1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỰ THỐNG NHẤT của tư TƯỞNG BIỆN CHỨNG với lý LUẬN NHẬN THỨC TRONG TRIẾT học hê RA CLÍT

17 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhận thức về sự vật, hiện tợng, Hêraclít đã chỉ ra nhng còn “mang tính phỏng đoán” về sự phân đôi của một thể thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ nhau nhng chúng vẫn gắn liề

Trang 1

Mở đầu

Hê-ra-clít (544-483 tr.CN), nhà triết học duy vật, đại biểu xuất sắc của t tởng biện chứng Hy Lạp cổ đại Theo đánh giá của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hê-ra-clít là ngời sáng lập t tởng biện chứng trong triết học phơng tây cổ đại, hơn thế nữa t tởng biện chứng của ông là biện chứng trên lập trờng duy vật Có thể xem Hêraclít là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong giai đoạn đầu của triết học Hylạp cổ đại Hê-ra-clít sinh ra ở thành phố E-phe-dơ một trung tâm kinh tế văn hóa nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại Ông thuộc tầng lớp chủ nô quý tộc, là dòng dõi quý tộc ở vùng Iônia, mang tính “cha truyền con nối”, nhng ông là ngời say mê nghiên cứu khoa học nên đã nhờng quyền cai trị kế vị cho em trai của mình tập trung nghiên cứu triết học Trong triết học, nếu nh Talét tìm thấy khởi nguyên của thế giới ở nớc, Aneeximen ở trong không khí thì Hêraclít lại coi "lửa" là bản nguyên của thế giới Ông cho rằng: Thế giới đã, đang, sẽ và mãi mãi bùng cháy và tàn lụi theo quy luật của nó Mọi sự vật, hiện tợng trong thế giới đều đợc sinh ra

từ lửa

Hêraclít cho rằng, thế giới vận động, biến đổi và có sự tác động giữa các

sự vật, hiện tợng là do thêm lửa hay bớt lửa Sự vận động của các sự vật là đi lên nếu đợc thêm lửa, sự vận động đó sẽ đi xuống nếu bớt lửa ( Lửa cháy thành không khí, bớt lửa thành nớc, nớc bớt lửa thành đá, đất; đất thêm lửa thành không khí…)

Hêraclít không chỉ là một nhà triết học duy vật mộc mạc thời cổ mà còn

là một trong các nhà triết học đầu tiên sáng lập phép biện chứng Ông có nhiều câu nói nổi tiếng thể hiện t tởng biện chứng nh: ''Chúng ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông, vì nớc sông không ngừng chảy ''

Hêraclít là nhà triết học vô thần, ông cho rằng, vũ trụ không phải do chúa trời hay một lực lợng siêu nhiên nào tạo ra, mà nó'' mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh viễn, đang không ngừng bùng cháy và tàn lụi"

Ngời đơng thời không hiểu đợc t tởng biện chứng của Hêraclít không thể hiểu đợc "sự vật tồn tại lại vừa không tồn tại, vừa là nó vừa là cái khác" Họ đã gọi triết học Hêraclít là triết học tối tăm

Trang 2

Hêraclít cũng thấy rõ vai trò của cảm giác, ông khẳng định không có cảm giác thì không có nhận thức, "mắt, tai là ngời thầy tốt nhất nhng mắt là nhân chứng chính xác hơn tai" Hêraclít đòi hỏi sự nhận thức phải đạt tới nhận thức quy luật phát triển của sự vật, chỉ ra bản chất của sự vật đó Hêraclít cũng thấy

rõ tính tơng đối và chuyển hoá biện chứng giữa tốt - xấu, thiện - ác, lợi - hại là tuỳ điều kiện cụ thể C.Mác, Ph.Ăngghen đánh giá cao chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng của Hêraclít và coi Hêraclít là đại biểu xuất sắc của phép biện chứng thời cổ

Về mặt chính trị xã hội, Hêraclít là ngời theo phái bảo thủ, chống lại dân chủ, thù địch với nhân dân Hêraclít cũng là ngời giải quyết một cách duy vật vấn đề ''linh hồn'' con ngời Ông cho rằng, ''linh hồn '' con ngời cũng do lửa tạo ra

