1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng biện chứng của trường chinh trong tác phẩm kháng chiến nhất định thắng lợi

122 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 752,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách là một nhà lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc, một nhà biện chứng sắc sảo, Trường Chinh đã vậ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

  

TRẦN THỊ THỦY NGÂN

TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA TRƯỜNG CHINH TRONG TÁC PHẨM

“KHÁNG CHIẾN NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI”

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

  

TRẦN THỊ THỦY NGÂN

TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA TRƯỜNG CHINH TRONG TÁC PHẨM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là do tôi độc lập nghiên cứu, xây dựng trên cơ sở tiếp thu ý tưởng khoa học của các tác giả đi trước dưới sự hướng dẫn của TS Hà Thiên Sơn

Các tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực dựa trên sự tìm tòi, nghiên cứu các tài liệu khoa học đã được công bố, đảm bảo tính khách quan, khoa học và nghiêm túc

TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 06 năm 2014

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Thủy Ngân

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 01

PHẦN NỘI DUNG 09

Chương 1 CƠ SỞ KINH TẾ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA TRƯỜNG CHINH TRONG TÁC PHẨM “KHÁNG CHIẾN NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI” 09

1.1 CƠ SỞ KINH TẾ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA TRƯỜNG CHINH 09

1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA TRƯỜNG CHINH 28

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Trường Chinh 28

1.2.2 Các giai đoạn hình thành tư tưởng biện chứng của Trường Chinh 33

1.3 TÁC PHẨM “KHÁNG CHIẾN NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI” 39

1.3.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 39

1.3.2 Kết cấu và nội dung tác phẩm 45

1.3.3 Giá trị của tác phẩm 48

Kết luận chương 1 53

Chương 2: TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA TRƯỜNG CHINH VỀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG TÁC PHẨM “KHÁNG CHIẾN NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI” VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ 55

2.1 TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA TRƯỜNG CHINH TRONG TÁC PHẨM “KHÁNG CHIẾN NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI” 55

2.1.1 Tư tưởng về xác định kẻ thù của dân tộc 55

2.1.2 Tư tưởng về mục đích, tính chất của cuộc kháng chiến chống Pháp 66

Trang 5

2.2.3 Tư tưởng về phương châm của cuộc kháng chiến chống Pháp 73

2.2 Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TÁC PHẨM “KHÁNG CHIẾN NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI” 87

2.2.1 Ý nghĩa lịch sử tư tưởng biện chứng của Trường Chinh trong tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” 87

2.2.2 Bài học lịch sử của tư tưởng biện chứng của Trường Chinh với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay 93

Kết luận chương 2 105

PHẦN KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhìn lại con đường lịch sử đã qua, trong bốn nghìn năm dựng nước

và giữ nước, dân tộc ta phải thường xuyên chiến đấu chống ngoại xâm và

đã chiến thắng một cách oanh liệt Đó là một nét nổi bật của lịch sử Việt Nam, là thử thách gay go nhất nhưng cũng là niềm tự hào lớn nhất của dân tộc ta Thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay phải được hiểu kỹ về lịch sử nước nhà, phải được tắm mình vào dòng chảy lịch sử của dân tộc, nếu không có niềm tự hào về dân tộc, tự hào về nền văn hóa dân tộc sẽ không thể vững tin mà đến với thế giới Nước ta đang trong quá trình phát triển và hội nhập với thế giới, càng phải nâng cao sự hiểu biết của thế hệ trẻ về lịch sử để chúng ta cùng quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua cánh cửa màu nhiệm mang tên lịch sử

Trong những năm gần đây, việc dạy và học lịch sử đang là một vấn

đề nóng bỏng được xã hội đặc biệt quan tâm Nếu cả xã hội đều xem thường môn lịch sử sẽ không chỉ tạo ra những hụt hẫng trong kiến thức về lịch sử Việt Nam và thế giới, mà còn để lại những hệ lụy rất đáng lo ngại trong kế thừa các giá trị di sản lịch sử và văn hóa dân tộc, trong gìn giữ bản sắc dân tộc, trong định hướng phát triển nhân cách, bản lĩnh con người Việt Nam

Ngày nay, đất nước đã hoà bình, thống nhất, đang trên đà phát triển mạnh mẽ đã từng bước khẳng định thế và lực của dân tộc ta, nhưng trong quá trình vươn lên Việt Nam vẫn đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức trong và ngoài nước, đặc biệt là thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng, tình hình khu vực và thế giới chứa đựng nhiều yếu tố mất ổn định

Trang 7

Hơn nữa, ở nước ta, đến nay, trên lập trường duy vật biện chứng hầu như nghiên cứu tư duy biện chứng trong lịch sử còn ít Và do vậy, cũng chưa phát hiện được đặc điểm tư duy, sự phát triển của tư duy biện chứng

mà ông cha ta đã thể hiện trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước Chính vì lẽ đó, việc tìm hiểu tư duy biện chứng trong đường lối kháng chiến của ông cha ta để vận dụng vào thực tiễn cuộc sống nhằm làm cơ sở phương pháp luận cho nhận thức và hành động cách mạng là điều có ý nghĩa to lớn trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Tư duy biện chứng là hình thức phản ánh sự vận động, phát triển của thế giới vật chất thông qua những hình thức mâu thuẫn của nó, cho nên có thể nói, tư duy biện chứng duy vật là vận dụng những nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng duy vật vào quá trình nhận thức Sự thống nhất biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan là cơ sở phương pháp luận chung nhất của hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội

Với tư cách là một nhà lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc, một nhà biện chứng sắc sảo, Trường Chinh đã vận dụng phép biện chứng duy vật để phân tích tương quan lực lượng giữa nhân dân ta và thực dân Pháp một cách sâu sắc, khoa học

Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh là sự

thể hiện sâu sắc năng lực tư duy biện chứng đó - tư duy chiến lược vào thực tiễn đấu tranh chống thực dân Pháp của Trường Chinh để đạt mục tiêu cơ bản là giành độc lập, tự do cho dân tộc Tác phẩm đã giải thích và phát triển đường lối kháng chiến của Đảng góp phần chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân Việt Nam kiên quyết kháng chiến theo một đường lối thống nhất nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn

Trang 8

Chính vì thế, việc nghiên cứu, học tập một cách nghiêm túc, khoa

học tác phẩm Kháng chiến nhất đinh thắng lợi của nhà cách mạng vĩ đại

Trường Chinh sẽ giúp cho chúng ta thấy được tính thời sự sâu sắc của tác phẩm Từ đó vận dụng một cách sáng tạo để thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: Tư tưởng biện chứng của Trường Chinh trong tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” để

làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Thứ nhất, tìm hiểu truyền thống, ôn lại những bài học của quá khứ

giúp ta hiểu thêm những nhiệm vụ mới, giúp ta giải quyết những vấn đề đang đặt ra với đất nước và xã hội Ngược lại, những thắng lợi ngày nay, nhìn lại quá khứ, ta càng thấy rõ giá trị lớn lao của truyền thống tốt đẹp và lâu đời của dân tộc, thấy rõ hơn những quy luật vận động của lịch sử và những nguyên nhân tạo thành sức mạnh của một dân tộc đất không rộng, người không đông, đã đương đầu thắng lợi chống lại mọi thế lực xâm lược Chính vì lẽ đó, một số tác giả đã có những công trình nghiên cứu sự nghiệp chiến đấu và thiên tài quân sự của các thế hệ đi trước nhằm phát huy những bài học kinh nghiệm chiến đấu vô cùng quý giá vào thực tiễn chiến đấu cứu nước của nhân dân ta Nhìn chung, các tác phẩm nêu trên đều đề cập đến đặc điểm riêng của từng cuộc kháng chiến, những nét chung về chiến lược, chiến thuật, đồng thời khái quát thành những bài học kinh nghiệm trong lịch sử chiến đấu trước đây của tổ tiên ta Trước hết phải kể đến công trình

của Bộ quốc phòng – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam về vấn đề Kế sách

giữ nước thời Lý – Trần Công trình phân tích rõ thắng lợi vĩ đại của công

cuộc chống giặc giữ nước thời Lý – Trần là kết quả tất yếu của quá trình

Trang 9

chuẩn bị lực lượng, xây dựng tiềm lực đất nước Trong đó, dựa vào dân, động viên toàn dân tham gia đánh giặc giữ nước là một ưu điểm nổi bật của triều đại Lý – Trần và “Khoan thư sức dân” đã trở thành một kế sách giữ nước quan trọng của nhà nước Đại Việt

Các công trình của các tác giả như: Phạm Ngọc Phụng (1963), Tìm

hiểu chiến lược – chiến thuật thời Trần – Lê, Nxb Quân đội nhân dân, Hà

Nội Tác giả vạch rõ hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên và chống quân Minh không những khác nhau về thời đại, tính chất, mà còn có những nét riêng biệt về vận dụng phương châm chiến lược – chiến thuật, về thực hành những bước, những giai đoạn cụ thể Nhưng cả hai cuộc kháng chiến đều nhằm một mục đích chính trị tương tự là đánh đuổi ngoại xâm giữ vững độc lập, tự chủ; đều ở một vị trí xuất phát tương tự là ta ở thế yếu, địch ở thế mạnh và đều vận dụng một đường lối chiến lược tương tự là đánh lâu dài

