Phương pháp biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật một cách toàn diện, phải tính đến mối liên hệ phổ biến và sự ràng buộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, phải vạch ra toàn bộ những
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA HỒ CHÍ MINH
TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Cần Thơ, 05/2011
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 L ý do chọn đề tài Trang 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của luận văn 3
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG VÀ MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG 1.1 Phương pháp và phương pháp biện chứng 1.1.1 Phương pháp và phân loại phương pháp 4
1.1.2 Phương pháp biện chứng và vai trò của phương pháp biện chứng 5
1.1.3 Nội dung của phương pháp biện chứng 7
1.2 Một số nguyên tắc cơ bản của phương pháp biện chứng
1.2.1 Nguyên tắc toàn diện 20
1.2.2 Nguyên tắc lịch sử 21
1.2.3 Nguyên tắc phát triển 22
CHƯƠNG 2 TÍNH BIỆN CHỨNG CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1954 2.1 Khái quát cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1954 2.1.1 Phong trào cách mạng sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời 25
2.1.2 Tình hình Việt Nam sau chiến tranh thế giới lần II 31
2.2 Tính biện chứng của Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1954 38 2.2.1 Quan điểm toàn diện trong việc xem xét, giải quyết các vấn đề của cách
Trang 32.2.2 Linh hoạt, mềm dẻo ứng phó kịp thời với từng hoàn cảnh lịch sử
cụ thể 52
2.2.3 Xem xét vấn đề của cách mạng trong sự vận động, phát triển không
ngừng 56 2.3 Giá trị của phương pháp biện chứng mà Hồ Chí Minh vận dụng trong
cách mạng Việt Nam đối với giai đoạn hiện nay 57
Kết luận 64 Tài liệu tham khảo 67
Trang 4MỞ ĐẦU
1 L ý do chọn đề tài:
Đất nước Việt Nam tự hào đã sản sinh ra Hồ Chí Minh, một danh nhân văn hóa thế giới, một anh hùng giải phóng dân tộc, một vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh, người đã đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao sóng gió thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác Đó là kết quả của quá trình kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh xã hội Việt Nam Ở góc độ triết học, Người
đã tiếp thu chủ nghĩa duy vật biện chứng đặc biệt là phương pháp biện chứng; lấy nó làm nền tảng tư duy và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của mình Điều đó được biểu hiện đặc sắc trong quá trình Người lãnh đạo cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1954
Như chúng ta đã biết, tư tưởng của Hồ Chí Minh rất phong phú và rất sâu sắc trên nhiều lĩnh vực, nhưng trong lĩnh vực đấu tranh cách mạng thể hiện đầy đủ nhất, độc đáo nhất là sự vận dụng sáng tạo phương pháp biện chứng mác-xít, nó được thể hiện đầy đủ bản lĩnh và nghệ thuật của một nhà tư tưởng, nhà quân sự lỗi lạc Với Hồ Chí Minh, độc lập, tự do là giá trị cao quý nhất mà Người mong muốn đạt được và là khao khát cháy bỏng suốt cuộc đời của Người Chính khát khao đó là động lực thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước với hành trình ngót 30 năm gian khổ ở nước ngoài và gần 30 năm trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[tr 42, 8]
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới đang diễn ra hết sức phức tạp Việt Nam không nằm ngoài bối cảnh chung đó Thực tiễn này đòi hỏi mỗi chúng ta, nhất là những nhà lãnh đạo phải thực sự bình tĩnh, bản lĩnh và có phương pháp tư duy biện chứng đúng đắn để lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và phát triển đúng hướng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đề ra một trong những phương hướng cơ bản là “Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội”
Trang 5[tr71,7] Qua đó, chúng ta thấy rằng, Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chiếm vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay
Là sinh viên chuyên ngành Giáo dục công dân, tôi nhận thấy nhiệm vụ kế thừa
và phát huy những chân giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh là rất cần thiết Để làm được điều đó, tôi muốn góp phần vào việc nghiên cứu một mảng nhỏ trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh với hy vọng góp phần làm sáng tỏ và khẳng định giá trị trong việc vận dụng phương pháp của Người, đó là vấn đề vận dụng phương pháp biện chứng trong việc lãnh đạo cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 - 1954 Đó là lý do để tác giả chọn vấn đề này để nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích:
Nghiên cứu việc vận dụng phương pháp biện chứng trong việc lãnh đạo cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1954 Khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn trong tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh về lĩnh vực phương pháp không những trong đấu tranh cách mạng mà còn có ý nghĩa to lớn trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ:
Về mặt lý luận, luận văn nghiên cứu phương pháp biện chứng và vai trò của nó
trong đời sống, những nguyên tắc cơ bản khi vận dụng phương pháp biện chứng
Về thực tiễn, luận văn nghiên cứu việc vận dụng sáng tạo phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời, khẳng định giá trị của nó trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu:
Trang 6Việc vận dụng phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh trong nhận thức và hoạt động thực tiễn là rất phong phú Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp đại học, tôi nghiên cứu việc vận dụng phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực đấu tranh cách mạng, trong quá trình Người lãnh đạo cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1954
4 Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài việc sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, còn sử dụng các phương pháp:
Trang 7Chương 1
PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG VÀ NỘI DUNG
CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG 1.1 Phương pháp và phương pháp biện chứng
1.1.1 Phương pháp và phân loại phương pháp
Từ trước đến nay đã có nhiều định nghĩa về phương pháp Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, phương pháp là sản phẩm thuần túy của tư duy, xuất phát hoàn toàn từ ý muốn chủ quan của con người, chỉ những gì thuộc về nhận thức và cải tạo thế giới khách quan
Nhà bác học nổi tiếng T.Páp-lốp cho rằng: “Phương pháp khoa học là những quy luật bản chất nội tại của vận động nhận thức khoa học được sử dụng một cách có ý thức để đạt đến những thành tựu chân lý đúng đắn hơn, nhanh chóng hơn, đầy đủ hơn”[tr 20,9]
Trong Từ điển Triết học, “Theo nghĩa chung nhất, phương pháp là cách thức đạt tới mục tiêu, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định Theo nghĩa triết học chuyên môn, với tính cách là phương tiện nhận thức, phương pháp là cách thức tái hiện lại đối tượng nghiên cứu trong tư duy” [tr23,14] Như vậy, phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, nó là một trong những yếu tố quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động nhận thức và cải tạo hiện thực
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm quan niệm khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phương pháp Chủ nghĩa duy tâm coi phương pháp là những nguyên tắc
do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hành động, xem nó như là một phạm trù thuần túy Còn chủ nghĩa duy vật khẳng định phương pháp hình thành không phải chủ quan, tùy tiện, không có sẵn và bất biến mà nó phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và mục đích đặt ra Để tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể cần nghiên cứu đối tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan Do đối tượng nghiên cứu rất phong phú, đa dạng nên các phương pháp cũng phong phú,
đa dạng Tùy theo tiêu chí khác nhau mà phương pháp được chia thành các loại khác nhau
Trang 8Nếu dựa vào mức độ phổ biến và phạm vi ứng dụng thì phương pháp được chia
ra thành phương pháp riêng, phương pháp chung và phương pháp phổ biến Nếu dựa vào mục đích, chức năng thì có thể chia phương pháp thành phương pháp hoạt động thực tiễn và phương pháp nhận thức Tuy nhiên, việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối
Các phương pháp tuy khác nhau về nội dung, mức độ phổ biến, phạm vi ứng dụng, song không tách rời nhau mà có liên hệ biện chứng với nhau Quan hệ giữa phương pháp biện chứng và phương pháp của khoa học cụ thể là quan hệ giữa cái chung và cái riêng
1.1.2 Phương pháp biện chứng và vai trò của phương pháp biện chứng Phương pháp biện chứng
Theo Ăngghen, phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức đối tượng trong các mối liên hệ, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau; nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động, biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng
Như vậy, phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là hoặc là ” còn có cả cái “vừa là vừa là ”; nó thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó nhau Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại và phương pháp này hoàn toàn đối lập với phương pháp siêu hình
Phương pháp siêu hình hình thành trong thế kỷ XVII, XVIII, bị ảnh hưởng bởi trình độ phát triển của khoa học tự nhiên trong giai đoạn sưu tập, mô tả Nó xem xét sự vật một cách cô lập, tách tời, cứng đờ, tĩnh tại, không thấy sự liên hệ và sự vận động, phát triển của chúng, thiếu quan điểm lịch sử-cụ thể; không thấy mâu thuẫn bên trong của sự vật; không thấy quá trình chuyển hóa từ chất này sang chất mới
Phương pháp biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật một cách toàn diện, phải tính đến mối liên hệ phổ biến và sự ràng buộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, phải vạch ra toàn bộ những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với sự vật khác Phương
Trang 9pháp biện chứng còn yêu cầu xem xét sự vật trong sự vận động và phát triển của nó, vạch ra những mâu thuẫn bên trong của sự vật ấy, tức là tìm ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển Phương pháp biện chứng còn đòi hỏi phải có quan điểm lịch sử - cụ thể, phải gắn với thực tiễn
Vai trò của phương pháp biện chứng
Trước hết, như chúng ta đã biết, phương pháp là con đường nhận thức khách quan có hiệu quả nhất trong lịch sử; thiếu phương pháp con người sẽ rơi vào tình trạng
“mò mẫm” Thiếu phương pháp, con người sẽ nhận thức sự vật hiện tượng một cách rời rạc, tản mạn, nó giống như việc làm của những con kiến (theo cách so sánh của nhà triết học Anh Ph.Bêcơn), tri thức thu được như là sự góp nhặt một đống tư liệu để xây thành tổ kiến, chứ không phải như con ong Ph.Bêcơn xem phương pháp là ngọn đèn soi đường cho người lữ hành đi trong đêm tối Còn trong đấu tranh cách mạng, đồng chí Lê Duẩn có nói: “Phong trào cách mạng có khi dậm chân tại chỗ thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu một phương hướng và mục tiêu rõ ràng mà chủ yếu vì thiếu một phương pháp cách mạng phù hợp” [tr 41, 4] Vì vậy, khi làm bất cứ chuyện gì, dù nhỏ hay lớn cũng phải vạch ra những phương pháp thích hợp, đồng thời phải biết vận dụng nhiều phương pháp khác nhau thì công việc mới đạt hiệu quả cao
Trong lịch sử, có rất nhiều loại phương pháp: Phương pháp chung, phương pháp riêng nhưng phương pháp phổ biến nhất là phương pháp của triết học Mác-Lênin
- phương pháp biện chứng Các-Mác là người đầu tiên vận dụng tài tình phương pháp biện chứng để phân tích mọi vấn đề, xây dựng một học thuyết khoa học, hoàn chỉnh làm lý luận soi đường cho giai cấp vô sản thế giới đứng lên đấu tranh cách mạng để xây dựng chủ nghĩa xã hội Tiếp thu tư tưởng của Mác, V.I.Lênin đã giành nhiều thời gian để tự nghiên cứu phép biện chứng và điều đó được thể hiện trong “Bút kí triết học” Trong “Bút kí triết học”, V.I.Lênin đã ghi chép tỉ mỉ và Người đã tìm thấy “cái nhân hợp lý” rút ra từ những nguyên lý phong phú của phép biện chứng cũng như những nguyên tắc cơ bản của phương pháp biện chứng V.I.Lênin viết: “Tổng cộng và tóm tắt, tiếng nói cuối cùng và bản chất của lô-gich của F.Hêghen , đó là phương pháp biện chứng - cái này thật là tuyệt diệu” [tr 75, 3] Tóm lại, với tư cách là phương pháp được rút ra từ phép biện chứng, phương pháp biện chứng là phương pháp khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới, nó là công cụ của tư duy khoa học giúp chủ thể trong
Trang 101.1.3 Nội dung của phương pháp biện chứng
Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Các sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế giới có mối quan
hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau ? Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định mối liên hệ đó ?
Trong lịch sử triết học, để trả lời những câu hỏi đó ta thấy có nhiều quan điểm khác nhau Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự quy định và ràng buộc lẫn nhau Trái lại những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng, các sự vật hiện tượng các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau
Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan trả lời rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người
Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối quan hệ có ba tính chất cơ bản: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú
Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có thể rút ra ý nghĩa về phương pháp luận sau:
Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hóa, quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện
Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú
ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác Vì các mối liên hệ có tính đa
Trang 11dạng, phong phú – sự vật, hiện tượng khác nhau, không gian, thời gian khác nhau các mối liên hệ biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử cụ thể
Những người theo quan điểm siêu hình xem sự phát triển như là một qua trình tiến lên liên tục, không có những bước quanh co, thăng trầm, phức tạp
Đối lập với quan điểm siêu hình, quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển là quá trình tiến lên từ thấp đến cao Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao,
từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển cũng có ba tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú
Quan điểm phát triển đòi hỏi khi nhận thức, khi giải quyết một vấn đề nào đó con người phải đặt chúng ở trạng thái động, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển
Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
Những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
Cái riêng và cái chung
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường tiếp xúc với những sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau như: Cái bàn, cái nhà, cái cây cụ thể,v.v Mỗi sự vật đó được gọi là một cái riêng, đồng thời, chúng ta cũng thấy giữa chúng lại có những mặt
Trang 12giống nhau như những cái bàn đều được làm từ gỗ, đều có màu sắc, hình dạng Mặt giống nhau đó người ta gọi là cái chung của những cái bàn
Vậy cái riêng là phạm trù chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác
Kết luận về mặt phương pháp luận
Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình, nên chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những
sự vật hiện tượng riêng lẻ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng
Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định cái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại cái chung có thể biến thành cái đơn nhất, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất
có lợi cho con người trở thành cái chung và cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất
Nguyên nhân và kết quả
Phạm trù nguyên nhân và kết quả phản ánh mối quan hệ hình thành của các sự vật, hiện tượng trong hiện tượng khách quan
Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó Còn kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra
Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu
Kết luận về mặt phương pháp luận
Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân Nhưng không phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân.Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy cần tìm trong
