Bài thu hoạch Triết học Phương đông của thạc sĩ Triết học. Bài thu hoạch trình bày khái quát Tư tưởng cơ bản của triết học phật giáo và ảnh hưởng của nó đến việt nam. Bài thu hoạch có dung lượng 20 trang
Trang 1Tư tưởng cơ bản của triết học phật giáo và ảnh hưởng của nó đến việt
nam
ấn Độ địa hình núi non trùng điệp vừa có nhiều sông ngòi với những vùng đồng bằng trù phú, có khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, lại có vùng lạnh giá quanh năm tuyến phủ, có vùng xa mạc khô cằn Tính đa dạng, khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên đè nặng lên đời sống và in đậm nét trong tâm trí của người ấn Độ Chính tự nhiên đầy huyền bí và uy lực đã gây cho con người biết bao hiểm hoạ khôn lường, con người cảm thấy mình nhỏ nhoi trước những thế lực mạnh mẽ của tự nhiên Từ đó, nảy sinh phong tục tập quán tín ngưỡng tôn giáo, quan điểm, tư tưởng của người ấn Độ ấn Độ là nước có lịch
sử lâu dài và một trong những trung tâm văn minh của thế giới cổ đại Được thể hiện ở nền văn minh sông ấn, đó là nền văn minh đồ đồng mang tính chất
đô thị, nó xuất hiện vào khoảng 2500 trước công nguyên, khi đó đã có nhà nước và chữ viết, sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp đạt tới trình độ cao
Sự tồn tại sớm và kéo dài của mô hình kinh tế - xã hội “công xã nông thôn” Mác coi kết cấu kinh tế-xã hội “công xã nông thôn” dựa trên chế độ quốc hữu về rộng đất là chiếc chìa khoá để hiểu toàn bộ lịch sử ấn Độ cổ đại Trên cơ sở đó của xã hội cổ, trung đại ấn Độ đã phân hoá, tồn tại dai dẳng 4 đẳng cấp lớn: Tăng lữ (Bràhman); Quý tộc; Bình dân tự do; Cùng đinh nô lệ Đứng đầu là đẳng cấp tăng lữ, lễ sư Balamôn; thứ hai là đẳng cấp quí tộc bao gồm vương công, tướng lĩnh, võ sĩ; thứ ba là đẳng cấp bình dân tự do gồm có thương nhân, thợ thủ công và dân chúng của công xã; thứ tư là đẳng cấp cùng đinh nô lệ Ngoài bốn đẳng cấp trên còn có Paria (người cùng khổ nhất) đẳng cấp thấp khi ra đường phải báo hiệu, ăn mặc, mầu áo cũng phải khác
ở ấn Độ có kho tàng tư tưởng dân gian phong phú, đồ sộ, được thể hiện
bộ kinh thánh vêda và các bộ sử thi Nền văn minh sông ấn đã xuất hiện nhà
Trang 2nước, đã xây dựng được thành phố, đã có chữ viết, biết sử dụng tiền để làm vật thay đổi, kỹ thuật chế tác đồ trang sức đạt tới một trình độ khá tinh xảo
Tư tưởng triết học ấn Độ được hình thành từ cuối thiên niên kỷ thứ II, Đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên, bắt đầu từ thế giới quan huyền thoại, tôn giáo Những ý thức về triết học, những tư tưởng triết lý trừu tượng lý giải
về nguyên lý của vũ trụ, giải thích về bản chất đời sống tâm linh con người… chỉ thực sự xuất hiện từ thời đại Upanishad (khoảng thế kỷ X đến thế kỷ VI trước công nguyên) Triết học ấn Độ cổ, trung đại được chia thành hai trường phái: Chính thống và không chính thống Trong hai trường phái này có trường phái triết học Phật giáo
Phật giáo ra đời vào khoảng giữa thiên niên kỷ I trước công nguyên ở
miền Bắc ấn Độ, người sáng lập ra trường phái này là Siddarta (Tất Đạt Đa)
hiệu là Buddha (phật) Phật giáo bênh vực, bảo vệ người nghèo, phản đối sự ngự trị của đạo Balamôn, đòi tự do tư tưởng, bình đẳng xã hội
Lúc nhỏ Ngài có trí tuệ sáng suốt và tài năng phi thường Lớn lên nhìn thấy nhân sinh thống khổ, thế cuộc vô thường, nên Ngài cương quyết xuất gia
tu hành, tìm đường giải thoát cho mình và cho người, ngõ hầu đưa tất cả chúng sanh lên bờ giác ngộ
Sau sáu năm tu khổ hạnh trên núi Tuyết, Ngài thấy tu khổ hạnh - ép xác như vậy không thể đạt đến chân lý, nên Ngài đi qua núi Koda, ngồi dưới gốc cây Bồ đề và thề rằng: “Nếu ta không thành đạo, thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy chỗ này” Với chí hùng dũng cương quyết ấy, sau
49 ngày tư duy, ngài thấu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh và chứng đạo
Bồ đề Sau khi thành đạo, Ngài chu du khắp xứ, thuyết pháp độ sinh, để chúng sinh chuyển mê thành ngộ, lìa khổ được vui Suốt thời gian 49 năm, như một
vị lương y đại tài, xem bệnh cho thuốc, Ngài đã dắt dẫn chúng sinh lên đường hạnh phúc và vạch cho mọi người con đường giác ngộ giải thoát…Đến 80
Trang 3mươi tuổi, Ngài nhập niết bàn ở thành Câu Thi Na, trong rừng Ta La.
