1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN ĐẢO CHO HỌC SINH

56 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 884,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận chuyên ngành giáo dục quốc phòng an ninh. Nhằm khái quát lý luận về giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh trường THPT và đánh giá thực trạng từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh trường THPT

Trang 1

GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN ĐẢO CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG

THPT LÊ THANH HIỀN, TỈNH TIỀN GIANG

Trang 2

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Các phương pháp nghiên cứu cơ bản 4

8 Đóng góp của đề tài 4

9 Kết cấu của đề tài 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN ĐẢO CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG THPT LÊ THANH HIỀN, TỈNH TIỀN GIANG 5

1.1 Một số vấn đề lý luận về giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang 5

1.1.1 Biển đảo Việt Nam và tình yêu biển đảo Việt Nam của học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang 5

1.1.2 Giáo dục tình yêu biển đảo Việt Nam cho học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang 14

1.1.2.1 Quan niệm về giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang 14

1.1.2.2 Nội dung giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang 15

1.1.3 Những nhân tố tác động đến việc giáo dục tình yêu biển đảo của học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang 15

1.2 Thực trạng nguyên nhân giáo dục tình yêu biển đảo tại trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang 16

1.2.1 Khái quát về trường và học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang 16

1.2.2 Thực trạng giáo dục tình yêu biển đảo của học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang 19

Trang 4

1.2.3 Nguyên nhân thực trạng giáo dục tình yêu biển đảo của học sinh trường

THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang 26 Kết luận chương 1 28

Chương 2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN, ĐẢO CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT LÊ THANH HIỀN,

TỈNH TIỀN GIANG 30

2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của chi bộ Đảng và quản lý của BGH nhàtrường đối với việc nâng cao nhận thức và giáo dục tình yêu biển đảocho học sinh 302.2 Tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình, hình thức, phương pháp giảng dạytuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức và giáo dục tình yêu biển đảo chohọc sinh tại trường THPT Lê Thanh HIền, Tỉnh Tiền Giang 312.2.1 Đổi mới nội dung, chương trình nhằm nâng cao nhận thức và giáo dục tìnhyêu biển đảo cho học sinh tại trường THPT Lê Thanh Hiền, Tỉnh TiềnGiang 312.2.2 Đổi mới hình thức, phương pháp giảng dạy tuyên truyền nhằm nâng caonhận thức và giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh tại trường THPT LêThanh Hiền, Tỉnh Tiền Giang 322.3 Phát triển đội ngũ Giáo viên để tuyên truyền giáo dục về tình yêu biển đảocho học sinh 332.3.1 Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và phương pháp giảng dạy chođội ngũ giáo viên Giáo dục QP – AN 332.3.2 Bồi dưỡng phương pháp tuyên truyền cho đội ngũ giáo viên 342.4 Tích hợp nội dung tuyên truyền giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinhthông qua các môn học 352.5 Xây dựng cơ sở vật chất và tài liệu phục vụ tuyên truyền giáo dục về tìnhyêu biển đảo cho học sinh 372.6 Kết hợp giữa Nhà trường – Gia đình – Đoàn thể trong giáo dục tình yêubiển đảo cho học sinh 38 Kết luận chương 2 40

Trang 5

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42 PHỤ LỤC 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam có bờ biển dài, thềm lục địa rộng lớn trên một triệu km2, gấp 3lần diện tích đất liền Đặc biệt đáng chú ý là vùng biển và ven biển Việt Namnằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch có giá trị nhưnhững cánh cửa rộng mở để chủ động hội nhập kinh tế với thế giới

Vùng biển nước ta còn có vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự, là biên giớiphía Đông, là đường tiếp cận, bàn đạp tiến công, các thế lực xâm lược Nếuchiến tranh xảy ra thì mọi mục tiêu trên đất liền đều nằm trong tầm hoạt động,bắn phá của vũ khí trang bị công nghệ cao xuất phát từ hướng biển Nếu cácquần đảo xa bờ, gần bờ được củng cố xây dựng căn cứ, vị trí trú đậu, triển khaicủa lực lượng Hải quân Việt Nam và sự tham gia của các lực lượng khác thì biểnđảo có vai trò quan trọng làm tăng chiều sâu phòng thủ hiệu quả cho đất nước Hơn nữa trong những năm gần đây, tình hình an ninh biển, đảo có nhiềudiễn biến phức tạp Trung Quốc đã có nhiều hành động xâm hại đến chủ quyềnbiển đảo của Việt Nam: tấn công các tàu Việt trên vùng biển của chính ViệtNam, ngang ngược xây dựng thành phố Tam Sa trên quần đảo Hoàng Sa…Những hành động nói trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủquyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; xâm phạmquyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển của ViệtNam làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp

Chúng ta đều biết rằng biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêngkhông thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại Trách nhiệm của tuổitrẻ nói chung, học sinh nói riêng là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này

Do vậy, việc giáo ý thức quốc phòng về an ninh biển đảo đối với học sinh là mộtnhiệm vụ vô cùng cấp thiết

Vì vậy việc tăng cường tuyên truyền, phổ biến những cơ sở pháp lý, khẳngđịnh chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo trên biển Đông bằng nhữngvăn bản pháp lý về biển, đảo Việt Nam đã ký với các nước láng giềng, các nước

có liên quan; tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc,

Trang 7

nâng cao ý thức đấu tranh, bảo vệ, gìn giữ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của