Trang 13Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả Kết quả có tác động trở lại nguyên nhân Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải khai thác, tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng, nhằm đạt mục đích
Tất nhiên và ngẫu nhiên
Tất nhiên là phạm trù chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản bên trong của kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như thế chứ
không thể khác được
Ngẫu nhiên là phạm trù chỉ cái không do mối liên hệ bản chất, bên trong kết cấu vật chất, bên trong sự vật quyết định mà do các nhân tố bên ngoài, do sự kết hợp nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định
Thí dụ, đã là nhà tư bản thì tất yếu phải bóc lột sức lao động của công nhân Điều đó do bản chất quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa quyết định Nhưng nhà tư bản tiến hành sản xuất cái gì: ô tô, vải vóc hay vũ khí, chất độc, và bóc lột công nhân như thế nào thì lại là cái ngẫu nhiên vì nó do những nguyên nhân riêng biệt, do những điều kiện cá nhân không thuộc bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa quyết định
Kết luận về mặt phương pháp luận
Vì cái tất nhiên gắn với bản chất của sự vật, cái nhất định xảy ra theo quy luật nội tại của sự vật, còn cái ngẫu nhiên là cái không gắn với bản chất nội tại của sự vật
nó có thể xảy ra, có thể không Do vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta phải dựa vào cái tất nhiên, mà không thể dựa vào cái ngẫu nhiên Nhưng cũng không được bỏ qua hoàn toàn cái ngẫu nhiên, vì cái ngẫu nhiên tuy không chi phối sự phát triển của sự vật, nhưng nó có ảnh hưởng đến sự phát triển của sự vật, đôi khi còn có thể ảnh hưởng rất sâu sắc Cái ngẫu nhiên trong điều kiện nhất định có thể chuyển hoá thành cái tất nhiên Do vậy trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, chúng ta không được xem nhẹ, bỏ qua cái ngẫu nhiên, mặc dù nó không quyết định xu hướng phát triển của sự vật
Trang 14Một số kết luận về mặt phương pháp luận
Vì nội dung và hình thức luôn gắn bó với nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, do vậy trong nhận thức không được tách rời tuyệt đối hóa giữa nội dung và hình thức Đặc biệt cần chống chủ nghĩa hình thức Nội dung quyết định hình thức, do vậy để nhận thức và cải tạo được sự vật, trước hết ta phải căn cứ vào nội dung, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung, do vậy trong hoạt động thực tiễn phải thường xuyên đối chiếu giữa nội dung và hình thức và làm cho hình thức phù hợp với nội dung để thúc đẩy nội dung phát triển
Bản chất và hiện tượng
Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối
ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật Hiện tượng là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất
Phạm trù bản chất gắn liền với phạm trù cái chung, nhưng không đồng nhất với cái chung Có cái chung là bản chất, nhưng có cái chung không phải là bản chất Phạm trù bản chất và phạm trù quy luật là cùng loại, hay cùng một bậc (xét về mức độ nhận thức của con người) nhưng không đồng nhất với nhau Mỗi quy luật thường chỉ biểu hiện một mặt, một khía cạnh nhất định của bản chất còn bản chất là tổng hợp của nhiều quy luật Vì vậy phạm trù bản chất rộng hơn và phong phú hơn quy luật
Một số kết luận về mặt phương pháp luận
Bản chất không tồn tại thuần túy mà tồn tại trong sự vật và biểu hiện qua hiện tượng, vì vậy muốn nhận thức được bản chất của sự vật phải xuất phát từ những sự vật, hiện tượng, quá trình thực tế
Vì bản chất là cái tất nhiên, cái tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động phát triển của sự vật, còn hiện tượng là cái không ổn định, không quyết định
Trang 15sự vận động phát triển của sự vật Do vậy nhận thức không chỉ dừng lại ở hiện tượng
mà phải tiến đến nhận thức được bản chất của sự vật Còn trong hoạt động thực tiễn,
phải dựa vào bản chất của sự vật để xác định phương thức hoạt động cải tạo sự vật
không được dựa vào hiện tượng
Khả năng và hiện thực
Phạm trù hiện thực được dùng để phản ánh những gì hiện có, hiện đang tồn tại
thực sự Phạm trù khả năng được dùng để chỉ những gì hiện chưa có, nhưng sẽ có, sẽ
tới khi có các điều kiện tương ứng
Khả năng là "cái hiện chưa có" nhưng bản thân khả năng với tư cách "cái chưa
có" đó lại tồn tại Tức là các sự vật được nói tới trong khả năng chưa tồn tại, nhưng
bản thân khả năng để xuất hiện sự vật đó thì tồn tại
Mọi khả năng đều là khả năng thực tế nghĩa là khả năng thực sự tồn tại do hiện
thực sinh ra Nhưng có khả năng được hình thành do quy luật vận động nội tại của sự
vật quy định, được gọi là khả năng tất nhiên Có khả năng được hình thành do các
tương tác ngẫu nhiên quy định được gọi là khả năng ngẫu nhiên
Một số kết luận về mặt phương pháp luận
Vì hiện thực là cái tồn tại thực sự, còn khả năng là cái hiện chưa có, nên trong
hoạt động thực tiễn cần dựa vào hiện thực, không được dựa vào khả năng để định ra
chủ trương, phương hướng hành động của mình
Khả năng là cái chưa tồn tại thật sự nhưng nó cũng biểu hiện khuynh hướng
phát triển của sự vật trong tương lai Do đó, tuy không dựa vào khả năng nhưng chúng
ta cũng phải tính đến các khả năng để việc đề ra chủ trương, kế hoạch hành động sát
hợp hơn
Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những
sự thay đổi về chất và ngược lại
Khái niệm về chất
Bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm mặt chất và mặt lượng Hai
mặt đó thống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật, hiện tượng
Phép biện chứng duy vật ra đời đem lại quan điểm đúng đắn về khái niệm chất,
lượng và quan hệ qua lại giữa chúng; từ đó khái quát thành quy luật chuyển hóa từ
những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại
Trang 16Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật nó chứ không phải là cái khác
Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nên chính chúng Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác; nhờ đó mà con người mới có thể phân biệt sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác Con người khác với động vật chính là nhờ những tính quy định vốn có của con người: có khả năng chế tạo và sử dụng công cụ lao động, có khả năng tư duy
Chất của sự vật không những quy định bởi chất của những yếu tố tạo thành mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành, nghĩa là bởi kết cấu của sự vật Trong hiện thực các sự vật được tạo thành bởi các yếu tố như nhau, song chất của chúng lại khác nhau Kim cương và than chì đều có cùng thành phần hoá học là nguyên tố các bon tạo nên; nhưng do phương thức liên kết giữa các nguyên tử các bon
là khác nhau, vì thế chất của chúng hoàn toàn khác nhau Kim cương rất cứng, còn than chì lại rất mềm Từ đó có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vật phụ thuộc cả vào
sự thay đổi các yếu tố cấu thành sự vật lẫn sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố ấy
Khái niệm về lượng
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt
số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật
Lượng là cái khách quan, vốn có của sự vật, quy định sự vật ấy là nó Lượng của sự vật không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người
Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy
mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm Sự phân biệt chất
và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối Điều này phụ thuộc vào từng mối quan
hệ cụ thể xác định Có những tính quy định trong mối quan hệ này là chất của sự vật, song trong mối quan hệ khác lại biểu thị lượng của sự vật và ngược lại
Ý nghĩa phương pháp luận
Từ việc nghiên cứu quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại có thể rút ra các kết luận có ý nghĩa phương pháp luận sau đây:
Trang 17Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích luỹ dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định thực hiện bước nhảy để chuyển về chất
