Bài thu hoạch cao học triết học lịch sử triết học phương Đông. Tư tưởng chính trị của trường phái Pháp gia ởTrung Hoa cổ đại và ý nghĩa của nó trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trang 1A- PHẦN MỞ ĐẦU
Nếu như xã hội không phải lúc nào cũng có nhà nước, nếu như đã từng cóthời kì xã hội không biết gì đến nhà nước và cũng không có ý niệm gì về nhànước thì xã hội không phải lúc nào cũng đã có pháp luật.Đã từng có thời kỳ xãhội không cần và không có ý niệm gì về pháp luật Cũng như nhà nước, phápluật là một hiện tượng xã hội, nó chỉ xuất hiện và tồn tại ở những giai đoạn pháttriển nhất định của lịch sử nhân loại
Trong lịch sử, không có bất kỳ một nhà nước nào khi hình thành để tồn tại
và phát triển mà không dùng đến luật pháp Pháp luật là sự thể hiện ý chí củagiai cấp thống trị Mỗi một chế độ xã hội, mỗi một quốc gia đều có hệ thốngpháp luật riêng của mình Pháp luật còn có tính kế thừa và phát triển
Tư tưởng trị nước bằng pháp luật đã có từ rất xưa, tiêu biểu là trường pháipháp gia Pháp gia là một trường phái lớn xuất hiện thời Xuân Thu- ChiếnQuốc, trường phái này chủ trương trị nước bằng pháp luật, đề cao pháp trị Dù
tư tưởng của trường phái này vẫn có nhiều hạn chế nhưng những tư tưởng tiến
bộ vẫn có giá trị đến ngày nay
Việt Nam là một nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Hệ thống pháp luậtViệt Nam được xây dựng dựa trên sự tiếp thu những giá trị về tư tưởng pháp trịcủa trường phái Pháp gia và đang từng bước hoàn thiện để đảm bảo cho sự pháttriển của xã hội Pháp luật xã hội chủ nghĩa là phương tiện làm cho ý chí nhândân trở thành hiện thực, là phương pháp thực hiện sự lãnh đạo của Đảng cộngsản đối với nhà nước và xã hội, là công cụ để nhà nước thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ của mình, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội làm chochúng phát triển theo định hướng nhất định
Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội, đảm bảo
xã hội phát triển đúng định hướng Vì vậy việc nghiên cứu về pháp luật ViệtNam là điều cần thiết để hiểu đúng hơn về chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa Đó
chính là lý do tôi chọn đề tài “Tư tưởng chính trị của trường phái Pháp gia ở
Trung Hoa cổ đại và ý nghĩa của nó trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”
Đây là một đề tài có ý nghĩa thiết thực trong công cuộc xây dựng nhà nướchiện nay Vấn đề nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được Đảng và Nhànước và nhiều người quan tâm Tuy có rất nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu,nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, rất mong sự đóng gópcủa quý thầy cô và các bạn để tiếp thu những kiến thức mới, nâng cao kiến thứccho bản thân
Trang 2B- PHẦN NỘI DUNG I- Tư tưởng pháp trị của trường phái Pháp gia:
Pháp gia là trường phái chủ trương dùng pháp luật để trị nước Phái nàyxuất hiện thời Xuân Thu mà người khởi xướng là Quản Trọng, tiếp đó làThương Ưởng, Hàn Phi…
Học thuyết chính trị của trường phái Pháp gia dựa trên thế giới quan duyvật biện chứng thô sơ và phát triển qua hai thời kỳ:
1- Thời kì đầu: với các đại biểu Quản Trọng, Thương Ưởng, Thân Bất
Khi xét xử phải đúng luật, trị tội theo đúng tội danh để kẻ có tội khôngoán, lương dân không sợ
Luật phải được công bố rõ ràng, niêm yết ở phủ đường để dân biết mà thihành, và khi thi hành phải công pháp vô tư, không vị tình riêng mà giảm nhẹtội để giữ lòng tin của dân
- Cải cách điền địa giúp mọi người lúc bấy giờ tự do mua bán ruộng đất,khai hoang, phát triển thủ công nghiệp, thương nghiệp và ông đưa ra hệ thốngthuế khóa…
Trang 3- Cải cách bộ máy hành chính nhà nước giúp nhà Tần có một bộ máy Nhànước từ cơ sở đến trung ương.