Tổ quốc trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, góp phần bảo vệ gìngiữ môi trường hòa bình, hợp tác và phát triển giữa các quốc gia có biển Côngtác tuyên truyền cũng sẽ giúp học sinh hiểu hơn về vị trí, vai trò, tầm quan trọngcũng như tiềm năng của biển, đảo; đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước

ta về chiến lược biển, đảo trong tình hình mới, qua đó, có ý thức và trách nhiệmhơn trong việc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi quyết định chọn đề tài: “ Giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh Trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang” làm đề tài nghiên cứu của khóa luận.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về giáo dục tình yêu biển đảo cho hocsinh như:

- Hoàng Nam Thắng: “ Kinh nghiệm giáo dục biển - đảo thông qua các bàihọc Địa lý lớp 12 trong chương trình trung hoc phổ thông” sáng kiến kinhnghiệm

- Trần Thị Minh Loan : “ Tích hợp giáo dục về biển đảo Việt Nam cho họcsinh THPT trong giờ dạy học môn Ngữ Văn” sáng kiến kinh nghiệm

- Nguyễn Tấn Sĩ : “ Tuyên truyền, giáo dục về chủ quyền biển đảo cho họcsinh trường THCS” sáng kiến kinh nghiệm

- Lê Thị Hồng : “ Giáo dục, tuyên truyền tình yêu biển đảo cho học viêntrung tâm GDTX Nhơn Trạch” sáng kiến kinh nghiệm

Các đề tài trên đều đề cập đến vấn đề biển đảo nói chung và ở phạm virộng Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể đến vấn đề giáo dục tìnhyêu biển đảo trong giai đoạn hiện nay cho học sinh tại Trường THPT Vì vậy tôi

lựa chọn đề tài: “ Giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh Trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang” làm vấn đề nghiên cứu của khóa luận.

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 8

Nhằm khái quát lý luận và đánh giá thực trạng từ đó đề xuất một số giảipháp góp phần giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh trường THPT Lê ThanhHiền, Tỉnh tiền Giang

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận giải cơ sở lý luận của việc giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinhTrường THPT Lê Thanh Hiền

- Đánh giá nhận thức thái độ của học sinh Trường THPT Lê Thanh Hiền,Tỉnh Tiền Giang về tình yêu biển đảo Từ đó chỉ ra nguyên nhân của những ưuđiểm và hạn chế

- Đề xuất một số giải pháp để góp phần giáo dục về tình yêu biển đảo chohọc sinh tại Trường THPT Lê Thanh Hiền, Tỉnh tiền Giang

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể: Tình yêu biển đảo cho học sinh tại Trường THPT Lê ThanhHiền, tỉnh Tiền Giang

- Đối tượng nghiên cứu: Giáo dục về tình yêu biển đảo cho học sinh tạiTrường THPT Lê Thanh Hiền, Tỉnh tiền Giang

6 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu về những nội dung liênquan đến việc giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh tại Trường THPT LêThanh Hiền Đó là hoạt động giáo dục của giáo viên và hoạt động nhận thức củahọc sinh qua số liệu điều tra từ năm 2012 đến nay

7 Các phương pháp nghiên cứu cơ bản

- Phương pháp luận: Đừơng lối quan điểm Đảng cộng sản Việt Nam vềgiáo dục tình yêu biển đảo tại Trường THPT Lê Thanh Hiền, Tỉnh Tiền Giang

- Phương pháp cụ thể: Là phân tích, tổng hợp, so sánh, và khái quát hóa cơ

sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, tổng kếtkinh nghiệm, thống kê xử lý các kết quả nghiên cứu

8 Đóng góp của đề tài

Trang 9

- Đánh giá được thực trạng nhận thức về tình yêu biển đảo của học sinh tạiTrường THPT Lê Thanh Hiền, Tỉnh Tiền Giang Đề xuất một số giải pháp nhằmnâng cao nhận thức về tình yêu biển đảo của học sinh tại Trường THPT LêThanh Hiền, tỉnh Tiền Giang.

- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy của giáoviên nhà trường

9 Kết cấu của đề tài

Đề tài được kết cấu gồm phần mở đầu, 2 chương 8 tiết, kết luận và kiếnnghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN ĐẢO

CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG THPT LÊ THANH HIỀN,

TỈNH TIỀN GIANG 1.1 Một số vấn đề lý luận về giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang

1.1.1 Biển đảo Việt Nam và tình yêu biển đảo Việt Nam của học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, Tỉnh Tiền Giang

- Khái quát về biển, đảo Việt Nam

Nằm bên bờ Biển Đông, Việt Nam có vùng biển và thềm lục địa rộngkhoảng một triệu ki-lô-mét vuông (lớn gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền), mở

ra trên cả ba hướng: Đông, Nam và Tây-Nam, Với bờ biển dài trên 3.260 km trảidài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốcđảo và các lãnh thổ trên thế giới Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liềncủa nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền có 1km bờ biển) Trong

63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửadân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển Trên vùng biển của đất nước có 48vũng, vịnh, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và có khoảng 3.000 đảolớn, nhỏ (riêng hệ thống đảo ven bờ có 2.773 đảo) Trong lịch sử hàng ngàn nămdựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng vàphát triển của đất nước và con người Việt Nam

Vùng biển của Việt Nam rất giàu tài nguyên và cũng là vùng biển chứađựng nhiều giá trị về mỹ học, địa chất-địa mạo học với Di sản thiên nhiên thếgiới Hạ Long và các khu dự trữ sinh quyển thế giới Đây còn là vùng biển cónguồn lợi sinh vật, các hệ sinh thái phong phú và nhiều loại khoáng sản với trữlượng lớn Với những yếu tố địa lý, lịch sử, xã hội và với sự đa dạng về tàinguyên như vậy, Biển Đông nói chung, vùng biển Việt Nam nói riêng có vị tríđặc biệt quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm củadân tộc Việt Nam, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam XHCN ngày nay

Trang 11

Hải đăng trên đảo Song Tử Tây - Trường SaVùng biển nước ta: bao gồm cả vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế vàthềm lục địa.

Theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, cácquốc gia ven biển có năm (05) vùng biển gồm: Nội thủy nằm bên trong đường

cơ sở; lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý; vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở; riêng thềm lục địa có thể kéo dài

ra tới 350 hải lý Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố chủquyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển nóitrên:

Nội thủy: Là vùng nước nằm ở phía trong đường cơ sở của nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nội thủy được coi như lãnh thổ trên đất liền, đặtdưới chủ quyền toàn vẹn đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia Việt Nam

Đường cơ sở: là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của

nội thủy, do quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo định ra phù hợp với Côngước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 để làm cơ sở xác định phạm vicủa các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia Là đường dùng

Trang 12

làm căn cứ để tính chiều rộng lãnh hải và các vùng biển khác Có 2 loại đường

cơ sở:

- Đường cơ sở thông thường: Là đường sử dụng ngấn nước thủy triều thấp

nhất ven bờ biển hoặc hải đảo

- Đường cơ sở thẳng: Là đường nối các điểm hoặc đảo nhô ra nhất của bờ

biển lục địa hoặc đảo Đường cơ sở thẳng áp dụng khi bờ biển quốc gia ven biển

bị chia cắt hoặc có chuỗi đảo gắn liền và chạy dọc theo bờ biển

Nước ta có chuỗi đảo chạy dọc theo bờ biển được vận dụng để xác địnhđường cơ sở thẳng Năm 1982, Chính phủ nước ta ra tuyên bố xác định đường

cơ sở thẳng ven bờ lục địa Việt Nam gồm 10 đoạn nối 11 điểm Trừ điểm A8nằm trên mũi Đại Lãnh, các điểm còn lại đều nằm trên các đảo Điểm 0 nằm trênranh giới phía Tây Nam của vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia ĐiểmA1: Hòn Nhạn (Kiên Giang); A2: Hòn Đá Lẻ (Cà Mau); A3: Hòn Tài Lớn; A4:Hòn Bông Lan; A5: Hòn Bảy Cạnh (Bà Rịa - Vũng Tàu); A6: Hòn Hải (nhómđảo Phú Quý - Bình Thuận); A7: Hòn Đôi (Khánh Hòa); A8: Mũi Đại Lãnh(Khánh Hòa); A9: Hòn Ông Căn (Bình Định); A10: Đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi);A11: Đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị)

Bản đồ đường cơ sở ven bờ biển Việt Nam

Trang 13

Lãnh hải: Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12

hải lý (01 hải lý tương đương 1.852m), ở phía ngoài đường cơ sở Ranh giớingoài của lãnh hải là biên giới của quốc gia ven biển Nước cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải củamình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnhhải Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982, chủ quyền đối vớivùng lãnh hải không phải là tuyệt đối như vùng nội thủy, tàu thuyền các nướckhác được “đi qua không gây hại” trong lãnh hải Các quốc gia ven biển cóquyền ấn định các tuyến đường, quy định việc phân chia các luồng giao thôngdành cho tàu nước ngoài đi qua lãnh hải nhằm bảo đảm chủ quyền, an ninh quốcgia và lợi ích của mình

Vùng tiếp giáp lãnh hải: Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiềurộng 12 hải lý, hợp với lãnh hải thành một vùng rộng 24 hải lý kể từ đường cơ

sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam Chính phủ nước Cộng hòa xã

Trang 14

hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáplãnh hải của mình nhằm bảo vệ quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sựtôn trọng các quy định về y tế, di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hảiViệt Nam.

Vùng đặc quyền kinh tế: Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền vùng lãnh hải và hợp với vùng lãnh hải thành vùngbiển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải củaViệt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn

về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên,sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáybiển của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêngbiệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặcquyền kinh tế nhằm mục đích kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứukhoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có thẩm quyền trong bảo

vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam

Thềm lục địa: Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lụcđịa mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơinào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hảiViệt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể

từ đường cơ sở đó Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, nướcnào có thềm lục địa tự nhiên quá rộng thì thềm lục địa có thể mở rộng ra khôngquá 350 hải lý kể từ đường cơ sở Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cóchủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tàinguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tàinguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địaViệt Nam

Trang 15

- Tầm quan trọng của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

+ Về kinh tế, chính trị - xã hội:

- Đối với Việt Nam, vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên conđường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương vàThái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản vàcác nước trong khu vực Ngoài ra sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng cáctuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa(đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước

ta có khả năng chuyển tải hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc mộtcách nhanh chóng và thuận lợi Cùng với đất liền, vùng biển nước ta là một khuvực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua khá lớn, một vùngkinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động, đó là nơi rất hấp dẫn các thế lực đếquốc, bành trướng nhiều tham vọng và cũng là nơi rất nhạy cảm trước các biếnchuyển trong đời sống chính trị thế giới

- Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ khíđốt

Dầu mỏ, băng cháy, cát thuỷ tinhTại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bề trầm tích cótriển vọng dầu khí với trữ lượng dự báo khoảng 10 tỉ tấn dầu quy đổi, trong đótrữ lượng khai thác khoảng 2 tỉ tấn, đặc biệt khí thiên nhiên có tiềm năng rất lớn.Hiện nay, chúng ta đã phát hiện hàng chục mỏ dầu khí có trữ lượng khai thác

Trang 16

công nghiệp, trong đó đã đưa vào khai thác gần một chục mỏ, hàng năm cungcấp hàng chục triệu tấn dầu và hàng tỷ mét khối khí phục vụ cho phát triển kinh

tế và dân sinh.Ngoài ra còn có các khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớnnhư than, sắt, titan, băng cháy, cát thủy tinh, muối và các loại vật liệu xây dựngkhác

- Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khuvực Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn có nhiều đặc sản khác có giá trị kinh

tế cao như: tôm cua, mực, hải sâm, rong biển,… Riêng cá biển đã phát hiện hơn2.000 loài khác nhau, trong đó có trên 100 loài có giá trị kinh tế cao Đến nay đãxác định có 15 bãi cá lớn quan trọng, trong đó có 12 bãi cá phân bổ ở vùng ven

bờ và 3 bãi cá ở các gò nổi ngoài khơi Dọc ven biển còn có hơn 80 vạn héc-tabãi triều và các eo vịnh, đầm phá ven bờ rất thuận lợi để nuôi trồng hải sản cógiá trị xuất khẩu cao như tôm, cua, ngọc trai, cá song, cá mú, rong câu… Vớitiềm năng trên, trong tương lai chúng ta có thể phát triển ngành nuôi trồng hảisản ở biển và ven biển một cách toàn diện và hiện đại tạo ra nguồn xuất khẩu cókim ngạch lớn và khả năng cạnh tranh cao

- Dọc bờ biển nước ta đã xác định nhiều khu vực có thể xây dựng cảng,trong đó một số nơi có khả năng xây dựng cảng nước sâu như: Cái Lân và một

số điểm ở khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, Lạch Huyện, Đình Vũ, CátHải, Đồ Sơn, Nghi Sơn, Cửa Lò, Vũng Áng, Đà Nẵng, Dung Quất, Cam Ranh

Cảng biển nước sâu

Trang 17

Riêng khu vực Vũng Tàu đến Hà Tiên do biển nông, nhiều sình lầy nên ít

có khả năng xây dựng cảng biển lớn, nhưng vẫn có thể xây dựng cảng quy môvừa ở Hòn Chông, Phú Quốc hoặc cảng sông Cần Thơ Hiện nay nước ta có trên

100 cảng biển và 10 khu chuyển tải hàng hóa, sản lượng hàng hóa thông qua hệthống các cảng biển

+ Về quốc phòng - an ninh:

Biển nước ta được ví như mặt tiền, sân trước, cửa ngõ quốc gia; biển, đảo, thềmlục địa và đất liền hình thành phên dậu, chiến lũy nhiều lớp, nhiều tầng, bố tríthành tuyến phòng thủ liên hoàn bảo vệ Tổ quốc Lịch sử dân tộc đã ghi nhận cótới 2/3 cuộc chiến tranh kẻ thù đã sử dụng đường biển để tiến công xâm lượcnước ta Những chiến công hiển hách của cha ông ta trên chiến trường sông biển

đã minh chứng: ba lần đại thắng quân thù trên sông Bạch Đằng (năm 938, 981

và 1288; chiến thắng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1077; chiến thắngRạch Gầm - Xoài Mút năm 1785 và những chiến công vang dội của quân và dân

ta trên chiến trường sông biển trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

và đế quốc Mỹ là những minh chứng ghi đậm dấu ấn không bao giờ mờ phaitrong lịch sử dân tộc

Ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển đảo Việt Nam

có vai trò quan trọng, làm tăng chiều sâu phòng thủ đất nước ra hướng biển Dođặc điểm lãnh thổ đất liền nước ta có hình chữ S, trải dài ven biển từ Bắc vàoNam, chiều ngang hẹp (nơi rộng nhất khoảng 600km, nơi hẹp nhất khoảng50km), nên chiều sâu phòng thủ đất nước bị hạn chế Hầu hết các trung tâmchính trị, kinh tế - xã hội của ta đều năm trong phạm vi cách bờ biển không lớn,nên rất dễ bị địch tấn công từ hướng biển Nếu chiến tranh xảy ra thì mọi mụctiêu trên đất liền đều nằm trong tầm hoạt động, bắn phá của vũ khí trang bị côngnghệ cao xuất phát từ hướng biển Nếu các quần đảo xa bờ, gần bờ được củng cốxây dựng thành những căn cứ, vị trí trú đậu, triển khai của các lực lượng Hảiquân Việt Nam và sự tham gia của các lực lượng khác thì biển, đảo có vai trò rấtquan trọng làm tăng chiều sâu phòng thủ hiệu quả cho đất nước

Trang 18

Song song đó phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cốquốc phòng - an ninh trên biển để tạo ra môi trường hòa bình, ổn định, tạo điềukiện cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và ngư dân các địa phươngyên tâm làm ăn trên các vùng biển, đảo, nhất là ở vùng biển xa Phải xây dựngHải quân nhân dân Việt Nam và các lực lượng vững mạnh, theo hướng cáchmạng, chính quy, tinh nhuệ và hiện đại, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ đểquản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.

