1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

105 264 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 915,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc phát triển đất nước, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng, đề cao vai trò, sức mạnh to lớn của văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu động lực và là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững đất nước. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về văn hóa trong đó có chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa nói chung và văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng. Bắc Trà My là một huyện mới được tái lập vào năm 2003, là một trong những huyện miền núi khó khăn của tỉnh Quảng Nam, kinh tế - xã hội còn gặp rất nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu, tỷ lệ đói nghèo cao (tỷ lệ hộ nghèo năm 2017 là 49,25%). Mặc dù, chính quyền địa phương đã tập trung vào công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội cho nhân dân, song ở lĩnh vực văn hóa chưa được đầu tư nhiều; nhất là việc thực hiện bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện. Cũng như các huyện miền núi khác trong tỉnh Quảng Nam nói riêng và ở nước ta nói chung, các dân tộc thiểu số ở huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam gặp không ít khó khăn và thách thức trong việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa của các dân tộc thiểu số nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và xây dựng hệ thống chính trị. Trong bối cảnh hiện nay, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa cùng sự du nhập, ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa từ bên ngoài vào đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa của đồng bào khiến nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số bị mất dần hoặc trộn lẫn vào nhiều luồng văn hóa khác. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích các yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam là hết sức cần thiết. Qua đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách nhằm giúp cho chính quyền địa phương, những người làm công tác văn hóa ở huyện Bắc Trà My có những giải pháp tốt hơn để thực hiện ngày một hiệu quả hơn việc bảo tồn và phát triển văn hóa của các dân tộc thiểu số trong công cuộc xây dựng và phát triển địa phương. Chính vì những lý do như trên, học viên đã lựa chọn nghiên cứu đề tài ''''Thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam'''' cho luận văn thạc sỹ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Nghiên cứu về văn hóa dân tộc thiểu số đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của Đảng, Nhà nước, các nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi công trình có những góc độ tiếp cận, phạm vi và cấp độ nghiên cứu khác nhau. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau: Thứ nhất, nhóm các giáo trình về văn hóa, cung cấp cơ sở lý luận, những kiến thức tổng quan về văn hóa, văn hóa các dân tộc Việt Nam như: - Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, (Nxb Giáo dục,1996) của tác giả Trần Ngọc Thêm; Giáo trình Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng, (Nxb Chính trị Quốc gia, 2000); Giáo trình Văn hóa dân gian người Việt, (Nxb Quân đội nhân dân, 2007) của tác giả Võ Ngọc Khánh; Giáo trình Cở văn hóa Việt Nam, (Nxb Giáo dục, 2010) của tác giả Trần Quốc Vượng... Các cuốn giáo trình này cung cấp cho người đọc hiểu một cách khái quát về đặc điểm, cũng như nét độc đáo về văn hóa Việt Nam thông qua các phong tục, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam. Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa các dân tộc Việt

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ HỒNG HÀ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ 9

1.1 Văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số 9 1.2 Chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số 13 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số 17

Chương 2 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM 22

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 22 2.2 Thực tiễn các bước thực hiện chính sách 30 2.3 Kết quả thực hiện chính sách từ nhận thức của người dân các dân tộc thiểu số 41 2.4 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách từ thực tiễn huyện Bắc Trà My 47

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU

SỐ TẠI HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM 64

3.1 Quan điểm, phương hướng 64 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số 65

KẾT LUẬN 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc phát triển đất nước, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng, đề cao vai trò, sức mạnh to lớn của văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu động lực và là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững đất nước Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về văn hóa trong đó có chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa nói chung và văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng Bắc Trà My là một huyện mới được tái lập vào năm 2003, là một trong những huyện miền núi khó khăn của tỉnh Quảng Nam, kinh tế - xã hội còn gặp rất nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu, tỷ lệ đói nghèo cao (tỷ lệ hộ nghèo năm 2017 là 49,25%) Mặc dù, chính quyền địa phương đã tập trung vào công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, giải quyết các vấn

đề an sinh xã hội cho nhân dân, song ở lĩnh vực văn hóa chưa được đầu tư nhiều; nhất là việc thực hiện bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện

Cũng như các huyện miền núi khác trong tỉnh Quảng Nam nói riêng và

ở nước ta nói chung, các dân tộc thiểu số ở huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam gặp không ít khó khăn và thách thức trong việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa của các dân tộc thiểu số nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và xây dựng

hệ thống chính trị Trong bối cảnh hiện nay, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa cùng sự du nhập, ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa từ bên ngoài vào đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa của đồng bào khiến nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số bị mất dần hoặc trộn lẫn vào nhiều luồng văn hóa khác Trước tình hình đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích các yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và

Trang 4

phát triển văn hóa dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam là hết sức cần thiết Qua đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách nhằm giúp cho chính quyền địa phương, những người làm công tác văn hóa ở huyện Bắc Trà My

có những giải pháp tốt hơn để thực hiện ngày một hiệu quả hơn việc bảo tồn

và phát triển văn hóa của các dân tộc thiểu số trong công cuộc xây dựng và phát triển địa phương

Chính vì những lý do như trên, học viên đã lựa chọn nghiên cứu đề tài ''Thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam'' cho luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về văn hóa dân tộc thiểu số đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của Đảng, Nhà nước, các nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Mỗi công trình có những góc độ tiếp cận, phạm vi và cấp độ nghiên cứu khác nhau Có thể kể đến một

số công trình nghiên cứu sau:

Thứ nhất, nhóm các giáo trình về văn hóa, cung cấp cơ sở lý luận, những

kiến thức tổng quan về văn hóa, văn hóa các dân tộc Việt Nam như:

- Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, (Nxb Giáo dục,1996) của tác giả Trần Ngọc Thêm; Giáo trình Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng, (Nxb Chính trị Quốc gia, 2000); Giáo trình Văn hóa dân gian người Việt, (Nxb Quân đội nhân dân, 2007) của tác giả Võ Ngọc Khánh; Giáo trình Cở văn hóa Việt Nam, (Nxb Giáo dục, 2010) của tác giả Trần Quốc Vượng Các cuốn giáo trình này cung cấp cho người đọc hiểu một cách khái quát

về đặc điểm, cũng như nét độc đáo về văn hóa Việt Nam thông qua các phong tục, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa các dân tộc Việt

Trang 5

Nam có thể kể đến các công trình sau:

Công trình Bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam của tác giả Lê Ngọc Thắng và Lâm Bá Nam – (Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, 1990) Tác phẩm

đã giới thiệu chung về những nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Tác giả Ngô Đức Thịnh với nhiều công trình: Văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam – (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2006); Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam - (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1993); Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam - (Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc,

Hà Nội, 1994); Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị Văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập - (Nhà xuất bản Khoa học xã hội – 2010) cùng với nhiều công trình khác đã đi sâu vào nghiên cứu các sắc thái văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng như vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong thời kỳ mới

Các công trình nghiên cứu này giúp cho độc giả hiểu nhiều hơn về một nền văn hóa có truyền thống lâu đời, bền vững, gồm những tinh hoa được chắt lọc qua suốt chiều dài lịch sử, được biểu hiện thông qua phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng Từ đó, nâng cao nhận thức, góp phần giữ gìn và phát huy nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng vừa mang tính thống nhất và đa dạng Chính vì thế, để nghiên cứu về việc hoạch định chính sách và thực hiện chính sách văn hóa cũng như chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số thì những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những tài liệu, thông tin được coi là kiến thức nền, là cơ sở để tác giả có thể định vị được tầm quan trọng của văn hóa, văn hóa dân tộc thiểu số trong tiến trình phát triển; từ đó có những nhận định khách quan về thực tiễn thực thi chính sách giữa các vùng, miền, khu vực, trong đó có địa phương của tác

Trang 6

giả đang sinh sống và làm việc

Ngoài ra, còn một số đề tài thạc sỹ chuyên ngành chính sách công và

quản lý công về giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số như:

Chính sách văn hóa đối với các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai (năm 2012) của tác giả Phạm Thái An; Quản lý nhà nước về bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (2014) của tác giả Vũ Ngọc Lan; Chính sách khôi phục, bảo tồn và phát huy di dản văn hóa từ thực tiễn huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam (2015) của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương

Các công trình nghiên cứu trên đã hệ thống một cách khoa học, sâu sắc

về các vấn đề văn hóa, văn hóa các dân tộc thiểu số, các vấn đề về bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số Có thể thấy, thực tiễn thực hiện chính sách không giống nhau giữa các vùng, miền, địa phương; điều đó không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của những nhà hoạch định chính sách mà phụ thuộc vào các yếu tố đặc thù của địa phương cũng như của chủ thể thực hiện chính sách tại địa phương đó Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu chính sách thì việc nghiên cứu, phân tích, đề ra những giải pháp chính sách nhằm hoàn thiện, bổ sung, trong đó bao gồm các nhóm giải pháp mang tính đặc thù của từng địa phương là yêu cầu quan trọng trong quá trình đưa chính sách vào thực tiễn Ở mỗi công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến hoạt động thực thi chính sách

