Ở Lào Cai, người Thu Lao tập trung chủ yếu ở các huyện vùng cao Mường Khương, Si Ma Cai, thường sống xen kẽ với các dân tộc anh em khác, như Pa Dí, Tu Dí và Mông.. Cùng với 53 dân tộc an
Trang 1ĐỀ Bài:
Đặc điểm văn hóa vùng Dân Tộc Thiểu Số
BÀI LÀM
Đặc điểm văn hóa dân tộc Thu Lao tại Si Ma Cai, Lao Cai
1.Người Thu Lao.
Nguồn gốc Thu lao là một dân tộc thiểu số có dân số ít, ở việt nam chỉ khoảng vài nghìn người Người Thu Lao chỉ cư trú ở việt nam và Trung Quốc là chủ yếu, họ cư trú đông hơn ở trung quốc Người Thu Lao họ sinh sống định cư ít di chuyển nên chỉ sinh sống tập trung ở phía nam Trung Quốc và phía bắc Việt Nam.Người Thu Lao thuộc nhóm dân tộc Tày, Nùng Ở Lào Cai, người Thu Lao tập trung chủ yếu ở các huyện vùng cao Mường Khương, Si Ma Cai, thường sống xen kẽ với các dân tộc anh em khác, như Pa Dí, Tu Dí và Mông
Ở Việt Nam dân tộc Thu Lao là một trong những dân tộc thiểu số có dân
số it ở miền bắc nước ta chủ yếu là Lào Cai Cùng với 53 dân tộc anh em, dân tộc Thu Lao luôn là một phần không thể thiếu của sự thống nhất khối đại đoàn kết các dân tộc và góp phần làm phong phú cho nền văn hóa các dân tộc ở Việt Nam Người Thu Lao huyện Si Ma Cai, tỉnh Lao Cai có khoảng 540 người Được xếp vào một nhánh của dân tộc tày nhưng họ có tiêng nói, trang phục riêng biệt không giống dân tộc nà Họ có chung nguồn gốc với người thu lao ở các xã khác trong huyện Si Ma Cai và cùng nguồn gốc tổ tiên với người Thu Lao ở các xã trong huyện Mường Khương và người thu lao ở tỉnh Vân Nam ( Trung quốc) Người Thu Lao đã đến và định cư, làm ăn ở xã Nàn Sán từ hàng nghìn năm nay, qua các thế hệ con cháu người Thu Lao đã coi mảnh đất này là một phần máu sương của dân tộc mình
2.Huyện Si Ma Cai
Trang 2Vị trí địa lý: Huyện Si Ma Cai là một huyện vùng cao cách Trung tâm tỉnh Lào Cai 100 Km hướng về Đông Bắc, là một huyện được tái lập theo Nghị định
số 36/NĐ.CP, ngày 18/8/2000 của Chính phủ (tách từ huyện Bắc Hà từ)
Phía Bắc giáp với huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai và Trung Quốc
Phía Nam giáp với huyện Bắc Hà
Phía Đông giáp với huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang
Phía Tây giáp với huyện Mường Khương
Địa hình: Si Ma Cai là một huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai, độ cao trung bình từ 1200m đến 1800m, cao nhất là 1800m thấp nhất là 180m, độ dốc trung bình từ 24 – 280 Địa hình được kiến tạo bởi nhiều dãy núi chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, thấp dần về hướng Tây Bắc các dải núi trong phạm vi ranh giới huyện
Khí hậu thuỷ văn: Si Ma Cai là huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tuy nhiên do ảnh hưởng của địa hình nên diễn biến của khí hậu khá phức tạp, hình thành 2 vùng tiểu khí hậu cơ bản (Khí hậu cận nhiệt đới và vùng khí hậu nhiệt đới không điển hình.) Các yếu tố khí hậu đặc trưng như nhiệt độ, lượng mưa cho thấy sự thay đổi của địa hình, độ cao là tác nhân chính hình thành những vùng tiểu khí hậu trên địa bàn huyện
