nhân, lễnghĩa, vô vi để trị mà phải dùng hình pháp nghiêm khắc “Nói chung, thíchđiều lợi và tìm nó, ghét cái hại mà tránh nó, đó là bản tính của con người”.

Để chứng minh cho luận điểm của mình, Hàn Phi Tử viết: “Mượn ngườilàm thuê gieo mạ và cày ruộng cho mình thì ông chủ chịu mất tiền để cho họ

ăn ngon, đưa ra tiền và vải để lấy công Đó là không phải là vì yêu người làmthuê, mà vì nói: “làm như thế thì người cày sẽ cày sâu và bừa kỹ” Người làmcông dốc sức mình lo việc cày bừa, trổ hết tài sửa bờ đất và bờ ruộng, khôngphải vì yêu ông chủ Anh ta nói: “có thế thì canh sẽ ngon, tiền và vải sẽ lấy dễhơn” ”

Đến ngay tình cha con: “con người khi còn nhỏ nếu cha mẹ nuôi nấngqua loa, thì khi lớn lên sẽ oán cha mẹ Đứa con lớn lên phụng dưỡng cha mẹkém thì cha mẹ giận và mắng nhiếc con Cha mẹ với con là chỗ thân thiết nhất

mà còn oán trách nhau” “Cha mẹ đối với con, sinh con trai thì chúc mừngnhau, nhưng sinh con gái thì giết đi Đó là vì nghĩ đến cái thuận tiện về sau,tính đến cái lợi lâu dài Do đó, cha mẹ đối với con cái vẫn còn dùng lối tínhtoán mà đối xử với nhau huống nữa là những người không có cái ân huệ củacha mẹ đối với con cái?”

Đây chính là tiền đề vô cùng quan trọng để xây dựng phương pháp trịdân, trị nước bằng pháp trị của Hàn Phi Tử Tâm lí con người đó là tránh hại

và cầu lợi Bởi thế, khi ta đặt ra pháp luật, làm theo đúng pháp luật thì thưởng,làm sai pháp luật thì phạt, người dân với tâm lí tránh bị phạt, muốn đượcthưởng sẽ tuân thủ theo pháp luật, nhờ đó mà trật tự xã hội được duy trì

Hàn Phi Tử cho rằng chỉ có pháp luật mới bảo đảm công bằng cho ngườidân, dân bị xử chết cũng không oán, được trọng thưởng cũng không cho làđức Nhờ có pháp luật mà mọi hình phạt đưa ra không còn phụ thuộc vào tâm

ý của tầng lớp quý tộc như thời Hạ, Thương, Chu Thời trước, người ta không

Trang 14

dùng pháp luật công khai để trị nước mà dùng Lễ và Hình Giữa những ngườitrong giới quý tộc thì sẽ cư xử với nhau bằng lễ, lễ ở đây là những quy tắc bấtthành văn Còn đối với quý tộc và thứ dân thì sẽ dùng thị uy Tầng lớp trênkhi đã có cái thế thì sẽ dùng cái thế của mình để thị uy thứ dân, dùng nhữngchế tài và hình thức trừng phạt mà mình muốn để áp cho người dân Khổng

Tử với tư tưởng “nhân trị”, “đức trị” cũng ủng hộ cách cai trị đó của nhà Chu,chủ trương lấy nhân nghĩa để giáo hóa dân, làm cho dân theo mình Hàn Phi

Tử lại cho rằng, “nhân trị” chắc chắn sẽ không có sự khách quan và côngbằng, mà nếu không khách quan và công bằng thì xã hội sẽ loạn

Hàn Phi Tử nhấn mạnh trị nước là trị theo số đông Nếu dùng nhân trị,người hiền sẽ rất ít mà người bất thiện thì nhiều Còn nếu sử dụng pháp trị, kẻ

ác ít, đa số còn lại tuy dẫu không phải là người hiền đức nhưng cũng khônglàm điều gì bậy bạ gây hại Như thế, rõ ràng, dùng pháp trị để trị nước thì sẽhiệu quả hơn, xã hội sẽ ôn định hơn, nhân trị thực ra chỉ là ảo tưởng “uy thế

có thể cấm bạo, đức dày không thể ngăn loạn”

Có thể nói, tư tưởng của Hàn Phi Tử tuy có phần quá khắt khe khi chorằng bản chất con người là đại ác, thế nhưng nếu xét trong bối cảnh lịch sử xãhội phức tạp thời Xuân thu - Chiến quốc bấy giờ thì có lẽ những điều Hàn Phi