ở mỗi vùng, miền, địa phương khác nhau; do đó, đây cũng chính là nguồn tài liệu hữu ích giúp tác giả tìm hiểu và nghiên cứu ở nhiều góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau Qua đó, có sự kế thừa, tổng hợp, phát triển các nội dung

về chính sách và thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số gắn với đặc điểm và tình hình phát triển kinh tế - xã hội riêng trên địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

Trang 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của uận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số trong cả nước nói chung và huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về chính

sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện

Thứ hai, khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình; cách thức thực

hiện; nêu rõ những thành tựu, kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra và những hạn chế, bất cập trong tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện từ năm 2012 đến nay

Thứ ba, đề xuất các giải pháp để tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách hơn

trên địa bàn huyện Bắc Trà My và kiến nghị các nội dung nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số trong cả nước nói chung và huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam nói riêng

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu uận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu việc tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số (bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể) “Văn hóa dân tộc” được nghiên cứu trong Luận văn với ý nghĩa là văn hóa của tộc người chứ không phải trên phương diện nghĩa rộng văn hóa dân tộc là văn hóa của một quốc gia

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Không gian

Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa đối với 4 dân tộc thiểu số chính là Cadong, Cor, Xê đăng, M'nông sinh

Trang 8

sống trên địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

+ Thời gian: nghiên cứu việc thực hiện chính sách từ năm 2012 đến năm

2017 Đây là giai đoạn tập trung thực hiện các giải pháp trong Chiến lược

phát triển văn hóa đến năm 2020 do Chính phủ ban hành

+ Nội dung: Luận văn nghiên cứu việc triển khai các bước thực hiện chính sách và thực hiện các giải pháp chính sách trên thực tiễn nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, làm cho cái hay, cái tốt từ bản sắc văn hóa truyền thống lan rộng tác dụng và tiếp tục phát triển thêm

Đối tượng tác động của chính sách chính là giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số; chính vì thế, phạm vi được nghiên cứu trong luận văn về phát triển văn hóa dân tộc thiểu số theo hướng phát huy giá trị văn hóa truyền thống, làm cho những giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống lan tỏa trong cộng đồng xã hội, là giữ nguyên các giá trị văn hóa truyền thống giới thiệu đến nhiều người hiểu biết quan tâm, yêu quý trân trọng và lưu giữ

5 Phương pháp uận và phương pháp nghiên cứu của uận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn vận dụng quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về văn hóa nói chung và chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

- Phương pháp định tính: Phỏng vấn sâu: 3 cán bộ, công chức gồm: 01 đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện phụ trách Khối văn hóa xã hội, 02 cán bộ đang công tác tại Phòng Văn hóa – Thông tin huyện (01 đồng chí Trưởng phòng, 01 chuyên viên phụ trách văn hóa dân tộc)

- Phương pháp định lượng: Phỏng vấn bằng Phiếu khảo sát: Thực hiện

Trang 9

khảo sát bằng 100 bảng hỏi đối với các đối tượng là công chức Văn hóa cấp xã; già làng, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trưởng thôn, bí thư chi bộ; nhân dân một số hộ gia đình và nam, nữ học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú Nước Oa Nội dung Phiếu khảo sát chủ yếu thu thập thông tin về ưu điểm, nhược điểm của chính sách cũng như những thuận lợi, khó khăn, kết quả đạt được trong thực hiện công tác bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu số tại địa phương, cũng như những giải pháp đưa ra để thực hiện chính sách tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn

- Phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu:

+ Số liệu thứ cấp: các cơ sở dữ liệu, số liệu của Ủy ban nhân dân huyện, Chi cục Thống kê, Phòng Văn hóa - Thông tin, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

+ Các văn bản: Các Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước quy định về vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa các tộc người thiểu số ở Việt Nam

+ Số liệu sơ cấp: tự thu thập qua điều tra thực tế tại địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Đề tài vận dụng, bổ sung lý thuyết khoa học về chính sách công để làm rõ vấn đề khoa học và thực tiễn của một chính sách cụ thể: chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số

- Đề tài cung cấp những nghiên cứu, tư liệu, khảo sát thực tế tại địa bàn huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam qua đó làm phong phú thêm hệ thống lý luận của khoa học chính sách công

6.2 Về ý nghĩa thực tiễn

Qua thực tiễn nghiên cứu chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân

Trang 10

tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam, luận văn chỉ ra được những khó khăn, hạn chế trong việc thực thi chính sách, đồng thời, kết quả nghiên cứu giúp cho lãnh đạo huyện Bắc Trà My và các phòng ban liên quan

có cơ sở khoa học và thực tiễn để vận dụng, điều chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện chính sách một cách có hiệu quả hơn

7 Cơ cấu của uận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc trong ba chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số và tổng quan địa bàn nghiên cứu

Chương 2 Thực tiễn thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số ở huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN

VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số

mà loài người đã sản sinh ra Nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn''1 Quan điểm của Hồ Chí Minh đã khái quát được nội dung rộng nhất của phạm trù văn hóa – không chỉ bao hàm hoạt động tinh thần của con người mà còn cả những hoạt động vật chất mà con người tạo ra trong hoạt động của mình vì nhu cầu sinh tồn của con người với tư cách là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội

- Văn hóa các dân tộc thiểu số là tổng thể những giá trị văn hóa vật chất

và tinh thần của dân tộc – tộc người thiểu số cụ thể, được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển tộc người, trong quan hệ giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa các dân tộc khác, góp phần làm phong phú, đa dạng nền văn hóa của cả cộng đồng dân tộc Bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vừa mang những đặc trưng cơ bản của bản sắc văn hóa Việt Nam, vừa có bản sắc, sắc thái văn hóa riêng, độc lập, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của

Trang 12

văn hóa Việt Nam và tạo nên bản sắc độc đáo của văn hóa Việt Nam trong cộng đồng các dân tộc trong khu vực và trên thế giới

Văn hóa thường bao gồm các dạng thức văn hóa sau: 1/Văn hóa vật thể gồm cấu trúc thôn bản, nhà cửa, trang phục, đồ ăn, thức uống, đồ thủ công, vật dụng sinh hoạt, công cụ sản xuất, phương tiện vận chuyển 2/Văn hóa phi vật thể gồm ngôn ngữ và chữ viết, văn học dân gian, nghệ thuật dân gian, tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội và tri thức dân gian, cơ cấu nếp sống gia đình, tục lệ hôn nhân, tục lệ sinh đẻ, thiết chế dòng họ và cách thức nuôi dạy con cái, tục

lệ tang ma

1.1.2 Đặc trưng

Bản thân văn hóa dân tộc thiểu số có những nét đặc trưng:

- Về văn hóa đạo đức:

Người dân trong mỗi dân tộc thiểu số, tùy mức độ khác nhau, nhưng đều sống trong một xã hội có tinh thần cộng đồng cao, một xã hội mà nguyên lý sống là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ

Trong nội bộ cộng đồng một số dân tộc thiểu số, chưa phân hóa giai cấp, chưa có áp bức bóc lột giai cấp Mọi người thương yêu nhau, có thịt cùng ăn,

có rượu cùng uống Trong xã hội đó, không giúp đỡ người khó khăn, hờ hững trước hoạn nạn của cộng đồng là một tội lỗi, phải đưa ra xét xử (theo Luật tục)

Đó chính là những nét đẹp về đạo đức, quan hệ xã hội của các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam

- Về văn hóa nghệ thuật:

Vùng dân tộc thiểu số và cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số luôn là “mảnh đất” màu mỡ chứa đựng cả kho tàng văn hóa độc đáo, giàu bản

sắc Văn hóa nghệ thuật dân tộc thiểu số không chỉ có ý nghĩa phục vụ đời

sống tinh thần của nhân dân các dân tộc mà chính nó đã góp phần tạo nên sự độc đáo, đặc sắc, đa dạng riêng có của nền văn hóa nghệ thuật của cả dân tộc

Trang 13

Ví như, văn hóa cồng chiêng đã được công nhận di sản văn hóa thế giới

Sử thi, tập trung là sử thi Tây Nguyên, vừa đồ sộ về khối lượng, vừa có giá trị chất lượng cao, xứng đáng là một di sản văn hóa đặc sắc của Ðông - Nam Á

và thế giới

Ngoài ra, còn vô số giá trị văn hóa nghệ thuật ở các dân tộc thiểu số khác mà chúng ta chưa khai thác, phát huy hết như: trang phục Mông, Dao, Thái; tượng mồ Tây Nguyên; âm nhạc, ca, hát múa các dân tộc Chăm, Thái, Mông, Khmer, Tày, Nùng,

- Về giá trị của Luật tục:

“Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa, tri thức địa phương, được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và ứng xử xã hội, đã được định hình dưới nhiều dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội Nó hướng đến việc hướng dẫn, điều chỉnh và điều hoà các quan hệ xã hội, quan hệ con người với môi trường thiên nhiên Những chuẩn mực ấy của luật tục được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, tạo nên sự thống nhất và cân bằng xã hội của mỗi cộng đồng” 1

Ở mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số có những luật tục riêng Tuy nhiên, nhìn chung “Luật tục vừa mang một số yếu tố của Luật pháp, như quy định các hành vi phạm tội, các tội phạm, bằng chứng, việc xét xử và hình phạt , lại vừa mang tính chất của lệ tục, phong tục, như các quy ước, lời răn dạy, khuyên răn mang tính đạo đức, hướng dẫn hành vi cá nhân, tạo dư luận xã hội

để điều chỉnh các hành vi ấy”2

Toàn thể cộng đồng các dân tộc thiểu số có tập quán tôn trọng luật tục, coi đó là do "ông bà xưa để lại" Sự tôn trọng này có tính tự nguyện cao Cá nhân, gia đình, cho đến dòng họ và cả cộng đồng đều có trách nhiệm đối với

1,2 GS,TS Ngô Đức Thịnh, Các giá trị của Luật tục ở Tây Nguyên, www.vanhoahoc.vn/

Trang 14

nghien-cuu/van-hoa-hành vi của các tnghien-cuu/van-hoa-hành viên Họ có biện pháp, cơ chế để theo dõi, giúp đỡ đối với người lầm lỗi, lập nên trật tự, sự hòa hợp cho cộng đồng

Luật tục như một nét đẹp trong văn hóa, trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, nó mang ý nghĩa tạo thành chất keo kết dính để tăng tính

cố kết cộng đồng của các dân tộc “Luật tục là sự kết hợp giữa quản lý và tự quản, kết hợp giữa giáo dục và trừng phạt, kết hợp giữa ý thức cá nhân và dự luận xã hội, kết hợp giữa các nguyên tắc của tập quán pháp - một hình thức của luật pháp sơ khai - với các quan niệm về tâm linh, tín ngưỡng để giải quyết các xung đột xã hội ”1

Đó chính là nét đặc trưng vốn có và quý báu của văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam

1.1.3 Vai trò và ý nghĩa

Văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời trong nền văn hóa Việt Nam, vì vậy khi nhắc tới vai trò của văn hóa trong phát triển cũng là khẳng định vai trò của văn hóa các dân tộc thiểu số

Văn hóa dân tộc thiểu số đóng góp vào nền văn hóa Việt Nam đảm bảo giữ được tính thống nhất cùng với những biểu hiện đa dạng Tính thống nhất thể hiện ở sự cố kết cộng đồng trong từng dân tộc thiểu số nói riêng và trong tổng thể 54 dân tộc trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam Đồng thời, chính văn hóa dân tộc thiểu số đã làm nên diện mạo văn hóa vùng, diện mạo văn hóa vật thể, phi vật thể của quốc gia, thể hiện sự đa dạng phong phú của nền văn hóa, là nét đặc trưng, tách biệt, nhận diện một nền văn hóa riêng biệt

Xét về tiến trình lịch sử, văn hóa dân tộc thiểu số là một bằng chứng sống quý hiếm về tiến trình hình thành, phát triển trên mọi mặt đời sống của từng dân tộc thiểu số đó Nó là cơ sở khẳng định sự tồn tại và xác định vị trí của dân tộc đó trong một lãnh thổ, quốc gia

Sinh hoạt văn hóa của một dân tộc thiểu số tạo nên môi trường xã hội

Trang 15

mang tính tộc người một cách rõ nét, môi trường ấy là một cái nôi để dân tộc thiểu số đó tồn tại phát triển Văn hóa các dân tộc thiểu số biểu hiện sự phong phú, đa dạng và đặc sắc của văn hóa Việt Nam Ðây là công lao, kết quả sáng tạo của hơn 50 dân tộc anh em, là sản phẩm tinh thần ra đời từ tình cảm tâm hồn của nhiều cộng đồng cư trú trong những hoàn cảnh thiên nhiên địa lý khác nhau Chính vì thế, trong bối cảnh ngày nay, văn hóa dân tộc thiểu số có tác dụng to lớn trong việc bồi dưỡng giáo dục con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đặc biệt có vai trò quan trọng trong việc giao lưu văn hóa, tăng cường tình hữu nghị và sự hiểu biết lẫn nhau, đặc biệt đối với các nước ASEAN vì

có sự tương đồng nhất định

1.2 Chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số

1.2.1 Khái niệm

1.2.1.1 Bảo tồn và phát triển

Bảo tồn giá trị văn hóa là là khái niệm chỉ sự giữ lại, duy trì và truyền lại

từ trong di sản truyền thống những nhân tố tích cực, hợp lý, những giá trị nhân bản; không để mai một, biến dạng hoặc mất đi theo thời gian

Phát huy giá trị văn hóa là các hoạt động nhằm đưa các giá trị văn hóa truyền thống thâm nhập vào thực tiễn đời sống xã hội

1.2.1.2 Chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu số

Chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu số là một bộ phận nằm trong hệ thống chính sách công của Việt Nam Vì vậy, chính sách mang những điểm chung của chính sách công

Xét theo góc độ quản lý nhà nước, chính sách là những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của Nhà nước đối với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Theo đó, chính sách về bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số là những đường hướng hành

Trang 16

động ứng xử cơ bản của nhà nước gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp về bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số

1.2.2 Vai trò chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu

số

Việt Nam là một đất nước thống nhất đa dân tộc với nền văn hóa nhiều màu sắc Nhằm bảo tồn tính đa dạng của văn hóa dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chính sách liên quan đến công tác bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số, có tác dụng tích cực đối với việc kế thừa, phát triển truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc thiểu số, đồng thời thúc đẩy bình đẳng, đoàn kết, tiến bộ toàn dân tộc

Vai trò chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số được thể hiện các mặt:

Thứ nhất, là công cụ hỗ trợ trong việc xây dựng một nền văn hóa tiên

tiến đậm đà bản sắc dân tộc Trước một quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao và đặc biệt về văn hóa Thì việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cần phải được chú trọng và quan tâm nhiều hơn nữa Qua các kỳ đại hội từ sau đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn nhận thức được vấn đề này, từ đó có những chính sách phù hợp tác động tích cực đến sự phát triển văn hóa Trong đó, chính sách bảo tồn

và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số có vai trò vô cùng quan trọng Nó là một công cụ hỗ trợ trong việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Trước một xã hội đa văn hóa như hiện nay, sự xâm nhập ngày càng ồ ạt của văn hóa một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Âu Mỹ thì thế hệ trẻ chính là những người bị tác động mạnh mẽ nhất Các chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa lúc này có vai trò quan trọng trong việc khơi dậy tinh thần dân tộc, nhân văn của người Việt, đặc biệt là giới trẻ, giáo dục cho họ về các

Trang 17

truyền thống tốt đẹp và lịch sử hào hùng của dân tộc, về phong tục tập quán, tín ngưỡng, đời sống tinh thần phong phú của người xưa

Việc bảo tồn không chỉ dừng lại ở giữ nguyên “hình ảnh” , “hiện trạng”

mà phải xác định đó là con đường bền vững để hướng tới mục tiêu đưa văn hóa trở thành một bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần của con người Không những thế, cần xây dựng kế hoạch tổng thể thực hiện công tác quản

lý, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân Tạo dựng mối liên kết chặt chẽ giữa văn hóa vật thể và phi vật thể để tạo thành sức mạnh tổng hợp, tôn vinh giá trị văn hóa nổi bật Muốn làm được điều này cần có các chính sách bảo tồn và phát triển một cách hợp lý

- Thứ hai, chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số có

vai trò quan trọng trong việc đề ra các hướng đi, giải pháp kết hợp hài hòa với các chính sách phát triển văn hóa, chính sách phát triển về kinh tế tài chính và

du lịch Bởi lẽ, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phải nhằm hướng tới mục tiêu chung trong tiến trình phát triển văn hóa của một quốc gia, một dân tộc nói chung và trong cộng đồng của từng dân tộc thiểu số nói riêng Đồng thời, muốn duy trì các hoạt động văn hóa, giữ gìn các loại hình nghệ thuật dân gian, trùng tu các giá trị văn hóa vật thể thì cần có một nguồn vốn sẵn có và muốn quảng bá văn hóa Việt đậm đà bản sắc dân tộc với các nước bạn trên thế giới thì cần lồng ghép văn hóa vào du lịch Lúc này vai trò của chính sách

là không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng

- Thứ ba, chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu số còn có

vai trò định hướng trong việc bảo tồn, giữ gìn và quảng bá văn hóa của các dân tộc thiểu số đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới như Không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên; các văn hóa vật thể, phi vật thể cấp quốc gia như các lễ hội, chữ viết, địa danh, nghệ thuật…đã được công nhận Qua đó, bạn bè quốc tế biết đến Việt Nam không chỉ có những giá trị