NộI DUNG

Sự thống nhất của t tởng biện chứng với lý luận nhận thức trong triết

học Hê ra clít

Hê-ra-clít đã đứng trên lập trờng duy vật để giải quyết vấn đề “cơ sở đầu tiên” của thế giới Ông cho rằng lửa là bản nguyên của thế giới, là cơ sở duy nhất và phổ biến của tất cả mọi sự vật, hiện tợng tự nhiên Ông thừa nhận lửa

là bản nguyên của mọi vật Lửa là yếu tố căn bản, duy nhất, phổ biến của thế giới Ông lấy lửa để giải thích mọi hiện tợng tự nhiên; tất cả đều đợc trao đổi với lửa và lửa trao đổi với tất cả nh vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng, theo ông; các dạng vật chất, đều phát sinh từ lửa, cái chết của lửa-là sự

ra đời của không khí, và cái chết của không khí là sự ra đời của nớc, từ cái chết của nớc sinh ra không khí, (từ cái chết của không khí sinh ra lửa và ngợc lại), tùy theo mức độ của lửa mà mọi vật có thể chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác Vũ trụ không phải do một lực lợng siêu nhiên thần bí nào sáng tạo ra, cũng không phải do con ngời tạo ra, mà là- xa là thế, nay là thế và mai sau vẫn là nh thế Nó “mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh viễn không ngừng bùng cháy và tàn lụi” Xem toàn bộ vũ trụ nh ngọn lửa bất diệt, Hêraclít đã đa ra quan niệm duy vật nhấn mạnh tính vĩnh viễn và bất diệt của thế giới

Hêralít cho rằng: Thế giới các sự vật, hiện tợng thống nhất ở lửa Theo quan niệm của ông, lửa không phải theo nghĩa thông thờng, mà là lửa vũ trụ, lửa sản sinh ra không chỉ các sự vật vật chất, mà cả những hiện tợng tinh thần, cả linh hồn con ngời Đặc biệt ông đã nêu ra những t tởng biện chứng, nhấn mạnh tính vận động của vật chất thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập,

Trang 3

khẳng định mọi sự vật, hiện tợng đều vận động, biến đổi không ngừng.

Hêraclít đa ra luận điểm nổi tiếng: “Chúng ta không thể tắm hai lần trên cùng

một dòng nớc Mặt trời mỗi ngày một đổi mới, nó luôn luôn đổi mới và vĩnh” “

viễn đổi mới” Điều đó nói lên rằng; mọi sự vật luôn vận động biến đổi không

ngừng, cứ vận động, cứ trôi đi, chảy đi bất tận Mọi cái chỉ xảy ra có một lần, không lặp lại mặc dù giữa các sự vật có thể có sự kế thừa nhất định Ông thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập nhng trong các mối quan hệ khác nhau và đó là nguồn gốc của sự vận động biến đổi sự vật Tuỳ theo mỗi quan hệ mà sự vật biểu hiện những thuộc tính riêng biệt của nó Chẳng hạn,

“đối với loài cá Ông nói-thì nớc là rất cần thiết cho sự sống của nó, nhng đối với con ngời thì đó là một độc tố có hại” cũng nh; một con khỉ dù đẹp đến đâu nhng vẫn là xấu nếu đem so sánh nó với con ngời “ Cùng ở trong mỗi chung ta- sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già,” “ cái lạnh nóng lên, cái nóng lạnh đi; cái ớt khô đi, cái khô ớc lại” “ mọi vấtinh ra duy nhất, duy nhất sinh ra mọi vật”

Trong nhận thức phải nhận thức cái bản chất của sự vật- tức cái lôgos của nó Bản thân logos là sự thống nhất của các mặt đối lập Vũ trụ là một thể thống nhất, nhng trong lòng nó luôn luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các

sự vật, lực lợng đối lập, nhờ các cuộc đấu tranh đó mà mới có hiện tợng sự vật này chết đi, sự vật khác ra đời Dới con mắt của Hêraclít, mọi sự vật trong thế giới của chúng ta đều thay đổi, vận động, phát triển không ngừng Hêghen

