1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng biện chứng trong triết học của hêraclít

16 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 143,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Triết học Tư tưởng biện chứng trong triết học của Hêraclít Làm rõ tư tưởng biện chứng trong triết học của Hêraclít, qua đó muốn nói đến vị trí của triết học Hêraclít cũng như tư tưởng biện chứng của ông trong nền triết học Hy Lạp cổ đại.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ph.Ăngghen đã từng định nghĩa phép biện chứng là khoa học “về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” Lịch sử tư tưởng và thực tiễn cách mạng đã chứng minh rằng: khi nào chúng ta nắm vững lý luận biện chứng, biết vận dụng sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh cụ thể thì vai trò, hiệu lực cải tạo tự nhiên được tăng cường Ngược lại cách nghĩ cách làm chủ quan duy ý chí sẽ dẫn đến sai lầm, gây tổn thương cho cách mạng và xã hội nói chung

Nghiên cứu lịch sử phép biện chứng không thể bỏ qua những tư tưởng biện chứng sơ khai thời cổ đại Như ở trong cùng một dòng chảy, những thành tựu phép biện chứng mà chúng ta có được ngày nay là kết quả tất yếu của sự phát triển tư tưởng biện chứng liên tục từ thời cổ đại qua thời phục hưng, cho đến thời cận đại Sự ra đời và phát triển của phép biện chứng duy vật là sự nối tiếp hợp lôgíc của tư tưởng biện chứng từ thời cổ đại

Nói đến tư tưởng biện chứng ở Hy Lạp cổ đại, thì không thể không nói đến nhân vật Hêraclít - nhà triết học đã được V.I Lênin đánh giá là nhà biện chứng đầu tiên trong lịch sử Việc chọn đề tài “Tư tưởng biện chứng trong triết học Hêraclít”, do những lý do đã nêu Hơn nữa nghiên cứu tư tưởng biện chứng Hy Lạp cổ đại thì Hêraclít lại giữ vị trí trung tâm Đồng thời việc chọn đề tài “Tư tưởng biện chứng trong triết học Hêraclít” cũng nhằm mục đích muốn hướng bạn đọc yêu quý triết học đến với những tư tưởng biện chứng sơ khai đầy lý thú nhưng cũng hết sức sâu sắc của con người thời cổ đại

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong quá trình nghiên cứu và xây dựng học thuyết của mình, cũng như luận chiến chống lại các trào lưu tư tưởng phản tiến bộ, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã có nhiều công trình nghiên cứu và đánh giá sâu sắc vai trò

ý nghĩa của tư tưởng biện chứng Hy Lạp cổ đại.C.Mác đã có tác phẩm “Sự khác nhau giữa triết học Đêmôcrít và triết học của Epyquya”, Ph.Ăngghen

có tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” và “Chống Đuyrinh” V.I.Lênin có

“Bút ký triết học” và “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”

Công trình quan trọng số một khi nghiên cứu lịch sử biện chứng, đó là bộ sách “Lịch sử phép biện chứng” (6 tập) của Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô,“Câu chuyện triết học” của Bryan Magee (người dịch Huỳnh Phan Anh -Mai Sơn) “Lịch sử triết học Phương Tây” của Nguyễn Tiến Dũng, “Lịch sử triết học Hy - La Cổ đại” (2 tập) của Nguyễn Quang Thông và Tống Văn Chung đã hệ thống hoá triết học Hy Lạp - La Mã Cổ đại qua các giai đoạn phát triển “Lịch sử triết học” của Nguyễn Hữu Vui, bộ sách “Câu hỏi và bài tập triết học” (4 tập) Ngoài các công trình nghiên cứu trên, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về triết học Hy Lạp cổ đại Trong số đó

“Tạp chí triết học” cũng là một nguồn tài liệu phong phú Việc xây dựng đề

Trang 2

tài khoá luận “Tư tưởng biện chứng trong triết học của Hêraclít” sẽ vẫn dựa trên các nguồn tài liệu quý giá đã nêu trên có thể hoàn thành

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích của đề tài:

Làm rõ tư tưởng biện chứng trong triết học của Hêraclít, qua đó muốn nói đến vị trí của triết học Hêraclít cũng như tư tưởng biện chứng của ông trong nền triết học Hy Lạp cổ đại

- Nhiệm vụ của đề tài:

Phân tích bối cảnh ra đời và phát triển tư tưởng biện chứng của triết học

Hy Lạp cổ đại Trình bày và làm rõ những quan điểm biện chứng trong triết học của Hêraclít Đánh giá những đóng góp và hạn chế trong những quan điểm biện chứng của Hêraclít