Trang 18

văn hóa rất đặc trưng, phong phú và đa dạng, hấp dẫn không chỉ đối với khách tham quan, du lịch và đối với giới chuyên gia, nhà khoa học nghiên cứu về văn hóa cũng quan tâm tìm hiểu và trải nghiệm thực tế Chính vì vậy, nếu không có những chính sách bảo tồn và phát triển hợp lý thì những loại hình nghệ thuật truyền thống của các dân tộc thiểu số dễ bị rơi vào lãng quên Chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa nói chung và văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng còn có vai trò quan trọng trong việc mở rộng giao lưu văn hóa với các nước bạn, tiếp nhận văn hóa có chọn lọc để tạo nên một nền văn hóa đa dạng, phong phú nhưng không xô bồ, chống sự xâm nhập của văn hóa độc hại, lai căn, phản động

- Thứ tư, chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số với

việc thực hiện các chế độ đãi ngộ xứng đáng cho người làm công tác nghệ thuật, nghiên cứu, sưu tầm các giá trị văn hóa truyền thống có vai trò to lớn trong việc phát huy mạnh mẽ những nội lực sẵn có, đồng thời thu hút những tài năng trẻ trong việc đào tạo nguồn lực hoạt động văn hóa nghệ thuật sau này; làm cho văn hóa dân tộc thiểu số phát triển ngày một phong phú và đa dạng Đảm bảo tự do và dân chủ trong hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật… phát huy vai trò của lĩnh vực này trong việc xây dựng môi trường văn hóa tinh thần lành mạnh

Tất cả những điều nói trên khẳng định chính sách phát triển văn hóa nói chung và chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước Nó là một công cụ cho sự phát triển, mở rộng mọi nguồn lực vào bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nhằm một mục đích duy nhất là “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,phát triển toàn diện thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở

Trang 19

thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển” [1,tr.5] 1

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số

cơ sở pháp lý cao nhất mà tất cả mọi tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện chính sách phải tuân theo

Việc thực hiện chính sách còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên trong của chính sách như: Vai trò của các cơ quan tuyên truyền, hệ thống giá trị xã hội, điều kiện, khả năng kinh tế của Nhà nước, các quan hệ bên trong của hệ thống các cơ quan thực thi chính sách; cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chính sách

1.3.2 Nguồn lực (nhân lực, kinh phí…)

Nếu như nói rằng, việc ban hành, triển khai thực hiện chính sách bảo tồn

và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số là điều kiện cần, thì các yếu tố về nguồn lực: con người, tài chính, cơ sở vật chất là điều kiện đủ để đảm bảo thực hiện được chính sách đó

Để chính sách được triển khai thực hiện thì từ các bước từ xây dựng kế hoạch, đến công tác tuyên truyền, tổ chức triển khai, kiểm tra, đôn đốc thực hiện… đều phải có đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện Nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu bao gồm: nhân lực làm công tác quản lý (làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước các cấp);

Trang 20

đội ngũ nhà nghiên cứu (các nhà nghiên cứu theo từng lĩnh vực như văn hóa vật thể, phi vật thể ) và nhân lực nòng cốt trong chính từng dân tộc thiểu số (già làng, trưởng bản, nghệ nhân ) Đội ngũ này có tác động trực tiếp đến công tác bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu số Nếu đội ngũ này dồi dào, có trình độ chuyên môn cao, có tâm huyết thì hiệu quả công tác bảo tồn, phát triển sẽ càng cao Ngược lại, nếu nguồn lực cho công tác này ít ỏi, năng lực hạn chế, không được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, không có tâm huyết thật sự thì công tác bảo tồn, phát triển sẽ giảm đi rất nhiều và không có hiệu quả

Trong đó, vai trò của người đứng đầu trong việc chỉ đạo, điều hành triển khai thực hiện chính sách là rất quan trọng Nếu người đứng đầu quan tâm, triển khai, tổ chức thực hiện tốt thì chính sách sẽ đạt hiệu quả tích cực, nếu không thì sẽ ngược lại

Bên cạnh yếu tố về nguồn nhân lực, kinh phí cho hoạt động bảo tồn và

phát triển văn hóa dân tộc thiểu số chủ yếu từ nguồn ngân sách Nhà nước Nếu ngân sách trong thời kỳ ổn định thì lượng kinh phí phân bổ cho lĩnh vực văn hóa nói chung, trong đó có nguồn đầu tư cho bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng có xu hướng tăng và ngược lại Mặt khác, với xu hướng xã hội hóa như hiện nay, sự quan tâm tham gia đầu tư của các tổ chức cộng đồng, quốc tế ngày càng nhiều thì nguồn kinh phí tập trung cho lĩnh vực này càng dồi dào, do đó, hoạt động bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu

số càng thuận lợi và hiệu quả

1.3.3 Kinh tế, xã hội

Yếu tố kinh tế, xã hội có tác động rất lớn trong việc thực hiện chính sách văn hóa nói chung và chính sách về bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng Một đất nước phát triển mạnh về kinh tế, trong môi trường

xã hội ổn định và hài hòa sẽ là điều kiện rất thuận lợi cho việc tổ chức thực

Trang 21

hiện các chính sách Kinh tế và xã hội có mối quan hệ hữu cơ, mật thiết với nhau Kinh tế phát triển, Nhà nước có nguồn thu ngân sách cao, ổn định để phân bổ ổn định nguồn ngân sách hàng năm cho việc thực hiện các chính sách văn hóa cũng như các chính sách về an sinh xã hội và các chính sách khác Một xã hội bất ổn về an ninh chính trị, luôn luôn biến động sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế đất nước, sẽ kéo nền kinh tế phát triển chậm, ảnh hưởng đến nguồn lực để duy trì thực hiện các chính sách trong đó có chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số

Trong những năm gần đây, đất nước ta đã duy trì được sự ổn định về mặt xã hội; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; kinh tế đã dần phục hồi và có những bước phát triển ổn định, tạo điều kiện cho Đảng và Nhà nước ta tiếp tục duy trì, từng bước hoàn thiện và thực hiện chính sách văn hóa nói chung ngày đạt hiệu quả

1.3.4 Thực hiện chính sách trong nền kinh tế thị trường

Thứ nhất, về góc độ vĩ mô, Nhà nước là chủ thể ban hành chính sách, tổ

chức thực hiện chính sách và là chủ thể duy nhất có khả năng đảm bảo, duy trì thực hiện chính sách Trong điều kiện đất nước mở cửa hội nhập sâu rộng với quốc tế và vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế cũng sẽ dễ bị tổn thương do biến động khủng hoảng kinh tế thế giới; có lúc nền kinh tế của đất nước chìm sâu trong khủng hoảng Chính vì thế, yếu tố thị trường trong các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, chính sách phúc lợi xã hội, chính sách an sinh xã hội cũng sẽ dần từng bước được điều chính theo quy luật thị trường; chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số cũng sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng bởi họat động kinh tế thị trường

Vì vậy, để đảm bảo và duy trì thực hiện chính sách đòi hỏi sự quan tâm thường xuyên của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, bảo vệ trước Quốc hội hằng năm phân

bổ ngân sách đảm bảo thực hiện chính sách văn hóa nói chung và hoạt động

Trang 22

bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng

Thứ hai, về góc độ xã hội, yếu tố kinh tế thị trường hằng ngày, hằng

giờ tác động trực tiếp đến đời sống xã hội, đối với người dân nói chung

và nhân dân các dân tộc thiểu só nói riêng Bên cạnh những mặt tích cực, thì mặt trái của kinh tế thị trường tác động đến tư tưởng, tình cảm của đời sống người dân, nhất là đối với tầng lớp thanh niên trẻ, họ có xu hướng chạy theo nhu cầu vật chất, các luồng văn hóa nước ngoài mà quên đi bản sắc văn hóa, truyền thống quý báu của quốc gia, của dân tộc, họ sẽ ít quan tâm hơn đến bản sắc văn hóa của chính dân tộc mình Bên cạnh

đó, vấn đề lạm phát, sự mất giá của đồng tiền làm sức mua giảm sút, làm cho

cuộc sống của người dân ngày càng khó khăn, họ có xu hướng quan tâm

đến vấn đề phát triển kinh tế hơn chú trọng đến việc duy trì các hoạt động văn hóa tinh thần của cha ông từ đời xưa truyền lại

Tiểu kết chương 1

Văn hóa dân tộc thiểu số là những giá trị vật chất và tinh thần được tích

tụ, gìn giữ trong toàn bộ quá trình lịch sử phát triển của mỗi dân tộc thiểu số,

là bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hóa quốc gia, dân tộc Văn hóa dân tộc thiểu số là sức mạnh nội sinh tiềm tàng, thúc đẩy sự phát triển bền vững của địa phương, là tài sản vô giá của chính dân tộc đó nói riêng và của quốc gia nói chung