từng nhận xét: “khi nói rằng mọi cái đang trôi đi, Hêraclít coi sinh thành là

phạm trù cơ bản của mọi tồn tại”1

Trong nhận thức về sự vật, hiện tợng, Hêraclít đã chỉ ra nhng còn “mang tính phỏng đoán” về sự phân đôi của một thể thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ nhau nhng chúng vẫn gắn liền với nhau, về sự đấu tranh và thống nhất của những mặt đối lập ấy Đây là một t tởng tiến bộ lúc bấy giờ, sau này Lênin đã chỉ ra: Phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận đối lập của

nó là thực chất của phép biện chứng Vì thế đấu tranh là vơng quốc của mọi cái, là quy luật phát triển của vũ trụ Mặc dù, phép biện chứng của Hêraclít cha

đợc trình bầy dới dạng một hệ thống khoa học, nhng hầu hết các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đã đợc ông đề cập đến dới dạng các câu danh ngôn, có tính thi văn và triết lý

1 G.V Ph Hêgen: Bách khoa toàn th triết học, Nxb T tởng, Mát xcơva, 1974, t1,tr226 (tiếng Nga)

Trang 4

Khác với nhiều nhà triết học thuộc trờng phái milê, họ chỉ chủ yếu quan tâm tới vấn đề bản thể luận, đi tìm cái bản nguyên đầu tiên của vũ trụ Hêraclít không chỉ đầu t trí tuệ của mình cho việc nhận thức, đi tìm cái bản nguyên và

lý giải cái bản nguyên vật chất ấy cuat thế giới là lửa, mà ông còn giành nhiều công sức để luận chứng cho sự nhận thức cái bản nguyên vật chất từ lửa Lý giải nguồn gốc và bản chất lửa của thế giới, nhận thức thế giới và những sự vật, hiện tợng cũng đợc sinh ra từ lửa Theo Hêraclít lửa là cơ sở của thực tại, mọi cái biến đổi thành lửa và lửa thành mọi cái Mọi thứ kể cả linh hồn, đều là biến thái của lửa, đó chính là sự thống nhất giữa t tởng biện chứng với vấn đề nhận thức luận trong hệ thống triết học của Ông

Tính thống nhất giữa t tởng biện chứng với lý luận nhận thức của triết học Hêraclit biểu hiện ở chỗ Ông cho rằng: Nhiệm vụ của nhận thức là phải hiểu biết sâu sắc về tự nhiên ông quan niệm, t tởng có giá trị rất vĩ đại, trí tuệ là ở chỗ biết lý giải sự thật và lắng nghe tự nhiên để giải thích và hành động theo

tự nhiên Trên cơ sở đó Hêraclít đã xây dựng nên một học thuyết về lý luận nhận thức Biện chứng trong lý luận nhận thức của Hêraclít thể hiện ở chỗ ông chỉ ra rằng: Nhận thức bắt đầu từ cảm giác, không có các cảm giác thì không thể có bất cứ nhận thức nào, ông đánh giá cao vai trò của các giác quan trong nhận thức các sự vật đơn lẻ, chính quá trình cảm giác mà chúng đem lại cho con ngời ta những hiểu biết xác thực và sinh động về sự vật, hiện tợng Mặt khác, Ông chỉ ra rằng, mục đích tối cao của chúng ta là phải nhận thức cái logos, nhận thức bản chất sự thống nhất của vũ trụ và sự thông thái tối cao

Ông khẳng định, mắt và tai là những ngời thầy tốt nhất, nhng mắt là ngời thầy tốt hơn tai Trăm nghe không bằng một thấy Điều đó đợc thể hiện ở tính độc

đáo và sâu sắc những vấn đề về lý luận nhận thức trong hệ thống triết học của

Ông: kiểu t duy suy luận đặc thù, phơng pháp nhận thức, sự thống nhất giữa các giai đoạn của quá trình nhận thức cho đến tính tơng đối của cả quá trình nhận thức Trong thế giới quan của Hêraclít, cái thể hiện rõ hơn cả là kiểu t duy, lối triết lý kết hợp một cách chặt chẽ những hình ảnh, hình tợng giàu chất nghệ thuật với những khái niệm khoa học giàu tính xác định, trực giác thẩm

mỹ với nhận thức triết học về thế giới Chính sự kết hợp độc đáo đó đã tạo nên

ở Ông một kiểu t duy, suy luận đặc thù hay trực giác trí tuệ, đây là nét đặc

tr-ng trotr-ng thế giới quan triết học của Hêraclít; đó là thế giới quan khôtr-ng hoàn toàn dựa trên cơ sở những dự liệu khoa học phong phú, những kinh nghiệm và