Do đó trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta phải biết từng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật Trong hoạt động của mình, ông cha ta đã rút ra những tư tưởng sâu sắc như “ tích tiểu thành đại”, “năng nhặt chặt bị”, “góp gió thành bão”… Những việc làm vĩ đại của con người bao giờ cũng là sự tổng hợp của những việc làm bình thường của con người đó Phương pháp này giúp cho chúng ta tránh được tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, ”đốt cháy giai đoạn” muốn thực hiện những bước nhảy liên tục
Quy luật của tự nhiên và quy luật của xã hội đều có tính khách quan Song quy luật của tự nhiên diễn ra một cách tự phát, còn quy luật của xã hội chỉ được thực hiện thông qua ý thức của con người Do đó, khi đã tích luỹ đủ về số lượng phải có quyết tâm để tiến hành bước nhảy, phải kịp thời chuyển những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính chất tiến hoá sang những thay đổi mang tính chất cách mạng Chỉ có như vậy chúng ta mới khắc phục được tư tưởng bảo thủ, trì trệ,”hữu khuynh” thường được biểu hiện ở chỗ coi sự phát triển chỉ là sự thay đổi đơn thuần về lượng
Quy luật thống nhất đấu tranh của các mặt đối lập
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép biện chứng V.I Lê nin viết “ Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những giải thích và
đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập
Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thống nhất với nhau Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự “đồng nhất” của
Trang 18các mặt đối lập Với ý nghĩa đó, “sự thống nhất của các mặt đối lập” còn bao hàm cả
sự “ đồng nhất” của các mặt đó Do có sự “đồng nhất” của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hoá lẫn nhau
Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn “đấu tranh” với nhau Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất, vào mối liên hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tuỳ điều
kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng
Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển
Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là 2 xu hướng tác động khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Như vậy, mâu thuẫn biện chứng cũng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời nhau, trong quá trình vận động, phát triển của
sự vật, sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển Tuy nhiên, không
có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữa chúng Thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật Do đó mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển
Phân loại mâu thuẫn
Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện tượng, cũng như trong tất cả các giai đoạn phát triển của chúng Mâu thuẫn hết sức phong phú, đa dạng Tính phong phú đa dạng được quy định một cách khách quan bởi đặc điểm của các mặt đối lập, bởi điều kiện tác động qua lại của chúng, bởi trình độ tổ chức của hệ thống (sự vật) mà trong đó mâu thuẫn tồn tại
Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài
Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
Trang 19Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại các sự vật Mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi cơ bản về chất
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện nào
đó của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật Mâu thuẫn đó nảy sinh hay được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất
Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu của một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật và chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó Giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu trong từng giai đoạn là điều kiện cho sự vật chuyển sang giai đoạn phát triển mới
Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nào đó của sự vật nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối Giải quyết mâu thuẫn thứ yếu là góp phần vào việc từng bước giải quyết mâu thuẫn chủ yếu
Từ sự phân tích trên có thể rút ra thực chất quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập như sau:
Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân nó; sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất đi cái mới ra đời thay thế
Ý nghĩa phương pháp luận
Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Để nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập và tìm ra những mối liên
hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó
Trang 20Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn; phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng Chỉ có như thế mới có thể hiểu đúng mâu thuẫn của sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động, phát triển
và điều kiện để giải quyết mâu thuẫn
Quy luật phủ định của phủ định
Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều trải qua quá trình sinh ra, tồn tại, phát triển và diệt vong Sự vật cũ mất đi được thay thế bằng sự vật mới Sự thay thế đó là tất yếu trong quá trình vận động và phát triển của sự vật Không như vậy sự vật không phát triển được Sự thay thế đó được triết học gọi là sự phủ định
Sự phủ định là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận động
và phát triển Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất, sự đấu tranh thường xuyên của các mặt đối lập làm cho mâu thuẫn được giải quyết, từ đó dẫn đến sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế Sự thay thế diễn ra liên tục tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng của sự vật Sự vật mới ra đời là kết quả của sự phủ định sự vật cũ Điều đó cũng có nghĩa là sự phủ định là tiền đề, điều kiện cho sự phát triển liên tục, cho sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Đó là phủ định biện chứng
Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân, sự phát triển tự thân, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời sự vật mới, tiến bộ hơn
sự vật cũ Phủ định biện chứng có các đặc trưng cơ bản sau: Tính khách quan và tính
kế thừa
Phủ định biện chứng mang tính khách quan do nguyên nhân của sự phủ định nằm ngay trong bản thân sự vật Đó chính là giải quyết những mâu thuẫn bên trong sự vật Nhờ việc giải quyết những mâu thuẫn mà sự vật luôn luôn phát triển Vì thế, phủ định biện chứng là một tất yếu khách quan trong quá trình vận động phát triển của sự vật Phủ định biện chứng là kết quả của sự phát triển tự thân của sự vật, nên nó không thể là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn toàn cái cũ Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng cái cũ, chúng không thể từ hư vô Điều đó nói nên rằng, phủ định biện chứng mang tính kế thừa Trong quá trình phủ định biện chứng, sự vật khẳng định lại những mặt
Trang 21tốt, mặt tích cực và chỉ phủ định những cái lạc hậu, cái tiêu cực Do đó phủ định đồng thời cũng là khẳng định
Nội dung của quy luật phủ định của phủ định
Sự ra đời và tồn tại của sự vật đã khẳng định chính nó Trong quá trình vận động của sự vật, những nhân tố mới xuất hiện sẽ thay thế những nhân tố cũ, sự phủ định biện chứng diễn ra Sự vật đó không còn nữa và bị thay thế bởi sự vật mới, trong
đó có những nhân tố tích cực được giữ lại Song sự vật mới này sẽ lại bị phủ định bởi
sự vật mới khác Sự vật mới khác ấy dường như là sự vật đã tồn tại, song không phải
là sự trùng lặp hoàn toàn, mà nó có được bổ sung những nhân tố mới và chỉ bảo tồn những nhân tố tích cực, thích hợp với sự phát triển tiếp tục của nó Sau khi sự phủ định diễn ra 2 lần thì sự phủ định của phủ định được thực hiện, sự vật mới hoàn thành một chu kỳ phát triển Ph.Ăngghen đã đưa ra một thí dụ để hiểu về quá trình phủ định này:
“ Hãy lấy ví dụ hạt đại mạch Có hàng nghìn triệu hạt đại mạch được xay ra, nấu chín
và đem làm rượu, rồi lại tiêu dùng đi Nhưng nếu một hạt đại mạch như thế gặp những điều kiện bình thường đối với nó, nếu nó rơi vào một miếng đất thích hợp, thì nhờ ảnh hưởng của sức nóng và độ ẩm, đối với nó sẽ diễn ra một sự biến hoá riêng, nó nẩy mầm: hạt đại mạch biến đi, không còn là hạt đại mạch nữa , nó bị phủ định, bị thay thế bởi cái cây do nó đẻ ra, đấy là sự phủ định hạt đại mạch Nhưng cuộc sống bình thường của cái cây này sẽ như thế nào? Nó lớn lên, ra hoa, thụ phấn và cuối cùng sinh
