1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HỆ SỐ BETA CỦA DANH MỤC ĐẦU TƯ VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH

25 14,4K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ số beta của danh mục đầu tư và phương pháp tính
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 171,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo định nghĩa trong từ điển tài chính Collins thì : hệ số bêta là một đạilượng đo lường sự phản ứng của lợi suất kỳ vọng của một chứng khoán tàichính riêng biệt, có liên quan tới những

Trang 1

HỆ SỐ BETA CỦA DANH MỤC ĐẦU TƯ VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH

I HỆ SỐ BETA CỦA DANH MỤC ĐẦU TƯ

Khi nhà đầu tư thiết lập một danh mục đa dạng hoá đầu tư, rủi ro phi hệthống là loại đầu tư không được thị trường trả giá Nói cách khác, thị trường chỉchấp nhận mang lại thu nhập cao hơn cho tài sản có mức rủi ro thị trường lớnhơn chứ không phải mức tổng rủi ro lớn hơn Do đó, vấn đề đặt ra là để xácđịnh mức thu nhập mong đợi của đầu tư vào một tài sản người ta cần phải đolường “ mức rủi ro thị trường” của tài sản đó ( mức mà thị trường trả giá chonó) Hệ số bêta là hệ số đo lường mức rủi ro thị trường này của từng tài sảncũng như của từng danh mục

Các chuyên gia tài chính cho rằng các tài sản khác nhau mang theo mìnhnhững rủi ro không đa dạng hoá được khác nhau phụ thuộc vào sự biến độngcủa chúng so với sự biến động của toàn thể thị trường Hệ số bêta là hệ số đolường sự biến động trong lợi suất của lợi suất toàn thể thị trường trong từng thờikỳ

Theo định nghĩa trong từ điển tài chính Collins thì : hệ số bêta là một đạilượng đo lường sự phản ứng của lợi suất kỳ vọng của một chứng khoán tàichính riêng biệt, có liên quan tới những biến động trong lợi suất kỳ vọng trungbình của các chứng khoán còn lại trong thị trường Hệ số bêta được coi như mộtthước đo rủi ro thị trường của một cổ phiếu Hệ số bêta liên kết lợi suất của cổphiếu với lợi suất của cổ phiếu với lợi suất trung bình của thị trường Rủi ro thịtrường bình quân của tất cả các cổ phiếu trên thị trường bằng 1, đó là, việc tăng10% trong lợi nhuận thị trường được phản ánh như 10% tăng thêm trong lợinhuận một chứng khoán A Nếu lợi suất của một chứng khoán B, là 20%, nhưngchỉ có 10% tăng thêm trong lợi suất thị trường, thì chứng khoán này có β =2 chỉ

ra một rủi ro lớn hơn của thị trường Nếu một chứng khoán C có β =0.5, điều đónói lên chứng khoán này ít rủi ro hơn thị trường chung”

Trang 2

Hệ số beta cũng được xem như là một yếu tố “ đòn bẩy” đối với lợi nhuậncủa tài sản tài chính Khi phần bù rủi ro thị trường (Rm-Rf) thay đổi 1% thì lợinhuận kỳ vọng của tài sản tài chính thay đổi β %.

Trên thị trường đầu tư, hệ số bêta được tính toán và sử dụng rất rộng rãitrong việc tạo ra các quyết định đầu tư và đánh giá hoạt động của các nhà quản

lý đầu tư, trong phân tích cũng như hoạch định chiến lược đầu tư

Do hệ số bêta là hệ số đo lường mức độ rủi ro, khi xác định được hệ số đolường mức độ rủi ro, khi xác định được hệ số bêta của công ty mình, các nhàquản lý đồng thời ước lượng được rủi ro mà công ty mình đang gánh chịu, trên

cơ sở đó họ có thể đưa ra những đối sách hợp lý trong chiến lược phát triển củacông ty

Trên một thị trường tài chính chuyên nghiệp, nơi mà việc đầu tư vào cáctài sản tài chính được thực hiện theo các danh mục và được quản lý bởi các nhàquản lý đầu tư, hệ số bêta sẽ là một trong những cơ sở quan trọng để các nhàquản lý lựa chọn tài sản vào danh mục của mình Hơn thế dựa vào thước đo nàycác nhà quản lý sẽ cho người đầu tư của mình biết mức rủi ro thị trường (rủi ro

hệ thống) mà họ gánh chịu theo mục tiêu họ đặt ra Với hệ số bêta, thước đo vềmức độ thành công trong hoạt động đầu tưu và quản lý được đo lường và thểhiện rõ ràng hơn