Tuy nhiên, do tốc độ phát triển kinh tế nhanh, cộng với sự giao lưu tiếp biến văn hóa; sự phát triển không đồng đều về quy mô dân số cũng như địa bàn sống, điều kiện sống, dân trí thấp; sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa còn rất lớn giữa vùng nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với vùng đô thị Bên cạnh đó, sự giao lưu văn hóa Quốc

tế và trong nước ngày càng nhiều, sự bùng nổ công nghệ thông tin, phương

Trang 23

tiện nghe nhìn hiện đại…đã tác động mạnh mẽ dẫn đến sự biến đổi, mai một dần văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số

Bởi vậy, bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số trong sự phát triển toàn diện của các lĩnh vực đời sống xã hội của một đất nước, làm cho văn hóa dân tộc thiểu số tiếp tục tỏa sáng trong giao lưu, hội nhập là nhiệm

vụ quan trọng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Trong bất cứ giai đoạn nào thì Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, định hướng, xây dựng và thực hiện các chính sách về phát triển văn hóa, về bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, của dân tộc và thời đại Việc nhận thức rõ vai trò của văn hóa dân tộc thiểu số, công tác bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số cũng như chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số đối với sự phát triển của đất nước là vô cùng quan trong Do đó, lý luận về chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số cần được tiếp tục đầu tư, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học nhằm phục vụ cho việc hoạch định chính sách theo hướng ổn định, chiến lược, lâu dài, làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện chính sách đạt hiệu quả, góp phần phát triển văn hóa, phát triển bền vững

Trang 24

Chương 2 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Tỉnh Quảng Nam và các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh

Quảng Nam nằm ở khu vực miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội

883 km về phía Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 68 km về phía Bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 887 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía Tây giáp tỉnh Sekong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), phía Đông giáp Biển Đông Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 15 huyện với 247 xã/phường/thị trấn Tỉnh lỵ của Quảng Nam đặt tại thành phố Tam Kỳ

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 10.438 km2 Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và chia làm 3 vùng: vùng núi phía Tây, Trung du ở giữa và đồng bằng ven biển phía Đông Dân số: gần 1,5 triệu người (2015).Các dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, CơTu, Xê Đăng, Giẻ Triêng, Cor…

Quảng Nam hiện có 19 dân tộc thiểu số với khoảng hơn 120.000 người sinh sống, tập trung ở các huyện miền núi phía tây của tỉnh như Tây Giang, Nam Giang, Đông Giang, Phước Sơn, Nam Trà My, Bắc Trà My…

Những năm qua, vùng dân tộc, miền núi của Quảng Nam nhận được nhiều sự quan tâm, hỗ trợ đầu tư của Trung ương và tỉnh nên bộ mặt nông thôn miền núi, tình hình sản xuất, đời sống của bà con có nhiều khởi sắc Các chương trình, chính sách đầu tư cho vùng miền núi đã bước đầu khơi dậy được

Trang 25

nguồn lực trong dân và tập trung giải quyết các yêu cầu thiết thực như chuyển dịch cơ cấu sản xuất; nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào Tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tốc độ giảm nghèo được đẩy nhanh, độ che phủ rừng tăng, môi trường sinh thái được đảm bảo, văn hóa truyền thống dân tộc, an ninh chính trị được giữ vững, đoàn kết dân tộc ngày càng bền chặt

Do những đặc thù về địa lý –lịch sử , địa lý nhân văn của tỉnh Quảng Nam nên hiện nay tỉnh là là một trong những trung tâm Văn hóa – Du lịch lớn của cả nước với sự phong phú, đa dạng của kho tàng di sản văn hóa độc đáo, thể hiện sinh động những nét đặc trưng của đất và người xứ Quảng Đối với tỉnh Quảng Nam, văn hóa các dân tộc thiểu số của tỉnh là tài sản quý giá góp phần làm phong phú, đa dạng bản sắc văn hóa các dân tộc trong tỉnh Chính vì vậy, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nói chung

và văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được cấp ủy, chính quyền tỉnh Quảng Nam chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt và xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của địa phương Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015-2020 đã nêu ra nhiệm

vụ chủ yếu của nhiệm kỳ Đại hội, trong đó nhiệm vụ thứ hai là: “Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đi đôi với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại”1

Thực tế, không phải đến Đại hội lần thứ XXI của Đảng bộ tỉnh,vấn đề này mới được đề cập mà ngay trước khi có Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ) đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa Xác định công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ hội nhập, sau khi

1 Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, Đảng cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đại hội

Trang 26

tái lập tỉnh (tháng 01/1997), cùng với lãnh đạo, chỉ đạo ổn định tình hình của một tỉnh mới tái lập, Tỉnh ủy Quảng Nam đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết TW 5 ( khoá VIII) của Đảng về “ Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản săc văn hoá dân tộc” và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, Sở Văn hóa thể thao và Du lịch Quảng Nam đã xây dựng Kế hoạch thực hiện Chương trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc của Quảng Nam, tiếp tục thống kê, kiểm kê, đăng

ký quản lý các di vật, cổ vật, bảo vật; đẩy mạnh công tác sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu văn hoá dân gian; nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học

về các giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc; sưu tầm, nghiên cứu, biên dịch, in

ấn lại các loại sách cổ có giá trị; khôi phục và nâng cao giá trị các lễ hội đặc sắc; mở lớp bồi duỡng về dân ca, dân vũ truyền thống Năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Kế hoạch bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa tiêu biểu của các dân tộc thiểu số (bao gồm các dân tộc Cơ tu, Giẻ triêng, Xê đăng và Cor) trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 với mục tiêu đưa văn hóa các dân tộc thiếu số ra khỏi tình trạng có nguy cơ bị mai một cần bảo vệ khẩn cấp và phát huy giá trị di sản văn hóa tiêu biểu của các dân tộc thiểu số Các chính sách trên của tỉnh Quảng Nam đã mang lại nhiều chuyển biến tích

cực trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh

2.1.2 Khái quát về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Bắc Trà My

Bắc Trà My là một huyện vùng núi cao của tỉnh Quảng Nam, được chia tách từ huyện Trà My theo Nghị định 72/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ; cách trung tâm tỉnh lỵ 50km về phía Tây, Phía Đông giáp huyện Núi Thành, phía Tây giáp huyện Phước Sơn, phía Nam giáp huyện Nam Trà My, phía Bắc giáp huyện Tiên Phước Toàn huyện có 13 đơn vị hành chính, gồm 12 xã

và thị trấn (11 xã nằm trong diện đặc biệt khó khăn) với 56/80 thôn (tổ) đặc

Trang 27

biệt khó khăn, trong đó có 47 thôn đồng bào dân tộc thiểu số Tổng diện tích

tự nhiên 82.544 ha Tính đến tháng 31/12/2017, dân số toàn huyện: 42.541 người, trong đó, dân tộc thiểu số chiếm hơn 52%

Là vùng núi Nam Quảng Nam, với 20 thành phần dân tộc anh em cùng

sinh sống Trong đó, dân tộc Cadong, Cor, Xê đăng, M'nông là người bản địa,

sinh sống từ lâu đời trên địa bàn huyện, gắn bó máu thịt với mảnh đất “cao sơn ngọc quế”, là nơi nuôi dưỡng các chiến sĩ cộng sản qua 2 cuộc kháng chiến, các dân tộc thiểu số nơi đây đã cùng sống, chiến đấu, hi sinh để giành độc lập, bảo vệ quê hương Sau khi hòa bình lập lại, nơi đây lại tiếp nhân thêm các dân tộc anh em từ phía Bắc di cư đến sinh sống, làm ăn phát triển kinh tế như các tộc người Mường, Thái, Dao…

Với đa thành phần dân tộc như trên đã tạo nên bức tranh văn hóa sống động, đa sắc màu góp phần làm giàu bản sắc văn hóa trên địa bàn huyện Biểu trưng truyền thống quí báu của các đồng bào dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My thể hiện ở tinh thần đoàn kết lâu đời trong đấu tranh xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ, luôn bám đất, giữ rừng cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước trong tình hình mới

Bản sắc văn hóa rõ nét nhất trong cộng đồng các dân tộc thiểu số vẫn là văn hóa của các dân tộc thiểu số tại chỗ như Cadong, Cor, Xê đăng, M'nông

Có thể nói, Bắc Trà My là vùng đất mà đồng bào các dân tộc thiểu số

Cadong, Cor, Xê đăng, M'nông sinh sống từ lâu đời, tạo dựng nên một nền

văn hóa cộng đồng văn hóa dân gian lành mạnh, trong sáng

Kho tàng văn hóa của các dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam khá đa dạng, được biểu hiện rất rõ với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể như: nhà sàn, nhà truyền thống, các loại hình nhạc cụ; lễ hội,chữ viết; các trang phục, nghề thủ công; những kinh nghiệm mùa vụ, ẩm thực truyền thống; những sáng tạo trong văn học truyền khẩu dân gian như:

Trang 28

truyền cổ tích, ca dao, dân ca; nghệ thuật biểu diễn các loại nhạc cụ,nói lý, hát lý, hát giao duyên, múa cồng chiêng, nghệ thuật đấu chiêng; … và đặc biệt truyền thống cách mạng “một lòng, một dạ, theo Đảng, theo Bác Hồ” Bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số được biểu hiện rất rõ với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể:

* Văn hóa vật thể: Văn hóa vật thể các dân tộc thiểu số này có những

nét tương đồng cơ bản:

- Làng truyền thống: là một quần thể mang tính đặc trưng của bản sắc văn

hóa cộng đồng Nó có vai trò,vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân, trở thành biểu tượng thiêng liêng nhất trong tâm hồn của mỗi người Từng làng của các dân tộc có tên gọi riêng theo tên người trưởng làng hoặc tên sông, suối, tên đất, tên rừng Trong xã hội các dân tộc thiểu số, các già làng luôn được nể trọng Ông già được suy tôn làm trưởng làng phải là người hiểu biết phong tục, giàu kinh nghiệm sản xuất và ứng xử xã hội, được dân làng tín nhiệm cao và thuộc dòng họ có công lập làng Dân làng sinh sống trên một khu vực ổn định có ranh giới, việc dịch chuyển cư trú của làng cũng chỉ trong vùng lãnh thổ ấy Quy mô làng không lớn, thường chỉ từ 20-30 nóc nhà Quan hệ giữa các thành viên của một làng là quan hệ kiểu công xã láng giềng Cũng như mọi công xã láng giềng, làng không phải là một cộng đồng khép kín, nó

có thể kết nạp những thành viên mới, từ các làng khác đến, miễn là được sự đồng ý của người đầu làng và làm các thủ tục ra mắt làng bằng một lễ cúng trình các thần linh địa phương

- Nhà ở:

Nhà ở dân gian truyền thống của các dân tộc là kiểu nhà dài của một làng chung cư trú có nóc dài đến trăm mét, gồm 20 - 30 căn với cấu trúc: mặt bằng sinh hoạt chính được chia làm 3 phần theo chiều dọc nhà:

- Truôk: là đường hành lang chạy suốt từ đầu đến cuối nhà, hai phía đều

Trang 29

thông ra ngoài qua cửa

- Tum: Là phần không gian sinh hoạt cho từng hộ, ở đó có đặt bếp lửa, chỗ ngủ của các cặp vợ chồng, con cái và các vật dụng, đồ đạc từ các buồng

đó đều mở thông ra Truôk

- Gươl: là phần diện tích để thoáng, không ngăn thành các buồng Nơi đây chủ yếu dùng làm chỗ sinh hoạt cho đàn ông: tiếp khách, uống rượu, cúng, ngủ, gõ chiêng

Có thể có cách gọi khác nhau giữa mỗi dân tộc,tuy nhiên về cấu trúc thì tương đồng về cấu trúc 3 phần Đến nay những ngôi nhà này đã hiếm

thấy.Thay vào đó bây giờ họ ở nhà sàn mái thấp lợp bằng lá nón (la xeet)

hoặc lá mây Sàn nhà thấp được làm cây lồ ô Cốt nhà nhỏ, kiến trúc sơ sài Phên, giát thông thường làm bằng vỏ cây ươi, vỏ cây chò và cây lồ ô Hiện nay thì đã xuất hiện nhiều nhà có kiến trúc kiên cố, hiện đại

- Trang phục:

Ngày xưa, nam giới đóng khố, ở trần Nữ giới mặc yếm, mặc áo cộc tay

và quấn váy ngắn quá đầu gối một chút Mùa lạnh đồng bào khoác tấm choàng Trang sức làm bằng cườm được xem như một trong những đặc điểm nổi bật ở dân tộc Cor Cườm được đính vào tua đầu dài khố, cườm xâu thành chuỗi vòng quấn nhiều quanh tóc qua trán, quanh cổ tay, cổ chân, quanh thắt lưng và hông đối với phụ nữ; trang sức đeo còn gồm những loại bằng đồng hay bạc như vòng tay, vòng cổ, hoa tai

Ngày nay, đàn ông thường mặc quần áo (âu phục) như người Kinh, áo

nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp Vải cổ truyền các tộc người có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ

- Nhạc cụ:

Bên cạnh các điệu dân ca thì các loại nhạc cụ cũng đóng vai trò làm

Trang 30

phong phú thêm văn hóa của các dân tộc thiểu số Họ thích múa hát, thích chơi chiêng, cồng, trống và các loại nhạc cụ Người Cor dùng bộ chiêng 3 chiếc là phổ biến, ngoài ra còn có các nhạc cụ như: trống, a máp, Ka đlóc, Vơro, Talía, Phauteng (Đàn đá) Người Cadong có các dụng cụ như cây

"lách"; đàn "Kchóp" làm từ tre, nứa, dây đàn được làm bằng dây "pã" ; "Sáo" được làm từ cây nứa Nhạc cụ của người M'nông có trống, chiêng lớn nhỏ khác nhau, Đàn " K tóc", Ống thổi "K lách" Người Xê Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, trống, chiêng )

Các nhạc cụ có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội

Các loại nhạc cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm

* Văn hóa phi vật thể:

- Lễ hội:

Người Cadong, Cor, Xê đăng, M'nông có nhiều lễ tết, tết lớn nhất là lễ

hội đâm trâu (Trâu Lá, Trâu Huê…) tế thần diễn ra vào tháng 3, tháng 4 âm lịch, lễ hội này được cho là có vai trò quan trọng trong các chuỗi hoạt động,

có ý nghĩa đặc biệt về tâm linh Tại Lễ hội đâm trâu luôn xuất hiện cây neo…

Lễ Tết mùa (lễ ăn mừng lúa mới ) thường được tổ chức trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 11 âm lịch năm, Tết gắn với sự kết thúc một mùa lúa rẫy là dịp sinh hoạt nhộn nhịp Lễ ăn mừng lúa mới của đồng bào đã thể hiện được một phần nào đó sự tôn kính của mình đối với thần lúa Trong hai dịp đó, các món ăn, nghệ thuật và các trang phục dân tộc truyền thống được thể hiện tập trung, khơi dậy văn hóa truyền thống

Lễ cúng máng nước thường được tổ chức vào ngày đầu năm mới sau khi

đã kết thúc lễ hội đâm trâu, tết máng nước là một trong những phong tục giúp cho dân làng sống đoàn kết, hòa thuận, luôn hướng đến những việc tốt đẹp

- Văn hóa ẩm thực

Nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số thường là

Trang 31

không cầu kì, đơn giản, ít gia vị nhưng ăn rất ngon Cách chế biến được truyền từ đời này sang đời khác , nhất là các ẩm thực ngon và đặc trưng,như: cơm gạo đỏ, cơm lam, bánh sắn, bánh nhót, bánh sừng trâu, thịt ống nướng, các loại thịt,cá xông khói… và các đồ uống như rượu nếp, rượu đóat, rượu cần… tạo nên văn hóa ẩm thực phong phú, đa dạng, độc đáo…

- Văn hóa văn nghệ

Văn hóa văn nghệ của các dân tộc thiếu số cũng khá phong phú đặc sắc

Đó là điệu múa cồng chiêng, đấu chiêng, hát lý, nói lý, hát ru, dân ca, truyện

cổ …với các nhạc cụ đi kèm

+ Nói lý, hát lý: là một sinh hoạt độc đáo của các dân tộc thiểu số diễn

ra khi họ sinh hoạt cộng đồng hoặc có thể diễn ra trong các lễ hội hoặc trong quá trình sản xuất Được truyền khẩu qua nhiều đời, nói lý, hát lý đã trở thành một loại hình nghệ thuật dân gian không thể thiếu được trong xã hội của từng dân tộc Họ nói lý, hát lý trong nhiều tình huống, trong các quan hệ xã hội, vừa là cuộc so tài văn nghệ giữa hai bên,vừa là cuộc đấu khẩu lý lẽ để giải quyết công việc Đó là một nét đẹp trong đời sống tinh thần cần được bảo tồn

và lưu truyền Mỗi dân tộc có tên gọi khác nhau về nghệ thuật hát lý, nói lý như: người Ca dong gọi là Hát "CaGiới", người Monong gọi là hát "Cacheo" hay người Cor, người Xê dăng gọi là hát đối đáp… Tuy nhiên, đối với người dân đây là hoạt động văn hóa tinh thần không thể thiếu trong đời sống xã hội của họ

Ngoài ra còn có các điệu dân ca phổ biến của người Cor là Xru, Klu và Agiới hoặc các làn điệu hát ru … mang đậm bản sắc, mô phỏng một cách khái quát về đời sống lao động, sản xuất cũng như tình cảm của người dân + Múa công chiêng và nghệ thuật đấu chiêng:

Múa cồng chiêng là điệu múa cho người nữ Người Cor thích múa hát, thích chơi chiêng, cồng, trống Người Cor dùng bộ chiêng 3 chiếc là phổ

Trang 32

biến, ngoài ra còn có các nhạc cụ như: trống, a máp, Ka đlóc, Vơro, Talía, Phauteng (Đàn đá) Múa chỉ xuất hiện trong lễ hội đâm trâu Nghệ thuật

trang trí tập trung nhất ở cây “Nêu” trong lễ hội đâm trâu

Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia Truyện cổ Xê Ðăng phong phú và đặc sắc

- Chữ viết: hiện nay chữ viết người Cor đang được nghiên cứu và khôi

phục, chữ viết người Cadong được giảng dạy cho học sinh, cán bộ công chức tại các trường và trung tâm Giáo dục thường xuyên của huyện

- Các nghề thủ công truyền thống của người dân như nghề đan lát các đồ

dùng gia đình và dùng trong sinh hoạt Từ những cây tre, nứa, dang,mây,họ

đã tạo ra những sản phẩm có giá trị phục vụ đời sống hàng ngày như gùi, teo, chạn, mâm đựng đồ… Người Cadong còn nổi tiếng với nghề rèn truyền thống Trước đây, những nghề này là việc làm thường xuyên của mỡi gia đình Tuy nhiên, hiện nay nó đã bị mai một nhiều và còn rất ít hộ gia đình làm, chủ yếu là người cao tuổi

Những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện làm phong phú thêm kho tàng văn hóa của đại gia đình các dân tộc Việt Nam Do đó, cần phải được bảo tồn, truyền dạy cho các thế hệ Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải quan tâm có những chính sách thích hợp để thực hiện một cách có hiệu quả nhất

2.2 Thực tiễn các bước thực hiện chính sách

Đảng bộ, chính quyền huyện Bắc Trà My luôn xác định công tác bảo tồn

và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số địa phương là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của cả hệ thống chính trị trong toàn huyện Vì vậy từ khi tái lập, huyện đã triển khai ngay việc thực hiện các

Trang 33

chính sách về văn hóa, bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu số; đặc biệt là triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và thực hiện Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án

“Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”,

Kế hoạch bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa tiêu biểu của các dân tộc

thiểu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam định hướng đến năm 2020

Việc triển khai thực hiện các chính sách và các quy định pháp luật liên quan đến công tác bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu số luôn được các cấp, các ngành, địa phương quan tâm thực hiện đạt được những kết quả đáng khích lệ Các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số được bảo tồn, lưu giữ và phát triển Tiến trình thực hiện chính sách trong thực tiễn được thể hiện qua các nội dung:

2.2.1 ây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, nhân dân có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với các nền văn hóa khác nhau đã tác động và làm cho bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu

số ít nhiều bị mai một Chính vì thế, trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, của tỉnh Quảng Nam, huyện Bắc Trà My đã xây dựng các Nghị quyết, chương trình, đề án, định kỳ xây dựng kế hoạch năm và giai đoạn

để cụ thể hóa những chỉ tiêu, nhiệm vụ bảo tồn các di sản văn hóa trên địa bàn huyện; trong đó, tập trung các giải pháp bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số, cụ thể như: Huyện ủy ban hành các Nghị quyết trong giai đoạn mới; Ủy ban nhân dân huyện ban hành các Chương trình thực hiện Nghị quyết của Huyện ủy; Đề án, kế hoạch giai đoạn như: Đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện giai đoạn 2011-2015, định hướng

Trang 34

đến năm 2020, Đề án sưu tầm văn hóa vật thể và phi vật thể của các đồng bào dân tộc giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2015-2020 ; Đề án Bảo tồn, phát huy các giá trị âm nhạc và truyện cổ dân gian dân tộc Cor, đề án phát triển du lịch huyện Bắc Trà My giai đoạn 2015-2020, định hướng đến năm 2025… Việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đảm bảo hướng đến mục tiêu tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp của các dân tộc thiểu số, củng

cố khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao dân trí, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển trên các lĩnh vực đối với đời sống cộng đồng các dân tộc thiểu số nói riêng và nhân dân trên địa bàn huyện Bắc Trà My nói chung Đồng thời, phát triển ngày một phong phú hơn nét đặc trưng văn hóa vùng, miền; qua đó giới thiệu về hình ảnh huyện Bắc Trà My với đa dạng, phong phú về văn hóa cộng đồng các dân tộc thiểu số, nhằm thu hút, kêu gọi các nguồn lực để phát triển

du lịch, gắn với phát triển kinh tế xã hội ở địa phương

2.2.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Để chính sách được triển khai rộng rãi đến tận người dân, để người dân thật sự trở thành chủ thể thực hiện chính sách thì một trong những công cụ quan trọng đó là công tác tuyên truyền, vận động Chính quyền các cấp đã tiến hành tổ chức với nhiều hình thức tuyên truyền, phổ biến khác nhau như

tổ chức nhiều hội nghị để triển khai, hướng dẫn thực hiện Nghị quyết, Quyết định, chương trình, Đề án từ cấp trung ương, cấp tỉnh và cụ thể hơn là các đề

án, chương trình, kế hoạch của huyện liên quan đến thực hiện bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số; cụ thể như việc tuyên truyền toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, tích cực bảo tồn các văn hóa vật thể, phi vật thể, duy trì và phát huy nét đẹp truyền thống trong đời sống tinh thần, phát triển các loại hình văn hóa nghệ thuật đặc sắc riêng biệt, các nghề truyền thống của từng dân tộc thiểu số

Phòng Văn hóa - Thông tin huyện đã tổ chức tuyên truyền, cổ động trực

Trang 35

quan bằng nhiều hình thức phong phú như: Tuyên truyền lưu động, in panô, áp phích, tờ rơi; đội thông tin lưu động của Phòng Văn hóa - Thông tin huyện xây dựng các tiểu phẩm để biểu diễn, tuyên truyền ở các thôn, nóc trên địa bàn huyện với nội dung tuyên truyền ngắn gọn, dễ hiểu, kếp hợp yếu tố sân khấu hóa thu hút được đông đảo nhân dân tham dự Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện cũng đã xây dựng chuyên mục giới thiệu về nét đẹp truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Công tác phổ biến, tuyên truyền còn được Ủy ban Mặt trận

tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội huyện thực hiện thông qua việc xây dựng các đề án, kế hoạch triển khai trong đối tượng hội, đoàn viên của tổ chức mình

Tóm lại, với vai trò là công cụ quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách, mục tiêu hướng đến của công tác tuyên truyền, vận động đó chính là huy động sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tham gia tổ chức, triển khai thực hiện chính sách, trong đó người dân trước hết phải hiểu được vị trí, vai trò văn hóa của chính dân tộc mình trong mối quan hệ giữa phát triển văn hóa, phát triển kinh tế, xã hội và vấn đề hội nhập…

2.2.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Việc triển khai, tổ chức thực hiện chính sách là nhiệm vụ hết sức khó khăn, không thể tự thân một ngành nào có thể thực hiện được Vì vậy, cần có

sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, phân công, phối hợp và tham gia của cả hệ thống chính trị; trong đó cấp ủy Đảng giữ vai trò lãnh đạo chung đảm bảo cho việc thực hiện chính sách đồng bộ, thống nhất đúng theo nguyên tắc, chủ trương của Đảng và Nhà nước Ủy ban nhân dân huyện và Ủy ban nhân dân các xã là cơ quan điều hành, quản lý các cơ quan, bộ phận chuyên môn và có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với Mặt trận, các đoàn thể chính

trị - xã hội các cấp để thực hiện

Các chủ thể tham gia thực hiện cụ thể gồm:

Trang 36

- Phòng Văn hóa – Thông tin huyện:

Là cơ quan thường trực giúp Ủy ban nhân dân huyện theo dõi, tổng hợp, định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân huyện về tình hình triển khai thực hiện các chính sách liên quan đến vấn đề bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiếu

số trên địa bàn huyện

Chủ trì, phối hợp với các phòng, ban, Ủy ban nhân dân các xã để tổ chức thực hiện chính sách Kiến nghị điều chỉnh, bổ sung các giải pháp cụ thể để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện

Xây dựng kế hoạch hàng năm để triển khai thực hiện Chương trình hành động về bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số, đề xuất các cơ chế chính sách, xây dựng chương trình, kế hoạch hỗ trợ các hoạt động khôi phục, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phát triển các loại hình văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện

Chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan quy hoạch và xây dựng Đề án phát triển tổng thể du lịch giai đoạn 2015-2020, định hướng đến năm 2025 Chủ trì thực hiện các dự án cụ thể như: thành lập các đội cồng chiêng trong các trường học, thôn, xã; thành lập các Đội thông tin lưu động ở huyện

và xã; tổ chức nghiên cứu, thu thập thông tin, tìm hiểu các làn điệu dân ca cổ, các loại hình nghệ thuật truyền thống, làng nghề truyền thống… của các dân tộc thiểu số, trên cơ sở đó đề xuất hướng bảo tồn, phát triển phù hợp

