của chúng tôi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Yến với 57,3% người bệnh có kiến thức đạt về bệnh THA và chế độ điều trị [50], điều này có thể liên quan đến n[r]
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội - 2019
Trang 2Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 8 72 07 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ THỊ MINH LÝ
Hà Nội - 2019
Thái Bình – 2018
Trang 33
ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp là một trong những bệnh mạn tính không lây nhiễm có tỷ
lệ người mắc cao nhất trong cộng đồng, bệnh gây nhiều biến chứng ở nhiều cơ quan đích, người mắc bệnh tăng huyết áp nếu không được điều trị đúng rất dễ bị các biến chứng và thường để lại di chứng làm cho người bệnh trở nên tàn phế, bệnh có các biến chứng nguy hiểm có thể gây tử vong đột ngột vì vậy bệnh tăng huyết áp là mối đe doạ rất lớn đối với sức khỏe của cộng đồng Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tăng huyết áp là một trong sáu yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng tới phân bố gánh nặng bệnh tật toàn cầu [5]
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch, thường dẫn đến các biến chứng nặng nề như: suy tim, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, xuất huyết não, suy thận, giảm thị lực, mù lòa dẫn đến ảnh hưởng lớn đến thể chất, tinh thần cũng như vật chất của người bệnh, gia đình và xã hội Tăng huyết áp cũng là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu ở các nước đã và đang phát triển Theo thống kê năm 2008, trên thế giới có khoảng 17,5 triệu người
tử vong do bệnh lý tim mạch trong đó có tăng huyết áp [8]
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỉ lệ mắc tăng huyết áp là 8-18% dân số, đao động từ các nước Châu Á như Indonesia 6-15%, Malaysia 10-11%, Đài Loan 28%, tới các nước Âu - Mỹ như Hà Lan 37%, Pháp 10-24%, Hoa Kỳ 24% [39] Thống kê tại Hoa Kỳ năm 2006, có khoảng trên 74,5 triệu người Mỹ bị tăng huyết áp; cứ 3 người lớn có một người bị t ă n g h u y ế t á p [8] Trung Quốc năm 2002 ước tính có khoảng 153 triệu người mắc tăng huyết áp Vì vậy, tăng huyết áp là vấn đề lớn đối với y tế cộng đồng đòi hỏi phải có sự can thiệp tích cực và thường xuyên [3] Nhiều nước trên thế giới đã có chương trình quốc gia phòng chống tăng huyết áp
Tại Việt Nam, tần suất mắc bệnh tăng huyết áp ngày càng gia tăng và đáng báo động Một điều tra năm (2008) của Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành ở người lớn (từ 25 tuổi trở lên) tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta thì thấy
tỷ lệ tăng huyết áp là 25,1%, nghĩa là cứ khoảng 4 người lớn ở nước ta thì có 1
Trang 44
người bị tăng huyết áp Với dân số Việt Nan là khoảng 90 triệu dân thì ước tính
sẽ có khoảng 11 triệu người bị tăng huyết áp [47]
Tăng huyết áp còn là nguy cơ hàng đầu của các biến chứng tim mạch, nguy cơ bị đột quỵ tăng gấp 4 lần, nguy cơ bị nhồi máu cơ tim tăng gấp 2 lần so với người không bị tăng huyết áp Nguy cơ tử vong cũng tăng gấp đôi khi số huyết áp tăng mỗi 20 mmHg huyết áp tâm thu và 10 mmHg huyết áp tâm trương [8],[5]
Theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam tại 4 tỉnh phía Bắc năm
2003 cho thấy, tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu (10%) gây suy tim tại cộng đồng ở người lớn Việt Nam 46% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được điều trị tại Viện Tim mạch (2005) có liên quan với tăng huyết áp và hơn 1/3 bệnh nhân tai biến mạch máu não điều trị tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai (2003) có nguyên nhân là tăng huyết áp Tăng huyết áp còn gây ra nhiều tai biến nguy hiểm đến tính mạng con người như cơn tăng huyết áp ác tính
Vì vậy, người ta coi “Tăng huyết áp là kẻ giết người thầm lặng”[Error!