Nhiệt độ: Theo số liệu quan trắc nhiều năm cho thấy huyện Si Ma Cai thuộc vùng khí hậu khá lạnh, nhiệt độ trung bình năm là 18,90C có những tháng nhiệt độ trung bình xuống dưới 10C Nhiệt độ có sự thay đổi theo các đai cao khá rõ nét, sự thay đổi này diễn ra ngay trên địa bàn của một xã Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm rất lớn điều này được thể hiện rõ nhất vào mùa hè, ảnh hưởng bất lợi đến sức khoẻ của người dân, gia súc và sản xuất nông - lâm nghiệp
Trang 3Lượng mưa: Si Ma Cai là huyện có lượng mưa trung bình thấp so với các vùng trên địa bàn tỉnh Lào Cai, lượng mưa thay đổi qua các năm từ 1.300 – 2.000mm, lượng mưa chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8 các tháng còn lại trong năm mưa ít, cường độ không tập trung; Mùa lạnh, khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau Nhìn chung lượng mưa trung bình thấp, cường
độ mưa không đều, hiện trạng tài nguyên rừng ít nên hiện tượng xói mòn, sụt lở, rửa trôi vẫn còn xẩy ra khá nghiêm trọng
Sương: Si Ma Cai có độ dốc lớn do đó vào mùa đông hiện tượng sương mù thường sảy ra
Độ ẩm không khí: Huyện Si Ma Cai thuộc vùng có độ ẩm không khí tương đối đều và cao qua các tháng, trung bình từ 83 - 87% Về mùa mưa độ ẩm không khí lớn hơn, thường từ 85 – 88% Độ ẩm thay đổi theo từng vùng lãnh thổ của huyện Vùng núi cao hơn 800m có độ ẩm thấp và hanh khô Đây cũng là điều kiện bất lợi cho sản xuất lâm nghiệp
Khoáng sản: Si Ma Cai có các loại vật liệu như đá, sỏi cho khai thác để phục vụ cho các công trình xây dựng, ngoài ra còn có các loại quặng, chì, kẽm, ô xít sắt (Fe202, Fe203) nhưng ở dưới dạng quặng phân tán chữ lượng không lớn
Đất đai: Tổng diện tích tự nhiên của Si Ma Cai là 23.493,83 ha, trải qua quá trình Feralit, bào mòn, rửa trôi, bồi tụ, hình thành mùn, trên địa bàn huyện
Si Ma Cai có các loại đất sau: Đất mùn đỏ vàng trên đất đá biến chất, loại đá mẹ Firit (Hs), tầng dầy 50 -120cm, có tổng diện tích khoảng 5.324 ha phân bố rộng trên khắp lãnh thổ; Đất đỏ vàng trên đá biến chất (Fs), có khoảng 1.570 ha phân
bố phần thấp ven sông Chảy, loại đất này có tầng dày từ 50 -100cm; Đất đỏ mùn trên đá sét (Hs), diện tích khoảng 2.150 ha, thành phần cơ giới thịt nặng; Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa (Fl), chiếm tỷ lệ không đáng kể; Đất thung lũng dốc
tụ trồng lúa (Dl); Đất phù sa, sông suối (Py); Đất mòn, trơ sỏi
Trang 4Si Ma Cai là một huyện vùng sâu, vùng xa của tỉnh Lào Cai Thuộc trong
62 huyện nghèo nhất trong cả nước Si Ma Cai là huyện biên giới giáp với huyện
Mã Quan của tỉnh Vân Nam Trung Quốc, toàn huyện có hơn 36.000 người, dân tộc H'Mông chiếm 78% dân số, các dân tộc khác như Tày, Nùng, Thu Lao, Na Chí ; Dân tộc kinh chiếm 7% dân số Đời sống bà con trong huyện chủ yếu là làm nông nghiệp (trồng Ngô, lúa là chủ yếu) toàn huyện có 47,8 % là hộ nghèo, phong tục tập quán lạc hậu