- Tình yêu biển đảo của học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang

Với chủ đề “Biển là nhà, đảo là quê hương”, hàng trăm học sinh trườngtrung học phổ thông Lê Thanh Hiền đã thể hiện tình yêu biển đảo của mình quahơn 30 tờ báo tường sinh động, đầy ý nghĩa

Thầy Võ Văn Nghiêm, hiệu trưởng trường, tâm sự: “Trường khá bất ngờtrước những gì mà học sinh thể hiện trong các tờ báo tường Ý định của nhàtrường là tạo một sân chơi cho học sinh toàn trường nhằm nâng cao ý thức tráchnhiệm của các bạn với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Nhưng tìnhhình biển đảo đang “nóng” nên các em đã thể hiện nhiệt huyết tuổi trẻ một cáchmãnh liệt Chỉ trong hai tuần nhưng các em đã sưu tầm tư liệu, sáng tác truyệnngắn, viết thư gửi lính đảo, xã luận đầy đủ các thể loại trên tờ báo tường nhỏ

bé của mỗi lớp ” Lướt qua một vòng, tên của các tờ báo tường luôn gắn liềnvới biển đảo, đó là: “Trái tim của biển”, “Biển nước hồn quê”, “Khát vọngbiển”, “Tình yêu lính đảo”, “Vượt sóng” Nhưng cũng có những cái tên rất thờisự: “Sóng biển Đông 2014”; “Biển gọi”, “Hướng về đảo xa”, “Hướng về biểnĐông”, “Gửi đảo xa”, “Ánh sáng nơi đảo xa”, “Phản đối Hải Dương 981” Bêncạnh lời ngỏ xúc động là những mẩu truyện ngắn, thơ, mục hỏi đáp, xã luận, hộpthư hỏi đáp, thư gửi lính biển, câu đố vui dạt dào tình yêu của các bạn học sinhvới biển đảo Đặc biệt hơn, nhiều tờ báo tường cập nhật rất chi tiết về tình hìnhTrung Quốc đang hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép trên vùng biểnViệt Nam

Trang 19

Với các “nhà báo” học sinh, tình cảm dành cho biển đảo vô cùng phongphú Bạn Cẩm Thuý, lớp 12B2, cảm nhận: “Biển như người mẹ, không tráchmóc, không giận hờn dù đôi lúc con người vì cuộc sống, vì kế sinh nhai đã quênmất biển, hủy hoại biển nhưng biển không ngoảnh mặt quay lưng, biển vẫn cho

ta đầy tôm cá ”

Trong khi đó, tờ báo tường của hai lớp 12B4 và 12B6 lại mạnh mẽ phảnđối giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc đặt trái phép trong vùng biểncủa Việt Nam Các bạn nói rõ “Hải Dương 981 đã gây bất bình ở Việt Nam vàkiều bào trên thế giới, mọi người phải chung tay góp phần gìn giữ chủ quyền,thể hiện tinh thần yêu nước sôi sục” Yêu biển đảo, mong ước nối gần lại biểnđảo với đất liền, các bạn lớp 12B6 viết: “Tôi đã mơ có một ngày Hoàng Sa,Trường Sa sẽ không còn là khái niệm xa vời với bất kỳ người dân Việt nào ”

1.1.2 Giáo dục tình yêu biển đảo Việt Nam cho học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, tỉnh Tiền Giang

1.1.2.1 Quan niệm về giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, Tỉnh Tiền Giang

Giáo dục cho HS có nhận thức đúng về biển đảo, ý thức về chủ quyền biểnđảo (một bộ phận của lãnh thổ Tổ quốc) và thái độ tích cực đối với biển đảo, tàinguyên, môi trường biển, thiên tai thường gặp và cách phòng chống; trang bịcho HS kĩ năng tuyên truyền, truyền đạt những hiểu biết về biển của nước tatrong cuộc sống hằng ngày Giúp HS có ý thức trách nhiệm với tài nguyên, môitrường biển; có những hành động thích hợp để giúp mọi người xung quanh hiểubiết thêm về biển, và có ý thức bảo vệ chủ quyên biển đảo của Tổ quốc, pháttriển kinh tế gắn với việc bảo vệ tài nguyên môi trường biển đảo, kĩ năng ứngphó với thiên tai

1.1.2.2 Nội dung giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, Tỉnh Tiền Giang

Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, vận động, giáo dục học sinh nâng caonhận thức về vị trí, tầm quan trọng của biển, hải đảo trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc cũng như tôn vinh những giá trị của đại dương đối với sự

Trang 20

sống của nhân loại và tính cấp thiết của việc bảo vệ đại dương Đẩy mạnh hơnnữa công tác giáo dục, tuyên truyền về tài nguyên, môi trường biển, hải đảo,giáo dục chủ quyền biển, đảo của nước ta đến với học sinh trong toàn trường.Thực hiện lồng ghép nội dung giáo dục tuyên truyền về biển, hải đảo vàochương trình giảng dạy của nhà trương Đồng thời tăng cường các hoạt độnggiáo dục bảo vệ hệ sinh thái biển thông qua việc tích hợp, lồng ghép các kiếnthức về môi trường biển đối với con người, nguyên nhân làm suy thoái biển vànhững việc cần làm để bảo vệ môi trường biển vào nội dung các môn học củanhà trường Tổ chức chiến dịch ra quân thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ,đồng bào đang sinh sống tại các bãi ngang và hải đảo có nhiều khó khăn