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận của đề tài: Là các nguyên lý, quy luật, các cặp phạm trù

cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho việc nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Là quán triệt các nguyên tắc của phép biện chứng duy vật, kết hợp với các phương pháp đối chiếu và so sánh; phương pháp logíc và phương pháp lịch sử

5 Đóng góp của đề tài

Cũng như mục đích của đề tài đã đặt ra thì đề tài cũng muốn làm rõ tư tưởng biện chứng trong triết học Hêraclít Đề tài cũng nêu ra những quan điểm đánh giá của các nhà nghiên cứu về Hêraclít Đề tài cũng là một nguồn tài liệu giúp ích cho việc học tập và tìm hiểu triết học của các bạn sinh viên

6 Kết cấu của khoá luận

Khoá luận ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham thảo, Nội dung được kết cấu thành hai chương (4 tiết)

Chương 1 PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ LỊCH SỬ PHÉP BIỆN CHỨNG HY LẠP

CỔ ĐẠI 1.1 Khái niệm phép biện chứng và nguồn gốc của phép biện chứng.

Phép biện chứng là một khoa học triết học, Ph.Ăngghen đã từng định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” Phép biện chứng ra đời cùng sự ra đời của triết học, phép biện chứng có một quá trình phát triển lâu dài trước khi đạt đến khái niệm khoa học

Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “phép biện chứng” là Xôcrát với ý nghĩa là nghệ thuật tranh luận để tìm ra chân lý Đây cũng là cách hiểu phổ biến của người Hy Lạp cổ đại, về sau học trò của Xôcrát và Platôn đã coi phép biện chứng là nghệ thuật đối thoại dưới hình thức hỏi - đáp, phân tích

và liên kết các khái niệm để đạt tới định nghĩa đúng đắn về các khái niệm đó

Đến Hêghen (1770 - 1831), nhà triết học duy tâm khách quan người đức, thuật ngữ này đã được phát triển khá toàn diện Ông là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “phép biện chứng” sát với nghĩa hiện đại Tuy nhiên, phép

Trang 3

biện chứng của Hêghen là phép biện chứng lộn ngược, “phép biện chứng lộn ngược đầu xuống đất”

Đến C.Mác, Ph.Ăngghen và tiếp theo đó là Lênin đã kế thừa và phát triển một cách sáng tạo những giá trị triết học trong lịch sử tư tưởng của loài người, trong đó có những tư tưởng biện chứng trước đó mà trực tiếp là phép biện chứng của Hêghen để hoàn thiện phép biện chứng, đưa phép biện chứng lên đỉnh cao - phép biện chứng duy vật, làm cho phép biện chứng thực sự trở thành khoa học phản ánh những quy luật chung nhất, phổ biến nhất về sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy

Có thể thấy rằng, lịch sử phát triển phép biện chứng gắn liền với những hình thức cơ bản sau:

Phép biện chứng tự phát ngây thơ; gắn liền với hình thức đầu tiên của phép biện chứng là nền triết học Hy Lạp cổ đại Đó là phép biện chứng dựa trên sự cảm thụ trực tiếp thế giới vật chất xung quanh Phép biện chứng đó chưa phải là một hệ thống lý luận, quan điểm về phép biện chứng

Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức: đây là “hình thức thứ hai” của phép biện chứng Nếu phép biện chứng cổ đại chủ yếu được đúc rút từ kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày thì phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã trở thành một hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh và đã trở thành một phương pháp tư duy triết học phổ biến Lênin đã đánh giá, “phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã hoàn thành cuộc cách mạng về phương pháp, nhưng cuộc cách mạng đó lại

ở tận trên trời, chứ không phải ở dưới trần gian Trong cuộc sống hiện thực của loài người, và do vậy, phép biện chứng đó cũng không tách khỏi tính chất gò ép, hư cấu, tóm lại là bị xuyên tạc”

Phép biện chứng duy vật: C.Mác và Ph.Ăngghen là những nhà sáng lập

ra phép biện chứng duy vật và tiếp sau đó là V.I.Lênin phát triển Khi sáng lập ra phép biện chứng duy vật, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã kế thừa

và phát triển sáng tạo những “hạt nhân hợp lý” trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, mà trực tiếp là phép biện chứng duy tâm của Hêghen và đặt nó trên nền tảng duy vật Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng, giữa lý luận nhận thức với lôgíc biện chứng Đánh giá về vai trò của phép biện chứng duy vật như Mác từng nói: “Các nhà triết học trước kia chỉ có thể giải thích thế giới theo cách này hay cách khác song vấn đề lại là cải tạo thế giới”