Từ cao nguyên trắng Bắc Hà, ngược lên chưa đầy 30 km là đến với mảnh đất biên cương Si Ma Cai Con đường như dải lụa vắt quanh triền núi đưa chúng
ta đến vùng đất lưu dấu ngựa thần để khám phá những nét văn hóa rất riêng
"Dập dìu sắc màu chợ phiên…"
Nét đặc trưng đầu tiên của Si Ma Cai đó là chợ phiên, chợ không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, mà còn có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân nơi đây Chợ phiên họp vào chủ nhật hàng tuần, bắt đầu từ sáng sớm cho đến tận chiều, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán Người đi chợ có khi chỉ mang 1 con gà, 1 con ngan, con lợn cắp nách, dắt theo sau là con chó hay ít lương thực, rau quả để bán, đôi khi cũng là vài ba cây mía, cái lồng chim… Những thiếu nữ Thu lao,người Mông xuống chợ với xúng xính váy áo, cùng chiếc ô xòe rộng trên tay Chợ phiên còn là dịp để phụ nữ Si Ma Cai có dịp khoe tài may vá, thêu thùa qua những sản phẩm thổ cẩm của mình Sau khi bán hàng,
họ mua những vật dụng cần thiết và thưởng thức các món ăn được bán ở chợ Chợ là nơi trao tình bằng hữu, trao cái bắt tay rồi chạm chén bên nồi thắng cố dậy mùi và chia sẻ nỗi tâm giao
Chợ phiên Cán Cấu
Trang 5Trung tâm chơ phiên cán cấu
Dù không được xây dựng khang trang như ở Sa Pa, Bắc Hà, nhưng chợ phiên Cán Cấu lại thu hút khách thập phương bởi sắc màu văn hóa của đồng bào dân tộc nơi vùng cao miền biên viễn Lào Cai
Chợ phiên Cán Cấu là một buổi chợ kỳ lạ nhất Tây Bắc Cách Sapa 115 km, chợ họp vào thứ 7 hàng tuần Từ tờ mờ sáng, người dân tộc từ các buôn làng đã
lũ lượt kéo nhau về chợ Họp chợ phiên Cán Cấu phần lớn là người Mông, Thu lao,nùng…, nhưng lại theo lối buôn bán của người Dao, tức là họp vào sáng thứ bảy hàng tuần Khu chợ chỉ rộng khoảng một héc ta, chen chúc cả ngàn con người đủ các dân tộc, rất lạ lùng, êm đềm tĩnh lặng như đang ở giữa một cánh rừng thông samu mùa đông
Bà con đến chợ mang theo đủ thứ hàng nông thổ sản ngô, ớt, lạc, mía, sắn, chè shan, hoa quả, mật ong, rượu, trang phục thổ cẩm, đồ trang sức bạc những thứ hàng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người vùng cao Người dân từ các
Trang 6bản vùng cao xuống chợ dắt theo những con ngựa, trâu, lợn càng làm cho hoạt động trao đổi hàng hóa nơi đây thêm phần nhộn nhịp Không chỉ đến để mua bán, người dân các xã xung quanh xuống chợ, chơi chợ như một thú vui vào mỗi dịp cuối tuần
Nhìn từ trên cao xuống, chợ Cán Cấu như vườn hoa di động với đủ sắc mầu trang phục của những thiếu nữ dân tộc trên miền sơn cước Bao quanh chợ
là những thửa ruộng bậc thang tầng tầng lớp lớp nối tiếp nhau bám vào sườn núi, tạo nên một bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp Tuy chỉ là phiên chợ nhỏ, với những lều tạm, những gian hàng chỉ được dựng lên vào ngày họp chợ, nhưng chợ lại làm say lòng du khách bởi tính hoang sơ, dân dã của đất và người Cán Cấu