Công trình Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam của

Phạm Hồng Sơn, tác giả nhấn mạnh rằng một quy luật phổ biến trong lịch

sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta là kẻ thù thường là những nước lớn, có quân đội đông, còn ta là một nước nhỏ, ít quân Chính vì vậy, lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều là một quy luật xuyên suốt trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta, là yêu cầu khách quan trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước

Tác giả Văn Tiến Dũng trong công trình Nghệ thuật quân sự Việt

Nam – Lý luận và thực tiễn chủ yếu xoay quanh mấy vấn đề nghệ thuật chỉ

đạo chiến tranh của Đảng, nguồn sức mạnh cơ bản, sự độc đáo và sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam… Những vấn đề đó rất thiết thực và bổ ích cho việc nghiên cứu khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

Thứ hai, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Trường Chinh đã

được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở những góc độ khác nhau

Trong đó, phải kể đến công trình viết dưới dạng hồi ký Trường Chinh, Một

nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam do tập

thể tác giả dưới trách nhiệm xuất bản của Trần Đình Nghiêm Các bài viết nói trên đã tập trung giới thiệu về thân thế sự nghiệp của Trường Chinh cùng với những đánh giá, cảm nghĩ về vị trí và vai trò của ông đối với cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa

Công trình Đồng chí Trường Chinh với báo chí, tác giả Nguyễn

Thành đã cố gắng hệ thống lại toàn bộ quá trình hoạt động báo chí của Trường Chinh từ những ngày đầu tiên đến trước khi qua đời Tác giả phân tích những đặc điểm tư tưởng phong cách, ngôn ngữ… làm nổi bật lên những nét riêng trong báo chí – một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp vinh quang của nhà lãnh đạo chính trị, nhà lý luận cách mạng Trường Chinh

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kiệt xuất của cách mạng

Việt Nam và phong trào cách mạng thê giới Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng Người luôn thực hiện một mục tiêu là giành độc lập, tự do dân tộc và giải phóng con người Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam cho đường lối hoạt động của cách mạng Việt Nam Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau Trong đó công

trình Hồ Chủ tịch và những vấn đề quân sự của cách mạng Việt Nam do

Trường Chinh viết nhân dịp chúc thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh 75 tuổi và mừng nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa 20 tuổi Tác giả nêu lên được một cách có hệ thống và khá đầy đủ những quan điểm cơ bản trong tư tưởng

Trang 11

quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong đó, tư tưởng bào trùm nhất là nhân tố con người – yếu tố quyết định thắng lợi của chiến tranh nhân dân

Tại cuộc mít tinh trọng thể kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Trường Chinh với lời văn chính luận chặt chẽ, đầy cảm xúc qua các bài diễn văn quan trọng đã khái quát quá trình hoạt động cách mạng soi nổi và phong phú của Người, làm cho chúng ta thấy rõ hơn công

lao trời biển và sự nghiệp vĩ đại của Người qua công trình Chủ tịch Hồ Chí

Minh sự nghiệp vĩ đại gương sáng ngời ngời

Như vậy, các công trình trên đã đề tiếp cận một cách tổng thể, đem lại một cái nhìn khái quát về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Các tác giả đã làm nổi bật nghệ thuật quân sự và những công lao to lớn của các thiên tài quân sự trong lịch sử đấu tranh của dân tộc

Nhìn chung cho đến nay, chưa có một công trình nào đề cập một cách có hệ thống nội dung tư tưởng biện chứng của Trường Chinh Trên cơ

sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đã đạt được từ những người đã đi trước, trong khuôn khổ luận văn này tác giả cố gắng trình bày một cách toàn diện hơn về sự hình thành, quá trình phát triển và những nội dung tư tưởng biện chứng của Trường Chinh trong tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi, từ đó rút ra những bài học lịch sử thiết thực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích

Mục đích của đề tài là thông qua tác phẩm Kháng chiến nhất định

thắng lợi của Trường Chinh, luận văn làm sáng tỏ tư duy biện chứng của

Trường Chinh, đồng thời luận văn chỉ ra giá trị khoa học của tác phẩm chính trị này

Trang 12

3.2 Nhiệm vụ

Trên cơ sở những đóng góp của Đồng chí Trường Chinh trên các vấn đề về đường lối, chiến lược và sách lược, về phương pháp và nghệ thuật chỉ đạo cách mạng trong suốt chiều dài lịch sử Từ đó rút ra một số quan điểm cơ bản vận dụng tư tưởng biện chứng của Trường Chinh vào công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:

- Thứ nhất, phân tích và trình bày cơ sở kinh tế - xã hội hình thành

và quá trình phát triển tư tưởng biện chứng của Trường Chinh trong tác

phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi

- Thứ hai, phân tích, đánh giá tư tưởng biện chứng của Trường

Chinh về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong tác

phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”

- Thứ ba, rút ra ý nghĩa và bài học lịch sử của tư tưởng biện chứng

của Trường Chinh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

3.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trong khuôn khổ của một luận văn cao học, người viết không có tham vọng giải quyết toàn bộ tư tưởng biện chứng của Trường chinh trong

suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng, mà chỉ tập trung làm rõ khía cạnh tư

duy biện chứng của Trường Chinh được thể hiện chủ yếu qua tác phẩm

Kháng chiến nhất định thắng lợi Tuy nhiên, để phục vụ cho việc nghiên

cứu đề tài được tốt hơn, người viết sẽ tìm hiểu thêm bối cảnh lịch sử - xã hội thời đại, các tác phẩm, bài báo do Trường Chinh viết cùng với những nhận xét đánh giá của người đương thời chứ không đi sâu phân tích

Trang 13

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tác giả viết dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật của triết học Mác – Lênin Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện để phục vụ cho việc nghiên cứu được tốt hơn, người viết còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh – đối chiếu, phương pháp lịch sử - logic

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về ý nghĩa khoa học, đề tài trình bày một cách hệ thống tư duy biện chứng của đồng chí Trường Chinh trong tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” Đồng thời giải thích và phát triển đường lối kháng chiến của Đảng góp phần chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân Việt Nam kiên quyết kháng chiến theo một đường lối thống nhất nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn

Về ý nghĩa thực tiễn, từ sự phân tích khái quát nội dung về tư duy biện chứng của đồng chí Trường Chinh trong tác phẩm sẽ góp phần làm sáng tỏ một số đặc điểm tư duy của người Việt Nam, những giá trị mà chúng ta cần kế thừa và phát huy Đồng thời, qua tác phẩm sẽ góp phần nâng cao nhận thức của toàn dân về công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

Kết quả của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy môn Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

và môn Triết học Mác- Lênin trong các trường Cao đẳng và Đại học ở nước

ta hiện nay

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu gồm 2 chương, 7 tiết và 8 tiểu tiết

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 CƠ SỞ KINH TẾ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA TRƯỜNG CHINH TRONG TÁC PHẨM “KHÁNG CHIẾN NHẤT ĐỊNH

và cũng như nhiều đế quốc khác muốn thoát khỏi tình trạng bi thảm của cuộc khủng hoảng, giới tư bản tài chính Pháp tìm cách trút hậu quả nặng nề của nó lên đầu nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa làm cho tình hình Đông Dương lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế

từ rất sớm và ngày càng trầm trọng

Nông nghiệp bị phá hoại nặng nề do giá nông sản bị sụt nhanh

chóng, hàng ngàn hécta đồng ruộng bị bỏ hoang, hàng trăm đồn điền bị thu hẹp diện tích hoặc ngưng hoạt động Từ năm 1930 - 1933 diện tích đất hoang hóa từ 200.000 ha - 500.000 ha Sản xuất gạo giảm từ 1.797.000 tấn năm 1928 xuống còn 959.000 tấn năm 1931

Sản xuất công nghiệp cũng bị đình đốn, nhất là ngành khai mỏ Hàng

loạt nhà máy xí nghiệp đóng cửa, thương mại xuất nhập khẩu đều bị sút giảm, trị giá xuất khẩu giảm từ 18.000.000 đồng Đông Dương (năm 1929)

Trang 15

chỉ còn 10.000.000 đồng Đông Dương (năm 1934), hàng vạn công nhân và lao động bị sa thải hoặc nghỉ việc

Để góp phần giải quyết khủng hoảng kinh tế ở chính quốc và giữ cho Đông Dương trong quỹ đạo thực dân, thực dân Pháp cho ngưng lại cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II theo quy mô lớn đang diễn ra, đồng thời chúng khẩn trương áp dụng những biệp pháp cấp thiết ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội

Trước hết là việc Pháp cho thắt chặt hàng rào thuế quan, chỉ ưu tiên

cho hàng hóa Pháp vào Đông Dương, kiên quyết giành độc quyền thương mại ở thị trường này Hàng hóa của Pháp vào Đông Dương từ chỗ chỉ chịu mức thuế thấp nhất (2,5%) đến việc miễn thuế hoàn toàn, trong khi hàng hóa các nước vào thị trường này chịu thuế ngày một cao, có thứ phải nộp thuế 100% giá trị hàng hóa

Việc tăng thuế cũng là một biện pháp sớm được chú ý Thuế thân ở Bắc kỳ và Trung kỳ tăng 20%, thuế môn bài tăng từ 3 - 8 lần Các biện pháp thu tài chính khác ở Đông Dương như mở công trái, lạc quyên, vay dài hạn… cũng được áp dụng, tất cả đã đem về cho ngân sách liên bang một nguồn thu lớn và tăng nhanh Chỉ tính năm 1930 có 17 khoản thu ngoài thuế đã đem về cho ngân sách 117.000.000 đồng Chính phủ Pháp còn quy định lại giá trị đồng bạc Đông Dương, tiến hành thu bạc cũ đổi bạc mới có lượng bạc kém hơn Chỉ tính khoản thu chênh lệch 7 gram/ đồng đã thu được 49.000.000 đồng

Đối với chủ tư bản người Pháp ở thuộc địa, chính quyền thực hiện

“trợ cấp tài chính” để giúp họ khỏi bị phá sản Một số nhà tư bản được hợp nhất lại cả vốn liếng vào quy mô kinh doanh, tạo ra sức cạnh tranh lớn hơn

để tồn tại và phát triển, nhất là trong các ngành trồng lúa, cao su, cà phê Trong quan hệ chủ - thợ, chính phủ thực dân cho ban hành một số quy chế

Trang 16

lao động mới như chế độ lao động đới với phụ nữ, trẻ em, trách nhiệm vi phạm luật lệ lao động, hoà giải tranh chấp về lao động…, nhìn chung là các

“qui chế” này chỉ nhằm bảo vệ cho giới chủ tư bản, góp phần xoa dịu bởi mâu thuẫn của giới lao động

chính sách hai mặt Một mặt là đẩy mạnh các biện pháp văn hóa giáo dục, tuyên truyền lôi kéo người bản xứ, tranh thủ các tầng lớp thượng lưu, tô vẽ cho cái gọi là “văn minh khai hóa”, đề cao tư tưởng chống cộng, coi chống cộng là một chủ thuyết trong các hoạt động chính trị - xã hội

Mặt khác chúng thi hành chính sách khủng bố trắng một cách tàn bạo ở cả thành thị và thôn quê Bạo lực của chính quyền thực dân đã gây ra nhiều tổn thất cho các lực lượng yêu nước, nhưng địch vẫn không tạo được

sự yên ổn về chính trị và trật tự xã hội, ngược lại nó chỉ làm ngột ngạt thêm không khí ở thuộc địa, làm âm ỉ thêm trong lòng xã hội những ngọn lửa đấu tranh quyết liệt mà thôi

Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội thuộc địa Việt Nam tiếp tục phân hóa, mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp tiếp tục tăng lên Giai cấp nông dân và giai cấp vô sản là hai bộ phận đông đảo nhất trong xã hội, cũng là hai đối tượng chủ yếu của chính sách bóc lột vơ vét của tư bản Pháp ở thuộc địa Họ lại có đời sống bị bần cùng hóa và hiện đang bị đe dọa trực tiếp bởi nạn chết đói, thất nghiệp không có cách nào chống đỡ Người Pháp lúc đó đã tận mắt nhìn thấy và loan báo “người ta có thể cầm chắc là nông dân sống ở cái mức cùng cực của đói kém và nghèo khổ”, còn công nhân thì những người chưa bị sa thải có đồng lương “không bao giờ vượt quá từ 2 - 2,5 france/ ngày (tức là 20 - 25 xu/ ngày) Trong các xưởng dệt ngày làm việc từ 7 giờ sáng đế 9 giờ tối, ở các đồn điền công nhân phải làm việc từ 15 - 16 giờ một ngày…” Do đó các tầng lớp lao

Trang 17

động như nông dân, thợ thủ công, vô sản, cùng những người làm nghề tự

do ở cả thành thị và thôn quê, đều mong muốn đấu tranh cải thiện đời sống

và chống lại xã hội thuộc địa

Đó cũng là lúc các thuộc địa nói chung, Đông Dương nói riêng, từ trong cùng cực của đời sống kinh tế, phải giải phóng khỏi ách thống trị của ngoại bang bằng chính sức mạnh của mình Đông Dương trong cuộc khủng hoảng kinh tế không còn bình yên như trước nửa, đã trở thành một Đông Dương sôi động trong sự phân hóa của xã hội thuộc địa Điều kiện vật chất

xã hội ấy là cơ sở cho sự phát triển các tư tưởng mới đang du nhập vào Việt Nam

Tư tưởng tư sản tiếp tục ăn sâu vào nhiều bộ phận xã hội nhưng kể từ sau thất bại của Việt Nam Quốc Dân Đảng, những bộ phận tích cực đi theo đường lối ấy bị thất bại và tan vỡ về tổ chức làm cho nhiều người mất phương hướng, một số đi theo đường lối cải lương thì được tán dương chủ thuyết Pháp - Việt đề huề, hoặc lao sâu vào con đường tiêu cực chống phá cách mạng giải phóng dân tộc Trong lúc đó tư tưởng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin dần dần chiếm ưu thế Sự xuất hiện Đảng Cộng Sản Việt Nam đầu năm 1930 khác hẳn sự ra đời của các tổ chức chính trị đương thời, đã thu hút sự chú ý của đông đảo các giai tầng xã hội

Ở Việt Nam từ năm 1930 trở đi, con đường Cách mạng vô sản đã dẫn dắt nhân dân ta đấu tranh bằng những cao trào rộng lớn Mở đầu cho những bước phát triển mới là sự bùng nổ cao trào chống đế quốc phong kiến những năm 1930 - 1931, đỉnh cao là sự xuất hiện và tồn tại của các Xô

- Viết ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 đã kịp thời đưa ra đường lối phù hợp nhất với nguyện vọng đấu tranh của xã hội lúc đó, vì vậy Đảng Cộng sản đã trở thành người lãnh đạo phong trào dân tộc

Trang 18

Ngày 1/5/1930 nhân kỷ niệm Quốc Tế Lao động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ động giành lấy việc phát động phong trào trên phạm vi toàn quốc với 2 lực lượng đông đảo nhất là vô sản và nông dân cờ đỏ búa liềm lần đầu tiên xuất hiện ở các thành phố lớn và nhiều vùng thôn quê Những cuộc mít - tinh, biểu tình, biểu dương lực lượng kỷ niệm ngày 1/5 được tổ chức thật rầm rộ Trong đó cuộc mít - tinh ở Vinh - Bến Thủy đã bị thực dân Pháp đàn áp dã man Quần chúng rất căm phẫn, được nhân dân các vùng xung quanh ủng hộ, họ tiếp tục đấu tranh chống khủng bố Phong trào của công nông từ Vinh - Bến Thủy lan nhanh sang các huyện, tổng của hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh Với sự hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân theo lời kêu gọi của Xứ ủy Trung kỳ Chỉ 3 tháng kể từ 1/5/1930

ở Nghệ An và Hà Tĩnh có 97 cuộc đấu tranh Đó là bước chuẩn bị trực tiếp đưa phong trào ở đây lên đỉnh cao

Từ cuối tháng 8/1930 những cuộc biểu tình với quy mô lớn ở các vùng nông thôn 2 tình Nghệ An và Hà Tĩnh đã lôi kéo hàng chục ngàn người kết thành một khối, mít - tinh biểu tình, biểu dương lực lượng Cuộc đấu tranh nọ kế tiếp cuộc đấu tranh kia nổ ra không dứt và chuyển sang bạo động Ngày 30/8/1930, hơn 3 ngàn nông dân huyện Nam Đàn biểu tình kéo đến huyện lỵ phá huyện đường Ngày 1/9/1930, gần 20.000 nông dân huyện Thanh Chương đấu tranh với khí giận ngút trời Ngày 7/9/1930 hơn

3000 nông dân huyện Can Lộc kéo vào huyện đường đốt sổ sách, giấy tờ,

sổ sách của chính quyền tay sai, phá nhà lao Ngày 12/9/1930, hơn 8.000 nông dân huyện Hưng Nguyên biểu tình và bị đàn áp dã man tại ga Yên Xuân nhưng quần chúng vẫn không nao núng, họ càng tập họp đông hơn và xông lên tấn công vào hệ thống chính quyền địch ở cơ sở Quần chúng nông dân các vùng nông thôn được công nhân các nhà máy, xí nghiệp ở Vinh, Bến Thủy ủng hộ, đã biểu dương sức mạnh đoàn kết, lòng căm thù, ý