Như vậy, lịch sử phép biện chứng là một quá trình lịch sử lâu dài, phát triển từ những hình thức sơ khai, ngây thơ, tự phát cho đến hoàn thiện nhất, đầy đủ nhất ở phép biện chứng duy vật

1.2 Hoàn cảnh lịch sử ra đời cho sự phát triển phép biện chứng Hy Lạp cổ đại

Vùng đất Hy Lạp cổ đại trước kia rộng lớn hơn rất nhiều so với ngày nay với cấu trúc địa hình phức tạp, phong phú gồm phần đất liền cùng vô số hòn đảo trên biển Êgiê, vùng duyên hải Ban Căng và Tiểu Á Những cuộc di dân

ồ ạt từ thế kỷ thứ VIII đến hết thế kỷ thứ VI trước công nguyên và những cuộc chinh phạt thành công của Alếchxan đại đế vào cuối thế kỷ IV trước

Trang 4

công nguyên càng làm cho vùng đất này được mở rộng và cùng với nó là sự

ra đời của các quốc gia Hy Lạp hoá Đây là điều kiện thuận lợi để Hy Lạp phát triển mạnh mẽ kinh tế và thực hiện giao lưu văn hoá giữa các dân tộc

Về mặt kinh tế, ngay từ khi xuất hiện những công cụ bằng sắt thích hợp với vùng đất Hy Lạp khô cằn và không thuận lợi cho việc tưới tiêu so với người Ai Cập và người Sume người Babilon cổ đại Việc sử dụng các công

cụ bằng sắt trong sản xuất thủ công nghiệp đã khiến cho thủ công nghiệp thoát khỏi sản xuất nông nghiệp Nghề thủ công phát triển cao trên quy mô lớn ở các thành phố Hy Lạp cổ đại Giữa thành phố và nông thôn có một sự đối lập gay gắt Đó là một trong các nhân tố quan trọng giúp cho người Hy Lạp thoát khỏi kinh tế tự nhiên để tham gia vào các quan hệ vật chất

Sự phát triển của công thương nghiệp đã tạo ra một tầng lớp chủ nô mới Tầng lớp giàu có vốn không phải chủ nô mới này ngày càng khẳng định được địa vị của mình trong các nhà nước thành thị Hy Lạp Việc của cải, nô

lệ nắm trong tay tầng lớp chủ nô mới này đã thúc đẩy chế độ tư hữu tài sản phát triển nhanh chóng

Sự phát triển của nhiều thành phố Hy Lạp cổ đại còn do quan hệ buôn bán diễn ra ở những trung tâm lớn Các thành phố Hy Lạp cổ đại trở thành các trung tâm buôn bán và sản xuất hàng hoá hết sức sôi động, điều đó được minh chứng bởi sự xuất hiện đồng tiền vào thế kỷ VII trước công nguyên Kinh tế phát triển, phân công lao động diễn ra sâu sắc là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến sự tan rã của nền kinh tế tự nhiên mà cùng với

nó là những quan hệ huyết thống trong cộng đồng thị tộc ngày càng được thay thế bởi chế độ tư hữu với vai trò của cá nhân ngày càng lớn khi họ tham gia vào các quan hệ vật chất

Về mặt xã hội: Ở Hy Lạp cổ đại sự phân hoá giai cấp của xã hội nô lệ đã hình thành, đồng thời những mâu thuẫn giai cấp cũng xuất hiện Cơ cấu xã hội đó đã trở nên phức tạp hơn nhiều trong điều kiện nhà nước - thành bang Đặc trưng của các nhà nước thành bang Hy Lạp là đấu tranh giai cấp khốc liệt

Mâu thuẫn giữa bình dân và quý tộc đạt tới mức độ gay gắt nhất vào thế

kỷ thứ VII - VI trước công nguyên Cuộc đấu tranh ấy đã làm cho thể chế chính trị chủ nô quý tộc chuyển sang chế độ dân chủ chủ nô mà bằng chứng

rõ nét nhất qua lịch sử của thành bang Aten

Về mặt tổ chức xã hội: Nhà nước chiếm hữu nô lệ Hy Lạp cổ đại với những đặc trưng của mình được tổ chức theo lối thành bang (pônit) Lịch sử

Hy Lạp cổ đại là lịch sử của những thành bang Trong đó phải kể đến hai thành bang lớn là thành bang Aten và thành bang Spác

Thành bang Aten nằm trên đồng bằng Áttích thuộc trung bộ Hy Lạp Vào thế kỷ thứ V trước công nguyên, sau những cải cách của Cơ-li-xten, nhà nước Aten được xác lập hoàn chỉnh với chính thể hoàn toàn dân chủ Nét đặc trưng nhất của cả Aten và liên minh thành bang Aten là sự thống trị của tầng lớp dân tự do, đó là đại bộ phận dân đem lại tính chất phong phú, độc đáo của nền văn hoá Hy Lạp cổ đại