Trong tư tưởng, ông chú ý đến định pháp (xây dựng pháp luật) và biếnpháp (biến đổi pháp luật) nhằm để xây dựng chế độ sở hữu ruộng đất, tự domua bán, khai hoang ruộng đất để mở rộng diện tích trồng trọt và tính thuế Pháp luật phải nghiêm khắc, có như thế mới làm mọi người sợ mà khôngdám vi phạm Trong bộ máy hành chính, ông chủ trương lấy gia đình làm chính:
cứ năm người thành một ngũ, hai ngũ thành một thập, một người phạm tội thìmười người bị tội chung Mục đích của chủ trương này để mọi người giám sátlẫn nhau, hạn chế cao nhất mức độ phạm tội Một nhà có hai tráng đinh Trángđinh lấy vợ thì phải ở riêng nếu không phải đóng thuế gấp đôi; nhà nào córuộng đất mà để hoang thì bị phạt xuống làm nô lệ; người nào sản xuất đượcnhiều thì miễn sưu thuế, nhờ đó mà thúc đẩy sản xuất phát triển
Ông chủ trương xoá bỏ “Thế Khanh, Thế Lộc” tước mọi đặc quyền, đặc
lợi của chủ nô, quý tộc Quý tộc không có công thì không có tước vị, công cànglớn thì tước vị càng cao Ông chia quốc gia thành nhiều huyện, thị xã làm chocách quản lý của nhà Tần thêm chặt chẽ
Về hành chính: Ông ghép nhiều làng xã thành 1 huyện có chức huyện lệnhhoặc thừa làng thay mặt nhà vua mà cai trị Theo ông nếu người cai trị biết kết
hợp pháp luật với lòng tin của dân thì sẽ thực hiện được “dung hình pháp loại hình pháp” Ông cho là không nên cai trị theo kiểu pháp cổ mà phải dựa trên
hiện tại, trên cơ sở biến hóa của lịch sử Thực chất trong tư tưởng này, ThươngƯởng đề cao “biến pháp”, tư tưởng này rất tiến bộ Pháp luật phải thay đổi phùhợp để thúc đẩy kinh tế phát triển
Nội dung biến pháp của ông có năm điều:
- Bỏ chế đội tỉnh điền, thừa nhận quyền tư hữu ruộng đất
- Biên chế hộ tịch trong nhân dân
- Khuyến khích dân cày bừa dệt vải
- Bãi bỏ chế độ đặc quyền của chủ nô
- Gộp làng ấp thành huyện do nhà nước trực tiếp quản lý
(Lịch sử triết học Trung Quốc, P GS Hà Thúc Minh, NXB TP HCM)
Ông chủ trương pháp đổi tục Đây là tư tưởng mới của ông
1.3- Thân Bất Hại: (385-337 TCN)
Ông là người nước Triệu, được Hàn Chiêu Hầu trọng dụng
Ông phản đối kịch liệt việc quản lý xã hội bằng lễ trị, chủ trương lập nhànước trung ương tập quyền, ban bố minh pháp, nghiêm lệnh
Trong phép trị nước phải thực hiện ba mặt: pháp, thế, thuât
- Pháp như là hiến pháp, pháp luật ngày nay
- Thế là vị thế của người cầm quyền (vua)
Trang 4- Thuật là nghệ thuật sai khiến người.