ra những hạt thóc mới, và khi hạt đại mạch nó chín thì thân cây chết đi, bản thân nó bị phủ định Kết quả của sự phủ định này là chúng ta lại có hạt đại mạch như ban đầu không chỉ là một hạt thóc mà nhiều gấp mười, hai mươi, ba mươi lần” Ví dụ trên cho thấy, từ sự khẳng định ban đầu (hạt thóc ban đầu), trải qua sự phủ định lần thứ nhất (cây lúa phủ định hạt thóc) và sự phủ định lần thứ hai ( những hạt thóc mới phủ định cây lúa) sự vật dường như quay trở lại sự khẳng định ban đầu (hạt thóc), nhưng trên cơ
sở cao hơn (số lượng hạt thóc nhiều hơn, chất lượng hạt thóc cũng sẽ thay đổi, song khó nhận thấy ngay)
Sơ đồ cụ thể: Khẳng định (hạt thóc) - phủ định lần 1 ( cây lúa) - phủ định lần 2 (hạt thóc)
Kết quả của sự phủ định của phủ định là điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển và cũng là điểm khởi đầu cho kỳ phát triển tiếp theo Sự vật lại tiếp tục biện chứng chính mình để phát triển Cứ như vậy sự vật mới ngày càng mới hơn
Trang 22Quy luật phủ định của phủ định khái quát xu hướng tất yếu tiến lên của sự vật-
xu hướng phát triển Song sự phát triển đó không phải diễn ra theo đường thẳng, mà theo đường “ xoáy ốc”
Sự phát triển theo đường “xoáy ốc” là sự biểu thị rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên Mỗi vòng của đường “xoáy ốc” dường như thể hiện sự lặp lại nhưng cao hơn, thể hiện trình độ cao hơn của sự phát triển Tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao được thể hiện ở sự nối tiếp từ dưới lên của các vòng trong đường “xoáy ốc”
Từ sự phân tích đã được nêu ra ở trên, chúng ta khái quát về nội dung cơ bản của quy luật phủ định của phủ định như sau:
Quy luật phủ định của phủ định nêu lên mối liên hệ, sự kế thừa giữa cái khẳng định và cái phủ định, nhờ đó phủ định biện chứng là điều kiện cho sự phát triển; nó bảo tồn nội dung tích cực của các giai đoạn trước và bổ xung thêm những thuộc tính mới làm cho sự phát triển đi theo đường “xoáy ốc”
Ý nghĩa phương pháp luận
Nghiên cứu về quy luật phủ định của phủ định, chúng ta rút ra một số ý nghĩa phương pháp luận sau đây:
Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về xu hướng phát triển của sự vật Quá trình phát triển của bất kỳ sự vật nào cũng không bao giờ đi theo một đường thẳng, mà diễn ra quanh co, phức tạp, trong đó bao gồm nhiều chu kỳ khác nhau Chu kỳ sau bao giờ cũng tiến bộ hơn chu kỳ trước Trong giới tự nhiên cái mới xuất hiện một cách tự phát, còn trong xã hội cái mới ra đời gắn liền với hoạt động
có ý thức của con người Chính vì thế, trong hoạt động của mình chúng ta phải biết phát hiện cái mới, tích cực và ủng hộ nó Khi mới ra đời cái mới luôn còn yếu ớt, ít ỏi,
vì vậy, chúng ta phải ra sức bồi dưỡng, tạo điều kiện cho nó chiến thắng cái cũ, phát huy ưu thế của nó
Theo quan điểm biện chứng về sự phát triển, trong quá trình phủ định, chúng ta phải biết kế thừa có chọn lọc những cái vốn là tinh hoa của cái cũ, sử dụng chúng như
là tiền đề của sự nảy sinh cái mới tiến bộ hơn, biết giữ hình thức và cải tạo nội dung cho phù hợp như ông cha ta đã nói: “bình cũ rượu mới” Hơn nữa chúng ta phải biết lựa chọn để tiếp thu cái mới cho phù hợp chống cả tư tưởng “cũ người mới ta” trong đời sống xã hội và cuộc sống của con người
Trang 231.2 Một số nguyên tắc cơ bản của phương pháp biện chứng
1.2.1 Nguyên tắc toàn diện
Yêu cầu xem xét khách quan đòi hỏi quá trình nhận thức phải coi đối tượng là thực tại tồn tại độc lập bên ngoài và không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể; là vật tự
nó trong những điều kiện tồn tại tất yếu của nó Nhưng những điều kiện tất yếu tồn tại hiện thực của sự vật lại chính là những mối liên hệ đa dạng của sự vật với các sự vật khác, là một hệ thống nhất định bao gồm các quan hệ của sự vật đó với các sự vật khác Từ đó, chúng ta thấy rằng, vật tự nó phải được xem xét không tách rời những điều kiện tồn tại tất yếu của nó mà trong các mối liên hệ và quan hệ của nó hay nói
cách khác là xem xét một cách toàn diện
Mối liên hệ trước hết là quan hệ giữa các đối tượng và hiện tượng của hiện thực, nhưng không phải bất kỳ quan hệ nào cũng đều là mối liên hệ Khái niệm “quan hệ” rộng hơn so với khái niệm “liên hệ” Liên hệ là quan hệ giữa hai hiện tượng mà sự thay đổi của sự vật hiện tượng này nhất thiết dẫn đến sự thay đổi của sự vật kia Thí dụ công cụ lao động có liên hệ qua lại với đối tượng lao động, những thay đổi nào đó của công cụ lao động dẫn đễn những thay đổi được quy định chặt chẽ trong đối tượng chịu tác động của công cụ đó Đến lượt nó, sự thay đổi đối tượng lao động nhất thiết đòi hỏi những thay đổi nhất định về công cụ lao động, Ngược lại với liên hệ là tính biệt lập (tách biệt) là một quan hệ giữa các hiện tượng khi sự thay đổi của một hiện tượng này không ảnh hưởng gì đến các hiện tượng khác, không kèm theo những thay đổi nhất định của các hiện tượng đó Chẳng hạn, sự thay đổi những nguyên lý đạo đức không
dẫn đến những thay đổi trong thiên nhiên và ngược lại
Trong thế giới, tất cả các hiện tượng đều ở trong tình trạng liên hệ lẫn nhau và biệt lập nhau Chúng liên hệ trong mối liên hệ này nhưng lại không liên hệ trong mối liên hệ khác Vì vậy, liên hệ và biệt lập luôn tồn tại bên nhau, đó là những mặt tất yếu của bất kỳ một quan hệ cụ thể nào giữa các sự vật, hiện tượng Để nhận thức được sự vật, hiện tượng và vạch ra các thuộc tính đặc trưng của nó cần xem xét nó không phải ngay trong bản thân nó, tách rời các sự vật khác mà phải xem xét trong mối liên hệ hữu cơ với các sự vật khác, tính tổng hòa những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với những sự vật khác Chỉ như vậy mới bảo đảm được nhận thức thực sự về sự vật, hiện tượng V.I.Lê-nin nói: “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và
Trang 24nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó [tr 48,1] Thí dụ, để làm rõ bản chất của tư bản cần phải nghiên cứu các quan hệ tiền tệ
- hàng hóa, việc chuyển hóa sức lao động thành hàng hóa và quan hệ giữa sức lao động với người sở hữu các tư liệu sản xuất, Tuy nhiên, V.I.Lê-nin nói: “Không bao giờ chúng ta đạt đầy đủ yêu cầu đó, nhưng dù sao cần phải tuân theo yêu cầu đó, yêu cầu
đó hướng chủ thể nghiên cứu phải sưu tầm lượng thông tin về đối tượng ở mức nhiều nhất có thể được và nhờ đó mà tránh được sai lầm và cứng nhắc” [tr 49, 1]
Trên con đường làm rõ các tính chất và bản chất của chúng cũng xuất hiện yêu cầu phải tách ra một tính chất nào đó để nghiên cứu nghĩa là yêu cầu xem xét toàn diện chuyển sang yêu cầu xem xét phiến diện thông qua lăng kính của một mặt, mặt này là chủ yếu, quyết định trong tổng thể cần nghiên cứu và thể hiện thành nền tảng của sự vật Nhưng sau khi các mặt quan hệ quy định trong tổng thể cần nghiên cứu đã được tách ra thì nó lại chuyển hóa thành điểm xuất phát để xây dựng nên hệ thống các khái niệm Nhờ hệ thống này mà người ta lý giải được về mặt lý luận bản chất của đối tượng và lần lượt suy ra các mặt (thuộc tính), quan hệ tất yếu và mối liên hệ qua lại giữa chúng Thế là, trong quá trình phát triển tiếp theo của nhận thức, cách xem xét phiến diện lại chuyển sang toàn diện cho phép tái hiện về mặt lý luận tất cả các mặt và quan hệ tất yếu gắn liền với đối tượng trong mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của chúng Đến giai đoạn tái hiện bản chất của đối tượng trong hệ thống khái niệm thì yêu cầu về tính toàn diện được thực hiện gần như triệt để
Tóm lại, nguyên tắc toàn diện là một trong những nguyên tắc quan trọng của phương pháp biện chứng, nó xuất hiện và tác động trong tất cả các giai đoạn tiếp theo trong sự phát triển nhận thức Tuy nhiên, ở các giai đoạn đó cũng cần phải phối hợp với các nguyên tắc khác của phương pháp biện chứng để quá trình tư duy được hoàn thiện hơn
1.2.2 Nguyên tắc lịch sử
Như chúng ta đã biết, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều ở trong trạng thái vận động và biến đổi không ngừng Trong thực tế, nếu vận động là thuộc tính, là phương thức tồn tại của vật chất; nếu tất cả các vật chất đều là những hệ thống vận động tương đối ổn định, hình thành và phát triển theo những quy luật nhất định và nếu hình thức vận động quy định bản chất của chúng thì muốn nhận thức được sự vật, hiện tượng phải xem xét nó trong sự vận
