Yếu tố lãnh đạo quản lý liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của người bệnh tuân thủ điều trị bệnh LDDTT Sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện Kỹ năng giao tiếp, ứng xử của nhân vi[r]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN TUỆ TĨNH NĂM 2017
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành : Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số : 60 72 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS.BS Đậu Xuân Cảnh
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Loét dạ dày tá tràng hay còn gọi là loét tiêu hóa đề cập đến sự hình thành một chỗ khuyết ở niêm mạc đường tiêu hóa (dạ dày hoặc tá tràng), tiếp xúc với chất tiết acid và pepsin Các triệu chứng thông thường nhất của loét dạ dày tá tràng là đau bụng
Loét dạ dày tá tràng là bệnh lý gặp phổ biến ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, thường tiến triển thành từng đợt và hay tái phát với nhiều biến chứng nguy hiểm Là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ em Giữa thế kỷ XX, tần suất loét dạ dày không thay đổi, nhưng loét tá tràng có xu hướng tăng
và tỉ lệ loét tá tràng / loét dạ dày là 2/1, và đa số gặp ở nam giới Hiện nay có khoảng 10% dân chúng trên thế giới bị LDDTT và ảnh hưởng tại một số thời điểm trong cuộc sống của họ
Sinh bệnh học của loét dạ dày tá tràng (loét tiêu hoá) là sự mất cân bằng giữa các yếu tố gây hại trong lòng ống tiêu hoá (acid và pepsin)
và chức năng bảo vệ (là hàng rào phòng thủ chất nhầy niêm mạc và bicarbonate) Một số yếu tố từ môi trường và chủ thể người bệnh cũng góp phần hình thành loét do làm tăng tiết acid dạ dày hoặc làm suy yếu hàng rào bảo vệ niêm mạc Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy điều trị thành công các vết loét dạ dày tá tràng là có thể Tuy nhiên
do người bệnh không biết chữa, không biết phòng ngừa đúng phương pháp, chưa có đủ hiểu biết về cách chăm sóc, tự phòng bệnh Chính vì thế bệnh LDDTT trở thành vấn đề quan tâm y tế của nước ta và nhiều nước trên thế giới Việc cung cấp cho người bệnh một số kiến thức về bệnh giúp họ tránh được những yếu tố làm bệnh nặng thêm Người bệnh kiêng các chất kích thích như rượu, cà phê, nước trà đặc, ớt, hạt tiêu, nên ăn những thức ăn mềm, dễ tiêu, ăn chậm và nhai kỹ, phát hiện sớm tình trạng viêm dạ dày và có thái độ điều trị đúng đắn là rất cần thiết, góp phần không nhỏ trong công tác phòng ngừa, điều trị và năng cao chất lượng sống cho người dân
Bệnh viện Tuệ Tĩnh, là bệnh viện thực hành của Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam, cho đến nay vẫn còn rất ít nghiên cứu về kiến thức, thái độ tuân thủ điều trị của người bệnh loét dạ dày tá tràng để đưa
ra những khuyến nghị phù hợp cho Bệnh viện nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh về Loét dạ dày tá tràng Do đó, tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Kiến thức, thái độ, tuân thủ điều trị của người bệnh loét dạ dày tá tràng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2017 và một số yếu tố liên quan” với 2 mục tiêu:
Trang 31 Mô tả kiến thức, thái độ, tuân thủ điều trị của người bệnh loét dạ dày
tá tràng điều trị nội trú tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2017
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, tuân thủ điều trị của người bệnh loét dạ dày tá tràng điều trị nội trú tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh năm 2017
1.1.2 Bệnh sinh và bệnh nguyên
a Bệnh sinh
- Pepsin:
- Sự phân tán ngược của ion H+:
- Yếu tố bảo vệ của niêm mạc dạ dày:
1.2 TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ DẠ DÀY TÁ TRÀNG
1.2.1 Tuân thủ điều trị loét dạ dày tá tràng
Tuân thủ điều trị loét dạ dày tá tràng đạt trên 80% được coi là thành công
- Đúng thời gian và liên tục
• Uống thuốc 2 lần một ngày
• Thời gian đủ
Trang 4- Đúng thuốc, đúng liều, đúng cách
• Ăn đúng giờ
• Ăn những thức ăn mền, nhai kỹ
• Tránh các chất có cồn, chất kích thích, cay nóng
• Ngủ không quá muộn
• Đúng số lượng viên thuốc
1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ
dạ dày tá tràng, 70% dân số nước ta có nguy cơ mắc bệnh dạ dày, nguy
cơ mắc viêm loét dạ dày ở nam giới gấp 4 lần so với nữ Đây là căn bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nếu phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng phác đồ Tuy nhiên nếu để bệnh viêm loét dạ dày tá tràng kéo dài sẽ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh, thậm chí dẫn tới các biến chứng nguy hiểm như loét dạ dày, thủng dạ dày hay ung thư dạ dày
Theo thống kê, số người tử vong mỗi năm vì bệnh ung thư dạ dày tại Việt Nam lên tới 11.000 người Đáng chú ý là 70% số người bị ung thư dạ dày được phát hiện ở giai đoạn tiến triển do không có triệu chứng
rõ rệt và dễ nhầm lẫn với bệnh viêm dạ dày hay loét dạ dày Đặc biệt, tuổi người bệnh ung thư dạ dày dưới 40 chiếm tỉ lệ khoảng 20 - 25% là một con số rất ca
Những đối tượng thường xuyên bị áp lực, căng thẳng trong công việc hay ăn uống thất thường, thường sử dụng rượu bia là những nhóm có nguy cơ cao mắc bệnh dạ dày Nhưng nhiều người bệnh không biết rằng cần phải tuân thủ tuyệt đối việc điều trị căn bệnh này nếu không bệnh rất hay tái phát
Nghiên cứu hiệu quả điều trị của phác đồ RACM ở người bệnh Loét
dạ dày tá tràng có Helicobacter Pylori của Vĩnh Khánh và cộng sự Trường Đại học Y dược Huế cho thấy: Hiệu quả cắt cơn đau chung của phác đồ: 90,32% Nhóm Helicobacter pylori được tiệt trừ tỷ lệ cắt cơn
Trang 5đau là 96,37% so với nhóm không được tiệt trừ là 42,85% và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
Loét dạ dày tá tràng là một bệnh rất thường gặp ở khắp nơi trên thế giới nhất là ở các nước phát triển Loét dạ dày - tá tràng là một bênh phổ biến hay gặp, theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới bênh chiếm 5-10% dân số thế giới Đây là một sự phá hủy cục bộ niêm mạc dạ dày
tá tràng gây ra do acid chlorhydrique và pepsine
Hàng năm trung bình có khoảng 50% người bị loét có đợt đau phải điều trị và trong đợt tiến triển có thể có biến chứng nguy hiểm như thủng, chảy máu… Thủng là một biến chứng của loét dạ dày tá tràng Tỉ