Theo ông thì để trị nước vua phải có quyền uy thực sự và phải có nghệthuật để làm dân tin nghe theo Pháp luật khi xây dựng phải rõ ràng, nghiêmminh, khi đưa các điều lệnh phải xem xét thận trọng, mọi kỉ cương pháp luậtphải được tu sửa phù hợp Mọi hành động phá hoại quốc gia phải nghiêm trị bấtluận thân sơ hay quý tiện
1.4- Thận Đáo: (395- 315 TCN)
Ông là người nước Triệu, từng dạy học ở nước Tề
Ông cho rằng trong pháp luật phải khách quan, tự nhiên (không tình người)như cái thước vì ông cho rằng nhờ thước khuôn đó mới tránh được cái chủquan Ông đề cao việc lập pháp để xác lập vị thế thống trị, đề cao quyền uy củađịa chủ, phong kiến Ông phản đối thuyết của Nho gia, pháp luật là chuẩn mực
để vua cai trị xã hội
kỳ Chiến Quốc
Ông được coi là nhà chính trị, nhà triết học kiệt xuất, được xem như lànhân vật tập đại thành các quan niệm về pháp trị trước ông Hàn Phi không tándương nhiều về đạo đức Ông cho rằng xã hội thịnh trị không phải nhờ vào lòngnhân ái Nhân ái không phải là chất kích thích để động viên mọ người vì nhànước phong kiến Tư tưởng pháp trị của ông dựa trên cơ sở của triết học duyvật Ông đưa ra hai nguyên lý căn bản: Đạo và Lý
- Đạo là quy luật phổ biến của tự nhiên, nó tồn tại vĩnh viễn, không thayđổi
- Lý là quy luật riêng của vạn vật, mọi vật hoạt động theo quy luật riêngcủa nó Ông cho rằng lý là biểu hiện của Đạo ở mỗi sự vật nên lý thay đổi bấtthường nên con người một mặt vận động theo đạo còn vận động theo lý
Hàn Phi đả kích tư tưởng bảo thủ, vì vậy việc trị nước của vua không nên
cứ dùng biện pháp như cũ “Thị cổ phi kim”- xưa cũng là đúng và nay cũng là sai Vua không nên theo cách cai trị của cổ nhân mà “Chủ yếu là phải xử lý làm sao cho phù hợp với thời đại của mình” (Lịch sử triết học phương Đông, NXB
tp HCM, 1996, trang 82) Lý thay đổi làm xã hội thay đổi thì phép trị nước phải
thay đổi Ông cho rằng lịch sử xã hội luôn thay đổi “Từ xưa đến này không có một xã hội nào là bất biến cả” Ông cho rằng quy luật tự nhiên là tất yếu, con
Trang 5người không thể sửa đổi được nhưng vận mệnh con người là tự do, con ngườihoàn toàn có thể thay đổi.
Hàn Phi cho rằng “Thời biến thì pháp biến”, “Thế dị tất sự dị Sự dị tất bị biến” Pháp luật phải thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi của xã hội, không có
pháp luật nào luôn đúng và hoàn chỉnh toàn diện cả
Ông chủ trương thanh nghiệm, đả kích lại pháp tiên vương“Việc hợp pháp thì làm, không hợp pháp thì bỏ”, bất cứ sự vật, quan điểm nào cũng phải qua
hành động thực tế, qua sự thử nghiệm khách quan Đây là quan điểm tiến bộcủa ông Pháp luật phải xuất phát từ thực tiễn, từ yêu cầu của xã hội Pháp luậtphải đi vào thực tiễn, không thể để ra pháp luật một cách hình thức mà không
- Bản chất con người là ác và luôn có tư tưởng “Tránh hại cầu lợi” nên
dùng pháp luật để thưởng phạt công minh, ngăn chặn những người càn quấy vìtâm lý chung của con người là sợ pháp luật
“Bày một vật gì không đáng giá ở chỗ tối tăm, vắng vẻ thì Tăng, Sư chưa chắc là không lấy trộm Treo 100 lượng vàng ở giữa chợ thì dẫu là kẻ chuyên trộm cắp cũng không dám lấy” (Nại Tam Hàn Phi Tử).