Trang 5

thử nghiệm khoa học Chính nét đặc trng này đã làm nên tính độc đáo trong

lý luận nhận thức của Hêraclít

Trong số các nhà triết học Hy lạp cổ đại, Hêraclít đợc coi là nhà triết học biện chứng với t duy trừu tợng cao nhất Ông luôn quan tâm đến các hiện tợng tự nhiên, nhng đó chỉ là sự quan tâm về phơng diện triết học, coi các hiện tợng của giới tự nhiên đó chỉ là những yếu tố cấu thành những bức tranh thế giới chung và hài hoà, trong đó mọi yếu tố cấu thành đều phải tuân theo các chỉnh thể duy nhất là logos trừu tợng Hay hiểu cách khác, mọi hiện tợng vật

lý diễn ra trong vũ trụ chỉ đợc Hêraclít xem xét trên bình diện các vấn đề triết học và coi chúng nh những yếu tố cấu thành “siêu hình học”- học thuyết về cái đang tồn tại Khi cố gắng lý giải và nắm bắt bản chất của mọi cái đang tồn tại bằng phơng pháp xem xét tổng thể ông đạt đến đỉnh cao so với các nhà triết học đơng thời, đã nhận thấy cái chỉnh thể trớc cái bộ phận Năng lực nhận thức cái chỉnh thể trớc cái bộ phận ở Hêraclít đợc giải thích không chỉ bởi t duy lý luận trừu tợng, mà còn bởi sức mạnh tởng tợng của nghệ thuật Với t cách một nhà triết học vừa có t duy lý luận trừu tợng, vừa có năng khiếu thẩm

mỹ và trí tởng tợng sáng tạo, khi nhìn sự “trôi đi”, “chảy đi” diễn ra hàng ngày

và hết sức thông thờng của dòng sông, một sản phẩm sáng tạo của tạo hoá, Hêraclít đã đi đến nhận thức triết học về tính phổ biến, tính vĩnh hằng của vận

động Ông khái quát “mọi vật đều trôi đi, chảy đi, không có cái gì đứng nguyên tại chỗ Về mối quan hệ giữa vận động và biến đổi, giữa sinh thành và diệt vong, về sự thay thế lẫn nhau, sự chuyển hoá lẫn nhau của mọi sự vật và hiện tợng Hêacrit cũng chỉ ra: “mọi sự vật vừa tồn tại, vừa không tồn tại, vừa

là nó vừa là cái khác” Hay nhìn sức căng của những sợi dây đàn, sức căng của cây cung-một sản phẩm nghệ thuật sáng tạo của con ngời thời cổ đại lúc căng

ra tạo ra lực đẩy và âm thanh, trùng xuống thì về nguyên vị trí ban đầu Hêraclít đã đi đến nhận thức triết học về sự hài hoà và đấu tranh của 2 mặt đối lập đó, về tính thống nhất của vũ trụ Triết học của ông về sau đợc các nhà duy vật biện chứng thời cận đại và hiện đại chứng minh sự đấu tranh của các mặt đối lập chính là nguồn gốc động lực của sự phát triển của các sự vật, hiện tợng trong tự nhiên, xã hội và t duy, đây là quan điểm nhận thức hết sức duy vật và khoa học

Với quan niệm “cây cung tên gọi của nó là sống, nhng tác dụng của nó là chết”, “đối lập tạo ra sự hài hoà, giống nh cây cung và chiếc đàn sáu dây”;

Trang 6

thân cây cung thì cứng, sợi dây cung thì mền, nhng những vật xung khắc lẫn nhau ấy lại hợp thành một; một sợi dây đàn của chiếc đàn phát ra âm thanh riêng, song những âm thanh khác nhau lại hợp thành một âm điệu êm đẹp nhất