Trang 25phát triển cơ bản mà sự vật, hiện tượng trải qua mới có thể hiểu được, giải thích được các thuộc tính và mối liên hệ tất yếu, các đặc điểm về chất và lượng của sự vật
Yêu cầu xem xét sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển của nó là nhân tố quan trọng bậc nhất trong nội dung của nguyên tắc lịch sử Thông thường người ta lấy yêu cầu đó làm đặc trưng cho chủ nghĩa duy vật Phương pháp lịch sử coi như là một trong những phương pháp nhận thức hiện thực khách quan, đặc biệt là các phương pháp nhận thức xã hội
Nguyên tắc lịch sử yêu cầu xem xét khách thể trong sự tự vận động và phát triển của nó Nguyên tắc lịch sử đòi hỏi chúng ta không chỉ miêu tả những biến đổi trong khách thể, chỉ ra những trạng thái về chất thay thế lẫn nhau mà còn phải tìm ra mối liên hệ tất yếu khách quan giữa các hiện tượng nối tiếp nhau; tìm ra các quy luật khách quan chi phối sự hoạt động và phát triển của khách thể, của cái hiện tồn và khả năng chuyển hóa của nó sang một chất mới, chất mới đó vừa là cái phủ định vừa là cái nối tiếp của chất cũ tức là duy trì nó dưới dạng đã cải tạo Nếu vạch ra được mối liên
hệ tất yếu giữa các trạng thái về chất tạo ra lịch sử hình thành và phát triển của chỉnh thể cần nghiên cứu thì có thể hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng
Quan điểm lịch sử ước định không chỉ tái hiện trong nhận thức sự phát triển của khách thể cần nghiên cứu mà còn vạch ra mối liên hệ tất yếu giữa các hiện tượng, các quy luật thay thế nhau, chi phối sự quá độ từ một giai đoạn hình thành và phát triển này của khách thể sang một giai đoạn khác Vì vậy, trong phương pháp, bản chất cái lịch sử không loại trừ cái lô-gich mà có quan hệ hữu cơ với cái lô-gich Ở đây, lịch sử thể hiện dưới dạng đã gột sạch hết cái ngẫu nhiên được uốn nắn cho phù hợp với các quy luật của bản thân quá trình lịch sử Khi nêu lên đặc trưng này trong phương pháp
mà Mác đã vận dụng trong bộ “Tư bản”, Ăngghen viết: “Về thực chất, phương pháp này chẳng qua cũng chỉ là phương pháp lịch sử, chỉ có khác là đã thoát khỏi hình thái lịch sử và khỏi những hiện tượng ngẫu nhiên gây trở ngại mà thôi” [tr135,1] Tóm lại, nguyên tắc lịch sử hướng người nghiên cứu xem xét đối tượng trong sự vận động và phát triển, vạch ra mối liên hệ tất yếu giữa các hiện tượng thay thế nhau, những quy luật chi phối bước quá độ của một chỉnh thể từ trạng thái này sang trạng thái khác Trong tiến trình vận dụng, nó lại đòi hỏi đề ra những yêu cầu mới, nguyên tắc mới của phương pháp biện chứng
1.2.3 Nguyên tắc phát triển
Trang 26Khi nói về nguyên tắc phản ánh quy định yêu cầu khách quan của sự xem xét thì một điều không thể không nói đến là: Ý thức không phản ánh hiện thực một cách giản đơn, thụ động mà phản ánh năng động, có những biến đổi và cải tạo nhất định, không phải máy móc mà phản ánh một cách sáng tạo Tính năng động của chủ thể trong quá trình nhận thức là điều kiện tất yếu để phát hiện bản chất của khách thể nghiên cứu; để làm sáng tỏ các mối liên hệ, quan hệ và thuộc tính vốn có của nó Nếu chủ thể đóng vai trò là người quan sát trực quan giản đơn đối với khách thể nghiên cứu thì chỉ có thể phản ánh một vài thuộc tính bên ngoài trong những điều kiện tự nhiên sẵn có của nó mà thôi Những thuộc tính này không cho ta quan niệm về bản chất của đối tượng Để phát hiện bản chất của chúng cần phải tác động lên nó, đặt nó trong những mối liên hệ và quan hệ khác với điều kiện mà trong đó khách thể đang tồn tại, biến đổi trạng thái tự nhiên của khách thể; từ đó con người đi sâu và phát hiện ra những thuộc tính và những mối liên hệ tất yếu vốn có của nó, những quy luật chi phối
sự hoạt động và phát triển của khách thể
Ngoài yêu cầu làm biến đổi khách thể, nó còn bao hàm yêu cầu làm biến đổi một cách tương ứng những hình tượng lý tưởng nảy sinh trong quá trình nhận thức khách thể; những hình tượng phản ánh như thế này hay thế khác những thuộc tính và những mối liên hệ của khách thể Để làm điều này, con người cần có tri thức về cái chung được lặp lại trong nhiều đối tượng hoặc hiện tượng tương tự, về cái tất yếu xảy
ra không thể tránh khỏi trong những điều kiện phù hợp Cuối cùng, con người cần hiểu biết về những quy luật chi phối sự hoạt động, phát triển và qua đó biết được bản chất của nó, đồng thời phải sửa một cách căn bản những hình tượng cảm tính thu được do kết quả của sự tri giác trực tiếp về khách thể, phải tách biệt cái chung với cái đơn nhất, cái tất yếu với cái ngẫu nhiên, phải tạo ra những hình tượng lý tưởng, những khái niệm phản ánh những mối liên hệ chung, tất yếu; lập ra những mô hình lý tưởng tái hiện lại các mặt và những mối liên hệ tất yếu bên trong và bản chất của khách thể
Vậy, nhiệm vụ của nhận thức là từ những yếu tố bên ngoài đi vào yếu tố bên trong, từ hiện tượng đi đến bản chất Vì cái bên ngoài và cái bên trong, hiện tượng và bản chất không trùng hợp nhau nên nhận thức đi đến bản chất cần có tiền đề làm biến đổi các hình tượng lý tưởng, cải tạo các tài liệu cảm tính để đi đến bản chất của khách thể nghiên cứu
Trang 27Tóm lại, nguyên tắc phát triển đòi hỏi phải biến đổi khách thể nhận thức và cải tạo một cách sáng tạo các dữ liệu cảm tính vạch ra bản chất của khách thể là có căn cứ khách quan Những sự biến đổi, cải tạo được thực hiện phải phù hợp với tính quy luật
có thực của lĩnh vực được nghiên cứu; phải phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ
có thực của lĩnh vực ấy
Trang 28Chương 2 TÍNH BIỆN CHỨNG CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1954 2.1 Khái quát cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1954
2.1.1 Phong trào cách mạng sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời
Đất nước trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội thuộc địa Việt Nam tiếp tục phân hóa, mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp tiếp tục tăng lên Giai cấp nông dân và giai cấp vô sản là hai bộ phận đông đảo nhất trong xã hội, cũng là hai đối tượng chủ yếu của chính sách bóc lột vơ vét của tư bản Pháp ở thuộc địa Họ lại có đời sống
bị bần cùng hóa và hiện đang bị đe dọa trực tiếp bởi nạn chết đói, thất nghiệp không có cách nào chống đỡ Trong các xưởng dệt ngày làm việc từ 7 giờ sáng đến 9 giờ tối, ở các đồn điền công nhân phải làm việc từ 15 - 16 giờ một ngày Do đó các tầng lớp lao động như nông dân, thợ thủ công, vô sản, cùng những người làm nghề tự do ở cả thành thị và thôn quê, điều mong muốn đấu tranh cải thiện đời sống và chống lại xã hội thuộc địa
Ở Việt Nam từ năm 1930 trở đi, con đường Cách mạng vô sản đã dẫn dắt nhân dân ta đấu tranh bằng những cao trào rộng lớn Mở đầu cho những bước phát triển mới
là sự bùng nổ cao trào chống đế quốc phong kiến những năm 1930 - 1931, đỉnh cao là
sự xuất hiện và tồn tại của các Xô - Viết ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh
Ngày 1/5/1930 nhân kỷ niệm Quốc Tế Lao động, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ động giành lấy việc phát động phong trào trên phạm vi toàn quốc với 2 lực lượng đông đảo nhất là vô sản và nông dân cờ đỏ búa liềm lần đầu tiên xuất hiện ở các thành phố lớn và nhiều vùng thôn quê Những cuộc mít - tinh, biểu tình, biểu dương lực lượng kỷ niệm ngày 1/5 được tổ chức thật rầm rộ Trong đó cuộc mít - tinh ở Vinh - Bến Thủy đã bị thực dân Pháp đàn áp dã man Phong trào của công nông từ Vinh - Bến Thủy lan nhanh sang các huyện, tổng của hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh Với sự hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân theo lời kêu gọi của Xứ ủy Trung Kỳ Chỉ 3 tháng kể từ 1/5/1930 ở Nghệ An và Hà Tĩnh có 97 cuộc đấu tranh Đó là bước chuẩn
bị trực tiếp đưa phong trào ở đây lên đỉnh cao
Mặc dù còn sơ khai nhưng các Xô Viết Nghệ Tĩnh đã có thực chất là một chính quyền cách mạng của công - nông do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua Đảng tiên
Trang 29phong của nó Việc đập tan bộ máy chính quyền cũ, xây dựng bộ máy chính quyền mới, tổ chức một xã hội mới dân chủ tự do thật sự cho nhân dân lao động, tích cực bảo