Tử nói đều đúng Đặc biệt, việc Hàn Phi Tử nhấn mạnh tầm quan trọng và sựhiệu quả tuyệt đối của pháp luật trong công cuộc trị nước an dân là hoàn toànđúng đắn và đã được minh chứng rất rõ ràng trong lịch sử Trung Quốc Nhờviệc sử dụng pháp chế hiệu quả mà Tần Thủy Hoàng đã thống nhất được đấtnước Trung Quốc rộng lớn

1.2.2 Nội dung cơ bản trong của thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử

Thứ nhất, Quan niệm về phạm trù “pháp”

Theo Hàn Phi Tử, pháp trị là tổng hợp giữa pháp thế và thuật Trong trịnước pháp thế và thuật tương quan, liên hệ mật thiết với nhau Pháp là nội

Trang 15

dụng của chính sách cai trị, thế và thuật là công cụ hay phương tiện để thựchiện chính sách đó và cả ba đều là công cụ hữ ích của các vị vua.

Pháp là một phạm trù của triết học Trung Quốc cổ đại, có thể hiện theonghĩa hẹp là luật lệ, quy định, là điều lệnh hiến lệnh có tính chất khuôn mẫu

mà không phân biệt dù bất kể là ai cũng phải tuân thủ, theo nghĩa rộng thìpháp có thể hiểu như là thể chế, chế độ xã hội

Hàn Phi Tử trong thiên “định pháp” có viết về pháp “luật pháp là nhữnghiến lệnh soạn ra dành riêng ở quan phủ, hình phạt ắt phải tùy loạingười.Thưởng thì dành riêng cho ai tôn trọng luật pháp và phạt thì áp dụngcho những kẻ trái lệnh vậy”

Ông cũng nói về pháp là những công cụ hữu ích của người trị nước,ngoài pháp và thuật ra không có gì khác, pháp là những gì ghi rõ trong đồ thưđược để ở nơi quan phủ và được ban bố cho nhân dân , pháp phải rõ ràngminh bạch

Pháp là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan để định rõ danh phận, tỏ rõ thịphi, phân rõ tốt xấu, để mọi người biết rõ bổn phận của mình, trách nhiệm củamình, biết rõ điều gì phải làm và điều gì không được làm, pháp đã ban bố thìphải thi hành một cách nghiêm túc, trước sau như một và thưởng phạt phảinghiêm minh, “cho nên bậc minh quân sai khiến bề tôi , không đặt ý ngoàipháp, không ban ơn ở trong pháp, không có hành động trái pháp” (Hàn Phi

Tử, hữu độ)

Những vị quan lại phải là người lắm luật và hiểu rõ về luật lệ trong thiên

hạ Mọi việc về pháp luật quan lại phải hiểu rõ nếu dân chúng hỏi hoặc thắcmắc thì quan lại chính là người giảng giải cho họ về luật lệ, nếu hỏi mà quan

lị không lắm rõ không hiểu thì sẽ xử tội không đúng với pháp luật từ đókhông lấy được lòng tin của dân chúng dẫn đế dân mất lòng tin vào quan lại.Vua phải kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật, không để ai lấyquyền đó của mình So với đức trị thì trong việc trị nước của Pháp gia có công

Ngày đăng: 14/03/2021, 18:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác - Lênin
Nhà XB: Nxb Chínhtrị quốc gia
2. Doãn Chính (chủ biên), Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Chínhtrị quốc gia
4. Nguyễn Hiến Lê và Giản Chi, Hàn Phi Tử, Nxb Văn Hóa 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Phi Tử
Nhà XB: Nxb Văn Hóa 1994
5. Nguyễn Ngọc Huy, Tư tưởng phương Đông - Gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb Văn học, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng phương Đông - Gợi những điểm nhìntham chiếu
Nhà XB: Nxb Văn học
6. Hà Thúc Minh, Lịch sử Triết học Trung Quốc, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Triết học Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
7. Phan Ngọc, Hàn Phi Tử, Nxb Văn học, H, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Phi Tử
Nhà XB: Nxb Văn học
8. Bùi Thanh Quất, Lịch sử triết học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
9. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện Hà Nội, Khoa Triết học, Tập bài giảng triết học Mác - Lênin, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng triết học Mác - Lênin
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
10. Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử triết học Phương Đông, tập I, Nxb Tp.Hồ Chí Minh, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Phương Đông
Nhà XB: Nxb Tp.Hồ Chí Minh
11. Tổng cục Chính trị, Giáo trình lịch sử triết học, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử triết học
Nhà XB: Nxb Quân đội nhândân
12. Tổng cục Chính trị, Lịch sử triết học, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w