đa con ngời bay bổng theo làn điệu âm thanh đó Năng lực t duy trừu tợng và khả năng sáng tạo nghệ thuật đã đêm lại cho Hêraclít sự nhận thức đúng đắn

về cái phổ biến và cái đặc thù, cũng nh sự chuyển hoá lẫn nhau của chúng

“B-ớc xuống cùng một dòng sông” (cái phổ biến), “ mỗi lần xuống đó đều tiếp nhận dòng nớc mới” (cái đặc thù) Hay khi Ông quan sát hiện tợng bùng cháy

và lụi tàn của ngọn lửa, Hêraclít đã sử dụng ngọn lửa sống động để giải thích

sự vận động, biến đổi phổ biến của các sự vật, hiện tợng nhờ bản chất thờng xuyên vận động của cái khởi nguyên vật chất ấy Hình ảnh ngọn lửa sống

động đó đã đem lại cho ông sự nhận thức đúng đắn về khả năng vận động, tính tích cực và sự sống của tất cả những cái hiện hữu Hay ông đã nâng cái cá biệt, cái đặc thù-cuộc đấu tranh về sự sống của những ngời Hy Lạp cổ, của dân tộc

Hy Lạp mà ông từng chứng kiến khái quát lên thành cái chung, cái phổ biến-mọi ngời sinh ra, biến-mọi dân tộc đang tồn tại trên thế giới đều luôn đấu tranh về

sự sống Hơn nữa ông đã khái quát sự chuyển hoá lẫn nhau giữa cái cá biệt, cái đặc thù, cái chung thành một phạm trù triết học, đó là nguyên lý về tính phổ biến và tính tất yếu của sự đấu tranh của các mặt đối lập: “Tất cả mọi sự vật đều ra đời trong đấu tranh” Có thể nói, hầu hết các kết quả nhận thức mà Hêraclít đã rút ra từ quan sát giới tự nhiên xung quanh và chiêm nghiệm đời sống xã hội của con ngời đều đợc hình thành trên cơ sở kết hợp t duy lý luận trừu tợng và khả năng sáng tạo nghệ thuật vốn có ở nơi Ông Đó cũng là nét

độc đáo của Hêraclít so với các nhà triết học đơng thời và cả sau này Bởi vì, nhận thức nghệ thuật khác với nhận thức khoa học nói chung, nhận thức triết học nói riêng ở việc xây dựng hệ thống các khái niệm Tuy nhiên đó chỉ là những

ph-ơng thức khác nhau, chứ không phải là phph-ơng thức loại trừ nhau trong quá trình nhận thức hiện thực khách quan Song các nhà triết học Hy Lạp cổ đại lại quá nhấn mạnh sự khác biệt giữa nhận thức triết học và nhận thức nghệ thuật Vì họ

đã không thấy đợc bản chất của vấn đề đó chính là mối quan hệ giữa triết học và nghệ thuật, triết học và thi ca Chính vì không hiểu mối quan hệ này, vì quá đề cao vai trò nhận thức của nghệ thuật và thi ca mà sau này, cuộc tranh luận về sự khác biệt giữa nhận thức triết học và nhận thức nghệ thuật đã trở thành cuộc tranh luận về thái độ của triết học đối với nghệ thuật và thi ca, khoa học với nghệ

Trang 7

thuật, còn trong bản thân triết học là sự đối lập giữa nhận thức lý tính và nhận thức cảm tính Nhng ở Hêraclít, t duy triết học trừu tợng và năng lực sáng tạo nghệ thuật, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính gắn kết với nhau thành một sự hài hoà bí ẩn, thành năng lực t duy “thống nhất trong sự bất

đồng” Nhờ kết hợp t duy lý luận với trực giác thẩm mỹ, lồng t duy lý luận vào trực giác thẩm mỹ và trực giác thẩm mỹ vào t duy lý luận theo kiểu cái này bao hàm cái kia và ngợc lại, kết hợp nhận thức triết học với sáng tạo nghệ thuật Hêraclít đã tạo ra sự gắn kết hài hoà giữa khái niệm khoa học (triết học) và hình tợng nghệ thuật trong học thuyết về nhận thức của Ông