Reference source not found.9]
Với các lý do trên, việc tuân thủ trong điều trị nhằm khống chế được tăng huyết áp là rất quan trọng và cần được quan tâm Vì vậy, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu về: “Thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố
liên quan của người bệnh điều trị ngoại trú tại ba trạm y tế xã của huyện
người bệnh tăng huyết áp tại cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giúp người bệnh kiểm soát tốt tăng huyết áp, tránh các tai biến nguy hiểm, làm giảm gánh nặng bệnh tật cho gia đình và xã hội. Nghiên cứu có 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp tại ba Trạm Y tế xã của
huyện Phú Xuyên, Hà Nội năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp của
đối tượng nghiên cứu
Trang 55
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm về huyết áp và tăng huyết áp
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), huyết áp bình thường đo ở cánh tay là ≤120/80mmHg Huyết áp có đặc điểm là thay đổi theo thời gian, trạng thái tâm lý và một số yếu tố khác…[8]
1.1.2 Định nghĩa tăng huyết áp
Tăng huyết áp (THA) là khi huyết áp thường xuyên cao hơn mức bình thường (huyết áp tâm thu và/ hoặc huyết áp tâm trương) Theo Tổ chức Y tế Thế giới, THA khi huyết áp tâm thu ≥140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương
≥90 mmHg [8],[Error! Reference source not found.9]
1.1.3 Chẩn đoán tăng huyết áp
Chẩn đoán xác định THA: dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp đúng quy trình Ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi theo từng cách đo huyết áp [6]
1.1.4 Chẩn đoán mức độ tăng huyết áp
Dựa vào trị số huyết áp do cán bộ y tế đo được có thể xác định mức độ THA
Bảng 1.1: Phân độ tăng huyết áp
Trang 66
THA độ II (trung bình) 160 – 179 100 – 109
(Nguồn: Cập nhật hướng dẫn điều trị bệnh tăng huyết áp theo ESC/ESH 2018)
Phân độ THA dựa vào chỉ số huyết áp tâm thu (HATT), huyết áp tâm trương (HATTr) hoặc chỉ một trong hai dạng đó Khi HATT và HATTr không cùng mức phân độ khác nhau thì chọn mức cao hơn để xếp loại THA tâm thu đơn độc cũng được đánh giá theo mức biến động của HATT [6]
1.1.5 Cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp
Cơ chế bệnh sinh của THA còn nhiều vấn đề chưa sáng tỏ song cũng có một số yếu tố đã được chứng minh và khẳng định Tăng huyết áp xảy ra khi có tăng cung lượng tim hoặc tăng sức cản ngoại vi, hoặc tăng cả hai yếu tố đó Trong 30 năm gần đây, các công trình đã khẳng định THA có thể xảy ra khi:
1.1.6 Biến đổi sinh lý của huyết áp
Có nhiều yếu tố tác động đến HA của con người HA của con người cũng thay đổi theo quy luật của các chu kỳ vật lý địa cầu, nhiệt độ, thời tiết, áp suất khí quyển, rối loạn từ trường quả đất, ánh sáng, tư thế… và các chu kỳ sinh học của cơ thể, tâm sinh lý của con người
1.2 Đánh giá người bệnh tăng huyết áp
Trang 7Nếu đường máu khi đói ≥ 6,1 mmol/L (110mg/dL) thì đường máu sau
ăn hoặc nghiệm pháp dung nạp Glucose nên được kiểm tra
1.3 Các triệu chứng của bệnh tăng huyết áp
người bị bệnh THA có thể gặp các triệu chứng sau:
- Đau đầu: đau khư trú vùng trán, chẩm hoặc thái dương, có khi đau nửa đầu, thường đau về đêm, đau tăng khi bị các kích thích mạnh như ồn ào, tức giận… đau âm ỉ nhưng cũng có khi đau dữ dội
1.4 Nguyên nhân gây ra tăng huyết áp
Phần lớn THA ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát) Cần chú ý tìm nguyên nhân trong các trường hợp như THA ở người trẻ tuổi (dưới 30 tuổi); THA kháng trị; THA tiến triển hoặc ác tính