Như vậy, chúng ta có thể thấy hệ số bêta có vai trò rất quan trọng trongviệc đánh giá cổ phiếu, tài sản tài chính của các công ty trên thị trường cũngnhư trong các hoạt động đầu tư Một thị trường phát triển cần phải có nhữngdanh mục công bố bêta của các tài sản trên thị trường

Có rất nhiều phưong pháp để ước lượng hệ số rủi ro bêta cho các cổ phiếutrên thị trường chứng khoán Việc sử dụng phương pháp nào tuỳ thuộc vào sựphù hợp của phương pháp đó với thị trường đang xét, tuỳ thuộc vào ý muốn chủquan của người đánh giá, cũng như phụ thuộc vào hiệu quả mà phương pháp đómang lại Các phương pháp thường được sử dụng là:

Trang 3

+ Ước lượng bêta thông qua các phương pháp đơn giản bằng đồ thị + Ước lượng bêta bằng mô hình chỉ số đơn.

+ Ước lượng bêta bằng mô hình CAPM dựa trên số liệu lịch sử

Trong đó ước lượng beta qua mô hình CAPM là phương pháp được sử dụng phổbiến nhất

1 Khái niệm về hệ số beta trong mô hình CAPM

- Hệ số beta của một chứng khoán theo mô hình CAPM :

E(ri) = rf + [E(r m)−r f ]

* i

β

(13)Trong đó:

E(ri) : Là lợi suất kỳ vọng của cổ phiếu i

Rf : Là lợi suất phi rủi ro trên thị trường

E(rm): Là lợi suất kỳ vọng của thị trường

m

m

i r r

Cov

σ

Hệ số bêta của một chứng khoán xác định theo mô hình CAPM là thước đo rủi

ro của chứng khoán, nó xác định số phần trăm thay đổi lợi suất kì vọng của mộtchứng khoán khi có 1 % thay đổi trong lợi suất của danh mục thị trường Haynói cách khác nó là thước đo mức độ biến động của lợi suất chứng khoán so vớidanh mục thị trường

- Danh mục đầu tư là việc một nhà đầu tư thực hiện đầu tư bằng cách lựachọn các vị thế của các tài sản và tập hợp chúng gọi là danh mục đầu tư

- Hệ số bêta của một danh mục đầu tư : Là thước đo mức độ biến động củamột danh mục đầu tư so với danh mục thị trường Nó được xác đinh dựa trên tỉ

Trang 4

trọng của các tài sản trong danh mục cùng với các hệ số bêta tương ứng Hệ sốbêta của danh mục được xác định như sau :

i n

i i

Trong đó : - βP là hệ số beta của danh mục

- βi là hệ số beta của một chứng khoán

- ωi là tỉ trọng của chứng khoán i trong danh mục

2 Danh mục đầu tư và sự phòng hộ rủi ro cua danh mục đầu tư

2.1 Lý thuyết danh mục đầu tư

2.1.1 Khái niệm về danh mục đầu tư

Danh mục đầu tư là một nhóm các tài sản như cổ phiếu, trái phiếu, hoặc

một số tài sản khác như bất động sản, quyền chọn, do một nhà đầu tư hoặc một

tổ chức nắm giữ Trên thị trường chứng khoán thì danh mục đầu tư ở đây nghĩa

là việc nắm giữ các tài sản là các chứng khoán

Hay có thể nói danh mục đầu tư là việc một nhà đầu tư thực hiện việc đầu

tư bằng cách chọn lựa vị thế đối với các tài sản, và tập hợp các vị thế này gọi làmột danh mục đầu tư