Kinh điển triết học Phật giáo rất đồ sộ gồm ba bộ phận kinh, luật, luận: Kinh được coi là ghi lại lời nói của Phật thuyết pháp; Luật, tức là giới điều mà giáo đoán Phật phải tuân theo; Luận, là những tác phẩm luận giải các vấn đề phật giáo của các học giả - cao tăng về sau Phật giáo là một trường phái triết học - tôn giáo điển hình thuộc trường phái triết học không chính thống của ấn Độ cổ, trung đại Đặc tính của Phật giáo là nhập thế, triết học Phật giáo bao chứa những giá trị phổ biến, phù họp với con người
và đời sống xã hội, chính vì vậy mà nó ảnh hưởng rộng rãi lâu dài trên phạm vi thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
Cũng như các tôn giáo khác, Giáo lý Phật giáo đi vào lý giải, quan niệm
về vũ trụ, con người, khổ đau và con người sau khi chết Đạo Phật tập trung lý
giải vũ trụ theo 5 luận thuyết cơ bản sau: “Vô tạo giả” vạn vật không do một
đấng thiêng liêng nào tạo ra mà do những phần tử vật chất nhỏ nhất- gọi là bản thể, tương hợp tạo nên Đây là tư tưởng duy vật thô sơ, cốt lõi thuyết
“bản thể luận” của đạo Phật; “Vô ngã”: Thế giới hữu hình do nhiều yếu tố
hợp lại tạo nên vật thể, rồi lại tan ra thành vật mới Vì vậy, không có cái tôi
siêu nhiên Phật cho rằng con người do 5 yếu tố tạo nên, gọi là “ngũ uẩn”: sắc, thụ, tưởng, hành, thức “Sắc” có thực tướng, là con người; 4 yếu tố còn lại không có thực tướng, gọi là “danh” “ Sắc” là phần vật chất; “danh” là tinh thần bao gồm: thụ, tưởng, hành, thức; “Vô thường”: Mọi vật trong vũ trụ đều biến đổi theo hai qui trình: “thành, trụ, hoại, không” (vật vô hình) và
“sinh, trụ, dị, diệt” (vật hữu hình) Mọi vật đang tồn tại là quá trình đang
tiến tới cái khác nó Do đó, trong “thành” có “không”; trong “sinh” có
“diệt” Sự chuyển động và biến đổi của vạn pháp, của vũ trụ luôn diễn ra liên
tục - tạo ra động lực phát triển của vạn pháp; “Nhân duyên”: là cái chi phối động lực phát triển, chuyển hoá của vạn vật “Nhân” là mầm, “duyên” là điều
Trang 4kiện Mỗi vật chịu sự chi phối bởi một “nhân duyên” hoặc do nhiều qui luật
“nhân duyên” tạo thành “Nhân” không tự có mà do “nhân duyên” từ kiếp
trước để lại Vạn vật phát triển chịu sự chi phối của hai qui luật “nhân duyên”
cơ bản đó là: “Nhân duyên tương tục vô gia hạn” (nhân có nhiều duyên);
“Nhân duyên tương tục vô tạp loạn” (nhân nào duyên ấy) Trong vũ trụ hệ
thống “nhân duyên” là vô cùng, vô tận nó đóng vai trò quyết định tồn tại của vạn vật; “Sắc không”: Phật quan niệm vạn pháp luôn tồn tại hai dạng “sắc”
và “không” Vật ta nhìn thấy được gọi là “sắc”; vật không nhìn thấy được gọi
là “không”; trong “sắc” có “không”, trong “không” có “sắc” “Sắc, sắc,
không, không” là câu cửa miệng của người tu hành Từ luận thuyết “sắc không”, phái Đại thừa nhấn mạnh “Không luận” Là chấp không; phái Tiểu
thừa coi trọng “hữu luận” gọi là chấp hữu.