Các nguyên nhân gây THA thứ phát:
- Bệnh thận cấp hoặc mãn tính: viêm cầu thân cấp/ mãn, viêm thận kẽ, sỏi thận, thận đa nang, thận ứ nước, suy thân
1.5 Các yếu tố nguy cơ
Tăng huyết áp có mối tương quan liên tục và có mức độ với tăng nguy cơ bệnh mạch vành và đột quỵ Tuy nhiên, các nguy cơ khác như tuổi, hút thuốc
lá và cholesterol cũng dẫn đến tăng nguy cơ bệnh tim mạch (BTM) với bất cứ mức THA nào Do đó, nguy cơ tuyệt đối BTM ở bệnh nhân THA dao động mạnh (khoảng trên 20 lần) tuỳ thuộc vào tuổi, giới, mức HA và sự hiện diện
Trang 88
các yếu tố nguy cơ khác Theo một số nghiên cứu [53-54], nguy cơ đột quỵ cao 10% đến trên 20% ở từng người có yếu tố nguy cơ tim mạch Các yếu tố nguy
cơ tim mạch chủ yếu là:
1.6 Các biến chứng của tăng huyết áp
Tăng huyết áp gây nên tổn thương ở nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt hay gặp là tổn thương ở tim, não, thận, mắt và mạch máu lớn những tổn thương này được gọi chung là tổn thương ở cơ quan đích hay biến chứng của THA Các biến chứng của THA nguy hiểm không chỉ bởi vì có thể gây tử vong,
mà ngoài ra còn để lại những di chứng nặng nề (liệt do tai biến mạch não, suy tim, suy thận, mù lòa ) ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và
là gánh nặng của gia đình và xã hội
1.7 Thái độ xử trí bệnh nhân tăng huyết áp
Thái độ xử trí BN THA cần phải căn cứ vào hai vấn đề mấu chốt:
- Chỉ số HA tâm thu và tâm trương
- Nguy cơ tim mạch tổng thể
cơ nào Tuy nhiên, nếu sau đó vẫn không khống chế được tốt HA thì phải bắt
đầu điều trị bằng thuốc hạ áp [Error! Reference source not found.1]
1.8 Mục tiêu điều trị tăng huyết áp
- Mục tiêu quan trọng nhất của điều trị THA là nhằm giảm tối đa và lâu dài nguy cơ bệnh tim mạch
- Đối với hầu hết các bệnh nhân, HA mục tiêu phải ở mức <140/90 mmHg, thậm trí thấp hơn nếu BN có thể dung nạp được
- Đối với BN ĐTĐ hoặc có nguy cơ cao/ rất cao, HA mục tiêu cần phải
Trang 99
đạt là <130/80 mmHg
1.9 Điều trị tăng huyết áp
1.9.1 Điều trị không dùng thuốc
Ở bệnh nhân THA độ 1, không có biến chứng BTM và không có tổn thương cơ quan đích, đáp ứng với thay đổi lối sống xảy ra sau 4-6 tháng đầu Nên bắt đầu biện pháp thay đổi lối sống đồng thời với việc dùng thuốc ở bệnh nhân THA có nguy cơ cao
1.9.2 Điều trị bằng thuốc hạ huyết áp
- Nhìn chung ở hầu hết BN, để đạt và duy trì được HA mục tiêu cần phối hợp ít nhất 2 loại thuốc hạ áp
1.9.3 Theo dõi bệnh nhân tăng huyết áp
- Bệnh nhân THA cần được khám định kỳ đều đặn nhằm điều chỉnh chế
độ dùng thuốc thích hợp với chỉ số huyết áp cũng như phát hiện và xử trí các tác dụng không mong muốn do thuốc gây ra
- Tần suất theo dõi HA phụ thuộc vào đặc tính nguy cơ toàn bộ của người bệnh cũng như mức THA [22]
1.10 Phòng ngừa bệnh tăng huyết áp
Những nghiên cứu kinh điển đã cho thấy, việc tôn trọng điều trị giảm được huyết áp đã ngăn chặn được đáng kể tử vong và tàn phế do các biến chứng của THA gây ra Theo ước tính, nếu cứ giảm đi được 10 mmHg huyết áp tâm thu ở người bị THA thì giảm được khoảng 30% nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch và giảm được 40% nguy cơ tử vong do tai biến mạch máu não Để điều trị có hiệu quả thì phải kết hợp giữa việc thay đổi lối sống, ăn uống, tập thể dục
và dùng thuốc đều đặn và liên tục theo chỉ định của thầy thuốc
1.11 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới và Việt Nam
1.11.1 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới
Tăng huyết áp là một bệnh mãn tính phổ biến trên thế giới Theo WHO), THA là một trong sáu yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng tới phân bố gánh nặng bệnh tật toàn cầu [5]
Trang 1010
Theo WHO, điều tra cộng đồng cho thấy THA không điều trị hoặc điều trị không đầy đủ chiếm khoảng 70 – 75% ở bệnh nhân THA trên toàn thế giới Tại Hoa kỳ năm 2006, có khoảng 77,6% là được biết bị THA Trong số
BN bị THA chỉ có 67,9% được điều trị và chỉ có 44,1% là được khống chế tốt HA [8] Theo thông báo của Hội THA Tây Ban Nha năm 1996, tỷ lệ THA của nước này là 30% ở người trưởng thành, tỷ lệ nhận biết và được điều trị ở thập kỷ 80 là 50%, nhưng sau đó nhờ hoạt động tuyên truyền giáo dục sức khoẻ
và quan tâm tích cực của y tế, kết quả tăng thêm 20%
1.11.2 Tình hình tăng huyết áp tại Việt Nam
Tỷ lệ THA ở Việt Nam đang ngày càng gia tăng Theo nghiên cứu của Đặng Văn Chung năm 1960, tỷ lệ THA ở người lớn phía Bắc Việt Nam chỉ là 1%, năm 1992 theo điều tra toàn quốc của Trần Đỗ Chinh và cộng sự, tỷ lệ này
là 11,7% và năm 2002, theo điều tra dịch tễ học THA và các yếu tố nguy cơ tại 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam là Hà Nội, Thái Nguyên, Thái Bình và Nghệ An
ở người dân trên 25 tuổi, tỷ lệ tăng huyết áp đã tăng đến 16,3%; trong đó tỷ lệ tăng huyết áp ở thành thị là 22,7% và ở nông thôn là 12,3% [18] Điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành ở người lớn (từ 25 tuổi trở lên) tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta (2008) cho thấy tỷ lệ THA đã tăng lên đến 25,1% [7]
1.11.3 Tình hình tăng huyết áp tại Hà Nội
Những năm gần đây, Hà Nội cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, đời sống nhân dân được nâng cao, những tác động của xã hội đã ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình bệnh tật nói chung và bệnh THA nói riêng
Nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự năm 1999 về đặc điểm dịch tễ học THA tại Hà Nội ở lứa tuổi trưởng thành, trên 16 tuổi cho thấy tỷ lệ
m ắ c b ệ n h THA chung là 16,05%, tỷ lệ mắc ở nam là 17,99%, ở nữ là 14,51% Độ tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc càng cao, đặc biệt từ 55 tuổi trở lên xấp
xỉ một nửa số nam giới ở Hà Nội bị THA và đối với phụ nữ, tỷ lệ này có ở nhóm
từ 65 tuổi trở lên [25Error! Reference source not found.]
Trang 1111
1.12 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Tuân thủ điều trị THA là tuân thủ thực hiện chế độ ăn, luyện tập, sinh hoạt, thực hiện uống thuốc và đi khám, kiểm tra huyết áp theo chỉ dẫn của bác sỹ
Thực hiện ăn chế độ ăn, luyện tập và sinh hoạt: là thực hiện một cách
thích hợp ở tất cả các bệnh nhân để ngăn ngừa tiến triển và giảm được số
đo HA, giảm thuốc cần dùng… nhưng do việc tuân thủ này thường kém nên cần theo dõi giám sát để khuyến khích người bệnh và bắt đầu dùng thuốc khi cần
Uống thuốc điều trị tăng huyết áp:
- Tuân thủ uống thuốc theo đơn bác sĩ
- Không tự ý thay đổi thuốc và liều lượng
- Uống thuốc thường xuyên, lâu dài liên tục kể cả khi huyết áp bình thường
Khám bệnh và kiểm tra huyết áp:
Điều trị đạt kết quả tốt là khi đạt được huyết áp mục tiêu và ngăn ngừa được biến chứng tim mạch cũng như tổn thương cơ quan Vì vậy ngoài việc theo dõi thường xuyên chỉ số huyết áp, khám bệnh định kỳ, theo dõi huyết áp theo chỉ dẫn của bác sĩ, tái khám đúng kỳ hẹn, đi khám ngay nếu uống thuốc không hiệu quả người bệnh cần được định kỳ kiểm tra, làm một số xét nghiệm nhằm phát hiện tổn thương cơ quan đích, đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch khác