Trang 5

Thành bang Spác nằm ở vùng bình nguyên Lacôni thuộc Pêlôpône, miền Nam Hy Lạp Tầng lớp chủ nô ở Spác là tầng lớp chủ nô quý tộc bảo thủ, áp bức nô lệ vô cùng thậm tệ và để đàn áp các cuộc chống đối của nô lệ, Spác

đã xây dựng nhà nước kiểu liên minh quân sự với sự cai trị hà khắc, độc đoán… Có thể nói đây là thành bang hiếu chiến nhất và phản động nhất trong các thành bang của Hy Lạp cổ đại

Vào thế kỷ thứ V trước công nguyên, kinh tế Hy Lạp phát triển không đồng đều Chính điều đó đã dẫn đến việc những thành bang lớn mạnh tranh giành quyền bá chủ của Hy Lạp Điển hình là cuộc đấu tranh giữa hai thành bang - liên minh Aten và liên minh Spác dưới tên gọi cuộc chiến tranh Pelôpône diễn ra hàng chục năm với kết quả là sự thất bại nặng nề của thành bang Aten và liên minh Không chỉ là cuộc chiến tranh giành quyền lực, cuộc chiến tranh giữa hai thành bang còn biểu hiện cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai phái chủ nô: chủ nô dân chủ Aten và chủ nô quý tộc Spác

Đến thế kỷ thứ II trước công nguyên, Hy Lạp bị đế quốc La Mã chinh phục Nhưng với nền văn hoá phát triển rực rỡ thì Hy Lạp đã chinh phục La

Mã về văn hoá Chính vì vậy, đây là thời kỳ được gọi là thời kỳ Hy Lạp hoá Vào khoảng thiên niên kỷ I trước công nguyên trên cơ sở tiếp thu và cải tạo chữ viết người Phiniki Chữ viết ra đời thể hiện trình độ tư duy cao của người Hy Lạp mà thông qua nó, mọi tư duy của người Hy Lạp đều được biểu đạt lên trên mặt giấy

Trong kho tàng văn hoá cổ đại, thần thoại Hy Lạp là một đỉnh cao xán lạn Ngay từ khi mới xuất hiện, thần thoại Hy Lạp không chỉ là nguồn cảm hứng bất tận cho văn học, thơ ca, hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc… mà còn trở thành cội nguồn lý luận cho sự hình thành tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại

Thần thoại đã phản ánh thành công những nguyện vọng của nhân dân, cũng như cuộc sống lao động và đấu tranh của người Hy Lạp cổ đại Đối với triết học Hy Lạp thì thần thoại là một yếu tố quan trọng dẫn đến sự hình thành, mối quan hệ giữa thần thoại và triết học Hy Lạp cổ đại là mối liên hệ phát sinh: “Mối liên hệ mang tính phát sinh này của triết học Hy Lạp cổ đại với thần thoại thể hiện ở sự thống nhất phương pháp nhìn nhận thế giới, phương pháp mang tính quyết định đối với các quan niệm thần thoại đã trở thành một trong những phương pháp cơ bản trong các hệ thống triết học - vũ trụ luận”.Khoa học cũng là một yếu tố quan trong cho việc hình thành tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng và nền triết học Hy Lạp nói chung

Khoa học được phát triển mạnh mẽ trên cả hai phương diện: Tự nhiên và

xã hội, đặc biệt là khoa học tự nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu buôn bán, vượt biển và những cuộc chinh phục của người Hy Lạp đến các vùng đất mới Triết học Hy Lạp cùng với những thành tựu của nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với Châu Âu nói riêng và nhân loại nói chung Hy Lạp là quê hương của các triết gia lớn với những tư tưởng vĩ đại Từ Talét, triết học đã

ra đời và thay thế thần thoại cùng tôn giáo nguyên thuỷ, đồng thời thâu tóm các tri thức khoa học vào một hệ thống mang tính khái quát hơn

Trang 6

1.3 Phép biện chứng duy vật Hy Lạp cổ đại và đặc điểm của phép biện chứng duy vật Hy Lạp cổ đại

Phép biện chứng duy vật Hy Lạp cổ đại được thể hiện trong triết học của những nhà triết học duy vật về tự nhiên, về con người và về xã hội Các đại biểu tiêu biểu cho phép biện chứng duy vật Hy Lạp cổ đại đó là: Talét, Anaximen, Anaximenđrơ, Hêraclít, Đêmôcrít