Người dân hmông bán hàng tại chơi phiên Chợ được chia thành những khu riêng dành cho đủ mọi mặt hàng Những mặt hàng như: các loại rau quả, dược thảo, gia vị, đồ dùng trong gia đình và các sản phẩm thổ cẩm đủ màu sắc thể hiện tài năng khéo léo của phụ nữ Mông Hoa,người Thu Lao, ngươi Nùng… tập trung thành một khu và được bày lên
Trang 7những tấm nilon dải trên mặt đất Tuy nhiên, nổi bật nhất có lẽ lại là khu vực bán gia súc, gia cầm; vì người Mông Hoa, người Thu Lao,… rất thích gia súc và muốn chọn được giống gia súc tốt phục vụ nông nghiệp Không khí trong khu vực này thật náo nhiệt, người mua, kẻ bán, đứng, ngồi rải rác và cùng thỏa thuận mua bán với nhau
Bên cạnh đó, khu vực dành cho các món ăn truyền thống của người dân tộc cũng khá sôi động Hòa trong làn khói nghi ngút bốc lên từ những căn lều tranh lụp xụp, là vô số các âm thanh khác nhau: tiếng nói chuyện ầm ì, tiếng bát đũa
va vào nhau tanh tách và trong không khí náo nhiệt đó, du khách sẽ phải dừng chân, ngồi xuống và cùng người dân tộc thưởng thức các món ẩm thực của họ Trong tất cả các món ở đây, món thắng cố có lẽ được người dân tộc yêu thích nhất Đây là món pha trộn tất cả các loại nội tạng của một số con vật như: lợn,
bò, trâu
Đến chợ Cán Cấu, du khách đừng quên ghé thăm khu chợ chim Ở đây, có rất nhiều loài chim được đồng bào mang bán như họa mi, ngũ sắc, quế lâm, khướu… Mỗi loài mang một nét đẹp riêng, có những loài được người chơi thích
vì có bộ lông đẹp mượt mà như hoàng yến, thanh tước, hồng tước, yến phụng, chích chòe lửa cũng có những loài chim được lựa chọn bởi có tiếng hót hay như chào mào, khướu, họa mi…
Trang 8Một gốc chợ phiên cán cấu Với những nét văn hóa độc đáo của mình, chợ Cán Cấu không chỉ hấp dẫn người bản địa, mà những du khách đều bị hút hồn bởi sắc màu rực rỡ của những
bộ váy, áo truyền thống của thiếu nữ dân tộc Mông và các dân tộc huyện Si Mai Cai, những gian hàng bán thổ cẩm, họ cũng bị cuốn hút bởi sự náo nhiệt của những hàng thắng cố đông đúc, nhộn nhịp…
Chiều xuống, khi hoàng hôn phủ lên sườn non màu tím của núi rừng, vẳng đâu đây tiếng mõ trâu về bản, ấy là lúc các chàng trai vắt mình trên lưng ngựa để nàng "rước về dinh" Đó là hình ảnh thường thấy sau mỗi buổi chợ phiên và có lẽ chỉ vùng cao nơi đây mới có
3 Canh tác nông nghiệp người Thu Lao Si Mai Cai
Trang 9Người Thu Lao có hai hình thức canh tác là làm nương rẫy để trồng cây ngô, cây lúa nương, và các cây hoa màu khác và trồng lúa nước Ở nhiều vùng, người Thu Lao phát núi làm thành những bậc thang nhằm giữ nước bên trong để trồng lúa nước Mảnh đất được chọn để làm ruộng nước hay ruộng bậc thang thường là những mảnh nằm dưới chân đồi, giữa hai sườn đồi Vùng đất này phải
có độ dốc không cao lắm, đặc biệt phải có nguồn nước tự nhiên do suối và mạch nước mang lại, ngươi Thu Lao làm từ dưới chân đồi lên trên ngọn đồi Bà con dùng cuốc đánh tơi đất và làm mặt phẳng Người ta lấy từ kinh nghiệm sẵn có và truyền thống cuả dân tộc Đánh mặt bằng chuẩn là độ dốc đổ về một phía Căn