1.12.1 Yêu cầu tuân thủ trong điều trị tăng huyết áp
Theo khuyến nghị của Bộ Y tế số 3192/QĐ-BYT ngày 31 tháng 8 năm
2010 về điều trị bệnh THA, tuân thủ điều trị không những bao gồm dùng thuốc kéo dài theo đúng chỉ định của thầy thuốc mà còn bao gồm thay đổi lối sống như chế độ ăn hạn chế muối natri, hạn chế thực phẩm có nhiều cholesterol và acid béo bão hòa, giảm uống rượu/bia, không hút thuốc lá, thuốc lào, tập thể dục mức
độ vừa phải 30-60 phút mỗi ngày, và cần đo huyết áp định kỳ hàng ngày [5],
Trang 1212
những khuyến cáo này cũng hoàn toàn phù hợp với những khuyến cáo mà JNC VII đưa ra năm 2003
1.12.2 Cách đo lường tuân thủ điều trị
Định nghĩa: Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới dựa trên định nghĩa về
tuân thủ điều trị của Haynes và Rand có sửa đổi, tuân thủ điều trị là tuân thủ dùng thuốc, thay đổi chế độ ăn và/hoặc thay đổi lối sống đúng với những khuyến cáo phù hợp của cán bộ y tế Sự khác biệt chính của định nghĩa này so với định nghĩa trước đây là tuân thủ điều trị cần sự đồng tình của người bệnh với những khuyến cáo mà cán bộ y tế đưa ra, người bệnh là đối tượng tích cực với cán bộ y
tế trong việc chăm sóc sức khỏe của mình Chính vì vậy, quan hệ tốt giữa người bệnh với cán bộ y tế cần phải duy trì trong thực hành lâm sàng
1.12.3 Hậu quả của việc không tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Các chuyên gia về tim mạch cho biết, trong quá trình điều trị THA, qua quá trình khảo sát nghiên cứu cho thấy còn rất nhiều bệnh nhân không biết mình
bị THA, chỉ biết mình bị THA khi vô tình đi khám bệnh hoặc vào viện điều trị một bệnh khác rồi phát hiện ra mình bị THA, đặc biệt là những người dân sống tại vùng nông thôn, vùng miền núi, do trình độ văn hóa thấp, khó khăn về kinh
tế nên việc tiếp cận với dịch vụ y tế hầu như không có, khi bị bệnh chỉ ra hiệu thuốc tây mua các loại thuốc về uống mà không biết mình bị bệnh gì, đó là một vấn đề đặc biệt nguy hiểm, thậm chí có những người bị tai biến mạch máu não, đột quỵ mà vẫn cho là mình bị cảm Một bộ phận bệnh nhân dù biết mình bị THA nhưng vẫn không điều chỉnh chế độ ăn uống còn hút thuốc lá/thuốc lào, uống rượu bia
1.13 Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam
1.13.1 Các nghiên cứu trên thế giới về tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Phần lớn các nước phát triển đã có hệ thống quản lý, điều trị bệnh nhân THA tại cộng đồng nhờ vào mạng lưới bác sỹ gia đình, hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Trạm y tế xã, thôn bản Thuốc được cấp miễn phí cho bệnh
Trang 1313
nhân chủ yếu là từ các dự án, chương trình phòng chống THA quốc gia, các chương trình giáo dục sức khỏe thường xuyên tại cộng đồng nói chung, cho người bệnh THA nói riêng, bảo hiểm y tế,…
1.13.2 Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ ở Việt Nam
Tuân thủ điều trị THA là rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe và phòng tránh các biến chứng Nhưng do ở việt nam chưa được quan tâm chăm sóc đúng mức cộng với đời sống xã hội chưa cao, kiến thức còn hạn chế nên tỷ lệ đạt tuân thủ điều trị THA còn thấp
Tỷ lệ người bệnh THA tuân thủ điều trị còn thấp trong các nghiên cứu: chỉ có 26,3 trong nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh [24], nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh chỉ có 49,5% [15], 38,7% người mắc THA không điều trị
hoặc điều trị không liên tục trong nghiên cứu của Hoàng Cao Sạ [Error!