Với Talét - “người nghiên cứu triết học đầu tiên” cho rằng thế giới bắt đầu từ nước Nước - một dạng vật chất cụ thể, được Talét xem là cơ sở của thế giới, cơ sở của mọi sự vật Mọi sự vật đều được sinh ra từ nước và khi phân huỷ lại biến thành nước

Tư tưởng này của Talét tiếp tục được phát triển ở Anaximen khi ông cho rằng khởi nguyên của thế giới là không khí, sự xuất hiện của vô số các vật thể và sự quay lại khởi nguyên đầu tiên của chúng là quá trình cô đặc và làm loãng ra của không khí

Anaximenđrơ cho nguồn gốc và cơ sở của mọi sự vật là Apâyrôn - một cái không xác định vô hạn cả về đại lượng lẫn thuộc tính, không thể chuyển hoá thành một khởi nguyên nào khác, là thứ mà từ đó trong quá trình phát triển các mặt đối lập được tách ra: nóng - lạnh, khô - ướt… Khởi nguyên ướt sẽ dẫn tới sự hình thành đất và cùng với khởi nguyên nóng, nó quy định

sự xuất hiện của sự sống

Trong sự giải thích về nguồn gốc của sự sống, Anaximenđrơ đã có những phỏng đoán thiên tài Ông cho rằng sự sống của con người nảy sinh trên ranh giới giữa lục địa và đáy biển, dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời (nóng), các đại dương cạn dần, sau đó từ những sinh vật sống ở biển chuyển lên cạn sinh sống, trút lớp vảy đi và trở thành động vật trên cạn, từ các con vật trên cạn phát triển tiến hoá con người ra đời từ đó Sự sống là sự chuyển tiếp từ thấp đến cao, sự vận động của con người và các sinh vật luôn theo quy luật tiến hoá tự nhiên của nó

Về phép biện chứng Hy Lạp cổ đại thì Hêraclít được xếp ở vị trí trung tâm Ông được xem là “một trong những nhà sáng lập ra phép biện chứng” Hêraclít truy tìm bản nguyên của thế giới từ một hành chất đầu tiên, đó là lửa Lửa là cơ sở của thế giới sự vật hiện tượng, thế giới sự vật hiện tượng thống nhất ở cơ sở của chúng là ngọn lửa, lửa là cơ sở phát sinh sinh thành thế giới Con đường để sinh thành đó tuân theo quy luật chuyển hoá

Hêraclít trong triết học của mình đã làm rõ tính thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Trong quan điểm về sự thống nhất (hài hoà) và đấu tranh của các mặt đối lập Hêraclít đã làm nổi bật những tư tưởng sau:

Thứ nhất, sự thống nhất có nghĩa là sự đồng nhất của cái đa dạng, là sự

hài hoà giữa các mặt đối lập “bất đồng với nhau”

Thứ hai, mỗi sự vật, mỗi hiện tượng trong quá trình biến đổi đều trải qua

các trạng thái đối lập và chuyển hoá thành các mặt đối lập với nó

Thứ ba, đấu tranh của các mặt đối lập không chỉ là sự đối lập mà còn là

sự liên hệ thống nhất giữa các mặt đối lập, là điều kiện của tồn tại

Trang 7

Hêraclít còn được mọi người biết nhiều đến bởi học thuyết dòng chảy phổ biến (vận động là phổ biến) của ông Ông đưa ra mệnh đề “người ta không thể hai lần tắm trên một dòng sông”

Đại biểu tiêu biểu cho lập trường duy vật Hy Lạp cổ đại đó là Đêmôcrít Đêmôcrít cho rằng khởi nguyên của vũ trụ là từ các nguyên tử, thế giới với

sự đa dạng của nó được cấu thành từ sự đa dạng của các nguyên tử, sự kết hợp của các nguyên tử Sự khác nhau của các vật thể là do sự kết hợp của các nguyên tử theo một trật tự nhất định

Đêmôcrít khác với các nhà triết học thuộc trường phái Êlê khi ông thừa nhận sự tồn tại của khoảng không (tức không tồn tại) Ông khẳng định:

“Không tồn tại hiện có chẳng kém gì so với tồn tại” Cả hai (cái tồn tại và không tồn tại) đều là nguyên nhân của vật chất, thậm chí không tồn tại còn

là điều kiện cho sự vận động của các nguyên tử

Trên cơ sở trình bày tóm lược phép biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại Chúng ta có thể khái quát đặc điểm của phép biện chứng duy vật Hy Lạp cổ đại