cứ vào đó lấy điểm chuẩn để làm thửa khác Làm đến vụ cấy cày, bừa cũng phải đảm bảo lượng nước phẳng trên một mặt ruộng”
Chăn nuôi, thu y
Mỗi gia đình người Thu Lao điều chăn nuôi trâu, bò,ngựa, lợn, gà, chó,…
để phục vụ cho sản xuất nông ngiệp sức kéo, dung ngựa để thồ các đồ vật nặng , người dân chăm sóc con vật nuôi của họ rất chu đáo
4 Trang phục phụ nữ Thu Lao
Bộ y phục của phụ nữ Thu Lao thường may bằng chất liệu vải chàm tự dệt, không cầu kỳ, không nhiều đồ trang sức, màu chủ đạo trên bộ y phục là màu đen Áo phụ nữ may kiểu 5 thân, cúc cài bên phía nách phải, gấu áo dài, không trang trí hoa văn, cửa tay áo thường đắp thêm khoanh vải sáng màu làm vật trang trí
Váy phụ nữ Thu Lao may kiểu xòe nơm, được ghép từ nhiều mảnh vải hình thang cân, tạo ra chu vi gấu váy dài tới 4 - 5 m (cạp váy chỉ 0,80m) Khi mặc, phần vải thừa được túm thành một túm phía sau Đây là điểm khác biệt đặc trưng so với các dân tộc khác
Khăn đội đầu của phụ nữ được thiết kế từ mảnh vải chàm có chiều dài khoảng 4 m, rộng 20 cm, khi đội khăn được gấp nhỏ thành 4 nếp theo chiều dài rồi quấn quanh thành hình chóp trên đỉnh đầu, hai đầu khăn vắt qua nhau rồi để
Trang 10xõa dài, rủ từ gáy xuống tới thắt lưng Đây là nét đội khăn độc đáo nhất của phụ
nữ Thu Lao
Trang phục của phụ nữ Thu lao
5 Hương vị ẩm thực vùng cao.
Nếu như Bắc Hà nổi tiếng với đặc sản rượu Bản Phố, thì Si Ma Cai có rượu Mản Thẩn, Sín Chéng cũng được xếp hạng và có thương hiệu riêng Rượu
Si Ma Cai được nấu bởi kỹ thuật truyền thống bao đời của đồng bào Mông, tạo nên sự tinh túy nhất trong hương vị rượu ở đây Đến với Si Ma Cai, ai cũng
Trang 11muốn được thưởng thức các món ăn được chế biến từ thịt gà đen của dân tộc Thu lao, theo cách gọi của dân bản là gà "okê" Loại gà này rất dễ phân biệt bởi lông đen tuyền, toàn bộ da, thịt và xương đều đen, gà thường được nuôi thả tự nhiên trên các triền đồi nên thịt rất thơm ngon Thịt lợn hun khói cũng là món đặc sản của vùng cao Si Ma Cai Loại thịt này có thể dự trữ lâu ngày, được chế biến cùng với món dưa cải cay rất thật thú vị Si Ma Cai còn hút lòng thực khách bởi các món ăn ngon mang đậm bản sắc dân tộc, như xôi ngũ sắc, canh óc đậu…
6 Nhà tường trình bên sườn non.
Đối với người Thu lao, ở Si Ma Cai, nói đến kiến trúc cổ xưa thì nhà ở cũng là một nét văn hóa còn giữ nguyên giá trị, đó là nhà trình tường đất phù hợp với đặc điểm khí hậu và địa hình ở đây Nhà trình tường của người Thu lao
Si Ma Cai được làm rất công phu Theo truyền thống, thì từ tháng 10 -11 âm lịch, sau khi thu hoạch mùa xong, đồng bào Thu lao bắt tay vào làm nhà Nhà trình tường ở Si Ma Cai có kiến trúc độc đáo, cột được làm bằng gỗ, mái lợp ngói, tường làm bằng đất nên mùa hè thì mát, mùa đông thì ấm Khi công việc làm nhà bắt đầu thì cả thôn đến giúp hoặc làm đổi công, đây là thể hiện tinh thần đoàn kết và tính cố kết cộng đồng cao Nhờ quy trình làm rất kỳ công nên nhà trình tường rất bền