Quan niệm về con người và con đường giải thoát cuộc đời: Phật cho rằng con người không phải do thượng đế sinh ra mà là do một pháp (vật) đặc
biệt của vũ trụ được tạo thành bởi “ngũ uẩn” tồn tại (5 yếu tố tích tụ lại).
“Ngũ uẩn” gồm hai yếu tố: “sắc” và “danh” Sắc là yếu tố vật chất, là cái có
thể cảm giác được, bao gồm: đất, lửa, nước và không khí Danh là yếu tố tinh thần, là cái tâm lý không hình chất mà chỉ có tên gọi, bao gồm: thụ, tưởng, hành, thức (Thụ là sự cảm thụ về khổ; Tưởng: là sự suy nghĩ, tưởng tượng; Hành là ý muốn thúc đẩy hành động sáng tạo; Thức là sự nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý, phân biệt ta là ta; Danh và sắc chỉ hội tụ với nhau trong một khoảng thời gian ngắn, rồi lại chuyển sang trạng thái khác, do vậy không
có cái tôi, cái Ahman) Con người là pháp hữu hình tồn tại theo quy luật
“nhân duyên quả báo”, “sinh, trụ, dị, diệt”, thực chất là sự hợp giả của
“ngũ uẩn”, chịu chi phối của “nghiệp” và “kiếp luân hồi” Như vậy, theo
Phật, con người tồn tại chỉ là giả tướng không có thật vô ngã (không có cái
ta, cái tôi)
Trang 5Về nhân sinh quan, Phật giáo tiếp thu tư tưởng luân hồi và nghiệp của Upanishad: mọi sự vật mất đi ở chỗ này, là để sinh ra ở chỗ khác, quá trình thác sinh luân hồi đó là do nghiệp chi phối theo luật nhân quả Do vậy, phải tìm ra con đường giải thoát, đưa chúng sinh ra khỏi vòng luân hồi đó Để đi tới sự giải thoát, Phật nêu lên “tứ diệu đế” đây là bốn chân lý vĩ đại mà mọi người phải nhận thức được Như vậy, nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo tập trung ở bốn luận đề (tứ diệu đế) cụ thể sau
Luận đề thứ nhất: “Khổ đế”, khổ đế là lý giải về nỗi khổ về con người,
nhà Phật cho rằng đời sống con người là bể khổ trầm luân Nhà Phật đưa ra tám nỗi khổ hay còn gọi là "bát khổ" bao gồm: sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly,
oán tăng hộ, sở cầu bất đắc, thụ ngũ uẩn Con người do “ngũ uẩn” tạo nên bao gồm: sắc, thụ, tưởng, hành, thức Trong “ngũ uẩn” đã có xung khắc tạo thành nỗi khổ Phật cho rằng khổ đau của con người là vô tận: “Nước mắt
chúng sinh nhiều hơn nước biển”.