1.1.3 Những nhân tố tác động đến việc giáo dục tình yêu biển đảo của học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền

Trường THPT Lê Thanh Hiền tiền sử là một trường bán công, đối tượnghọc sinh đủ mọi thành phần: Có những học sinh do hoàn cảnh gia đình khó khăn

bị gián đoạn học tập nay trở ra trường học lại, nhưng đa số học sinh của nhàtrường là các em không đủ điều kiện để vào trường trung học phổ thông chínhquy vì vậy ý thức học tập và nhận thức của các em về tình yêu quê hương đấtnước nhìn chung chưa nâng cao

Địa bàn dân cư rộng và phức tạp, lớp học tập trung theo khu vực liên xãnên tinh thần đoàn kết chưa cao Đa số các bậc cha mẹ học sinh chưa thực sựquan tâm đến việc học tập của các em nên giáo viên chủ nhiệm gặp khó khăntrong vấn đề liên lạc với gia đình đề cùng hợp tác giáo dục con em

Trước sự phát triển của cuộc sống hiện đại, những tác động tiêu cực củacuộc sống đang tồn tại trong lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên Nhiềunhận xét cho rằng: việc học sinh vi phạm các chuẩn mực đạo đức đã đến mứcđáng lo ngại với những hành vi như bạo lực trong nhà trường, đe dọa hành hungthầy cô giáo, quay cóp bài, bỏ học… Ngoài ra, nhiều thanh thiếu niên còn sớm

có biểu hiện của lối sống hưởng thụ, coi nặng giá trị vật chất, tiêu xài hoang phí,không tôn trọng kỷ luật, vi phạm pháp luật, …

Trang 21

1.2 Thực trạng nguyên nhân giáo dục tình yêu biển đảo tại trường THPT

Lê Thanh Hiền - tỉnh Tiền Giang

1.2.1 Khái quát về trường và học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền, Tỉnh Tiền Giang

Trường THPT Lê Thanh Hiền tiền thân là trường THPT Bán Công LêThanh Hiền được thành lập vào tháng 8 năm 1990.Trường nằm dọc theo quốc lộ1A, tại ấp 1, xã An Hữu, Huyện Cái Bè, phía Tây của Tỉnh Tiền Giang Cơ sởvật chất gồm 05 phòng tạm cải tạo lại từ khu tập thể giáo viên của trường PTTH

An Hữu, trong đó có 04 phòng học và 01 văn phòng Ban Giám hiệu gồm Hiệutrưởng là Thầy Phan Minh Chấn, Phó Hiệu trưởng là Thầy Huỳnh Thiện Chí

Từ năm học 2007 – 2008 trường THPT Bán công Lê Thanh Hiền chínhthức trở thành trường THPT Công lập Lê Thanh Hiền Hiệu trưởng là ThầyHuỳnh Thiện Chí, Phó Hiệu trưởng gồm Thầy Võ Văn Nghiêm và Thầy PhạmThành Trăng

Đến tháng 5 năm 2009 do công tác luân chuyển cán bộ, Thầy Ngô HảiHoanh được luân chuyển từ trường THPT Phạm Thành Trung về giữ chức vụHiệu trưởng trường THPT Lê Thanh Hiền Phó Hiệu trưởng gồm Thầy Võ VănNghiêm và Thầy Phạm Thành Trăng

Từ tháng 2 năm 2015, thầy Trần Văn Chính được bổ nhiệm Hiệu phó.Tháng 8 năm 2015, thầy Ngô Hải Hoanh về hưu theo quy định Tháng 10 năm

2015, thầy Võ Văn Nghiêm được bổ nhiệm làm hiệu trưởng cho đến nay

Với tổng diện tích 3.660m2, số lượng phòng học có 21 phòng, 01 phòng thưviện, 02 phòng máy tính với 30 máy và 01 phòng thiết bị Các môn học như Thểdục - Quốc phòng học trái buổi Đội ngũ cán bộ, nhà giáo, nhân viên của nhàtrường đều đạt chuẩn và trên chuẩn góp phần tạo cho nhà trường từng bước nângcao chất lượng dạy và học

Hơn 25 năm qua, Chi bộ Đảng, BGH nhà trường đã lãnh đạo tập thể cán

bộ, giáo viên, công nhân viên, học sinh xây dựng trường trở thành một tập thểđoàn kết, một đơn vị vững mạnh và không ngừng phát triển Trường luôn thựchiện tốt các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước, các chính sách quản lí tài

Trang 22

chính, tài sản, chính sách cán bộ thực hiện có hiệu quả Trường luôn được sựquan tâm chỉ đạo lãnh đạo kịp thời của Chi bộ Đảng, BGH nhà trường, đời sốngcán bộ, giáo viên, công nhân viên tương đối ổn định Việc thực hiện chế độchính sách của cơ quan đầy đủ, đúng quy định nên cán bộ, giáo viên đều an tâmcông tác Cán bộ, giáo viên có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, thườngxuyên quan tâm đến tình hình an ninh, chính trị của đất nước, của xã hội, củangành để phục vụ cho công tác và đời sống.