vệ chính quyền vừa giành được…, đó là những nhiệm vụ lớn lao mà các Xô Viết đã bước đấu thực hiện, nhất là các Đảng bộ ở đây chưa sẵn sàng, các điều kiện chủ quan, khách quan, thuận lợi của cách mạng cả nước chưa có, những việc làm tích cực đó còn
là sự đột phá táo bạo
Các Xô Viết ở Nghệ Tĩnh chỉ được tồn tại chưa đầy 8 tháng, kể từ tháng 9/1930, nhưng đã có nhiều cố gắng sáng tạo trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa - xã hội Còn bọn thực dân phong kiến thì vô cùng hoảng sợ Chúng cho rằng “Từ khi nước Pháp đặt nền đô hộ trên đất nước này, chưa bao giờ có một nguy cơ nào đe dọa sự an nguy nội bộ của mình lớn hơn, thực sự hơn” và nó “Rất trầm
khi các Xô Viết Nghệ Tĩnh bị dìm trong biển máu, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta gặp nhiều khó khăn do bị tổn thất nhiều cả về lực lượng, tổ chức, phương thức hoạt động cũng không còn thích hợp nữa
Trong lúc đó, những bộ phận cơ sở Đảng còn lại cũng kiên trì đấu tranh bảo vệ
và xây dựng củng cố lực lượng, gây dựng tổ chức, phát triển phong trào của mình Các
xứ ủy lâm thời sau nhiều nỗ lực đã được gây dựng lại ở Bắc Kỳ (1932), ở Nam Kỳ (1933), ở Trung Kỳ (1934), các cơ sở Đảng Cộng Sản Đông Dương cũng được xây dựng ở Campuchia và Lào năm 1934
Tháng 3/1935, được sự giúp đỡ của Quốc Tế Cộng Sản, những người cộng sản Đông Dương đã tiến hành cuộc Đại hội Đảng ở Ma Cao, bầu ra Ban Chấp Hành Trung Ương mới gồm 13 thành viên do đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng Bí thư Nghị quyết chính trị của Đại hội Đại biểu lần thứ nhất ngày 27 - 31/3/1935 của Đảng Cộng Sản Đông Dương vạch rõ “Thâu phục quảng đại quần chúng là một nhiệm vụ trung tâm,
Đông Dương đã được phục hồi về tổ chức
Có thể nói những năm đầu tiên trên con đường Cách mạng vô sản, phong trào dân tộc sau hơn nửa thế kỷ tồn tại, phát triển đã có những yếu tố căn bản được kiểm nghiệm trong thực tế để khẳng định có thể đảm bảo đưa phong trào đến thắng lợi cuối cùng
Trang 30Trong cao trào Dân Chủ những năm 1936 - 1939, đời sống tư tưởng văn hóa của dân tộc cũng có nhiều thay đổi, phản ánh sự chuyển biến của đời sống kinh tế - xã hội thuộc địa những năm trước chiến tranh
Về tư tưởng, cuộc đấu tranh cho những quan điểm duy vật và tư tưởng yêu nước - cách mạng, vẫn được duy trì đẩy mạnh theo đà phát triển của những năm 1933 -
1935
Phong trào báo chí công khai rầm rộ ở cả Bắc lẫn Nam suốt mấy năm 1936 -
1939 Bắc Kỳ có Notre Voix, Le Travail, En Vant, Tin Tức, Thời Thế, Đời Nay, Bạn Dân; Trung Kỳ có Nhành Lúa, Kinh Tế Tân Văn, Dân, Sông Hương Tục Bản; Nam
Kỳ có L’Avantgarde, Le People, Dân Chúng, Lao Động… Văn hóa văn nghệ là lĩnh vực có nhiều nét phát triển mới, thể hiện rõ nhất những đổi thay trong đời sống tinh thần của đời sống xã hội Sách chính trị lần đầu tiên được công khai xuất bản Cuốn
“Vấn Đề Dân Cày” của Qua Ninh và Vân Đình (1937), “Chủ nghĩa Mác” của Hải Triều (1938) và các sách giới thiệu về Liên Xô, Trung Quốc, về Mặt Trận Bình Dân Pháp… nhanh chóng đến với mọi người yêu nước và cách mạng Thơ Tố Hữu từ năm
1938 đã chinh phục quần chúng yêu nước và đánh dấu sự xuất hiện nền thơ ca cách mạng trong cuộc đấu tranh dân chủ công khai Trong lúc đó dòng văn học Hiện thực phê phán cũng bước vào thời kỳ sinh sôi nảy nở lấn lướt cả dòng văn học lãng mạng đang đi vào phân hóa Các tác phẩm Tắt Đèn, Việc Làng (Ngô Tất Tố), Bỉ Vỏ (Nguyên Hồng), Bước Đường Cùng (Nguyễn Công Hoan), Số Đỏ (Vũ Trọng Phụng), Lầm Than (Lang Khai)… trở thành món ăn tinh thần mới của nhiều tầng lớp xã hội Đến cuối năm 1938, khi cuộc chạy đua vũ trang chuẩn bị chiến tranh của chủ nghĩa phát xít càng ráo riết, thì những thuận lợi cho các hoạt động đấu tranh dân chủ hòa bình ngày một ít dần đi Ở Đông Dương bọn phản động thuộc địa từ cuối năm 1938 đầu năm 1939 bắt đầu ngăn cản và cấm đoàn những hoạt động dân chủ công khai của quần chúng
Cao trào đấu tranh dân chủ công khai những năm 1936 - 1939 là một cao trào của quần chúng hiếm có ở xứ thuộc địa Với cao trào này, lực lượng đấu tranh của dân tộc được hình thành từ thời kỳ 1930 - 1931, gây dựng hồi phục lại những năm 1932 -
1935 nay được củng cố bổ sung thành một đạo quân hùng hậu hàng triệu người ở cả nông thôn và thành thị với nhiều tầng lớp giai cấp khác nhau Tận dụng mọi khả năng điều kiện thế giới, và trình hình trong nước những năm trước chiến tranh để đưa cả dân
Trang 31tộc và một cuộc vận động cách mạng, với nhiều hình thức hoạt động phong phú, sôi nổi Đó là thành công lớn, bài học quý báu từ thực tiển đấu tranh những năm 1936 -
1939 là hành trang của Đảng Cộng Sản Đông Dương và tất cả những người yêu nước Việt Nam đem theo trong quá trình đấu tranh cho tự do độc lập
Công cuộc chuẩn bị và tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tình hình đất nước trong những năm Chiến tranh Thế giới II
Cũng như cuộc chiến tranh lần trước, Đông Dương cung cấp sức người sức của cho chính quốc ngày một nhiều, lần này ngay từ những ngày đầu chiến tranh, Pháp đã ráo riết bắt lính, lập thêm sân bay và trại lính, củng cố các quân cảng, huấn luyện quân trù bị, chuyển một số nhà máy sang phục vụ chiến tranh Toàn quyền Catroux tuyên bố tháng 11/1939 rằng Đông Dương phải để cho nước Pháp sử dụng nguồn nhân lực của mình… dù có tham gia trực tiếp hay không vào cuộc chiến, Đông Dương cũng không được tự do có phương hướng riêng của nền kinh tế và tài chính của mình mà phải quy
tụ nó vào những mục đích có mẫu quốc chỉ định Đông Dương phải… vì lợi ích của mẫu quốc, cung cấp những sản phẩm của đất đai và trong lòng đất mà nước Pháp đòi hỏi Mâu thuẫn của nhân dân Đông Dương với thực dân Pháp và tay sai càng gay gắt, không thể không dẫn đến bùng nổ những cuộc đấu tranh một mất một còn
Tình hình diễn ra đúng như Nguyễn Ái Quốc đã dự đoán từ năm 1930 khi cuộc chiến tranh đế quốc lần thứ 2 đang được chuẩn bị rằng “Khi cuộc chiến tranh đó nổ ra, thì nhất định đế quốc Pháp sẽ đẩy anh chị em chúng ta vào một cuộc chém giết đầy tội
nhiều tai họa cho nhân dân Đông Dương Chính vì vậy, trước tình cảnh “một cổ hai tròng” áp bức, mâu thuẫn dân tộc ngày càng bức bách, các tầng lớp nhân dân yêu nước cùng lực lượng cách mạng ở các địa phương đã tự động đứng lên đấu tranh
Ngày 27/9/1940, khởi nghĩa Bắc Sơn đã nổ ra trên một vùng rộng lớn của Châu Bắc Sơn (Bắc Ninh) Đó là cuộc khởi nghĩa cục bộ đầu tiên báo hiệu một cao trào mới của phong trào dân tộc đã bắt đầu Được kích thích bởi tiếng súng Bắc Sơn, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã được gấp rút chuẩn bị trên quy mô lớn
Tại Hội nghị Xuân Thới Đông tháng 9 năm 1940, những công việc chuẩn bị cho khởi nghĩa đã ráo riết hơn Hội nghị đã quyết định lấy lá cờ hình chữ nhật màu đỏ có ngôi sao vàng ở giữa làm biểu tượng cho ý chí đấu tranh kiên quyết giành tự do và độc
Trang 32lập, hội nghị còn cử người ra trung ương xin ý kiến chỉ đạo để khởi nghĩa có thêm sự phối hợp của đất nước
Như vậy, từ khởi nghĩa Bắc Sơn đến khởi nghĩa Nam Kỳ và binh biến Đô Lương, quần chúng yêu nước trước thời cơ chiến tranh, từ Bắc đến Nam dù trong hoàn cảnh và điều kiện nào, cũng có một nhận thức và hành động thiết thực là phải đứng lên chống bọn áp bức dân tộc Những cuộc khởi nghĩa đầu tiên này tuy sớm bị đàn áp và thất bại, nhưng sức quật khởi của khối quân thù của toàn dân tộc thì không có gì có thể dập tắt được, nó sẽ được hướng vào chẩn bị cho cuộc tổng nổi dậy của toàn dân tộc dưới ngọn cờ chung của những người cộng sản
Tháng 2/1941 Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp cùng những người Cộng sản Đông Dương tổ chức phong trào, lãnh đạo đấu tranh Tháng 5/1941, sau khi thí điểm xây dựng Mặt Trận Việt Minh ở Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương lần thứ VIII tại Pắc-Pó (Cao Bằng), Với những dự đoán sáng suốt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về diễn biến của chiến tranh đế quốc và triển vọng của phong trào dân tộc, Đảng Cộng Sản Đông Dương tại Hội nghị lịch sử này đã tiếp tục đề ra nhiều chủ trương và chính sách cụ thể có ý nghĩa hoàn chỉnh đường lối và phương pháp cách mạng giải phóng dân tộc trong giai đoạn mới