Đặc điểm cơ bản và xuyên suốt trong phép biện chứng Hy Lạp cổ đại đó

là tính ngây thơ, tự phát Tự phát vì các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nghiên cứu tự nhiên chỉ cốt làm sao vẽ được bức tranh chung về thế giới và chỉ ra được nguồn gốc của nó chứ không có chủ định nghiên cứu phép biện chứng Ngây thơ vì hầu hết các tư tưởng biện chứng của các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại đều mang tính suy luận, phỏng đoán trên cơ sở kinh nghiệm trực giác Vào thời đại của các nhà triết học cổ đại Hy Lạp thì yếu tố khoa học chưa phát triển để chứng minh cho các tư tưởng biện chứng của các nhà triết học Chính yếu tố khoa học của thời đại các nhà triết học cổ đại Hy Lạp chưa phát triển, chưa phục vụ tích cực cho triết học nên đã làm cho những

tư tưởng mang đặc điểm ngây thơ, tự phát

Cùng với yếu tố khoa học lúc đó chưa phát triển thì các chuyện thần thoại vẫn còn phảng phất trong triết học Hy Lạp cổ đại Chính vì vậy mà trong các tư tưởng biện chứng của các nhà triết học duy vật cũng có những yếu tố thần thoại

Từ sự phân tích nói trên, chúng ta có thể khẳng định lại một lần nữa rằng: đặc điểm cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật Hy Lạp cổ đại là mang tính ngây thơ, tự phát Điều đó do: Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại chỉ muốn vẽ nên bức tranh về thế giới mà không có chủ định nghiên cứu phép biện chứng, khoa học lúc bấy giờ chưa phát triển để chứng minh cho các tư tưởng biện chứng, do ảnh hưởng của thần thoại đến nền triết học Hy Lạp cổ đại, nên phép biện chứng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại còn phảng phất yếu tố thần thoại

Chương 2

TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC CỦA HÊRACLÍT 2.1 Tiểu sử của Hêraclít

Hêraclít (khoảng 540- 475 trước công nguyên), xuất thân từ nhà nước thành thị Ephee thuộc vùng Tiểu Á của Hy Lạp Ông sống trong thời kỳ lịch

sử đầy căng thẳng của các nhà nước thành thị Hy Lạp khi mà dân thường đã

Trang 8

giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh gay gắt với tầng lớp quý tộc dòng dõi (nông thôn) Ông cũng là người sống trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp với Ba Tư (500 - 449 trước công nguyên)

Sinh thời Hêraclít là một nhà đại quý tộc thuộc dòng dõi Côđơriđốp Theo luật ông là con trai đầu nên được thừa kế chức Badin, nhưng ông đã nhường lại cho em trai của mình để đi du lịch và nghiên cứu triết học Như vậy, Hêraclít là một người có nguồn gốc đại quý tộc nhưng vị trí lại không

là như thế, ông đã tự tách mình ra khỏi vị trí đại quý tộc đó Nhưng Hêraclít cũng không thuộc vào giai cấp đang lên, tư tưởng triết học của ông có sự tiến bộ ở chỗ có phản ánh phong trào nhân dân, có nội dung nhân dân qua những mâu thuẫn chia rẽ của giai cấp quý tộc

2.2 Tư tưởng biện chứng trong triết học của Hêraclít

2.2.1 Quan niệm của Hêraclít về khởi nguyên của vũ trụ

Tìm kiếm bản nguyên đầu tiên của vũ trụ, luận giải bản nguyên đó về phương diện bản thể luận và gắn nó với một hay vài dạng tồn tại cụ thể của vật chất dưới dạng trực quan cảm tính, đó là một trong những đặc trưng làm nên tính độc đáo của triết học Hy Lạp cổ đại Trước Hêraclít các nhà triết học nổi tiếng của trường phái Milê đã truy tìm khởi nguyên đầu tiên của vũ trụ ở một hành chất đơn nhất, nếu Talét cho khởi nguyên đầu tiên đó là nước, Anaximenđrơ cho đó là Apâyrôn, hay Anaximen cho đó là không khí thì Hêraclít lại khẳng định rằng đó là lửa

Hêraclít khẳng định: “Thế giới là một chỉnh thể bao gồm mọi vật, không

do một thần thánh nào tạo ra, mà đã, đang và sẽ là một ngọn lửa cháy vĩnh viễn sống, bùng cháy và tắt đi theo những quy luật”