Reference source not found.6], nghiên cứu của Vũ Phong Túc thì tuân thủ
điều trị là 62,6% [43], nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Yến chỉ ra tuân thủ chế
độ ăn của người bệnh THA chỉ là 40,4% [50], trong nghiên cứu của tác giả Trần Cao Minh chỉ có 26,8% thực hiện đúng điều trị THA bằng thuốc [30]
Nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ người bệnh biết mình bị THA là 21,43%, tỷ lệ người bệnh có điều trị THA là 27,09%, nhưng đa số là điều trị không thường xuyên chiếm tới 80,89% còn điều trị thường xuyên chỉ có 19,11% [25] Nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng
sự ở người dân trên 25 tuổi sống tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam cũng cho thấy cho thấy trong số 818 người được phát hiện có THA, chỉ có 94 người dùng thuốc, chiếm tỷ lệ 11,5%, trong đó tỷ lệ điều trị tốt là 19,1% [25] Cũng theo nghiên cứu này, THA ở người trẻ ít được chú ý hơn ở người có độ tuổi cao hơn cho dù hiệu quả điều trị đạt được là dễ dàng hơn
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 14*Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu:
- Có trong danh sách quản lý người bệnh THA tại Trạm Y tế
- Đã uống thuốc điều trị THA ít nhất 6 tháng tại cộng đồng
- Có khả năng trả lời phỏng vấn
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
*Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng:
- Không có tên trong danh sách quản lý người bệnh tại Trạm Y tế
- Từ chối tham gia nghiên cứu
- Bị bệnh tâm thần phân liệt
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: 3 xã Bạch Hạ, Minh Tân, Quang Lãng huyện Phú Xuyên, Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 8 năm 2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, sử dụng số liệu thứ cấp
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Chọn 3 xã: chọn có chủ đích, dựa trên danh sách người bệnh tới khám và nhận thuốc điều trị tăng huyết áp được quản lý tại 3 trạm y tế trên địa bàn nghiên cứu với số lượng người bệnh đủ để tiến hành nghiên cứu Địa bàn nghiên cứu thuận lợi cho nghiên cứu viên thực hiện điều tra, thu thập số liệu đảm bảo độ chính xác cao
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu: Lấy toàn bộ số người bệnh THA đạt tiêu chuẩn lựa chọn được 3 Trạm Y tế quản lý và điều trị trong thời gian từ tháng 4
Trang 1515
đến tháng 8 năm 2019 Số người bệnh được chọn đưa vào nghiên cứu trong thực
tế là 270 người
2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Thông tin được thu thập: gồm các thông tin cá nhân, thông tin về bệnh
lý, về tình trạng và điều trị THA, v.v được thu thập qua hồ sơ bệnh án (HSBA), sổ sách và phiếu phỏng vấn
Số liệu thu thập qua phỏng vấn trực tiếp người bệnh bằng phiếu phỏng vấn thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn đã được chuẩn bị sẵn
Điều tra viên: gồm nghiên cứu viên và các cộng sự (các cán bộ y tế của
3 Trạm Y tế) đã được tập huấn về nội dung và cách thức thực hiện phỏng vấn, ghi nhận thông tin
2.4 Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu được nhập liệu và làm sạch và được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0
- Thống kê mô tả lập bảng phân bố tần số của các biến số
- Thống kê phân tích: Phân tích mối liên quan giữa việc tuân thủ điều trị với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu sử dụng chỉ số tỷ suất chênh (OR), khoảng tin cậy 95% (CI95%) và giá trị p
2.5 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
2.6 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp trong nghiên cứu
2.6.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Để đánh giá kiến thức tuân thủ điều trị THA của người bệnh trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp chấm điểm Trong đó mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai được 0 điểm (không trừ điểm)