Luận đề thứ hai: “Tập đế”, tập đế lý giải về nguyên nhân sinh ra nỗi
khổ Nhà Phật cho rằng nguyên nhân của đau khổ chính là do dục vọng không bao giờ nguôi ngoai của con người Vì ham sông mà luân hồi sinh tử, càng tham càng muốn, càng được càng tham…Trong kinh nhà Phật giải thích nỗi đau khổ của con người bằng lý thuyết “thập nhị nhân duyên” tức
12 nguyên nhân, đó là: Vô minh (không sáng suốt nên thế giới là ảo, là giả
mà cứ là thực); Hành (ý muốn thúc đẩy hành động tao tác); Thức (nhận thức,
ý thức phân biệt cái tâm trong sáng cân bằng với cái tâm ô nhiễm mất cân bằng); Danh - sắc (sắc là vật chất, danh là tinh thần Sự hội tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần sẽ sinh ra các cơ quan cảm giác của con người (bao gồm 6 cơ quan); Lục nhập (là quá trình thế giới xung quanh tác động vào của các giác quan); Xúc (là sự tiếp súc của các giác quan với thế giới bên ngoài); Thụ (là sự cảm thụ, nhận thức khi thế giới tác động vào giác quan);
Trang 6ái (là sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới bên ngoài); Thủ (chiếm đoạt, giữ lấy cái mình ham muốn, yêu thích); Hữu (là sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt); Sinh (là sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại); Lão tử (là quá trình già và chết do có sự sinh thành) Trong 12 nguyên nhân của nỗi khổ thì “vô minh” được coi là quan trọng nhất, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân
Luận đề thứ ba:“Diệt đế”, diệt đế tức là trừ bỏ hết nguyên nhân sinh ra
cái khổ, dập tắt dục vọng trong con người, loại bỏ vô minh để đạt tới sáng suốt Theo đạo Phật, để diệt trừ nổi khổ đến được “cõi niết bàn”, con người
phải diệt diệt dục, trí tuệ đạt tới bát nhã, (diệt vô minh) Khi diệt được “vô
minh”, mọi u mê được loại trừ, dục vọng bị ngăn chặn, con người thoát kiếp
luân hồi, thoát mọi khổ đau, chấm dứt mọi phiền não và phải tĩnh lặng
Luận đề thứ tư: “Đạo đế”, đạo đế Theo Phật giáo, để trừ bỏ hết nguyên
nhân sinh ra cái khổ, dập tắt dục vọng trong con người, loại bỏ vô minh để đạt tới sáng suốt phải có con đường và phương pháp Con đường để diệt trừ nổi khổ là tu đạo, hoàn thiện đạo đức cá nhân để giác ngộ chân lý của của Phật giáo Phương pháp để diệt trừ nổi khổ, gồm 8 phương pháp (bát chính đạo): Chính kiến (hiểu biết đúng sự thật nhân sinh); Chính tư duy (suy nghĩ đúng đắn); Chính ngữ (lời nói phải đúng đắn); Chính nghiệp (phải có nghề nghiệp chân chính, không được sát hại, trộm cướp, gây ra oán nghiệp); Chính mệnh (phải biết thiết chế dục vọng, chỉ giới, không được sát sinh, trộm cắp nói dối,
tà dâm ); Chính tịnh tiến (phải hăng hái tích cực tìm kiếm, truyền bá giáo lý, giáo phật); Chính niệm (phải thường xuyên ăn chay, niệm phật); Chính định (tĩnh lặng, điềm đạm, tập trung tư tưởng suy nghĩ về tứ diệu đế, về vô ngã, vô thường) Tám nguyên tắc này có thể thâu tóm vào ba điều học tập và rèn luyện là: Giới - Định - Tuệ, tức là giữ giới luật, thực hành thiền tịnh, khai thông trí tuệ bát nhã Làm được như vậy, con người mới diệt trừ được vô
Trang 7minh, siêu thoát lên được “niết bàn”, nơi hoàn toàn tĩnh lặng, sáng suốt, thanh cao, chấm dứt vòng luân hồi
Quan niệm về “Niết bàn”: Niết bàn là nơi cư trú của con người khi
đang sống và khi đã chết, lúc đã chấm dứt được mọi dục vọng, khổ đau, kiếp
luân hồi “Niết bàn” có nghĩa là làm dịu, dập tắt mọi đau khổ.