Đảng Cộng Sản Đông Dương đã theo dõi sát mối quan hệ Nhật - Pháp và ngày 9/3/1945 khi có dấu hiệu đảo chính, Ban thường vụ trung ương đã họp mở rộng tại Đình Bản (Từ Sơn, Bắc Ninh) Cuộc họp vừa bắt đầu thì tiếng súng đảo chính nổ ran như lời minh họa cho những dự đoán chính xác của Đảng Hội nghị nhận định những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa ở Đông Dương đang đi đến chín muồi một cách nhanh chóng và một cao trào cách mạng nổi dậy Đó là:
1 “Chính trị khủng hoảng (quân thù không rảnh tay đối phó với cách mạng)”
2 “Nạn đói ghê gớm (quần chúng oán ghét quan cướp nước)”
3 “Chiến tranh đến giai đoạn quyết liệt (đồng minh sẽ đổ bộ vào Đông Dương đánh Nhật)”
Trên cơ sở đó, Hội nghị thường vụ chủ trương thay đổi khoẩu hiệu và phương pháp cách mạng cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới, phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa Hội nghị dự kiến thời cơ cho cách mạng bùng nổ nhưng nhấn mạnh việc không ỷ lại vào quân đồng minh … Ngày 12/3/1945 kết thúc hội nghị lịch sử này, bản chỉ thị “Nhật - Pháp bắn
Trang 33nhau và hành động của chúng ta” đã ra đời Ngay sau đó, phong trào “Kháng Nhật cứu nước” đã bùng nổ tại các tỉnh Bắc Bộ đến Trung Bộ Ở Việt Bắc, Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân và Cứu Quốc Quân đã cùng với nhân dân địa phương khởi nghĩa, xóa bỏ bộ máy chính quyền địch ở cơ sở, lập Ủy ban dân tộc giải phóng cao cấp, lập đội du kích, tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho tá điền
Nghe tin Nhật đầu hàng, quần chúng nhân dân và các lực lược cách mạng Đông Dương vô cùng phấn khởi, ngọn lửa quật khởi trong lòng dân tộc bỗng bùng lên khắp nơi Những cuộc mít tinh, biểu tình, biểu dương lực lượng do Việt Minh tổ chức có hàng vạn người tham gia Các tầng lớp trung gian cũng ngã về phía cách mạng Binh sĩ
và cảnh sát cũng tỏ thái độ ủng hộ Việt Minh
Ngày 13/8/1945 Đảng Cộng Sản Đông Dương họp Hội nghị toàn quốc tại Tân Trào (Tuyên Quang) quyết định phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập do Trường Chinh phụ trách, đêm 13/8/1945 Ủy ban này ra “Quân lệnh số 1” hạ lệnh tổng khởi nghĩa Ngày 16 và 17/8/1945 Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh chuẩn bị từ trước cũng được triệu tập ở Tân Trào
Ngày 14/8/1945, các đồn Nhật còn lại ở Khu Giải phóng Việt Bắc bị bức hạ, các tỉnh Việt Bắc giải phóng hoàn toàn Ngày 16/8/1945 giải phóng Thái Nguyên Ngày 19/8/1945 Việt Minh đã biến cuộc mít - tinh của bọn tay sai thân Nhật thành cuộc biểu dương lực lượng của các tầng lớp nhân dân, sau đó đoàn người biểu tình tỏa
đi chiếm các công sở: Phủ Khâm sai, Sở Mật thám, Sở Bưu điện, trại Bảo an binh… Trong ngày 19/8/1945 tổng khởi nghĩa đã thành công ở Hà Nội Các tỉnh còn lại ở Bắc
Bộ cũng nhanh chóng khởi nghĩa, lật đổ hệ thống chính quyền địch, giành chính quyền
về tay nhân dân
Cuối tháng 8/1945 Chính phủ lâm thời từ Việt Bắc về Hà Nội Hồ Chí Minh khẩn trương chuẩn bị buổi lễ ra mắt Chính phủ Việt Nam mới và thảo ra bản Tuyên Ngôn Độc Lập Ngày 2/9/1945 hàng chục vạn người mít - tinh tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội) mừng Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân Thay mặt chính phủ, Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Bản tuyên ngôn đã khẳng định những chân lý được nêu lên trong các bản Tuyên Ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp và Tuyên Ngôn Độc Lập của nước
Mỹ là “những lẽ không ai chối cãi được” Sau khi lên án tội ác xâm lược, thống trị,
Trang 34bóc lột của thực dân và phát xít, đó là nguyên nhân trực tiếp buộc nhân dân phải nổi dậy khởi nghĩa lật đổ ách thống thị của thực dân, phát xít và tay sai Tuyên ngôn đã tuyên bố với thế giới và nhân dân cả nước: Cách Mạng Tháng Tám đã thành công, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời Tuyên ngôn kết thúc bằng việc nêu lên ý chí đanh thép “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng,
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo chủ chốt của Cách Mạng Tháng Tám đã đánh giá: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này
là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền trong toàn
mở ra thời kỳ lịch sử hiện đại của Việt Nam
2.1.2 Tình hình Việt Nam sau chiến tranh thế giới lần II
Những thuận lợi và khó khăn của nền kinh tế - xã hội và quá trình củng
cố xây dựng chính quyền mới sau Cách Mạng Tháng Tám
Sau Cách Mạng Tháng Tám, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng lúc phải đối phó với muôn vàn khó khăn phức tạp Nền kinh tế đất nước sau gần một thế kỷ bị chủ nghĩa thực dân kìm hãm và phải phục vụ chiến tranh đế quốc, đã trở nên xơ xác tiêu điều Đồng ruộng hoang hóa, thiên tai liên miên làm cho nông nghiệp mất mùa liên tục Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bị đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giao thông ách tắc, tài chính trống rỗng… Nạn thất nghiệp gia tăng ở cả thành thị và nông thôn, đặc biệt là nạn đói ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ tiếp tục đe dọa hàng triệu người Đất nước có hơn 90% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội lan tràn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân vô cùng thấp kém Cái đói và cái dốt tích tụ từ bao năm đang kìm hãm
cả dân tộc vừa giành được chính quyền về tay nhân dân Nền Dân Chủ Cộng Hòa Việt Nam đang rất cần điều kiện hòa bình để củng cố xây dựng
Những khó khăn phức tạp về kinh tế xã hội cùng với nạn thù trong giặc ngoài
ập đến, gây áp lực lớn đối với nền dân chủ cộng hòa còn trứng nước Vận mệnh của dân tộc đang đứng trước thử thách nghiêm trọng khác nào “ngàn cân treo sợi tóc” Sự lựa chọn chỉ có thể là hoặc tiếp tục con đường cách mạng hoặc đầu hàng Tuy lúc ấy
Trang 35không ai chọn con đường thứ hai, nhưng phải tiếp tục con đường cách mạng như thế nào để đưa con thuyền Cách mạng Việt Nam ra khỏi thác ghềnh?
Ngày 3/9/1945, ngay sau khi mừng độc lập Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị thực hiện 6 biện pháp cấp bách: phát động phong trào tăng gia sản xuất và mở lạc quyên cứu đói, mở phong trào chống nạn mù chữ, tổ chức ngay cuộc tổng tuyển cử tự
do dân chủ, mở phong trào giáo dục cần kiệm liêm chính, bài trừ hủ bại, bỏ ngay 3 thứ thuế vô nhân đạo (thuế thân, thuế chợ, thuế đò) và cấm hút thuốc phiện, tuyên bố tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết Đây vừa là đòn tấn công đầu tiên của chính quyền mới, vừa là chính sách kinh tế xã hội đầu tiên của chế độ Dân Chủ Cộng Hòa Việt Nam
Việc xây dựng một nhà nước pháp quyền cũng được tổ chức khá sớm Ngày 6/1/1946 cuộc Tổng tuyển cử tự do đầu tiên trong lịch sử dân tộc được tiến hành trên phạm vi cả nước Trong năm 1946 nhiều hoạt động chính trị xã hội được tiến hành để tăng cường thực lực cách mạng Các Hội Cứu Quốc, thành viên của Mặt Trận Việt Minh được phát triển nhanh chóng, tháng 5/1946 Mặt Trận Liên Việt được thành lập Tháng 7/1946 Đảng Xã Hội Việt Nam ra đời Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam và sau đó Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam ra đời Tháng 11/1946 Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất được triệu tập… Chỉ trong vòng 1 năm sau Cách Mạng Tháng Tám thành công, các tổ chức đảng phái yêu nước, các đoàn thể quần chúng nhân dân đã được tập hợp thống nhất dưới ngọn cờ cách mạng của Đảng Cộng Sản và Chính phủ
Hồ Chí Minh, tất cả đều hướng đến một mục tiêu chung: xây dựng nền hòa bình dân chủ Việt Nam, kiến thiết độc lập tự do cho dân tộc
Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, đất nước có nhiều loại kẻ thù như lúc này
và cũng chưa bao giờ ta phải tung ra cùng lúc nhiều “ngón nghề trí tuệ” như thế để chống thù trong giặc ngoài
Hàng loạt các đối sách vừa linh hoạt mềm dẻo vừa cương quyết cứng rắn đã được ứng dụng từ tháng 8/1945 đến cuối năm 1946 Đối với quân Nhật, trước khi chúng bị giải giáp ra khỏi Đông Dương, ta nhanh chóng giành lấy chính quyền từ tay chúng; sau đó tuỳ theo thái độ của chúng để hoặc là tạo thuận lợi cho chúng về nước hoặc dùng hành động cưỡng chế với chúng
Đối với quân Đồng minh Anh lúc đầu ta đón tiếp thân thiện, nhưng khi họ giúp Pháp đánh chiếm Nam Bộ thì ta cật lực phản đối và có hành động kiên quyết