Do vậy, khi nhận thức bản chất của mỗi yếu tố cấu thành sự vật, cũng nh sự vật đó với t cách một chỉnh thể, Hêraclít luôn nhận thấy ở nó có tính đa dạng, phong phú lẫn tính chính thể và nhìn nhận sự vật đó cả trong tính đa dạng lẫn trong tính chính thể của nó, coi nó là cái duy nhất đồng thời cũng

là cái bội đa, là cái thống nhất của một và đa số, sự hài hoà đợc tạo ra bởi cái chỉnh thể và cái cha chỉnh thể (cái bộ phận), cái phù hợp với nhau và cái không phù hợp với nhau, cái tích tụ và cái phân tán Từ cái chỉnh thể (đối lập) sinh ra cái một và từ cái một sinh ra cái chỉnh thể Có thể nói trong lĩnh vực nhận thức, t duy lý luận và trực giác thẩm mỹ là những cái đem lại cho Hêraclít khả năng nhận biết cái chung trong mỗi sự vật đơn nhất gắn kết cái

đặc thù với cái phổ biến, cái cá biện với cái chung, nhận thấy cái cá biệt trong cái phổ biến, cái chung và ngợc lại từ mỗi cái chung, cái phổ biến tìm

ra những cái cá biệt thể hiện rõ nét nhất bản chất của cái chung Cái phổ biến đó khi tìm ra những biểu hiện đa dạng, cụ thể của nó ở các sự vật, hiện tợng đơn nhất, cá biệt bằng cách so sánh, đối chiếu các sự vật, hiện t ợng

đơn nhất, cái cá biệt này với cái chung, cái phổ biến Sự vật đặt trong sự t

-ơng quan khác nhau “biểu lộ” ra một cách khác nhau tr ớc chủ thể Hêraclít

đa ra hàng loạt các dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm này, chẳng hạn

“mật ngọt đối với ngời bình thờng, nhng đắng đối với ngời bệnh”; “nớc biển đối với một số sinh thể là môi trờng sống, nhng đối với một số khác lại

tỏ ra độc hại”; “vàng là của quý đối với ngời, nhng vô giá đối với loài vật”; cũng nh “ một con khỉ dù đẹp đến đâu nhng vẫn là xấu đen so sánh với con ngời, những ngời toàn năng nhất cũng không thể so sánh với thần”

Nhiều nhà triết học trong lịch sử, trong đó có cả các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác, khi nghiên cứu học thuyết về nhận thức trong triết học của

Trang 8

Hêraclít đã coi phơng pháp nhận thức này của ông là phơng pháp “vừa nhìn thấy cây, vừa nhận thấy rừng”, đằng sau sự vật, hiện tợng đơn lẻ còn thấy hiện tợng phổ biến

Hêraclít đã diễn đạt phơng pháp nhận thức của ông thành một luận

điểm dới dạng một câu châm ngôn nổi tiếng: biết nhiều thứ cha làm cho

ng-ời ta thông minh, ngng-ời thông minh phải là ngng-ời nắm đợc bản chất và tính tất yếu của sự vật, hiểu đợc cái logos của vũ trụ Giải thích vì sao một ng ời biết nhiều thứ (đa tri thức), song do không hiểu đợc cái logos của vũ trụ thì nhiều lắm cũng chỉ đợc coi là con ngời có thể hiểu, chứ cha phải là nhà thông thái, ngời thông minh; Hêraclít cho rằng, ngời có đa tri thức thuần tuý chẳng qua chỉ là những sản phẩm của mách bảo nhận thức, mà mách bảo nhận thức thì ai sinh ra cũng có, ngời ta ai cũng có năng lực bẩm sinh

về nhận thức, t tởng là cái mà mọi ngời đều có Ngời có năng lực bẩm sinh

về nhận thức, năng lực bẩm sinh về t tởng; nhng nếu không hiểu cái logos (quy luật) của vũ trụ thì cùng lắm anh ta cũng chỉ có thể sử dụng lời nói hoặc sự thực để phân biệt từng sự vật hoặc chỉ ra thực chất của nó, còn khi phải thể hiện, diễn đạt cái thực chất này của sự vật, thì anh ta lại tỏ ra không có một chút hiểu biết nào cả; anh ta không hiểu đ ợc nên nghe nh thế nào, cũng không hiểu đợc nên nói nh thế nào giải thích điều này, Hêraclít còn cho rằng, sự kém phát triển của trí tởng tợng nghệ thuật và lý luận ở nhiều ngời đã làm mất đi ở họ khả năng nắm bắt đợc trong các sự vật mà họ