lệ thủng ổ LDDTT là 5%-10% Theo Đỗ Đức Vân, trong thời gian 30 năm (1960 – 1990), tại bệnh viện Việt Đức có 2.481 trường hợp thủng
dạ dày tá tràng, tương ứng hơn 80 trường hợp cho 1 năm Tại bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 05/1996 – 05/1997, theo Nguyễn Anh Dũng có 109 trường hợp loét dạ dày tá tràng Tại bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương, Thành phố Hồ Chí Minh,
từ tháng 12-1995 – 03/1997, có 134 trường hợp loét dạ dày tá tràng Tại bệnh viện Chợ Rẫy, từ tháng 08/1998 – 08/1999 có 170 trường hợp loét
dạ dày tá tràng
Theo MC Connel tại bệnh viện cựu chiến binh Mỹ so sánh hai giai đoạn 1974-1977 và 1984-1987 tỉ lệ biến chứng chảy máu, thủng và hẹp môn vị vẫn không thay đổi
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là những người bệnh đến khám và điều trị tại khoa Nội Bệnh viện Tuệ Tĩnh từ 06/2017 đến 09/2017, không phân biệt tuổi, giới, nghề nghiệp
- Nhân viên y tế đang công tác tại Khoa Nội, Bệnh viện Tuệ Tĩnh
2.1.1.1.Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
Trang 6+ Người bệnh có kết quả nội soi dạ dày tá tràng phát hiện có loét dạ dày + Người bệnh đã được chẩn đoán Loét dạ dày tá tràng và có chỉ định điều trị của bác sỹ
+ Không phải là người bệnh đang điều trị tại Bệnh viện
+ Người bệnh tuân thủ điều trị không đủ liệu trình
+ Người bệnh được chẩn đoán xác định bị ung thư dạ dày đã được chẩn đoán bằng nội soi và sinh thiết
+ Người bệnh bị loét đang chảy máu
- Nhân viên y tế: Bác sỹ, điều dưỡng đang làm việc tại Khoa Nội không
đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa Nội,
Bệnh viện Tuệ Tĩnh
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được triển khai từ tháng 10 năm
2016 đến tháng 11 năm 2017
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có quan sát kết hợp phương pháp định lượng và định tính
2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu
a Cỡ mẫu
- Người bệnh: Tất cả người bệnh đến khám và điều trị tại Bệnh viện
Tuệ Tĩnh từ tháng 06 năm 2017 đến tháng 9 năm 2017 => n = 60
- Nhân viên y tế: Tất cả nhân viên y tế đang công tác tại khoa Nội,
Bệnh viện Tuệ Tĩnh => n = 10
b Phương pháp chọn mẫu
Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp: chọn mẫu có chủ đích
Người bệnh: Chọn đối tượng nghiên cứu Chọn 60 người bệnh,
cách chọn: Lập danh sách toàn bộ người bệnh loét dạ dày tá
Trang 7tràng sau đó chọn 1 cách ngẫu nhiên từ 1 đến 60 người bệnh từ
trên xuống dưới
Nhân viên y tế: Lập danh sách toàn bộ bác sỹ và điều dưỡng đang công tác tại Khoa đồng ý tham gia nghiên cứu
c Công cụ thu thập số liệu
- Bộ câu hỏi phỏng vấn và phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu được xây dựng dựa theo các nghiên cứu trước
- Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu
chính xác cho câu trả lời
- Tập huấn cho đối tượng về bộ câu hỏi điều tra để điều tra viên
có thể hiểu và nắm chắc được những câu hỏi, có thể giải thích ngay khi đối tượng trả lời có sự nhầm lẫn và đảm bảo tính tương tác cao