Trang 19

chí quyết đấu đòi tự do cuộc sống Trong quá trình đó sự tàn bạo của kẻ thù càng làm cho nhân dân sôi sục

Trước khí thế “xông lên chọc trời” của quần chúng cách mạng, chính quyền thực dân phong kiến ở nhiều nơi của Nghệ An - Hà Tĩnh đã bị tan rã, hoặc tê liệt, bỏ chạy Trong tình hình đó các chi bộ Đảng và tổ chức Nông Hội Đỏ ở các thôn - xã đứng ra quản lý, điều hành mọi hoạt động trong địa phương thay thế vào vị trí các cơ sở chính quyền địch đã bỏ trống Dựa theo những hiểu biết sơ lược về chính quyền Xô Viết ở nước Nga qua các tài liệu và báo chí của Đảng, người ta gọi các tổ chức vừa dựng lên là Xã

Bộ Nông, Thôn Bộ Nông hoặc các Xô Viết

Mặc dù còn sơ khai nhưng các Xô Viết Nghệ Tĩnh đã có thực chất là một chính quyền cách mạng của công - nông do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua Đảng tiên phong của nó Việc đập tan bộ máy chính quyền

cũ, xây dựng bộ máy chính quyền mới, tổ chức một xã hội mới dân chủ tự

do thật sự cho nhân dân lao động, tích cực bảo vệ chính quyền vừa giành được…, đó là những nhiệm vụ lớn lao mà các Xô Viết đã bước đấu thực hiện, nhất là các Đảng bộ ở đây chưa sẵn sàng, các điều kiện chủ quan, khách quan

Xô Viết Nghệ Tĩnh đã thu hút sự chú ý quan tâm của nhiều lực lượng trong, ngoài nước lúc đó Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Đông Dương, cả nước dấy lên phong trào đấu tranh, ủng hộ Xô Viết, chống khủng bố trắng Nguyễn Ái Quốc và Quốc tế Cộng sản rất chú ý theo dõi

và góp ý kiến cho những người cộng sản Đông Dương để bảo vệ các Xô Viết ở Nghệ Tĩnh Ở các nước Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ đã có nhiều hoạt động báo chí và xã hội ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh

Đồn bót được dựng lên dày đặc, binh lính các nơi được điều động về, bắn giết bắt bớ giam cầm là những hoạt động đầu tiên của những công cụ

Trang 20

bạo lực mà chính quyền thực dân đối phó với phong trào quần chúng Trong thực tế lúc ấy địch chỉ cần dùng một biện pháp quân sự cũng thừa sức để đàn áp các Xô Viết ở Nghệ Tĩnh, nhưng chúng đã không từ một biện pháp nào kể cả các biện pháp kinh tế xã hội và lừa mị để đánh phá cách mạng

Tuy nhiên, đó không phải là sự thất bại của đường lối và phương pháp Cách mạng vô sản Xô Viết Nghệ Tĩnh và cả phong trào cách mạng

1930 - 1931 là minh chứng hùng hồn nhất cho truyền thống yêu nước, lòng dũng cảm kiên cường, sức sống mãnh liệt và sức sáng tạo phi thường của dân tộc Việt Nam Nó khẳng định trong thực tế: Đường lối cách mạng, uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng, của giai cấp vô sản Việt Nam Nó sáng tạo ra nhiều hình thức và phương pháp đấu tranh mới cho cách mạng; đồng thời nó để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho những người yêu nước và cách mạng đang đấu tranh cho nền tự do và độc lập của tổ quốc

Những năm sau khi các Xô Viết Nghệ Tĩnh bị dìm trong biển máu, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta gặp nhiều khó khăn do bị tổn thất nhiều cả về lực lượng, tổ chức, phương thức hoạt động cũng không còn thích hợp nữa Thực dân Pháp triệt để thi hành chính sách khủng bố trắng đối với tất cả những người yêu nước Toàn bộ các thành viên của Ban Chấp hành Trung ương do Trần Phú đứng đầu bị địch bắt

Hoạt động cách mạng của những người cộng sản được tiếp tục ở các nhà tù Các đồng chí của chúng ta ở trong tình cảnh trần trụi trước bầy sói

dữ và sự tra tấn dã man của những tên mật thám Trong thời gian bị giam, Trường Chinh được anh em giao cho tham gia cuộc đấu tranh chống lại quan điểm chính trị của những người dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi chống chủ nghĩa cộng sản bằng tờ bào bí mật viết tay, trình bày đường lối, mục đích cách mạng của Đảng ta, phê phán chủ trương, hành động của Quốc dân

Trang 21

Đảng, cho rằng chỉ có những người tri thức, những người có của mới làm được cách mạng, đưa đất nước ta vào con đường tư bản chủ nghĩa kiểu châu Âu Kết quả là trong 5 năm, các tổ chức Đảng ở nhà tù đã rèn luyện được hàng nghìn chiến sĩ cho cuộc chiến đấu mới Trong đó, Trường Chinh, khi mới vào tù còn là một đảng viên trẻ và khi ra tù, ông đã trở thành một nhà hoạt động cách mạng trưởng thành, một nhà chính trị, lý luận, nhà báo, nhà tổ chức có tài năng

Giai đoạn 1931 – 1935, địch có những cải cách dân chủ dù rất hạn chế, để củng cố nền thống trị của chúng ở Đông Dương Tháng 6/1931 Ủy ban điều tra Đông Dương được thành lập để xem xét lại toàn bộ chính sách cai trị của Pháp ở thuộc địa này Cuối năm 1931 Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp là Paul Reinaud trực tiếp sang Đông Dương xem xét tình hình quyết định chính sách Từ năm 1932 hàng loạt các cải cách lừa bịp của chúng được triển khai như: cải tổ giáo dục sơ học, cải tổ tư pháp bản xứ, đưa Bảo Đại về nước lập nội các Nam Triều mới, củng cố các Viện Dân biểu và Hội đồng Quản hạt, đưa Bùi Quang Chiêu vào Thượng Hội đồng Thuộc địa ở Pháp, nâng ngạch lương công chức Pháp cho công chức bản xứ, cho tư bản bản xứ tham gia đấu thầu và hưởng “quy chế lao động”, cấp học bổng cho người bản xứ, khuyến khích phát triển tôn giáo, xuất bản các sách báo lãng mạng, sách thần tiên, sách bói toán…

Bằng những biện pháp đó thực dân Pháp đã tranh thủ lôi kéo được một số người trong tầng lớp tiểu tư sản và tầng lớp thượng lưu; nhiều người

hy vọng vào cái gọi là: “cải cách” của chính quyền thực dân Nhưng đại đa

số là những người tranh thủ những điều kiện thuận lợi để thực hiện nguyện vọng học tập vươn lên của mình hoặc tranh thủ làm ăn kiếm sống và vẫn không quên thân phận một người dân mất nước

Trang 22

Trong hoàn cảnh có những thay đổi như vậy, xã hội thuộc địa xuất hiện những xu hướng mới trên các lĩnh vực văn hóa văn nghệ và tư tưởng Trào lưu Thơ Mới, văn học lãng mạng với Tự Lực Văn Đoàn, văn học hiện thực phê phán, đó là những dòng văn học ra đời và tồn tại song song những năm 1932 - 1935 Đó là những tiếng nói mới của các bộ phận dân cư trước hiện tình đất nước, là sự chán ghét chế độ thuộc địa với những cách thức khác nhau của đội ngũ trí thức tiểu tư sản Cuộc đấu tranh giữa Triết học duy vật và Triết học duy tâm, thông qua cuộc tranh luận tiêu biểu giữa Hải Triều và Phan Khôi những năm 1933 - 1934 lại là những xung đột về thế giới quan và nhân sinh quan trong xã hội Đầu năm 1935 trên báo chí công khai ở thuộc địa, quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh và quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật đã luận chiến với nhau Chính các cuộc đấu tranh giữa những xu hướng khác nhau trên những lĩnh vực văn hóa tư tưởng trên đây

đã góp phần đắc lực vào sự phân hóa xã hội về tư tưởng chính trị Một bộ phận khá đông những người tư sản, tiểu tư sản trí thức sau đó đã đứng về phái nhân dân lao động, đấu tranh cho quyền lợi dân tộc Việt Nam Đội ngũ những người yêu nước và cách mạng dưới ngọn cờ cách mạng vô sản ngày một đông

Trong lúc đó, những bộ phận cơ sở Đảng còn lại cũng kiên trì đấu tranh bảo vệ và xây dựng củng cố lực lượng, gây dựng tổ chức, phát triển phong trào của mình Các xứ ủy lâm thời sau nhiều nỗ lực đã được gây dựng lại ở Bắc kỳ (1932), ở Nam kỳ (1933), ở Trung kỳ (1934), các cơ sở Đảng Cộng sản Đông Dương cũng được xây dựng ở Campuchia và Lào năm 1934

Tháng 3/1935, được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, những người cộng sản Đông Dương đã tiến hành cuộc Đại hội Đảng ở Ma Cao, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 13 thành viên do đồng chí Hà Huy