đang quan sát, chiêm nghiệm mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tợng, cái chung và cái riêng, tính phổ biến của cái cá biệt và tính cá biệt của cái phổ biến với t cách sự thể hiện đặc thù của nó ở cái cá thể, cái đơn nhất,

“cái duy nhất” (theo cách gọi của Hêraclít) Do vậy, họ không thể nắm bắt

đợc cái logos của vũ trụ, họ không trở thành nhà thông thái Chính sự kém phát triển của cảm giác thẩm mỹ, của năng lực sáng tạo nghệ thuật, cũng

nh của t duy lý luận trừu tợng đã khiến cho nhiều ngời trở thành nô lệ cho những cái vốn đã lạc hậu và quen thuộc đối với t duy Với những ngời nh thế, dù có biết nhiều thứ (đa tri thức) thì cũng không thể trở thành ng ời thông minh, nhà thông thái đợc Bởi vì, họ không có khả năng sử dụng một cách sáng tạo những tri thức mà họ đã có đợc để rút ra những tri thức mới,

họ chỉ biết sao chép, bắt chớc một cách máy móc, chỉ biết liệt kê các sự kiện, hay mô tả chúng mà không biết phân tích tổng hợp, không hiểu đ ợc

Trang 9

bản chất của sự vật, hiện tợng, cũng nh mối quan hệ của các sự vật, hiện t-ợng đối với các sự vật hiện tt-ợng khác Rõ ràng với những ngời mà cả linh hồn và trí tuệ mới đạt đến trình độ này thì học chỉ biết tin vào những ngời hát rong trên đờng, chỉ biết lấy số đông tạp nham làm thầy mà không biết rằng số đông là kém cỏi, chỉ có một số ít ngời mới là những ngời thầy thật

sự thông thái Đánh giá về điều này, đã có ngời cho rằng ở Hêraclít chân lý

là cái không thuộc về số đông

Để nắm bắt đợc mối quan hệ biện chứng giữa các sự vật, hiện tợng, nắm bắt đợc quy luật phổ biến (logos vũ trụ); thì theo Hêraclít chủ thể nhận thức

tr-ớc hết phải có năng lực quan sát và sự sáng suốt của trí tuệ Năng lực quan sát

và sự sáng suốt đó của trí tuệ không phải là một cái gì thần bí, chúng cũng chẳng qua cũng là sản phẩm suy luận có lôgíc của trực giác trí tuệ, của cái logos vốn trong mỗi con ngời mà trí tởng tợng nghệ thuật và lý luận là một yếu tố cấu thành Hêraclít khẳng định, trí tuệ là cái khác rất xa với hết thảy mọi cái, song về thực chất, trí tuệ chẳng qua cũng chỉ là sự nhận thức t tởng,

sự nhận thức mà với nó ngời ta có thể chế ngự đợc hết thảy mọi thứ Do vậy, theo ông ngời có trí tuệ là ngời hiểu đợc cái logos của vũ trụ và thừa nhận hết thảy là một sự sáng suốt của trí tuệ Theo Hêraclít, không phải là đa tri thức, là biết nhiều thứ, mặc dù để có đợc nó, những ngời yêu thích trí tuệ, các nhà thông thái cần phải biết rất nhiều thứ Sự sáng suốt của trí tuệ là năng lực nhận thức độc lập của con ngời về bản chất của các sự vật, hiện tợng mà họ đang quan sát, chiêm nghiệm; là năng lực nhận thức mà ngời ta có đợc, nhờ biết khai thác một cách có phán xét sự sáng suốt của ngời khác Coi năng lực nhận thức của con ngời nh “dòng chảy” vĩnh hằng của những con sông lớn, nơi mà