- Điều tra viên phải giải thích rõ những nội dung mà đối tượng không rõ
- Xem xét, kiểm tra lại các phiếu, những phiếu không đầy đủ thông tin sẽ được điều tra lại
- Tập huấn nhập liệu cho điều tra viên Việc nhập liệu cũng như giám sát nhập liệu được tiến hành ngay sau khi số liệu được thu thập nhằm đảm bảo tính chính xác và có thể khắc phục ngay được những sự
cố gặp phải trong quá trình nhập liệu
- Giải thích rõ cho đối tượng tham gia nghiên cứu hiểu mục đích
và tính bảo mật khi tham gia nghiên cứu
- Các phiếu theo dõi chăm sóc được thực hiện trên cùng một mẫu
- Làm sạch số liệu trước khi nhập liệu
Trang 8Phân tích mô tả: Sử dụng các thông số như tần số, tỷ lệ %
Phân tích mối liên quan: Tìm mối liên quan giữa các yếu tố với kiến thức, thái độ, thực hành tuân thủ điều trị của NB
Thống kê suy luận được áp dụng để xác định yếu tố liên quan: tuổi, giới, trình độ học vấn, đặc điểm bệnh, dịch vụ y tế … với kiến thức, thái
độ và thực hành đạt
2.5 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu được tiến hành sau khi Hội đồng xét duyệt đề cương
do trường Đại học Thăng Long thành lập và phê duyệt
- Nghiên cứu được sự đồng ý của Ban Lãnh đạo Bệnh viện Tuệ Tĩnh
- Nghiên cứu sẽ không làm ảnh hưởng tới quá trình điều trị của đối tượng nghiên cứu, chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
- Người tham gia nghiên cứu được giải thích và cung cấp đầy đủ các thông tin về nghiên cứu Khi có sự tự nguyện tham gia của đối tượng nghiên cứu thì bắt đầu thực hiện nghiên cứu
- Các thông tin cá nhân của đối tượng tham gia nghiên cứu được đảm bảo giữ bí mật, chỉ phục vụ cho nghiên cứu
- Kết quả của nghiên cứu sẽ được đề xuất với Ban Giám đốc trong việc lên kế hoạch chăm sóc người bệnh bị loét dạ dày tá tràng
- Nghiên cứu chỉ nhằm cho phục vụ sức khỏe NB, không có mục đích nào khác
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG
3.1.1 Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị LDDTT của ĐTNC Bảng 3.1 Hiểu biết về dấu hiệu LDDTT của người bệnh (n=60)
Đau bụng đau âm ỉ 49 81,7 Đau có tính chất chu kỳ 34 56,7
Trang 9Đầy hơi chướng bụng 44 73,3
Nhận xét: Bảng 3.1 cho thấy hầu hết người bệnh biết dấu hiệu LDDTT
là đau bụng âm ỉ chiếm 81,7% và gầy ốm chiếm 78,3%
Bảng 3.2 Hiểu biết về nguyên nhân LDDTT của người bệnh (n=60)
Nhận xét: Bảng 3.2 cho thấy hầu hết người bệnh biết nguyên nhân gây
LDDTT chủ yếu là yếu tố tâm lý chiếm 75,0%, và yếu tố tiết thực chiếm 80%
Kết quả phỏng vấn sâu cán bộ điều dưỡng viên cũng cho thấy
“ Người bệnh đều cho rằng mình bị mắc bệnh LDDTT là do ăn uống thất thường và làm việc quá sức ” (Nữ, 24 tuổi, DĐ2, PVS)
Bảng 3.3 Hiểu biết về các biện pháp phòng tránh tái phát LDDTT của
Nhận xét: Bảng 3.3 cho thấy hầu hết người bệnh biết biện pháp phòng
tránh tái pháp LDDTT là uống thuốc chiếm 83,3% cần phải thay đổi lối sống chiếm 71,7% và thay đổi thói quen ăn uống chiếm 80%, giảm yếu
tố tâm lý 81,7%, tuân thủ điều trị 76,7%
Trang 10Bảng 3.4 Hiểu biết về hậu quả của bệnh LDDTT kéo dài của NB (n=60)
Xuất huyết tiêu hoá 47 78,3
Không gây hậu quả gì 1 1,7