Như vậy, vũ trụ xét về tổng thể, theo Hêraclít là cái đơn (duy nhất), nhưng cái đơn đó phải là tổng thể của sự thống nhất của các vật thể và không thể thiếu một khởi nguyên thống nhất và chung cho mọi vật thể và khởi nguyên đó chính là lửa Với quan điểm duy vật Hêraclít cũng cho rằng trong vũ trụ những sự vật, hiện tượng nội tại tự nó biến đổi đa dạng, vận động chuyển hoá, biến đổi sang những hình thức, mức độ khác nhau mà có

cơ sở của chúng là ngọn lửa

Hêraclít đã lấy lửa là cơ sở độc nhất, phổ biến của mọi hiện tượng tự nhiên, lửa là nguồn gốc vật chất đầu tiên của chúng và ông đã dùng sự biến đổi của lửa để giải thích như là sự biến đổi bản chất của mọi hiện tượng tự nhiên Ông cho rằng: “Tất cả được trao đổi với lửa, và lửa trao đổi với tất

cả, giống như hàng hoá đối với vàng và vàng đối với hàng hoá”

Trong quan niệm về lửa của Hêraclít đã cho thấy tính thống nhất của thế giới, quan niệm luôn đòi hỏi phải giải thích các hiện tượng một cách khách quan tức là dựa vào tự nhiên để giải thích tự nhiên Đánh giá quan điểm này của Hêraclít: V.I.Lênin cho rằng đó là “một sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng” Tuy nhiên, trong quan điểm

về lửa của Hêraclít vẫn còn mang tính vật hoạt luận, Hêraclít đã không nhìn thấy có sự phát triển từ thấp đến cao trong cái “dòng chảy” và sự biến đổi phổ biến liên tục của vạn vật trong vũ trụ

2.2.2 Về khái niệm Logos của Hêraclit

Trang 9

Logos là một khái niệm có trước Hêraclít là một khái niệm đa nghĩa Trong tiếng Hy Lạp cổ Logos có nghĩa là từ ngữ, là tư tưởng Với nghĩa là,

tư tưởng, Logos được thể hiện trong từ ngữ Logos được hiểu theo nghĩa nào là tùy thuộc vào văn cảnh của ngôn ngữ Hêraclít đã biến khái niệm này thành trung tâm trong triết học của ông Logos trong hệ thống triết học của Hêraclít vẫn là một khái niệm đa nghĩa Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng trong công trình “Lịch sử triết học phương Tây” thì đã có bảy cách giải thích khác nhau về Logos của Hêraclít

Trong triết học của Hêraclít khi quan niệm lửa là khởi nguyên đầu tiên,

là cơ sở của vạn vật thế giới, lửa sẽ phán xét tất cả “Ngọn lửa” có một quy luật nội tại của nó, đó là Logos Và như vậy, mối quan hệ Logos và lửa có thể xem là mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng Logos trong quan niệm của Hêraclít là quy luật bất biến vĩnh hằng của vũ trụ, ông viết rằng: “Logos

là cái vĩnh viễn tồn tại…vạn vật ra đời đều dựa vào Logos của nó” Hêraclít cho rằng thấu hiểu của một con người đó là nhận thức Logos, người thông thái phải là người nhận thức và việc làm phải tuân thủ theo Logos: “Tự nhiên yêu thích ẩn dấu mình” Nhận thức và việc làm phải tuân thủ theo Logos: “không phải theo tôi, mà theo Logos, thừa nhận rằng tất cả là đơn nhất”

Với cách hiểu như trên, thì Logos là quy luật chung nhất, phổ biến của

vũ trụ và vạn vật phải tuân theo Trên cơ sở quan điểm này trong tư tưởng của mình về sự thống nhất (hài hòa) và đấu tranh của các mặt đối lập, Hêraclít đã cho rằng: Logos là quy luật về tính thống nhất (hài hoà) và đấu tranh của các mặt đối lập

Trong quan điểm về nhận thức của mình, Hêraclít đã xây dựng lên khái niệm Logos khách quan và Lôgos chủ quan, sự thống nhất phù hợp Logos chủ quan với Logos khách quan là cơ sở của nhận thức

2.2.3 Tư tưởng biện chứng của Hêraclít trong quan niệm về sự thống nhất (hài hòa) và đấu tranh của các mặt đối lập

Nếu như ở Hy Lạp cổ đại các nhà triết học thuộc trường phái Milê và đặc biệt là Anaximenđrơ đã có công đầu trong việc xây dựng những tư tưởng sơ khai đầu tiên về sự thống nhất đấu tranh của các mặt đối lập, sự phân đôi thống nhất của các mặt đối lập, thì Hêraclít là là người nói đến sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập nhiều nhất Ở Hêraclít quan điểm của ông về sự thống nhất (hài hòa) và đấu tranh của các mặt đối lập được thể hiện rõ ở những điểm sau

Thứ nhất, sự thống nhất có nghĩa là sự đồng nhất của cái đa dạng, là sự

hài hòa của các mặt đối lập “bất đồng với nhau”