Giới luật là những quy định hướng dẫn người theo Phật phải giữ gìn, kiêng kị về ăn, ở, sinh hoạt, đi lại, tu luyện…Phật giáo có hai giới luật quan
trọng: “ngũ giới” và “thập thiện” “Ngũ giới” là năm điều cấm gồm: không
sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói điều sai, không uống
rượu; “Thập thiện” gồm ba điều thiện về thân (không sát sinh, trộm cắp, tà
dâm); bốn điều thiện về khẩu (không nói dối, nói hai mặt, nói bịa đặt, nói ác ý); ba điều thiện về ý (không sinh lòng tham lam, giận dữ, ý xấu)
Người tu hành ngoài giữ nghiêm “ngũ giới” và “thập thiện” còn phải
theo 5 điều cấm sau: không trang điểm, dùng nước hoa; nằm giường có đệm
và giường đôi; xem ca hát và múa; giữ vàng bạc; ăn quá giờ quy định Đối với tầng lớp sư, đại đức trở lên phải theo giới luật nghiêm hơn (tăng 250 điều, ni
348 điều cấm), hàng tháng phải tụng giới 2 lần vào ngày 15 và ngày 29 hoặc
ngày 30 âm lịch Hàng năm phải dự “mùa an cư kiết hạ” để tu học giáo lý và
giới luật
Sau này Phật giáo phân chia thành các giáo phái khác nhau, nổi lên tiêu biểu đó là phái đại thừa và tiểu thừa Theo đại thừa, mọi người đều có thể giác ngộ để đi đến niết bàn không chỉ bằng tự lực mà còn bằng sự dẫn dắt của các bậc đại giáo Còn phái tiểu thừa chỉ lo tu dưỡng bản thân, một mình đến chỗ giác ngộ bằng tự lực, không chú ý cứu độ người khác
Từ giáo lý, giới luật và thực tiễn đời sống của những người theo đạo Phật, chúng ta có thể nhận thấy được những nét cơ bản về giá trị và hạn chế
Trang 8về con đường giải thoát cuộc đời như sau:
Những giá trị về con đường giải thoát cuộc đời: Bố cục của thuyết Tứ
diệu đế được xếp đặt một cách lôgíc, hợp lý, hợp tình Ngày nay các nhà
nghiên cứu Phật học Đông - Tây mỗi khi nói đến Tứ diệu đế ngoài cái nghĩa
lý sâu xa, nhận xét xác đáng, còn tóm tắt tán - thán cái kiến trúc, cái bố cục, cái thứ lớp của toàn bộ pháp môn ấy: Trước tiên Phật chỉ cho con người ta thấy được thảm cảnh hiện tại - đau ốm, già cả, bệnh tật ; thứ hai Phật chỉ cho con người ta nguồn gốc, lý do sinh ra đau khổ; thứ ba Phật chỉ cho con người thấy cái vui thú của sự hết khổ Giai đoạn thứ ba này tương phản với giai đoạn thứ nhất, làm cho con người nhận thức được thế nào là khổ, thế nào là vui sướng và từ đó mới đi tìm cách giải thoát khổ đau Thư tư Phật mới đưa ra những phương pháp để thực hiện được cái vui đó Đây là một lối trình bày rất khôn khéo, đúng tâm lý vì: trước khi bảo người ta đi thì phải chỉ cho người ta
đi đâu đã chứ, phải nêu mục đích sẽ đến như thế, rồi để người ta suy xét, lựa chọn có nên đi hay không Nếu người ta nhận thấy mục đích ấy là cao quí, đẹp
đẽ khi ấy người ta mới nỗ lực, hăng hái để thực hiện mục đích ấy
Những phương pháp trên con đường thực hành tu luyện là “Ngũ giới” (năm điều răn) và “Lục độ” ( sáu phép tu)…Đây là những điều có giá trị đem lại trật tự, an vui, hoà bình cho gia đình và xã hội; khuyên con người ta luôn luôn làm những điều tốt lành cho bản thân, gia đình và đoàn thể, tạo ra một xã hội an bình Chính vì lẽ đó mà đức Phật Thích Ca đã có lời di chúc khẩn thiết trước khi nhập Niết bàn: “Sau khi ta diệt độ, các người tu hành phải tôn kính giới luật làm thầy; dầu cho ta còn tại thế để dạy dỗ các người mấy ngàn đời đi nữa, ta cũng không thêm điều nào ngoài giới luật” [Phật học phổ thông -Thành hội PG TP HCM - 1992 - tr.82]
Quan niệm về vũ trụ, về con người, về mối liên hệ giữa con người với
Trang 9tự nhiên và xã hội có những yếu tố duy vật, có tư tưởng biện chứng tự phát.