Từ đó, ông cho rằng cai trị bằng nhân trị của Nho giáo là một ảo tưởng,làm hại cho nước Đạo đức chỉ dựa trên cơ sở của sự tự nguyện, không làm conngười run sợ vì không có các hình phạt để răn đe mà chỉ dựa trên tòa án củalương tâm
“Sở dĩ làm việc phụng sự nhà nước không phải vì nhà nước thương dân cũng như dân thương nhà nước mà chỉ là do dân sợ thế lực nhà nước mà thôi”
(Lịch sử triết học phương Đông, NXB tp HCM, 1996, trang 81)
- Pháp luật giải quyết những xung đột cấp bách do xã hội đặt ra Trong xãhội tồn tại nhiều nhu cầu, lợi ích khác nhau và những nhu cầu ấy không thểthống nhất hoàn toàn với nhau Mâu thuẫn xảy ra là tất yếu, nếu dựa trên đạođức mà không có pháp luật thì những xung đột đó không được giải quyết nhất
là trong xã hội phong kiến, xung đột giai cấp, xung đột giữa các quốc gia luôn
diễn ra: “Thánh nhân trị nước không cậy người tự làm thiện mà khiến người ta không được làm trái, cậy người tự làm thiện thì trong nước chẳng được mấy người, khiến người không được làm trái thì một nước có thể yên Kẻ trị nước dùng số đông mà bỏ ít cho nên không vụ đức mà vụ pháp Ôi! Nếu phải đợi gỗ thẳng mới làm tên bắn thì một trăm đời chưa có tên bắn Nếu phải đợi gỗ tròn mới làm bánh xe thì muôn đời cũng không có bánh xe”.
Trang 6- Pháp luật phải chặt chẽ, minh bạch, phân biệt phải trái, thưởng phạt phải
nghiêm minh, vô tư, khách quan Ngô Khởi ở nước Sở cũng chủ trương “Pháp luật rõ ràng, điều lệnh nghiêm chỉnh” (Lịch sử triết học phương Đông, NXB tp HCM, 1996, trang 80) Vua chúa dùng nhân nghĩa giáo hoá thì sẽ không công bằng vì “vua nào cũng có lòng tư dục, lòng ân oán” Các điều luật phải rõ ràng,
dân dễ đọc và hiểu đúng và phải công khai trong quần chúng Việc thực hiệnpháp luật phải căn cứ trên công tội
Ông tổng hợp pháp, thế thuật nâng lên thành một lý luận:
“Pháp là chỉ pháp lệnh thành văn Thuật là chỉ về việc vua căn cứ vào Pháp đinh ra thủ đoạn để khống chế quan lại”
(Lịch sử triết học phương Đông, NXB tp HCM, 1996, trang 81)
Pháp luật là luật lệ, quan điểm, điều luật có tính chất khuôn mẫu Pháp lànhững hiến lệnh trong quan phủ, còn hình dành cho kẻ trái lệnh, hình chính lànhững hình phạt Như vậy, nhờ pháp định rõ danh phận, tỏ rõ thị phi, phân biệttốt xấu
Pháp muốn được thi hành phải có thế (địa vị), quyền uy của người đứngđầu (vua) Pháp nhờ thế mà được biểu hiện ra bên ngoài xã hội Thế mà không
có pháp thì sẽ mất phương hướng
Thuật là cách thức, thủ thuật, mưu lược để điều khiển công việc, khiếnngười ta làm việc tận tâm theo hiến lệnh nhưng người thực hiện không hiểuđược thâm ý của nhà vua Đây là sự im lặng khôn ngoan, vua giữ kín tâm ý, sởthích thì sẽ biết lòng dạ bề tôi Ông cho rằng thuật muốn được áp dụng phải dựa
vào pháp theo nguyên tắc “lấy danh trách thực” Vì vậy trong xã hội phải làm
trách nhiệm theo đúng danh của mình, nhờ đó mà chọn được hiền tài, trao đúngcông việc
Vua khi cai trị cũng phải nắm tâm lý “tránh hại cầu vinh”- đây là tâm lý
chung của con người luôn muốn tránh những rắc rối Vì theo ông, con người có
lòng tự tư tự lợi “Ngay cả quan hệ xã hội, quan hệ vua tôi, quan hệ cha con, quan hệ anh em, quan hệ vợ chồng, người ta duy trì quan hệ đạo đức đó thực
ra đều dựa trên cơ sở tính toán lợi ích cá nhân” Trong tư tưởng này, ông tiếp
tục tư tưởng tính ác của Tuân Tử
Pháp và thuật chung quy là nhằm mục đích củng cố chính quyền, tức làcủng cố thế
“Thi hành pháp lệnh và giữ gìn thế lực thì thịnh trị, làm trái pháp luật, bỏ thế lực thì sẽ loạn”.