Trang 23

Tập làm Tổng Bí thư Nghị quyết chính trị của Đại hội Đại biểu lần thứ nhất ngày 27 - 31/3/1935 của Đảng Cộng sản Đông Dương yêu cầu cần phải thâu phục quảng đại quần chúng, đó là một nhiệm vụ trung tâm, căn bản, cần kíp của Đảng Như vậy về cơ bản, Đảng Cộng sản Đông Dương đã được phục hồi về tổ chức

Trước đó, từ năm 1932 cùng với nhu cầu dân chủ ngày càng tăng lên trong xã hội, các hội quần chúng công khai ra đời như hội Tương Tế, hội Cấy, hội Gặt, hội Thể Thao; các nghiệp đoàn cũng hình thành Đấu tranh công khai, hợp pháp đòi dân sinh, dân chủ trong các tầng lớp nhân dân từ

đó cũng dần dần phát triển Khi hệ thống Đảng Cộng sản Đông Dương được phục hồi thì phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng công nông cũng được dấy lên mạnh mẽ dưới những hình thức ôn hòa như mít - tinh, biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi thị Đến năm 1935, bằng sự phục hồi của Đảng Cộng sản Đông Dương và các lực lượng yêu nước, phong trào dân tộc lại sẵn sàng bước vào một thời kỳ đấu tranh mới

Có thể nói những năm đầu tiên trên con đường Cách mạng vô sản, phong trào dân tộc sau hơn nửa thế kỷ tồn tại, phát triển đã có những yếu tố căn bản được kiểm nghiệm trong thực tế để khẳng định có thể đảm bảo đưa phong trào đến thắng lợi cuối cùng

Tuy nhiên, lúc đó tình hình thế giới và trong nước đã có nhiều thay đổi đòi hỏi Đảng phải kịp thời đề ra phương hướng hoạt động thích hợp Nhưng Đại hội lại chưa tổng kết được kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng trong năm năm qua, kể từ khi Đảng thành lập, nhất là trong thời kỳ đấu tranh khôi phục và phát triển phong trào cách mạng

Thiếu sót của Đại hội là thiếu nhạy bén với tình hình mới, không thấy rõ nguy cơ chủ nghĩa phát xít trên thế giới và khả năng mới để đấu

Trang 24

tranh chống phát xít, chống bọn phản động thuộc địa, đòi tự do, cơm áo, hoà bình

Trên cơ sở nhận thực đó, Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản họp tại Matxcơva tháng 7/1935, chủ trương thành lập Mặt Trận Nhân Dân rộng rãi trên toàn thế giới để chống chủ nghĩa phát xít, chống nguy cơ chiến tranh

Ở trong nước, tuy cuộc khủng hoảng kinh tế có dịu đi nhưng kinh tế Đông Dương vẫn trong tình trạng lay lắt Nền sản xuất phục hồi một cách chậm chạp ở một số ngành như khai thác than và quặng Sản xuất nông nghiệp không nhích được bao nhiêu Ngân hàng Đông Dương vẫn tiếp tục đóng vai trò chúa tể, trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển các công ty tư bản lớn thuộc những lĩnh vực kinh tế chủ đạo

Để bù đắp những thiệt hại do khủng hoảng kinh tế gây nên, chính quyền thuộc địa mượn tiếng cải cách thuế khóa đã tăng thuế thân ở Bắc kỳ, Trung kỳ, đặt thêm thuế lợi tức ở Nam kỳ và thuế cư trú ở các thành phố Đời sống của các tầng lớp nhân dân vẫn rất khó khăn Lương công nhân thời kỳ này thấp hơn nhiều so với thời kỳ trước khủng hoảng Ở nông thôn cuộc sống vẫn tối tăm Số vô sản ở nông thôn ngày càng đông và hầu như không có lối thoát Ở thành thị, dân cư đông đúc lên và sống nghẹt thở bởi thuế khóa nặng nề

Nhìn chung, do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế và sự đục khoét tàn bạo của chính quyền thực dân, các tầng lớp nhân dân, kể cả tư sản dân tộc, đều cảm thấy ngột ngạt và mong có sự thay đổi trong đời sống kinh tế- xã hội

Trước tình hình thế giới và đất nước có nhiều biến đổi, tháng 7 -

1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Lê Hồng Phong, ủy viên Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản chủ trì, đã họp tại Hương Cảng

Trang 25

(Trung Quốc) để định ra đường lối và phương pháp đấu tranh mới đưa phong trào cách mạng nước ta tiếp tục phát triển Hội nghị đã xác định mục tiêu chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm

áo và hòa bình

Để tập hợp rộng rãi quần chúng nhân dân nhằm thực hiện được mục tiêu đó, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (từ tháng 3-1938 được đổi thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương) Hội nghị Trung ương tháng 7 - 1936 là sự vận dụng sáng tạo Nghị quyết của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước ta, kết hợp nhiều hình thức đấu tranh phong phú, lan ra thành một phong trào cách mạng rầm rộ, sâu rộng trên quy mô toàn quốc

Mở đầu là phong trào Đại hội Đông Dương Biết được Quốc hội Pháp sẽ cử các phái đoàn sang điều tra tình hình Đông Dương, Đảng chủ trương phát động một phong trào rộng lớn trong quần chúng nhân dân đấu tranh công khai, hợp pháp nêu lên nguyện vọng về tự do, dân chủ và cải thiện đời sống Phong trào Đông Dương Đại hội, từ một sáng kiến ở Sài Gòn đã được nhân rộng khắp toàn quốc Ở Nam kỳ đến cuối tháng 9-1936

đã thành lập hơn 600 uỷ ban hành động của công nhân, nông dân, viên chức Nhiều ủy ban hành động có trụ sở, tổ chức sinh hoạt chính trị công khai, vạch trần hiện trạng bất công, cực khổ dưới chế độ thuộc địa tàn bạo, thảo luận các biện pháp đấu tranh thích hợp nhằm đạt được các yêu sách về

tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình

Tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân đã buộc nhà chính quyền Đông Dương ra Nghị định ngày 11-10-1936, quy định một số quyền lợi của công nhân như thời gian làm việc không được quá 8 giờ/ngày kể từ

Trang 26

ngày 1-1-1938 ; công nhân được nghỉ chủ nhật và nghỉ phép năm có lương; cấm bắt phụ nữ và lực cai làm việc ban đêm

Nhân dân lao động dựa vào những cơ sở pháp lý đó đấu tranh với giới chủ tư bản và chính quyền thuộc địa nhằm từng bước cải thiện điều kiện lao động và sinh hoạt của mình Những tháng cuối năm 1936 đã có

361 cuộc bãi công, trong đó có một số cuộc bãi công có quy mô lớn và có tiếng vang trên cả nước như cuộc bãi công của hàng ngàn công nhân mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng), đặc biệt là cuộc bãi công của 30.000 công nhân

mỏ than Hồng Gai - Cẩm Phả tháng 11 - 1936

Kết quả của sự phối hợp đấu tranh giữa Mặt trận nhân dân Pháp và nhân dân là đã buộc chính quyền thuộc địa phải trả lại tự do cho 1.532 tù chính trị, phần lớn là các chiến sĩ cộng sản Ngay sau khi ra khỏi nhà tù thực dân, họ đã lao ngay vào cuộc chiến đấu mới, tổ chức quần chúng xây dựng lại cơ sở, đưa phong trào cách mạng tiến lên

Để phong trào tiến lên mạnh mẽ hơn nữa, các cuộc Hội nghị Trung ương Đảng tháng 3 và tháng 9-1937 tập trung giải quyết những vấn đề về

tổ chức Đảng chủ trương sử dụng nhiều hình thức tổ chức mới một cách khôn khéo, bình hoạt, tận dụng khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp để tập hợp lực lượng rộng rãi hơn, mở rộng phong trào hơn nữa Nhiều quyết định

về tổ chức đã được thực hiện: lập Đoàn thanh niên phản đế, Hội cứu tế bình dân, Công hội, Nông hội Ở nông thôn, các hình thức tổ chức như Hội cấy, Hội lợp nhà, Hội chèo được phát triển rộng khắp, tập hợp hàng triệu quần chúng vì những mục tiêu cụ thể, thiết thực

Trong hai năm 1937-1938, Mặt trận Dân chủ Đông Dương đã công

bố chương trình hành động tối thiểu và danh sách ứng cử viên của mình vào các Viện dân biểu Trung kỳ, Bắc kỳ, Hội đồng thành phố Hà Nội, Đại hội đồng kinh tế tài chính Đông Dương Với chính sách liên hiệp rộng rãi,

Trang 27

chương trình hành động phản ánh nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, Mặt trận Dân chủ Đông Dương đã giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử Viện Dân biểu Bắc kỳ và Viện Dân biểu Trung kỳ năm 1938

Phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương đạt tới đỉnh điểm với lễ

kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5-1938 Lần đầu tiên Ở Đông Dương, ngày Quốc tế Lao động được tổ chức kỷ niệm công khai, rầm rộ Tại Hà Nội, lễ kỷ niệm ngày 1-5 được chuẩn bị chu đáo và tổ chức tại khu Đấu Xảo với sự tham gia của 25.000 người đại diện cho các đoàn thể, các giới, các nhóm chính trị

Những năm 1936-1939 là thời kỳ có nhiều nét mới trong đời sống văn hóa tư tưởng của đất nước Ở thời kỳ này, Đảng Cộng sản Đông Dương

đã triệt để sử dụng báo chí công khai làm công cụ tuyên truyền hết sức sắc bén Cùng với sự nở rộ của báo chí cách mạng công khai, các nhà xuất bản của Đảng ta và Đảng Cộng sản Pháp đã in và phát hành nhiều tập sách về chủ nghĩa Mác, về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, những tập sách giới thiệu về Liên Xô, về cách mạng Trung Quốc, Mặt trận nhân dân Pháp, Mặt trận nhân dân Tây Ban Nha Trên văn đàn, nếu như thời kỳ trước năm

1935, văn học lãng mạn chiếm ưu thế thì thời kỳ này nhường chỗ cho văn

học hiện thực phê phán Các tác phẩm Tắt đèn,Việc làng của Ngô Tất Tố,

Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Số đỏ

của Vũ Trọng Phụng, Lầm than của Lan Khai tuy còn những hạn chế

nhất định, nhưng đã phản ánh sinh động một hiện thực đau khổ, lầm than của xã hội Việt Nam dưới ách thực dân-phong kiến

Kinh nghiệm quý báu nhất của thời kỳ 1936-1939 một thời kỳ có một không hai ở thuộc địa là biết triệt để lợi dụng mọi khả năng hợp pháp

để tập hợp lực lượng, tổ chức đội quân chính trị hùng hậu trong Mặt trận Dân chủ Đông Dương, kết hợp khéo léo, chặt chẽ hoạt động hợp pháp, nửa

Trang 28

hợp pháp, với hoạt động bí mật và không hợp pháp để từng bước đưa phong trào tiến lên Vì vậy, nếu như cao trào cách mạng 1930-1931 là cuộc tổng diễn tập đầu tiên thì cao trào cách mạng 1936-1939 là cuộc tổng diễn tập thứ hai cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám sau này

Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ và mở ra khắp thế giới, kết thúc thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936 – 1939) ở nước ta Căn cứ vào tình hình trên, Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (tháng 11-1939) của Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định nhiệm vụ trung tâm trước mắt của cách mạng là đánh đổ đế quốc phát xít Nhật - Pháp và bọn tay sai, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và cấp bách nhất, các nhiệm vụ khác (kể cả nhiệm vụ giành ruộng đất) đều phải nhằm giải quyết nhiệm vụ đó: tạm gác khẩu hiệu

"Cách mạng ruộng đất" và thay bằng các khẩu hiệu "Chống địa tô cao",

"Chống cho vay nặng lãi", tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ tay sai chia cho dân cày nghèo

Hội nghị lần thứ sáu của Đảng chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, các giai cấp, các dân tộc, và các cá nhân yêu nước tiến hành đấu tranh, thực hiện những nhiệm vụ cấp bách của cách mạng

Ngày 22-9-1940, Nhật cho quân tiến công Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng, đổ bộ vào Đồ Sơn Pháp nhanh chóng đầu hàng Nhật ở Lạng Sơn Sau đó Nhật lấn dần Pháp, buộc Pháp ký hết hiệp định này đến hiệp định khác, nhằm biến Đông Dương thành thuộc địa và căn cứ chiến tranh của chúng

Nhật bắt Pháp phải cung cấp nhiều nguyên liệu, lương thực, thực phẩm, tiền bạc, các vật dụng khác Đáp lại yêu cầu của Nhật và cũng để

Trang 29

đầy túi tham của mình, thực dân Pháp dùng nhiều thủ đoạn bóc lột nhân dân ta Pháp tăng thuế, và thủ đoạn buộc nông dân nhổ lúa để trồng đay, bông, thầu dầu, thuốc phiện nộp cho Nhật, cưỡng bức người sản xuất bán lương thực, thực phẩm với giá rẻ, một phần để tích trữ chuẩn bị chiến tranh, một phần để cung cấp cho Nhật

Trong khi nhân dân ta, nhất là nông dân, thiếu ăn thì chúng dùng gạo

để nấu rượu cồn thay xăng, đốt thóc thay than chạy máy điện ở miền Nam Chúng còn cho mở các sòng bạc công khai ở Lạng Sơn, Móng Cái, Hà Giang, Chợ Lớn vừa để vơ vét tiền của, vừa để làm trụy lạc nhân dân ta

Chính sách bóc lột kinh tế, áp bức chính trị của Pháp - Nhật đã gây hậu quả tai hại đến nền kinh tế đất nước, đến mọi mặt của đời sống nhân dân, trực tiếp làm hai triệu đồng bào ta ở miền Bắc chết đói và hàng triệu đồng bào khác trong cả nước sống dở, chết dở

Công nhân và nông dân là hai giai cấp chịu hậu quả nặng nề nhất của chính sách phát xít Giai cấp công nhân bị bóc lột nặng nề, đồng lương thực tế giảm sút, giờ làm việc tăng lên (từ 10 đến 12 giờ trong ngày) Họ sống điêu đứng vì hàng hoá trên thị trường khan hiếm, giá sinh hoạt đắt đỏ Ngày càng có nhiều công nhân bị sai thải, thất nghiệp Giai cấp nông dân cũng bị bóc lột nặng nề Họ là nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất, chính sách tô cao thuế nặng

Tầng lớp tiểu tư sản chịu tác động không nhỏ, bị ảnh hưởng trực tiếp, hoặc gián tiếp của những chính sách thực dân phản động Nhiều học sinh, sinh viên thất học, nhiều trí thức, viên chức mất việc làm, đồng lương thực

tế giảm sút Nhiều tiểu thương sa vào cảnh hàng hoá ế ẩm, nhiều tiểu chủ sản xuất ngừng trệ

Giai cấp tư sản dân tộc cũng bị chính sách "kinh tế chỉ huy" thời chiến của Pháp và chính sách tăng cường đầu tư của các công ty tư bản

Trang 30

Nhật làm cho phá sản, bị thiệt hại do tư bản Pháp - Nhật cạnh tranh, do sức mua của nhân dân giảm sút Bộ phận địa chủ vừa và nhỏ bị thiệt hại do các chính sách cướp đất, tăng thuế, mua ngũ cốc với giá rẻ

Như vậy, mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội Việt Nam, chỉ trừ bọn tay sai đế quốc, địa chủ lớn, tư sản mại bản, đều bị ảnh hưởng của chính sách thực dân phản động và của chiến tranh đế quốc, do đó ít nhiều đều có thái độ chống phát xít Pháp-Nhật, có cảm tình với cách mạng, tham gia vào cuộc đấu tranh chống chính quyền đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc

Tinh thần đấu tranh cách mạng của quần chúng đã làm bùng nổ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, mở đầu bằng cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ và binh biến Đô Lương

Các cuộc khởi nghĩa và binh biến nói trên nổ ra vào lúc kẻ thù còn mạnh, lực lượng cách mạng chưa được tổ chức và chuẩn bị kỹ lưỡng nên đều thất bại Tuy vậy, các sự kiện oanh liệt đó đã gây ảnh hưởng rộng lớn trong toàn quốc, nêu cao tinh thần anh hùng bất khuất của nhân dân ta, giáng đòn chí tử vào thực dân Pháp, cảnh cáo nghiêm khắc phát xít Nhật vừa mới đặt chân vào nước ta Đó là những tiếng súng báo hiệu của cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương

Cũng trong thời gian này, bộ máy thống trị ở Đông Dương chuyển sang chủ nghĩa phát xít, ra sức đàn áp các cơ sở Đảng, các đồng chí lãnh đạo của Đảng bị bắt, bị tàn sát Trong tình hình đó, Trường Chinh được cử làm Quyền Tổng Bí thư và triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ bảy họp

từ ngày 6 đến ngày 9-11-1940 bàn về chuyển hướng nhiệm vụ chiến lược của Đảng

Tháng 2-1941, sau khi Bác Hồ về nước Dưới sự chỉ đạo của Người, Trường Chinh đã trình bày những vấn đề cơ bản về chuyển hướng chỉ đạo

Trang 31

chiến lược cách mạng trước Hội nghị Trung ương lần thứ tám được triệu tập vào tháng 5-1941 do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị này có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, mở đầu giai đoạn cách mạng mới của Đảng và dân tộc ta, và cũng tại Hội nghị này, Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng

Theo sáng kiến của Người, Hội nghị Trung ương lần thứ tám quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất lấy tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh Từ đây, nhân dân cả nước ở mọi địa bàn hoạt động được thức tình và lôi cuốn vào các tổ chức cách mạng, chuẩn bị lực lượng cho phong trào cách mạng Đây là bước đi mới trong hoạt động của Đảng, của những người cộng sản, những người cách mạng