Ví dụ đạo Phật cho rằng vũ trụ là vô thỉ, nghĩa là không có điểm khởi đầu, và mọi sự vật trong vũ trụ không thể đứng riêng một mình mà có được: trái lại phải nương nhờ nhau mà thành “Chư pháp tùng duyên sinh” Đạo Phật còn là tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo chế độ xã hội bất công, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, nêu nên ước vọng giải thoát con người khỏi nỗi bi kịch của cuộc đời, khuyên con người ta sống đạo đức, từ bi bác ái
Những hạn chế trong con đường giải thoát cuộc đời Trong luận thuyết
về nhân sinh và con đường giải thoát, tư tưởng Phật giáo vẫn còn hạn chế, mang nặng tính bi quan, yếm thế về cuộc sống, chủ trương “xuất thế”, “siêu thoát” có tính chất duy tâm, không tưởng về những vấn đề xã hội Thủ tiêu đấu tranh giai cấp, chấp nhận cuộc sống an bài bởi sự ràng buộc của chữ
“Nhẫn” Kìm hãm sự phát triển tất yếu của lịch sử xã hội, đặc biệt là kìm hãm
sự phát triển của lực lượng sản xuất vật chất Vì những người xuất gia tu hành
họ không quan tâm đến vật chất cuộc đời hiện thực, việc tham gia vào quá trình sản xuất vật chất cho xã hội hầu như không có gì - họ sống nhờ vào sự hảo tâm, công đức, tài trợ…của tín đồ, của nhân
ảnh hưởng của Phật giáo đối với lịch sử và con người Việt Nam.
Phật giáo là tôn giáo từ bên ngoài vào Việt Nam sớm nhất Một số sử sách ghi rằng, Phật giáo được truyền vào Việt Nam đầu tiên ở Luy Lâu (Bắc Ninh) vào cuối thế kỷ thứ II sau công nguyên Phật giáo là một tôn giáo không
có sự chỉ đạo theo hệ thống quốc tế Căn cứ vào phương pháp tu hành và hướng truyền đạo đến Việt Nam người ta chia Phật Giáo thành hai phái lớn: phái Bắc Tông (Đại thừa) và phái Nam Tông (Tiểu thừa) Từ hai phái chính này về sau đã hình thành ra các hệ phái và tông phái khác nhau Theo Quốc sử
Trang 10thì đạo Phật vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ III Trải qua quá trình thâm nhập vào Việt Nam, đạo Phật dần đã được truyền bá rộng rãi vào xã hội Việt Nam và thịnh đạt nhất là vào triều nhà Lý (1010 - 1225) Qua các triều đại Nhà Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần Cùng với sự du nhập một số thành tựu văn hóa của ấn Độ, Trung á, Trung Quốc, kinh Phật có những điểm tương thích với tâm hồn người Việt Nam nên đạo Phật đã phát triển mạnh mẽ, được phần đông dân số tin theo trở thành lực lượng tích cực của các triều đại trong chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước
Đến cuối thế kỷ XIII (triều đại Nhà Trần) đạo Phật bắt đầu có dấu hiệu
xa sút do coi nhẹ gốc đạo, coi nặng các hình thức cúng bái, mê tín, dị đoan, tăng lữ xa dời dần các truyền thống của dân tộc Các nhà Nho bắt đầu lên tiếng phê phán đạo Phật Đặc biệt đến triều Nhà Nguyễn (1802 - 1945) bọn tư sản Pháp đã lợi dụng cuộc chiến tranh phản cách mạng của Nguyễn ánh để
can thiệp vào nước ta Khi Gia Long lên ngôi đã “trả ơn” cho ngoại bang
bằng cách cho các giáo sĩ Pháp tự do truyền đạo Thiên Chúa giáo Đây cũng
là thời kỳ bắt đầu lên ngôi của đạo Công giáo Cuối thế kỷ XIX, thời kỳ phong kiến bắt đầu tan rã, nước ta bị chủ nghĩa thực dân xâm lược, các dân tộc Việt Nam rơi vào cảnh lầm than, đạo Phật thực sự suy yếu
Từ những năm 1930 một số nhà tu hành đứng ra vận động các phong
trào “chấn hưng Phật giáo”, một bộ phận Phật giáo đã đi vào hoạt động có tổ
chức, một số cơ sở đào tạo Tăng ni lần lượt ra đời Phong trào chấn hưng Phật giáo kéo dài tới năm 1954 Giai đoạn này thực dân Pháp đã tìm mọi cách lôi kéo, thao túng Phật giáo thực hiện âm mưu liên tôn làm chỗ dựa để chống phá cách mạng Việt Nam Nhưng trước hiểm họa mất nước, mất đạo, số đông Tăng ni, Phật tử đã tụ hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng tạo thành sức mạnh chiến thắng thực dân Pháp