(Lịch sử triết học phương Đông, NXB tp HCM, 1996, trang 81)Tóm lại, trường phái Pháp gia chủ trương dùng pháp luật trị nước Đây là
tư tưởng tiến bộ Pháp luật được xây dựng theo yêu cầu của xã hội, dùng để răn
dạy và giáo huấn con người Pháp luật phải được thay đổi “Thời biến pháp biến” Pháp luật khi thi hành phải công khai, nghiêm minh, vô tư Nhưng bên
Trang 7cạnh đó, tư tưởng pháp trị của trường phái này cũng bộc lộ những hạn chế: làpháp luật đại diện cho tầng lớp địa chủ đang lên, bảo vệ quyền lợi cho giai cấp
địa chủ, coi khinh người lao động, thừa nhận sự giàu nghèo “Giàu là người tiết kiệm, chịu khó làm ăn Nghèo là do lười biếng” (Hàn Phi), thủ tiêu văn hoá
giáo dục là đi ngược lại với sự phát triển của văn minh và làm cho mâu thuẫn xãhội thêm gay gắt
II- Ý nghĩa của tư tưởng pháp trị của trường phái Pháp gia trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
1- Quá trình hình thành và phát triển của nền pháp luật Việt Nam:
Tư tưởng trị nước bằng pháp luật ngày nay vẫn có giá trị của nó Nhữnggiá trị ấy được tiếp thu và phát triển Lịch sử đã chứng minh để tồn tại một xãhội không thể chỉ có đạo đức mà không có luật pháp Pháp luật xuất hiện trongđiều kiện xã hội có sự xung đột, mâu thuẫn giai cấp Trong qua trình hoạt động,con người thực hiện các mối quan hệ không phải bao giờ cũng “tổng hoà” cácmục đích riêng của mình vào mục đích chung của xã hội, không phải lúc nàocũng “nhượng bộ” mục đích riêng cho mục đích chung, hoặc hy sinh mục đíchcủa mình cho mục đích của người khác Pháp luật là công cụ để trấn áp cái mâuthuẫn giai cấp đó Ở nước ta, pháp luật được thành văn đã được hình thành từkhá lâu Cuối thế kỉ XI, Việt Nam có bộ luật thành văn dưới dạng một bộ tổngluật, đó là Bộ hình thư của nhà Lý Vào thế kỉ XV có Bộ luật Hồng Đức, luật
Gia Long“ Nước Đại Việt ta, các triều dựng nước đều định hình chương: nhà
Lý ban Hình thư; nhà Trần có định Hình luật đều tham chước xưa nay để nêu làm phép tắc lâu dài Nhưng hình của nhà Lý thì lỗi ở khoan rộng, Hình của nhà Trần thì lỗi ở nghiêm khắc, nặng nhẹ không đúng mức, đều chưa gọi là phép hay được Đến khi nhà Lê dựng nghiệp mới định lại”.