Trong những năm tháng sôi động này của đất nước, nhất là từ tháng 8-1942, khi Người đi Trung Quốc và bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam 14 tháng, nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng tập trung vào Tổng Bí thư Trường Chinh, đòi hỏi xử lý kịp thời, đúng đắn những vấn đề mới về chính trị, quân sự, tư tưởng và tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương tám, đưa cách mạng cả nước tiến lên cao trào

Nét nổi bật trong hoạt động của Trường Chinh ở thời điểm này là nắm bắt tin tức, viết những bài báo kịp thời vừa để chỉ đạo phong trào, vừa uốn nắn những lệch lạc trong hoạt động thực tiễn Lúc này, cơ quan ngôn luận của Trung ương, báo Cờ Giải phóng ra đời in bằng đá với bút danh Trường Chinh

Trong bài “Cái nhọt bọc sẽ phải vỡ mủ” đăng trên báo Cờ Giải

Phóng, Trường Chinh đã dự đoán trước mâu thuẫn Nhật – Pháp sẽ bùng nổ

thành xung đột Bản chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của

chúng ta” do đồng chí khởi thảo là kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng

Trang 32

và Mặt trận Việt Minh trong việc phát động cao trào kháng Nhật cứu nước, tạo ra tình thế tiền khởi nghĩa, làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự chỉ đạo của Trường Chinh, một khẩu hiệu hết sức đúng đắn, giải quyết trúng mâu thuẫn gay gắt trong đời sống xã hội lúc đó “Phá kho thóc cứu nạn đói” đã dấy lên một cao trào cách mạng mạnh mẽ, sôi nổi như một ngày hội của quần chúng

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là sự kết hợp diệu kỳ nghệ thuật chớp thời cơ, tập hợp lực lượng, phân hóa kẻ thù của lãnh tụ Hồ Chí Minh với những chủ trương, chỉ thị đúng đắn, kịp thời của Tổng Bí thư Trường Chinh và Ban Thường vụ trung ương Đảng

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời không được bao lâu thì thực dân Pháp đã quay lại xâm lược nước ta Trong 16 tháng kể từ khi chế

độ mới thành lập cho đến ngày toàn quốc kháng chiến, những khó khăn phức tạp về kinh tế xã hội cùng với nạn thù trong giặc ngoài ập đến, gây áp lực lớn đối với nền dân chủ cộng hòa còn trứng nước Vận mệnh của dân tộc đang đứng trước thử thách nghiêm trọng khác nào “ngàn cân treo sợi tóc” Sự lựa chọn chỉ có thể là hoặc tiếp tục con đường cách mạng hoặc đầu hàng Tuy lúc ấy không ai chọn con đường thứ hai, nhưng phải tiếp tục con đường cách mạng như thế nào để đưa con thuyền Cách mạng Việt Nam ra khỏi thác ghềnh?

Ngày 18 và 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp hội nghị mở rộng dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra đường

lối cơ bản của cuộc kháng chiến Đường lối đó được ghi trong Chỉ thị Toàn

dân kháng chiến của Ban Chấp hành Trung ường và sau đó được đồng chí

Trường Chinh giải thích và phát triển đầy đủ trong cuốn sách Kháng chiến

nhất định thắng lợi Những văn kiện đó là cương lĩnh của Đảng ta và dân

Trang 33

tộc ta trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Đặc biệt những quan điểm về cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ là nền tảng xây dựng lý luận về chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta

Tóm lại, những tiền đề kinh tế - xã hội trong thời kỳ trước và sau cách mạng tháng Tám đóng vai trò rất quan trọng đối với sự ra đời của tác

phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh Chính

thời đại đó đã sản sinh ra người anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Trường Chinh với những phẩm chất, năng lực thiên tài và tư duy nhạy bén để giải quyết những vấn đề do lịch sử đặt ra Bên cạnh những điều kiện khách quan, còn phải kể đến nhân tố chủ quan làm cho tư tưởng của ông vừa mang dấu ấn của thời đại, vừa mang những nét riêng độc đáo và sâu sắc

1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA TRƯỜNG CHINH

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Trường Chinh

Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu (sinh ngày 9-2-1907, mất ngày 30-9-1988) ở làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, một làng nổi tiếng từ lâu ở nước ta về văn hóa, có nhiều danh nhân văn hóa, nhà yêu nước và cách mạng

Đồng chí sinh trưởng ở một vùng quê văn hiến và trong một gia đình

có truyền thống khoa bảng, yêu nước Cha đồng chí là Đặng Xuân Viện là một nhà khảo cứu giỏi trên nhiều lĩnh vực và nổi tiếng về viết sách Mẹ là Nguyễn Thị Từ - một người mẹ hiền, mẫu mực, hết lòng phụng dưỡng chồng, con

Điều đặc biệt ảnh hưởng sâu sắc đến các con trong gia đình trong đó

có Đặng Xuân Khu là cả ông bà, cha mẹ đều căm ghét thực dân Pháp xâm

Trang 34

lược và bọn tham quan, hà hiếp dân lành Ông Đặng Xuân Viện luôn giáo dục các con sống bao dung, nhân ái, thương yêu người dân lao động

Thời thơ ấu của Đặng Xuân Khu gắn liền với vùng đất dấy nghiệp của các vua Trần với hào khí “Đông A” đã ba lần đánh thắng giặc Nguyên Mông xâm lược làm rạng rỡ non sông và ngay trên quê hương Hành Thiện, Xuân Trường – nơi có nhiều nhà yêu nước đã từng tham gia vào các phong trào Văn Thân, Đông Du, khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám như Đặng Ngọc Đỉnh, Đặng Tử Kính, Đặng Ngọc Liên… Chính truyền thống yêu nước của quê hương, gia đình có ảnh hưởng quyết định tới sự hình thành tư chất, đạo đức cách mạng của Đặng Xuân Khu và đó cũng chính là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tình cảm, trí tuệ cách mạng của đồng chí Trường Chinh sau này

Qua rèn luyện uốn nắn các con, cha của Đặng Xuân Khu phát hiện ông là người có “chí” và có “trí”, cụ đã gửi ông lên học tại trường Thành Chung - Nam Định

Là một học trò thông minh, có chí hướng và tấm lòng nhân hậu, năm đầu Đặng Xuân Khu miệt mài học tập Song hình ảnh những người tá điền

ở quê hương sống cơ cực cùng với những gì mắt thấy, tai nghe về cuộc sống đói rách, tủi nhục, bị áp bức bóc lột dã man của công nhân nhà máy sợi Thành Nam khiến Đặng Xuân Khu lúc nào cũng trăn trở, xót xa kiếp sống của người dân xứ mình

Năm 1925, khi anh đang học năm thứ hai trường Thành Chung thì cả nước dấy lên phong trào đấu tranh mạnh mẽ đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu Vốn biết tiếng và ngưỡng mộ cụ từ lâu, cùng với việc làm đơn, lấy chữ ký gửi toàn quyền Varen, Đặng Xuân Khu đã bàn bạc với hai người bạn nữ làm truyền đơn với nội dung tố cáo chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp và đòi phải thả nhà yêu nước Phan Bội Châu In xong tài

Trang 35

liệu, anh Khu cùng các bạn bí mật đi bỏ truyền đơn vào khe cửa từng nhà

và rải khắp trên các đường phố Việc làm này đã góp phần cùng đồng bào

cả nước chặn đứng bàn tay đao phủ của thực dân Pháp đối với cụ Phan Bội Châu

Sau sự kiện ấy, bên cạnh việc học tập, Đặng Xuân Khu luôn đau đáu trong lòng nỗi niềm: dân – nước Tháng 3-1926, khi dư âm của cuộc đấu tranh đòi ân xá đối với cụ Phân Bội Châu vẫn đang gây xúc động lớn trong tâm trí Đặng Xuân Khu và các tầng lớp nhân dân Nam Định, đặc biệt là với giới học sinh trẻ thì tin cụ Phan Chu Trinh, sau hơn 10 năm bị thực dân Pháp lưu đày đã qua đời ở Sài Gòn lan ra cả nước Với lòng kính phục và tiếc thương vô hạn đối với nhà chí sĩ yêu nước, Đặng Xuân Khu cùng với một số học sinh có tư tưởng tiên tiến ở trường Thành Chung như Nguyễn Đức Cảnh, Phạm Khắc Lương vận động học sinh tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Sau lễ truy điệu, một loạt học sinh bị nhà cầm quyền đuổi học hẳn hoặc đuổi học có thời hạn, trong đó Đặng Xuân Khu bị coi là người cầm đầu nên bị đuổi học hẳn cùng 54 học sinh khác

Năm 1927, Đặng Xuân Khu lên Hà Nội, theo học trường Cao đẳng thương mại Đông Dương và tiếp tục hoạt động Cũng trong thời gian đó, Đặng Xuân Khu được kết nạp vào tổ chức Việt Nam cách mạng thanh niên – một tổ chức tiền thân của Đảng