Như vậy, tổng điểm cho câu trả lời đúng là 16 điểm Kiến thức đạt khi tổng điểm của đối tượng nghiên cứu trả lời được từ 75% trở lên, tương ứng với số điểm ≥12, không đạt <12 điểm
2.6.2 Thực hành tuân thủ điều trị bệnh THA của người bệnh
Trang 1616
Để đánh giá thực hành tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp chấm điểm Trong đó mỗi câu trả lời đúng được
1 điểm, trả lời sai được 0 điểm (không trừ điểm)
Như vậy đối tượng nghiên cứu có tổng điểm thực hành tuân thủ điều trị THA
> 50% tổng số điểm đúng được xếp loại đạt, tương ứng với số điểm >10, không đạt ≤10 điểm
Trang 1717
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=270)
Trang 1818
Bảng 3.2 Đặc điểm bệnh tật của đối tượng nghiên cứu (n =270 )
Đặc điểm bệnh tật
(%) Tiền sử gia đình có
Về tiền sử gia đình có người nhà mắc THA, chỉ có 14,8% người bệnh có,
số còn lại không có ai trong gia đình mắc THA Thời gian phát hiện bệnh THA của những người bệnh tham gia nghiên cứu phần lớn là 1 năm hoặc hơn (90%)
Có 47,4% người bệnh phát hiện được bệnh khi đi khám bệnh khác, 22,6% phát hiện khi có triệu chứng THA và 19,6% phát hiện được mình bị THA trong khi đi khám sức khỏe định kỳ (Bảng 3.2)
Không hạn chế được nguy cơ tim mạch
Trang 19Bảng 3.4 cho thấy tỷ lệ người bệnh biết phối hợp giữa 3 biện pháp chưa cao chiếm 29,6%, trong đó thực hiện lối sống lành mạnh theo chỉ dẫn của bác sĩ
là thấp nhất chiếm 13,7%, theo dõi và khám định kỳ 23,7%, thuốc thuốc đầy đủ theo chỉ dẫn của bác sĩ 33,0%
Bảng 3.5 Kiến thức của người bệnh về việc uống thuốc huyết áp
(n=270)
Tỷ lệ
%
Uống thuốc thường xuyên, liên tục, lâu
Uống thuốc từng đợt khi có THA
Chỉ uống thuốc khi có biểu hiện THA 64 23,7
Uống thuốc theo đơn của bệnh nhân
Người bệnh quan tâm hơn về cách uống thuốc thường xuyên, liên tục, lâu dài theo đơn của bác sĩ 87,0%, tỷ lệ tự mua về uống hay dùng đơn của bệnh nhân khác thấp 1,5% (Bảng 3.5)
Bảng 3.6 Kiến thức của người bệnh về việc theo dõi huyết áp và đi khám định
kỳ
Trang 20Đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch
Bảng 3.7 Kiến thức của người bệnh về chế độ ăn uống trong điều trị tăng huyết áp
Theo kết quả nêu tại Bảng 3.7, phần lớn người bệnh có kiến thức đúng về việc chế độ ăn uống từ khi phát hiện THA để đảm bảo sức khỏe, có 98,1% người bệnh cho rằng nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi, có 91,5% người bệnh cho rằng nên ăn ít các chất béo, có 74,1% người bệnh biết nên ăn nhạt Tỷ lệ rất ít bệnh nhân cho rằng không cần thay đổi chế độ ăn 3,0%
Bảng 3.8 Kiến thức của người bệnh về chế độ sinh hoạt, luyện tập trong điều trị tăng huyết áp
Trang 21Kết quả nêu tại Bảng 3.8 cho thấy kiến thức về chế độ sinh hoạt, luyện tập của người bệnh trong nghiên cứu này rất cao khi có đến 95,6% người bệnh biết nên tránh căng thẳng lo âu, có đến 83,0% người bệnh cho rằng để đảm bảo sức khỏe nên không thức khuya và ngủ đủ giấc, có đến 73,3% người bệnh biết rằng nên tập luyện thể dục thường xuyên, điều này không chỉ tốt trong điều trị THA
mà còn nâng cao sức khỏe của bản thân Chỉ có 14 người tương đương với 5,2% cho rằng không cần tập luyện thể dục thể thao
Bảng 3.9 Nguồn thông tin người bệnh tiếp cận được kiến thức về bệnh tăng huyết áp
Người bệnh có những hiểu biết về bệnh tăng huyết áp đến chủ yếu từ một
số nguồn thông tin: Cán bộ y tế 98,9%, bạn bè người thân 80,0% Còn từ đài, báo, ti vi chỉ 37,4%, từ sách vở, tài liệu là 26,3%
Bảng 3.10 Kiến thức của người bệnh về bệnh tăng huyết áp
%
Trang 2323
Biểu đồ 1.1 Kiến thức của người bệnh về bệnh tăng huyết áp
Kiến thức chung của người bệnh về bệnh tăng huyết áp đạt vẫn còn thấp hơn so với không đạt (tỷ lệ tương ứng là 41,1% và 58,9% đạt)
3.2 Thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người bệnh tăng huyết
áp tại ba Trạm Y tế của huyện Phú Xuyên, Hà Nội năm 2019
3.2.1 Thực trạng tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp
Bảng 3.11 Thực trạng thực hiện chế độ ăn uống của người bệnh