Nhận xét: Bảng 3.4 cho thấy hầu hết các người bệnh cho rằng hậu quả
của bệnh LDDTT kéo dài là bị xuất huyết tiêu hoá chiếm 73,3%, thủng
dạ dày chiếm 65%, và ung thư dạ dày chiếm 56,7% Chỉ có 1,7% người bệnh cho rằng bệnh LDDTT không gây hậu quả gì
Biểu đồ 3.1 Kiến thức về bệnh LDDTT của người bệnh (n=60)
Nhận xét: Biểu đồ 3.1 cho thấy phần lớn người bệnh có kiến thức đạt
về bệnh loét dạ dày tá tràng chiếm 88,3% Bên cạnh đó vẫn còn 16,7% người bệnh có kiến thức chưa đạt
3.2.2 Thái độ của bệnh nhân trong điều trị LDDTT
Bảng 3.5 Thái độ của người bệnh trong việc tuân thủ uống thuốc (n=60)
Đặt lịch nhắc nhở bằng điện thoại 20 33,3
Tự nhớ không cần ai nhắc 21 35,0 Nhờ sự trợ giúp của người thân 41 68,3 Nhờ NVYT nhắc nhở 39 65,0
Nhận xét: Kết quả bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ người bệnh thường xuyên
quên uống thuốc còn khá cao chiếm 31,7% Hầu hết các người bệnh đều cần sự trợ giúp của người thân, nhân viên y tế hoặc điện thoại, Chỉ có 35% người bệnh tự nhớ lịch uống thuốc không cần ai nhắc
83,3%
16,7%
Đạt Không đạt
Trang 11Bảng 3.6 Thái độ của người bệnh trong việc thay đổi chế độ ăn
Ăn uống mềm, dễ tiêu 48 80,0 Nhai kỹ khi ăn 46 76,7 Uống nhiều nước 47 78,3 Vẫn ăn uống bình thường 2 3,3
Uống rượu/bia
thường xuyên
Nhận xét: Bảng 3.6 cho thấy hầu hết các người bệnh đã tuân thủ chế độ
ăn uống hợp lý Trong đó có 80,0% người bệnh chọn ăn mềm, dễ tiêu, 76,7% người bệnh nhai kỹ khi ăn, 83,3% người bệnh giảm ăn cay Tuy nhiên vẫn còn 3,3% người bệnh vẫn áp dụng chế độ ăn bình thường và 21,7% người bệnh vẫn thường xuyên uống rượu bia
Bảng 3.7 Thái độ trong việc thay đổi chế độ sinh hoạt, luyện tập,
Nhận xét: Bảng 3.7 cho thấy phần lớn các người bệnh đã nghỉ ngơi hợp
lý, không thức khuya, tránh làm việc nặng và lo âu căng thẳng chỉ có 8,3% người bệnh vẫn sinh hoạt như cũ Tuy nhiên có đến 75% người bệnh không luyện tập thường xuyên, 78,3% người bệnh tập ít hơn 30
phút mỗi ngày Kết quả phỏng vấn sâu người bệnh cũng cho thấy “ Mỗi ngày tôi đều cố gắng tranh thủ đi bộ quanh bệnh viện 10 phút cùng mấy bác trong phòng ” (Nữ, 38 tuổi, NB 6, PVS)
Trang 12Biểu đồ 3.2 Thái độ tuân thủ điều trị bệnh LDDTT (n=60)
Nhận xét: Biểu đồ 3.2 cho thấy phần lớn người bệnh có thái độ đạt về
bệnh loét dạ dày tá tràng chiếm 63,3% Bên cạnh đó vẫn còn 36,7% người bệnh có kiến thức chưa đạt Kết quả phỏng vấn sâu điều dưỡng
cũng cho thấy “ Hầu hết người bệnh mắc bệnh khi phải vào khoa điều trị là đã bị LDDTT trong một thời gian dài , nên họ cũng ý thức được việc phải thay đổi chế độ ăn và tập luyện nghỉ ngơi Ở các phòng bệnh buổi tối tầm 9h là các bác tắt điện đi ngủ, buổi sáng gọi nhau 6h dậy tập thể dục (Nữ, 35 tuổi, DD 5, PVS)
Nhận xét: Kết quả điều trị bảng 3.8 cho thấy phần lớn các người bệnh
đều tuân thủ điều trị tốt Trong đó có 83,3% người bệnh uống thuốc giảm tiết acid dịch vị, 61,7% bệnh nhân tuân thủ điều trị đúng theo hướng dẫn của NVYT
Bảng 3.9 Thực hành tuân thủ điều trị về chế độ dinh dưỡng và sinh
hoạt (n=60) Thực hành tuân thủ về bệnh và chế
63,3%
36,7%
Đạt Không đạt