Những năm tháng học tập và hoạt động của người thanh niên học sinh yêu nước Đặng Xuân Khu tuy không dài nhưng đó là những tháng ngày hoạt động hết sức sôi nổi, có một ý nghĩa không nhỏ đối với phong trào cách mạng địa phương và có ý nghĩa quyết định đối với cuộc đời cách mạng của đồng chí sau này

Năm 1929, đồng chí tham gia cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương ở Bắc kỳ Đến năm 1930, đồng chí được chỉ định vào Ban

Trang 36

Tuyên truyền cổ động Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương Cuối năm đó, đồng chí bị đế quốc bắt và kết án 12 năm tù cấm cố, đày đi Sơn

La

Cuối năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận Nhân dân Pháp và do phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam đòi quyền tự do dân chủ và thả chính trị phạm, đồng chí được trả lại tự do Từ cuối năm 1936 đến năm

1939, đồng chí hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp, là ủy viên Xứ ủy Bắc

kỳ và đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương trong ủy ban Mặt trận Dân chủ Bắc kỳ Lúc này, chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, đồng chí liền chuyển vào hoạt động bí mật

Năm 1940, đồng chí là chủ bút báo Giải Phóng, cơ quan của Xứ ủy

Bắc kỳ Tại Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Năm 1941, tại Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng, đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương, Trưởng ban Tuyên

huấn kiêm chủ bút báo Cờ Giải phóng và Tạp chí Cộng sản, cơ quan Trung

ương của Đảng, Trưởng ban Công vận Trung ương

Đến năm 1943, đồng chí bị tòa án binh của thực dân Pháp ở Hà Nội kết án tử hình vắng mặt sau đó, đến ngày 9-3-1945, đồng chí chủ trì Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng ra Chỉ thị về “Nhật, Pháp bắn nhau

và hành động của chúng ta” và chủ trương tổng khởi nghĩa

Năm 1951, tại Đại hội lần thứ II của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (ở Đại hội này, Đảng Cộng sản Đông Dương được đổi tên là Đảng Lao động Việt Nam) đến tháng 10-1956

Năm 1958, đồng chí làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm

ủy ban Khoa học Nhà nước

Trang 37

Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương và ủy viên Bộ Chính trị, phụ trách công tác Quốc hội và công tác tư tưởng của Đảng

Năm 1976, tại Đại hội lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ở Đại hội này, Đảng Lao động Việt Nam được đổi tên là Đảng Cộng sản Việt Nam) Đồng chí là ủy viên Bộ Chính trị, phụ trách Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương và Trưởng ban Lý luận của Trung ương

Năm 1976, đồng chí được bầu làm Chủ tịch Ủy ban dự thảo Hiến pháp của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đồng chí là đại biểu Quốc hội khóa II (1960-1964), khóa III (1964-1971), khóa IV (1971-1975), khóa V (1975-1976), khóa VI (1976-1981), khóa VII (1981-1987) Từ khóa II đến khóa VI, đồng chí làm Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Năm 1981, đồng chí được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Năm 1982, tại Đại hội lần thứ V của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và là ủy viên Bộ Chính trị

Tháng 7-1986, tại Hội nghị đặc biệt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng

Tháng 12-1986, tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí được cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Trưởng ban soạn thảo Cương lĩnh và Chiến lược kinh tế kiêm Trưởng Tiểu ban soạn thảo Cương lĩnh của Đảng

Trang 38

Do những cống hiến to lớn của đồng chí với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đối với

sự nghiệp tăng cường đoàn kết quốc tế, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước ta tặng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao nhất của Nhà nước

ta và nhiều huân chương khác

Có thể khẳng định rằng, đồng chí Trường Chinh là một trong những nhà lý luận chiến lược của cách mạng Việt Nam Đồng chí đã để lại nhiều

tác phẩm lý luận có giá trị Chống chủ nghĩa cải lương (1935); Vấn đề dân

cày (viết chung với đồng chí Võ Nguyên Giáp năm 1937-1938); Chính sách mới của Đảng (1941); Kháng chiến nhất định thắng lợi (1947); Bàn

về cách mạng Việt Nam (1965); Nắm vững ba bài học lớn để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược (1986)…

Thông qua những tác phẩm đó, Trường Chinh đã làm rõ lý luận về hai vấn đề lớn Một là, lý luận về phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam để góp phần định ra đường lối chiến lược và sách lược của Đảng Hai là, lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa Đó là những đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận cách mạng Việt Nam

1.2.2 Các giai đoạn hình thành tư tưởng biện chứng của Trường Chinh

Trường Chinh ra đời trong không khí hiếu học, thanh bần và lễ nghĩa Lớn lên trong lúc những thế hệ cha anh trong làng, trong họ đã kế tiếp nhau đứng dậy cứu nước qua các phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục…

Nho giáo là đạo lý, là nếp sống từ nhiều đời của gia đình, nhưng Trường Chinh đã nhận rõ sự bất lực của Nho giáo và không thể chấp nhận

Trang 39

hệ tư tưởng chính thống ấy của chế độ phóng kiến mà ông thường xuyên phê phán và kiên quyết đánh đổ Ông lên án nội dung cơ bản của Nho giáo nhưng ông không đổ chậu nước tắm và đổ luôn cả đứa trẻ con Ông giữ lại nhân tố hợp lý của Nho giáo như tinh thần hiếu học, trọng nghĩa khinh tài, cuộc sống thanh đạm và liêm khiết, coi đó là công cụ đã được Việt Nam hóa để chuyển tải và duy trì những truyền thống của chính bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam

Nhưng tinh thần yêu nước và niềm khao khát hiểu biết của ông sẽ là

vô ích nếu như ông đã không đủ nhạy bén để nắm bắt được điều kỳ diệu đã đến với cách mạng Việt Nam, đó là sự gặp gỡ giữa phong trào yêu nước với chủ nghĩa Mác-Lênin Tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, ông đã đi hẳn theo Đường cách mệnh của Nguyễn Ái Quốc Từ bước ngoặt lớn nhất này trong cuộc đời của ông, chủ nghĩa Mác-Lênin luôn luôn là ánh sáng soi đường cho ông trong mọi suy nghĩ và hành động Ông trở thành người cộng sản sắc sảo và kiên cường ở cả mặt chính trị và văn hóa, cùng với chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chỉ đạo mọi thắng lợi của nhân dân ta

Có thể khẳng định rằng, Trường Chinh là một trong những nhà lý luận chiến lược của cách mạng Việt Nam, có nhiều đóng góp cho việc hoạch định đường lối của Đảng Những tác phẩm của đồng chí đã góp phần làm cho kho tàng lý luận của cách mạng Việt Nam thêm phong phú, sinh động

Lý luận cách mạng mà Trường Chinh nêu ra bắt nguồn từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại mà đồng chí

đã tiếp nhận được trong quá trình hoạt động yêu nước và cách mạng

Trang 40

Đường lối cách mạng triệt để của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo Trường Chinh, nó được dựa trên cơ sở học thuyết “cách mạng không ngừng” của chủ nghĩa Mác – Lênin Đó là “nguồn trong” để đồng chí khơi dòng chảy, tưới tắm cho mảnh đất thiêng liêng của dân tộc, trồng cây, trồng người, khai hoa, kết quả

Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đồng chí đã nhận ra công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc trong việc thống nhất các lực lượng cộng sản ở Việt Nam và sáng lập ra Đảng ta Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí đã gắn bó keo sơn với tư tưởng của Người tạo nên mối quan hệ bền chặt, thủy chung, son sắt

Trường Chinh là người rất chịu khó đọc các trước tác của C Mác,

Ph Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh, tiếp thu nghiêm túc di sản lý luận của các ông, để rồi vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, góp phần định ra đường lối chiến lược, sách lược của Đảng

Theo Trường Chinh, giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác thể hiện ở chỗ “đã giải đáp kịp thời và chính xác những vấn đề lớn của thời đại mà loài người tiến bộ đề ra” [9; tr.14] Ở đây, Trường Chinh chú ý mệnh đề “Những vấn đề lớn của thời đại” Ông phân tích “vấn đề lớn” là những vấn đề cơ bản có tính quy luật chung nhất thì Các Mác đã giải đáp được Còn những vấn đề cụ thể của cách mạng từng nước, từng nơi thì thuộc về nhiệm vụ của đảng cộng sản nước đó giải quyết Đó là kim chỉ nam cho hành động và cũng là lý luận gắn với thực tiễn, gắn với hoàn cảnh

Về triết học, Trường Chinh ca ngợi C Mác đã kiên quyết đấu tranh gạt bỏ chủ nghĩa duy tâm và phê phán chủ nghĩa duy vật máy móc, không biện chứng Đó là thứ chủ nghĩa không nêu được vấn đề cải tạo thế giới mà chỉ giải thích thế giới Từ đó, ông ca ngợi C.Mác đã tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của triết học và các khoa học khác để xây dựng nên chủ

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w