Đồng ý với quan điểm của hầu hết các nhà triết học Hy Lạp cổ đại cho rằng thế giới là một chỉnh thể “tuyệt đẹp”bao gồm các sự vật đa dạng phong phú,thì Hêraclít đã nhìn nhận sự thống nhất là sự đồng nhất của cái đa dạng Nhưng Hêraclít còn khác với phần đông các nhà triết học Hy Lạp cổ đại còn cho rằng sự thống nhất không chỉ đơn giản là sự đồng nhất của cái đa dạng

mà trong sự thống nhất luôn bao hàm trong nó các mặt đối lập “bất đồng” với nhau Theo Hêraclít có những sự thật hiển nhiên, hết sức rõ ràng mà ai

Trang 10

cũng biết như ngày và đêm, thiện và ác; hòa bình và đấu tranh…song giống như mọi sự đối lập khác chúng tạo thành một chỉnh thể thì lại là điều không phải ai cũng biết

Tuy nhiên, ở đây Hêraclít mới chỉ nêu ra các ví dụ từ hiện thực cuộc sống để so sánh, minh hoạ các mặt đối lập và sự thống nhất của các mặt đối lập Còn những khái niệm: mặt đối lập, khái niệm đồng nhất, khái niệm mâu thuẫn thì ông chưa đi tới rõ ràng

Không chỉ cho rằng các mặt đối lập tồn tại khách quan trong mỗi sự vật, hiện tượng, Hêraclít còn thấy được rằng, trong sự thống nhất của các mặt đối lập, các mặt đối lập còn có mối quan hệ giả định lẫn nhau và không thể

có được nếu thiếu nhau Chúng là điều kiện cho nhau tồn tại, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề, chúng tồn tại thông qua nhau

Hêraclít còn cho rằng các mặt đối lập giả định lẫn nhau và không thể có được nếu thiếu nhau Ông cũng đưa ra ví dụ minh họa: không thể quý sức khỏe nếu không biết mặt đối lập của nó là bệnh tật “bệnh tật làm cho sức khỏe trở nên quý giá và ngọt ngào, đói - no, mệt mỏi - nghỉ ngơi”

Hêraclít cho rằng trong vũ trụ bao hàm sự đa dạng của các sự vật thì tính tương đối các thuộc tính của sự vật cần phải được xét trong mối quan hệ của

nó Các thuộc tính của sự vật trực tiếp đối lập với nhau tùy thuộc vào công việc của chúng có quan hệ với chất nào, vật nào Ông nói: “Con vượn đẹp nhất nhưng xấu xí so với loài người Con người sáng suốt nhất nhưng cũng chỉ là con vượn so với thượng đế xét về sự anh minh, sắc đẹp và về mọi thứ khác”

Thứ hai, mỗi sự vật, hiện tượng trong quá trình biến đổi đều trải qua các

trạng thái đối lập và chuyển thành các mặt đối lập với nó

Vẫn là lối văn phong giàu hình ảnh, ông đã làm rõ quan điểm này của mình bằng những ví dụ: sống trở thành chết; thức trở thành ngủ; trẻ trở thành già… nhưng cũng có thể nói ngược lại rằng: chết thành sống; ngủ thành thức; già trở thành trẻ Ông nói: “cùng ở một thứ trong ta như sống và chết; thức và ngủ; già và trẻ vì sau khi biến đổi cái này trở thành cái kia, và ngược lại”

Thứ ba, đấu tranh của các mặt đối lập là sự liên hệ thống nhất của các

mặt đối lập Đấu tranh là phổ biến, là điều kiện của sự tồn tại

Sự hoàn hảo, tính hài hoà này của vũ trụ theo quan niệm của Hêraclít, là sự thống nhất nội tại, là sự hoà hợp, sự cân bằng các mặt đối lập cấu thành chỉnh thể Chính sự hoàn hảo và hài hoà ấy đã đem lại cho mọi sự vật, hiện tượng và cả vũ trụ này tính xác định, tính vững chắc và tính ổn định: sẽ không có âm thanh hài hoà nếu thiếu sự kết hợp thống nhất giữa các âm cao

và âm thấp cũng như không có chỉnh thể hài hoà thống nhất vũ trụ, nếu thiếu các bộ phận khác nhau, và ngược lại không có các bộ phận ở bên ngoài vũ trụ thống nhất… Những sự kết hợp hình thành từ tất cả và không phải tất cả, cái giống nhau và khác nhau, cái hoà nhịp và cái không hoà

nhịp, cái thống nhất xuất hiện từ tất cả và tất cả từ cái thống nhất”.

Ngày đăng: 14/03/2021, 18:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w