- Trung tâm Văn hóa – Thông tin, Thể thao huyện:

Chủ trì thực hiện các Đề án sưu tầm các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể theo các giai đoạn 2010-2015 và 2016-2020 Dàn dựng chương trình sân khấu hóa tái hiện các giá trị văn hóa nghệ thuật của các dân tộc thiểu số; thành lập các Đội thông tin lưu động

Có kế hoạch phát triển đội ngũ nhạc sĩ, ca sĩ người dân tộc thiểu số, các ban nhạc mang bản sắc của các đồng bào dân tộc thiểu số; kịp thời có giải

Trang 37

pháp khuyến khích, động viên nhạc sĩ, ca sĩ, người yêu âm nhạc, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số phát huy năng lực sáng tạo trong lĩnh vực này theo hướng phù hợp với nhu cầu thị hiếu của quần chúng, là cơ sở để bổ sung, phát triển trên nền tảng những bản sắc độc đáo vốn có của văn hóa dân tộc thiểu số địa phương

- BQL Khu di tích lịch sử Trung Trung bộ Nước Oa

Phối hợp triển khai thực hiện công tác quản bá du lịch, cùng với các ngành địa phương triển khai thực hiện Đề án du lịch giai đoạn 2015-2020, định hướng đến năm 2025 Trong đó, tham mưu kết nối và hình thành tour du lịch kết hợp giữa du lịch lịch sử (các điểm di tích trong quần thể di tich lịch

sử cách mạng Trung Trung bộ - Nước Oa) với du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng làng (đến với bản sắc truyền thống của các dân tộc thiểu số thông qua tham quan Quảng trường văn hóa, tham gia các Lễ hội, thưởng thức các loại hình nghệ thuật, ẩm thực tại các Làng truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số… )

- Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện: Chủ trì trong việc thẩm định kế hoạch phân bổ kinh phí cho các đơn vị, địa phương liên quan thực hiện các mục tiêu khôi phục, bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số và quy hoạch phát triển các làng truyền thống kết hợp vói hoạt động du lịch

- Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện: chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan quy hoạch quỹ đất để xây dựng các thiết chế văn hóa như Quảng trường văn hóa, sân vận động, bưu điện văn hóa xã, nhà văn hóa, nhà đọc sách, các khu du lịch sinh thái, Làng truyền thống ở các xã vùng dân tộc thiểu số

- Phòng Nội vụ huyện: Chủ trì, phối hợp với các ngành có liên quan xây dựng tiêu chí tuyển cán bộ ngành văn hóa thông tin ở các xã để đảm bảo công tác bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số gắn với nhiệm vụ phát triển

Trang 38

kinh tế - xã hội địa phương Kịp thời tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân huyện khen thưởng các cá nhân, tập thể đã có thành tích xuất sắc trong công tác bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số

- Phòng Giáo dục & Đào tạo chỉ đạo triển khai các hoạt động tìm hiểu, giảng dạy về văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, ý nghĩa của việc gìn giữ và bảo tồn bản sắc văn hóa đó trong các đơn vị trường học trên địa bàn; tổ chức giảng dạy tiếng nói của các dân tộc thiểu số như tiếng nói của người Cadong, Cor… và triển khai thành lập các Đội trống chiêng tại các trường học

- Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện: Chủ trì xây dựng các chuyên mục, chương trình và dành thời lượng, các tin, bài viết về người Cadong, Cor,

Xê đăng, M'nông, về văn hóa của các dân tộc thiểu số đó nhằm tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân ý nghĩa của chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số

- Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam huyện và các hội, đoàn thể huyện: Chủ trì tổ chức tuyên truyền các quyết định, chương trình, kế hoạch, Đề án, chính sách về bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện cho nhân dân được biết, hưởng ứng, thực hiện Đặt biệt, đối tượng chính là những người dân trong từng dân tộc thiểu số cần hiểu rõ về chính sách để góp phần cùng các cấp, các ngành thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của chính sách

Hội Người cao tuổi huyện xây dựng kế hoạch vận động các cụ già, già làng, trưởng bản am hiểu về văn hóa của từng dân tộc thiểu số truyền dạy cho thế hệ trẻ trong cùng dân tộc của mình

- Ủy ban nhân dân 10 xã: Phối hợp với Phòng Văn hóa – Thông tin, Tài nguyên- Môi trường, Phòng Tài chính - Kế hoạch và các phòng, ban của huyện xây dựng các quy hoạch, kế hoạch cụ thể trên địa bàn để thực hiện tốt chính

Trang 39

sách Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách trên địa bàn

và thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo theo quy định Tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao ý thức tự giác thực hiện và tham gia thực hiện chính sách Nhờ có sự phân công, phối hợp và giao trách nhiệm một cách cụ thể rõ ràng cho mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi tổ chức cũng như từng cá nhân thành viên, nên trong thời gian qua, việc triển khai tổ chức thực hiện chính sách từ huyện đến các xã diễn ra thuận lợi và mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách, công tác phối hợp giữa các ngành chuyên môn với Ủy ban nhân dân các xã vẫn còn chưa được chặt chẽ, thống nhất

2.2.4 Duy trì thực hiện chính sách

Để đảm bảo chính sách được thực hiện thường xuyên, liên tục, huyện xác định cần phải đảm bảo được các yếu tố sau:

Thứ nhất là phải duy trì được các nguồn lực con người, tài chính, cơ sở vật

chất, điều kiện làm việc của đội ngũ cán bộ thực thi chính sách

Thứ hai là phải duy trì thường xuyên các họat động phối hợp, tham gia của

các cơ quan, ban ngành, địa phương liên quan

Thứ ba là phải ứng phó kịp thời với sự tác động mạnh mẽ của quá trình hội

nhập, của việc phát triển nền kinh tế thị trường

Trong những năm qua, mặc dầu nguồn thu ngân sách gặp nhiều khó khăn, nhưng chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và Ủy ban nhân dân huyện vẫn ưu tiên phân bổ kinh phí hằng năm đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu chính sách, phân bổ kinh phí triển khai đề án, kế hoạch giai đoạn về bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số của huyện

Bên cạnh đó, mặc dù có nhiều biến động về nhân sự như việc luân chuyển công tác, tinh giản biên chế hoặc do nghỉ hưu, nhưng Ủy ban nhân dân huyện vẫn thường xuyên củng cố tổ chức bộ máy và nhân sự của Phòng Văn hóa – Thông tin huyện cũng như cán bộ Văn hóa của 13 xã,thị trấn nói chung

Trang 40

và của 10 xã có đông đồng bào dân tộc sinh sống một cách kịp thời, đủ số lượng để thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên, liên tục đối với công tác bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số ở địa phương

Hàng năm, Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo rà soát, đánh giá lại cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị cho đội ngũ cán bộ, công chức ngành văn hóa để sửa chữa, nâng cấp và mua sắm mới đáp ứng nhu cầu cho đội ngũ thực thi chính sách; đồng thời tu bổ, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ công tác bảo tồn, bảo tàng cũng như trùng tu các văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa liên quan đến văn hóa của các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện

2.2.5 Điều chỉnh thực hiện chính sách

Việc xem xét sửa đổi, điều chỉnh các nội dung quy định trong các chính sách nói chung và thực hiện chính sách đối với bảo tồn và phát triển văn hóa

dân tộc thiểu số là cần thiết Qua thực tế triển khai thực hiện chính sách trên địa

bàn huyện Bắc Trà My, đã phát hiện vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh mới mà chưa đề cập hoặc đã quy định, hoặc có quy định, nhưng đến nay không còn phù hợp, Ủy ban nhân dân huyện cũng đã kiến nghị những bất cập, khó khăn, vướng mắc lên tỉnh để tổng hợp và đề nghị Chính phủ xem xét điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi

Trong quá trình thực hiện, nếu thấy cách làm nào hay, phù hợp và có hiệu quả thì tiếp tục phát huy, nhân rộng; còn những quy định, cách làm không còn phù hợp, thì mạnh dạn kiến nghị điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế Cụ thể như trước đây việc xây dựng Nhà văn hóa tại các thôn vùng các dân tộc thiểu số sinh sống được các Chủ đầu tư thực hiện một cách đồng bộ, rập khuôn và không phù hợp với văn hóa của dân tộc thiểu số sinh sống đa phần tại nơi đó, do đó việc phát huy hiệu quả sử dụng của thiết chế văn hóa đó không cao, đôi nơi bị xuống cấp rất nhanh vì người dân không tham gia sinh hoạt cộng đồng tại đó mà tập trung vào những nhà làng truyền thống của dân

Ngày đăng: 08/06/2018, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w