Tập thể sư phạm nhà trường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và chỉ tiêucủa năm học 2015 – 2016, là đơn vị đạt Tiên tiến Giáo dục thể chất, là đơn vịvững mạnh toàn diện; trong đó có chỉ tiêu về chất lượng đạt xuất sắc, công tác

QP - AN luôn được giữ vững, các giá trị truyền thống của nhà trường tiếp tụcđược duy trì và nâng cao

a Về đội ngũ CB - GV - CNV:

Hiện tại trường có tổng số cán bộ, giáo viên, công nhân viên là 78 ngườitrong đó:

+ Ban Giám hiệu: 03 (01 hiệu trưởng; 02 hiệu phó)

+ Nhà trường đã có chi bộ gồm 12 Đảng viên

+ Giáo viên đứng lớp: 68 người Nữ: 34 người

Trang 23

b Về học sinh:

Tổng số học sinh toàn trường 1408 học sinh, được biên chế thành 33 lớp

Cụ thể như sau:

Khối 12 có 11 lớp với 433 học sinh

Khối 11 có 11 lớp với 491 học sinh

Khối 10 co1 11 lớp với 484 học sinh

Trong những năm qua khi mà Đảng, nhà nước ta đang có chủ trương đẩy

mạnh việc tuyên tuyền Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách

nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân

tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc ta phát triển bền vững Đặc biệt trong nhữngnăm gần đây tình hình tranh chấp trên biển đông đang có những diễn biến phức,khó lường Do đó, thông qua hệ thống truyền thông báo đài đã góp phần nângcao nhận thức về tình yêu biển đảo của Tổ quốc Đa phần đội ngũ cán bộ giáoviên và học sinh của trường đã nhận thức được tình yêu biển đảo của Tổ quốc

Bảng 1.1 Đánh giá sự quan tâm của CB, GV, NV và học sinh về việc giáo dục

nâng cao nhận thức tình yêu biển đảo của Tổ quốc

GHI CHÚ

Số phiếu đánh giá Tỷ lệ %

Số phiếu đánh giá Tỷ lệ %

Trang 24

Từ kết quả trên cho thấy: Trong tổng số 68 CB, GV, NV được thăm dò có

45 lượt cho rằng việc giáo dục nâng cao nhận thức về tình yêu biển đảo của Tổquốc là rất cần thiết với tỉ lệ 66,2%, có 13 lượt đánh giá cần thiết đạt tỉ lệ 19,1%,

có 10 lượt đánh giá ít cần thiết với tỉ lệ 14,7 % Đối với học sinh trường, trongtổng số 160 học sinh của trường được thăm dò có 84 lượt cho rằng nâng caonhận thức về tình yêu biển đảo quê hương cho học sinh là rất cần thiết, chiếm tỉ

lệ 52,5%, có 52 học sinh lựa chọn mức cần thiết chiếm tỉ lệ 32,5% Từ kết quảkhảo sát cho thấy đa số cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh có nhận thức tốt

về tầm quan trọng của việc giáo dục nâng cao nhận thức về tình yêu biển đảoquê hương cho học sinh, xem đó là nhiệm vụ quan trọng, góp phần vào sựnghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam Bên cạnh đó còn số ítcán bộ, giáo viên, đặc biệt là học sinh còn chưa nhận thức được tầm quan trọngcủa công tác này, xem vấn đề đó là ít cần thiết hoặc không cần thiết nên khôngcần phải nâng cao nhận thức về vấn đề này

b Thực trạng về phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức về giáo dục tình yêu biển đảo Việt Nam

Hiện nay phương pháp chủ yếu được nhà trường áp dụng để giáo dục, nângcao nhận thức về chủ quyền lãnh thổ biên giới quốc gia và chủ quyền biển đảochủ yếu thông qua hình thức tuyên tuyền vào các tiết sinh hoạt dưới cờ Một sốphương pháp khác chủ yếu là do giáo viên đứng lớp các môn Lịch sử, địa lý vàmôn GDQP – AN lồng ghép một số nội dung về tình hình tranh chấp trên biểnđông hiện nay để làm phong phú và hấp dẫn hơn nội dung của giờ lên lớp Nhìnchung các phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhậnthức về giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh ở trường THPT Lê Thanh Hiềnhiện nay rất hạn chế cả về phương pháp, cách tổ chức rất đơn điệu; chưa cónhững hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng cần thiết như: tổ chức các diễnđàn, hùng biện về hiểu biển đảo, hội thi văn nghệ hát về biển đảo, tham quan dulịch biển

Trang 25

Bảng 1.2 Đánh giá kết quả lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt

động nhằm nâng cao nhận thức về tình yêu biển đảo cho học sinh

CB – GV – NV HỌC SINH

GHI CHÚ

Số phiếu đánh giá

Tỷ lệ

%

Số phiếu đánh giá

Tỷ lệ

%

Từ kết quả trong bảng 1.5 cho thấy: Trong tổng số 68 CB, GV, NV có 30lượt lựa chọn tuyên truyền chiếm tỉ lệ 44,1%, 23 lượt CB, GV, NV lựa chọn tổchức diễn đàn, còn đối với hình thức hùng biện về biển đảo và tham quan bảotàng có số lượt lựa chọn là 10 và 5 chiếm tỉ lệ 14,7% và 7,4%; còn đối với 160học sinh được thăm dò thì có 72 lượt lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chứctham quan bảo tàng biển đảo sẽ góp phần nâng cao nhận thức chủ quyền biểnđảo quê hương nhiều hơn, chiếm tỉ lệ 45%; có 34 lượt lựa chọn hình thức tổchức hùng biện về biển đảo, chiếm tỉ lệ 21,3%; có 24 lượt lựa chọn hình thức tổchức diễn đàn, chiếm 15%; còn lại 30 lượt lựa chọn hình thức, phương pháptuyên truyền để nâng cao nhận thức chủ quyền biển đảo cho học sinh củatrường, chiếm tỉ lệ 18,7% Từ kết quả khảo sát cho thấy đa số học sinh lựa chọnphương pháp, hình thức tổ chức thăm quan bảo tàng sẽ có tác dụng nâng caonhận thức chủ quyền biển đảo Việt Nam cho học sinh của trường nhiều hơn.Trong khi những phương pháp tổ chức còn lại gồm: tuyên truyền, tổ chức diễnđàn, có số lượt lựa chọn gần bằng nhau Từ kết quả trên cho thấy cần phải tổchức đa dạng các phương pháp, hình thức tổ chức thật phong phú mới mang lạihiệu quả trong việc góp phần nâng cao nhận thức về chủ quyền biển đảo ViệtNam

Để đánh giá về chất lượng các phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức về chủ quyền biển đảo Việt Nam cho học sinh

Trang 26

trong nhà trường chúng tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến của cán bộ, giáo viên và học sinh trong trường.

Bảng 1.3 Đánh giá kết quả khảo sát chất lượng các phương pháp, hình thức

tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức của học sinh

CHÚ

Số phiếu đánh giá Tỷ lệ %

Số phiếu đánh giá Tỷ lệ %

c Thực trạng nhận thức của học sinh trường THPT Lê Thanh Hiền về giáo dục tình yêu biển đảo

Trong những năm qua, thực trạng nhận thức của học sinh của trường vềtình yêu biển đảo đã có những chuyển biến tích cực Thông qua các hệ thốngbáo đài, các văn bản chỉ đảo của Đảng và nhà nước; các buổi tuyên truyền củanhà trường đã góp phần tích cực vào việc nâng cao nhận thức về tình yêu biểnđảo Việt Nam Hiện nay khi mà vấn đề tranh chấp trên biển đông đang trở nên

Trang 27

phức tạp, khó lường giữa các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc thìviệc nâng cao nhận thức cho học sinh về tình yêu biển đảo của tổ quốc là hết sứcquan trọng

Tuy nhiên hiện nay một bộ phận không nhỏ học sinh có nhận thức về tầmquan trọng của việc bảo vệ chủ quyền biển đảo vẫn còn mơ hồ, chưa sâu sắc, cầnphải phối hợp nhiều biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cho học sinh của trường

Bảng 1.4 Đánh giá nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của việc giáo dục

tình yêu biển đảo cho học sinh nhà trường

Qua kết quả của bảng 1.7 cho thấy, trong tổng số 160 học sinh được thăm

dò có 120 lượt lựa chọn rất quan trọng chiếm tỉ lệ 75%; có 35 học sinh lựa chọnquan trọng chiếm tỉ lệ 21,9%, chỉ có 1 học sinh lựa chọn không quan trọngchiếm tỉ lệ 0.6% Từ đó cho thấy nhận thức của học sinh về việc giáo dục tìnhyêu biển đảo là rất quan trọng

Bảng 1.5 Đánh giá nhận thức học sinh về mức độ cần thiết của việc giáo

dục tình yêu biển đảo

Trang 28

Qua kết quả khảo sát nhận thức học sinh về mức độ cần thiết của việc giáodục tình yêu biển đảo cho học sinh cho thấy: Trong tổng số 160 học sinh có 60lượt đánh giá rất cần thiết chiếm tỉ lệ 37,5%, còn ở mứa cần thiết có 44 lượt họcsinh lựa chọn chiếm tỉ lệ 27,5%, có 26 lượt học sinh lựa chọn mức chưa cần thiếtchiếm 16,3%, tuy nhiên có đến 30 lượt học sinh lựa chọn không cần thiết chiếmđến hơn 18,7%, điều đó chứng tỏa nhiều học sinh của trường vẫn thờ ơ trong việcnâng cao nhận thức của bản thân các em về tình yêu biển đảo quê hương.

Bảng 1.6 Đánh giá mức độ tự tìm hiểu và nghiên cứu về giá trị, tầm quan trọng

của biển đảo quê hương.

tỉ lệ 15%, ở mức thấp hơn là đôi khi tìm hiểu có đến 89 lượt học sinh lựa chọnchiếm tỉ lệ 55,6%, có đến 47 lượt học sinh tự nhận là chưa bao giờ quan tâm tìmhiểu các giá tri, tầm quan trọng của biển đảo quê hương với tỉ lệ khá cao 29,4%

Từ kết quả trên cho thấy thực trạng nhận thức về biển đảo Việt Nam trong bộphận học sinh là ở mức rất thấp

d Thực trạng cơ sở vật chất của nhà trường đáp ứng yêu cầu để nâng cao nhận thức giáo dục tình yêu biển đảo cho học sinh

Trong tổ chức các hoạt động dạy và học của nhà trường thì cơ sở vật chấtgóp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng của giờ dạy của giáo viên,đồng thời giúp cho học sinh dễ tiếp thu những kiến thức mới thông qua cácphương tiện dạy học Do đó, đối với công tác tổ chức các hoạt động giáo dụcnhằm nâng cao nhận thức của học sinh về tình yêu biển đảo Việt Nam thì cở sởvật chất đóng góp vai trò quan trọng Trong những năm học vừa qua, trường

Ngày đăng: 13/03/2021, 22:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w