7 Lễ hội,tôn giáo tín ngưỡng truyền thống.
Các dân tộc ở Si Ma Cai có nhiều lễ hội thể hiện được bản sắc riêng của dân tộc mình, như Gầu Tào, xuống đồng và cúng rừng Trong đó, cúng rừng là
lễ hội thể hiện ý thức tâm linh và ý thức tôn trọng, bảo vệ thiên nhiên Lễ cúng rừng đầu xuân là một trong những nghi lễ rất quan trọng nên đồng bào chuẩn bị chu đáo, cẩn thận Theo nghi lễ, sau khi cúng xong, trong 3 ngày sau đó người dân không được động thổ, dùng dao, cuốc, xẻng đào đất hay chặt bất cứ thứ cây
gì, nếu vi phạm sẽ bị phạt rất nặng Suy nghĩ này xuất phát quan niệm thần rừng rất thiêng và sẽ phù hộ, che chở cho người có cái tâm trong sáng và biết bảo vệ thiên nhiên Đến Si Ma Cai hôm nay, ngay giữa trung tâm huyện là khu rừng với
Trang 12các loại cây xanh có tên "Rừng Cấm", đây là nơi thường diễn ra các lễ hội cúng rừng đầu năm
Bên cạnh lễ hội xuống đồng của người thu lao tưng bưng vào mùa xuân thì người Mông Si Ma Cai có lễ hội Gầu Tào rất đặc trưng, thường tổ chức sau tết
cổ truyền của dân tộc Trong lễ hội thường có hát đối đáp nam nữ giao duyên, tỏ tình bằng hát ống, dùng khèn lá, đàn môi gọi nhau tâm sự Trong các lễ hội này thường được các chàng trai thể hiện tinh thần thượng võ qua trò chơi võ đá Lễ hội được tổ chức trên bãi sân rộng bằng phẳng tại các thôn, bản thu hút mọi người dân tham gia
Lễ cúng rừng của người Thu Lao Si Mai Cai, Lào Cai
Với người Thu Lao, lễ cúng rừng có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tín ngưỡng tâm linh của cộng đồng Đây cũng là nghi lễ lớn nhất trong năm của người Thu Lao được tổ chức hằng năm vào dịp tháng hai và tháng sáu âm lịch
để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, các gia đình trong làng có cuộc sống ấm no, hạnh phúc
Trước ngày tổ chức lễ cúng, già làng cùng các thầy mo trong làng họp bàn chọn ngày tổ chức, chọn thầy cúng chính và bầu hai gia đình trong làng làm chủ cúng Theo phong tục của người Thu Lao, hằng năm đều cử hai gia đình làm chủ cúng, là người có trách nhiệm bảo vệ khu rừng cấm của làng Chủ cúng được bầu theo hình thức luân phiên giữa các gia đình trong làng Bên cạnh đó, làng sẽ chọn một thầy cúng giỏi, có uy tín trong cộng đồng, gia đình êm ấm, hạnh phúc,
có đủ con trai, con gái và chưa từng vi phạm hương ước của làng
Lễ cúng chính thường được tổ chức vào ngày mùng 02/02 hoặc mùng 02/6
âm lịch Khi mặt trời bắt đầu mọc, thầy cúng chính, thầy cúng phụ cùng với hai gia đình được bầu mang lễ vật, nồi niêu, xoong chảo đến địa điểm tổ chức lễ cúng của làng Còn các gia đình sẽ đến muộn hơn Ngày lễ cúng rừng, mỗi gia đình cử một người đi đại diện, nhưng phải là con trai, còn con gái tuyệt đối không được tham gia Trước khi đến địa điểm tổ chức, thầy cúng cùng mọi người phải kiêng cho thân thể được sạch sẽ, phải mặc đúng trang phục truyền