ở đó “luôn có những dòng nớc mới” thờng xuyên đợc bổ sung liên tục Hêraclít cho rằng, để có đợc “những dòng nớc mới”, sự sáng suốt mới cho năng lực nhận thức đó của mình, con ngời cần phải trang bị cho mình cái mà mọi ngời đều có, giống nh một toà thành vĩ đại lấy pháp luật để vũ trang, vũ trang làm sao cho vững mạnh hơn nữa Đồng thời cần phải biết tôn trọng những cái mà mọi ngời đều có, đó chính là logos, cái mà tồn tại vĩnh viễn và trong cuộc sống của mình,con ngời thờng xuyên tiếp cận với nó, nhng ít ngời hiểu đợc Hêraclít nhận xét, thật đáng tiếc nhiều ngời sống lại không đếm xỉa

đến nó, không biết nó là cái gì mà vẫn cho mình là ngời có trí tuệ đặc biệt Với nhận xét đó, ông đòi hỏi chủ thể nhận thức, phải có t duy sáng tạo để nhận thức

Trang 10

độc lập, tìm kiếm, lựa chọn phơng pháp nhận thức, để nhằm tránh đợc đa ra kết luận quá sớm về một cái gì đó khi vẫn còn cha nhận thức đầy đủ đợc logos của

nó Bởi vì, theo ông những cái cha diễn ra là những cái rất khó nắm bắt, khó có thể nhận thức đợc bản chất của chúng

Hêraclít còn cho rằng, điều kiện cơ bản nhất để chủ thể nhận thức-nhà thông thái có đợc sự nhận thức đúng đắn là sự sáng suốt của trí tuệ Đó là sự sáng suốt có khả năng nhận thức tính thống nhất của các mặt đối lập mà ông gọi là logos vũ trụ Giải thích cái logos vũ trụ này, Hêraclít đã sử dụng rất nhiều tên gọi khác nhau “thần ngôn”, “quy luật”, “sự hài hoà bí ẩn”, “ngọn lửa sống vĩnh hằng”, “trí tuệ”, “tính tất yếu”, “cái phổ biến”, “th ợng đế”,

“đấng sáng chế”…”số phận”, “linh hồn” Song không một tên gọi nào trong”số phận”, “linh hồn” Song không một tên gọi nào trong

số đó làm ông thoã mãn

Trong tất cả những tên gọi đó, Hêraclít giành một sự u tiên nhất định cho cái gọi là “thần ngôn” Bởi theo ông, mọi tên gọi cụ thể khác đều dễ khiến ngời ta đi tới chỗ đồng nhất bản chất đích thực của vũ trụ (cái logos) với một biểu hiện cụ thể nào đó của nó cái mà ông coi chỉ là đối t ợng của nhận thức cảm tính Với quan niệm đó, Hêraclít coi sự sáng suốt của trí tuệ (cái logos chủ quan trong con ngời), sự thông thái và cả bản thân trí tuệ của con ngời cũng là đối tợng của nhận thức và đó là đối tợng của nhận thức lý tính Theo Hêraclít sự sáng suốt ấy của trí tuệ Cái logos chủ quan ấy trong con ngời dẫu có rất khác xa với mọi cái trong vũ trụ này, thì ở nó vẫn có những đặc trng mà con ngời hoàn toàn có thể nhận thức đợc Những đặc trng

đó là tính khách quan, tính vĩnh hằng, là quy luật bất biến, là cái mà “linh hồn vốn có” tự nó phát triển Do tính khách quan đặc thù đó (tính khách quan trong cái chủ quan), do là cái phổ biến tức là cái mà mọi ng ời đều có, nên nó không phải là cái không thể nhận thức đợc và một khi nhận thức đợc

nó, con ngời sẽ trở nên thông thái

Khi nghiên cứu học thuyết về nhận thức trong triết học hêraclít, đã có những nhà triết học cho rằng: cái duy nhất làm nên tính độc đáo trong học thuyết của ông về nhận thức là quan niệm coi sự sáng suốt của trí tuệ (cái logos chủ quan trong con ngời) cũng là đối tợng của nhận thức con ngời Đấy là đánh giá vội vàng và cha thật sự khách quan khoa học Mà cái làm nên tính độc đáo trong học thuyết về nhận thức của Hêraclít so với các nhà triết học Hy Lạp cổ

đại đơng thời là ở chỗ, ông luôn coi tự nhiên mới là đối tợng chủ yếu của nhận

Ngày đăng: 14/03/2021, 18:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w