Phạm Huy Chú viết (Lịch triều hiến chương loại chí Phan Huy Chú, NXB
sử học, Hà Nội 1961 Tập III trang 94)
Tổ tiên ta đã sớm nhận thức rằng “Trị nước phải có kỉ cương” Lê Quý Đôn (1726- 1784) khẳng định: “Kỷ cương là đầu mối lớn để trị thiên hạ, Vua Thái Khang làm rối loạn kỷ cương thì nhà Hạ mất, vua U, vua Lệ bỏ kỉ cương thì nhà Chu diệt vong” (Mấy vấn đề về quản lý nhà nước và củng cố pháp
quyền trong lịch sử Việt Nam, trang 200)
Ngày nay, Việt Nam đang tiến lên xây dựng nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa thì pháp luật là điều cần thiết Hiến pháp 1980 và 1992 khẳng định
“Không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật” Từ ngày thành lâp, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng công tác
xây dựng hệ thống pháp luật Hệ thống pháp luật nước ta luôn được chú trọng
và hoàn thiện hơn
Trang 8Giai đoạn 1946 – 1960: Trên cơ sở Hiến pháp 1946, pháp luật giai đoạn
này phản ánh đặc điểm của thời kì nhà nước dân chủ cộng hoà mới ra đời, phục
vụ cho công cuộc kháng chiến chiến và khôi phục kinh tế Giai đoạn này chialàm hai thời kỳ:
- Pháp luật thời kỳ 1945- 1954: về căn bản có tác dụng tích cực trong việcthiết lập một chế độ xã hội mới và phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc
- Pháp luật thời kì 1955- 1960: đánh dấu bước phát triển của hệ thóng phápluật Việt Nam Đó là xem xét các điều khoản những văn bản pháp luật ban hànhtrong giai đoạn trước, có giá trị pháp lý cao hơn
Giai đoạn 1960 – 1980: Giai đoạn này pháp luật được xây dựng trên cơ sở
Hiến pháp 1959 Giai đoạn này chia làm hai thời kỳ:
- Thời kỳ 1960- 1975: pháp luật thể hiện rõ tính chất xã hội chủ nghĩa, ýchí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Hệthống pháp luật được sửa đổi, bổ sung một số lượng lớn các văn bản
- Thời kì 1975- 1980: đất nước thống nhất cần có một hệ thống pháp luậtchung cho cả nước Tuy nhiên vẫn còn nhiều văn bản chưa có giá trị pháp lýcao, cơ cấu của hệ thống pháp luật chưa đồng bộ và mất cân đối, mức độ phùhợp của các văn bản không đồng đều
Giai đoạn 1980 đến nay: Hiến pháp 1982 là Hiến pháp của thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội Giai đoạn này chia làm ba thời kỳ:
- Thời kỳ 1982 – 1986 (Trước đại hội VI của Đảng): Hầu hết các lĩnh vựcquan trọng đều được pháp luật điều chỉnh Tuy nhiên nó chứa đựng một khốilượng các văn bản không phù hợp với trình độ phát triển kinh tế
- Thời kì 1986- 1992 (Sau Đại hội Đảng lần VI): đây là thời kỳ đổi mới.Tính toàn diện được mở rộng, pháp luật vươn tới những lĩnh vực quan trọng của
xã hội: đất đại, tài chính… Ban hành một số văn bản mới về tính chất và nộidung Tuy nhiên vì là hệ thống pháp luật thời kỳ chuyển đổi cơ chế kinh tế nênkhông tránh khỏi tình trạng mâu thuẫn
- Thời kỳ sau Hiến pháp 1992: Hiến pháp 1992 đánh dấu sự chuyển đổihẳn cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường Hệ thống pháp luậtđược điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước, nhiều văn bảnmới có giá trị pháp lý cao được ban hành
Trong công cuộc xây dựng đất nước thì những diễn biến hoà bình và những
tệ nạn xã hội là điều tất yếu trong các chế độ xã hội Trong xã hội Việt Nam thìmâu thuẫn giai cấp, những xung đột chính trị đó có nhưng nó không gay gắt.Đểhạn chế điều đó thì phải xây dựng hệ thống pháp luật đủ nghiêm minh để trừngtrị, răn dạy mọi người Những giá trị tư tưởng về chính trị của trường phái Phápgia là cơ sở để Đảng và nhà nước ta tiếp thu xây dựng hệ thống pháp luật xãhội chủ nghĩa Đó là xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp, luôn có sự bổ sung
Trang 9các điều luật, bộ luật, giáo dục luật pháp cho mọi người dân, thi hành luậtnghiêm minh.
2- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam:
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam “Là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng XHCN”
( Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện hội nghị đại biểu toàn quốc giữanhiệm kỳ khóa VII 1/1994; trang 56)
Nhà nước hoạt động theo nguyên tắc tập quyền chứ không phải tam quyềnphân lập như ở một số nước tư bản
“Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đề tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”
(Hiến pháp 1992, điều 6)Qua định nghĩa trên, Đảng ta đã xác định tính chất quản lý xã hội bằngpháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Sự quản lý này mang tínhthuyết phục vì pháp luật trong nhà nước pháp quyền XHCN không phải là thứpháp luật áp đặt Mà pháp luật đó xuất phát từ đời sống xã hội, từ nhu cầu,nguyện vọng của nhân dân là xã hội ổn định, cuộc sống ấm no, hạnh phúc, cái
ác phải bị trừng phạt
Như vậy, pháp quyền trong Nhà nước pháp quyền XHCN ra đời là cầnthiết, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống của nhân dân Nó nhằm mang lại sự ổnđịnh về mọi mặt của đời sống xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dânlao động góp phần ổn định và phát triển đất nước
- Pháp luật là các khuôn mẫu có tính phổ biến và bắt buộc chung nên đảmbảo dân chủ, công bằng, phù hợp với ý chí và lợi ích chung của đại đa số nhândân lao dộng, tạo được sự đồng thuận tự giác cao trong xã hội đối với việc thựchiện pháp luật
- Pháp luật do nhà nước làm ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội một cáchthống nhất trong toàn quốc và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh củaquyền lực nhà nước nên hiệu quả thi hành cao
Vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thể hiện:
- Pháp luật là công cụ quan trọng và chủ yếu để xây dựng chế độ mới ( chế
độ chính trị mới, chế độ kinh tế mới…)
- Pháp luật là công cụ chủ yếu để nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiệnnhiệm vụ quản lý mọi mặt của đời sống xã hội
- Pháp luật là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước và đểnâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước
- Pháp luật là phương tiện quan trọng để thực hiện quyền lực nhân dân, đểđảm bảo và phát huy dân chủ
Trang 10- Pháp luật là phương tiện thông qua đó Đảng cộng sản thực hiện sự lãnhđạo đối với toàn xã hội.
3- Xây dựng hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
“Không có các đạo luật, không có các cơ sở quy phạm pháp luật cần thiết thì các quyết định của các cơ quan quản lý không tránh khỏi dựa trên một mức
độ lớn các phẩm chất cá nhân của người quản lý Do đó, ở trong đìều kiện giống nhau thì loại quản lý theo ý cá nhân chuyển thành mệnh lệnh của cá nhân, tuy quyền lực của người đó là nhỏ nhưng thiệt hại do kẻ đó gây ra là không nhỏ.”
(Giáo dục công dân lớp 12, trang 8)Pháp luật là công cụ vô cùng quan trọng trong chặng đường đầu tiên củathời kì quá độ, càng rất quan trọng trong tình hình xã hội ta lúc này Xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đầu tiên phải xây dựng hệ thống pháp
luật “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chệ độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ” (Mấy vấn đề về quản lý nhà nước và củng cố pháp quyền trong
lịch sử Việt Nam, NXB chính trị quốc gia, tập II, trang 117)
“Mỗi người có tự do của mình nhưng phải tôn trọng quyền tự do của người khác Người nào sử dụng quyền tự do của mình qua mức mà phạm đến quyền tự do của người khác là phạm pháp” (Hồ Chí Minh) Như vậy pháp luật
xác lập các quy tắc, khuôn mẫu chung cho cách cư xử của mỗi cá nhân sao choquyền tự do và lợi ích của người này không xâm phạm đến quyền tự do và lợiích của người khác
Khi xây dựng pháp luật Đảng và Nhà nước ta luôn chú ý:
- Pháp luật phải tuân thủ nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, phải thể hiện tính
giai cấp “Chế độ nào có pháp luật ấy” Pháp luật phải kịp thời thể chế hoá các
chủ trương, đường lối của Đảng Luật pháp phải thể hiện ý chí của giai cấpthống trị Pháp luật Việt Nam thể hiện quyền và nghĩa vụ của mọi công dântrong xã hội Các điều khoản phải vì nhân dân, thể hiện được bản chất của giaicấp công nhân
“Luật pháp la vũ khí của một giai cấp thống trị, dùng để trừng trị giai cấp chống lại mình; luật pháp cũ là ý chí của thực dân Pháp, không phải là ý chí chung của toàn thể nhân dân ta Luật pháp cũ đặt ra để giữ gìn trật tự xã hội thật, nhưng trật tự ấy chỉ có lợi cho thực dân, phong kiến, không có lợi cho toàn thể nhân dân đâu… Luật pháp của chúng ta hiện nay là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo”
(Nhà nước và pháp luật, NXB Pháp lý, Hà Nội, trang 185)