Có nhiều cách để thể hiện một danh mục đầu tư nhưng cách thuận lợi nhất

là thể hiện dưới dạng tỉ trọng các tài sản đầu tư trong danh mục Ví dụ có danh

mục P: 1 2 N

(w , w , , w )

với

n i 1

Phân tích và quản lý danh mục đầu tư là dựa vào thái độ đối với rủi ro

của nhà đầu tư, phân tích biến động chứng khoán từ đó điều chỉnh vị thế các tàisản trong danh mục Hai yếu tố quan trọng phải xem xét đó là lợi suất, và độ rủi

ro của danh mục mà nhà đầu tư chấp nhận Bởi vì có thể với cùng một tài sản

nhưng thái độ với tài sản đó của nhà đầu tư không giống nhau, hay cùng với mộtdanh mục nhưng thái độ với rủi ro của từng nhà đầu tư là khác nhau

Trang 5

Quản lý danh mục đầu tư là việc công ty quản lý quỹ thực hiện quản lýtheo sự ủy thác của từng nhà đầu tư trên cơ sở hợp đồng thông qua việc muabán, nắm giữ các chứng khoán, tài sản Công ty quản lý quỹ phải lưu giữ số tiền

ủy thác của nhà đầu tư trong tài khoản tại ngân hàng do hai bên thỏa thuận, bảoquản chứng khoán, tài sản thuộc sở hữu của khách hàng tại một thành viên lưu

ký được cấp phép; được hưởng phí quản lý danh mục đầu tư, các khoản thưởngnếu có theo thỏa thuận

Vấn đề danh mục đầu tư không chỉ đơn giản là sự kết hợp của nhữngchứng khoán riêng lẻ mà còn cả những đặc trưng rủi ro và tỷ suất sinh lợi mongmuốn của danh mục Điều đó chỉ ra rằng, chúng ta phải xem xét mối quan hệgiữa những phương thức đầu tư để thiết lập được một danh mục tối ưu đáp ứngđược những yêu cầu đề ra Điều đó được giải thích trong lý thuyết đa dạng hóadanh mục đầu tư

Nhà đầu tư mong muốn tối đa hóa tỷ suất lợi tức từ việc đầu tư với mộtmức rủi ro cho phép Các tài sản trong danh mục tác động qua lại lẫn nhau vàviệc mục danh mục tốt không chỉ đơn giản là một danh mục gồm toàn các tàisản tốt

Bên cạnh đó, việc thành lập một danh mục tối ưu, chúng ta còn phải quantâm đến thái độ đối với rủi ro của từng nhà đầu tư Từ đó xác định được mức rủi

ro mà nhà đầu tư có thể chấp nhận

Như vậy việc phân tích và quản lý danh mục là việc thiết lập mối quan hệgiữa rủi ro mà mỗi nhà đầu tư có thể chấp nhận và lợi suất kỳ vọng thu đượccủa danh mục

2.1.2 Lý thuyết về thị trường hiệu quả

Nội dung chính của lý thuyết cho rằng thị trường hiệu quả là thị trườngtrong đó giá cả của chứng khoán đã phản ánh đầy đủ, tức thời tất cả các thôngtin hiện có trên thị trường Điều này có nghĩa là giá cả được xác định ở mức

Trang 6

công bằng và phản ánh đầy đủ thông tin hiện có trên thị trường Giá cả chứngkhoán thay đổi một cách ngẫu nhiên do ảnh hưởng của những thông tin khôngthể dự đoán được.

Có 3 hình thái của thị trường có hiệu quả, đó là hình thái yếu, hình tháitrung bình và hình thái mạnh

• EMH cấp thấp - hình thái yếu của thị trường: Trong hình thái này, giá cảcủa chứng khoán đã phản ánh đầy đủ và kịp thời những thông tin trong quá khứ

về giao dịch của thị trường như giá cả giao dịch, khối lượng, động thái, Khihình thái yếu của thị trường tồn tại thì các nhà phân tích kỹ thuật sẽ bị “vô hiệuhoá”

• EMH cấp trung - hình thái trung bình của thị trường: Trong hình thái nàygiá cả của chứng khoán đã phản ánh tất cả các thông tin liên quan đến công ty

đã được công bố công khai bên cạnh các thông tin trong quá khứ Khi hình tháitrung bình tồn tại thì không có hình thức phân tích nào kể cả phân tích cơ bản vàphân tích kỹ thuật có thể đem lại lợi nhuận siêu ngạch cho nhà đầu tư nếu việcphân tích chỉ dựa trên các thông tin trên thị trường

• EMH cấp cao - hình thái mạnh của thị trường: Trong hình thái này giá cảcủa chứng khoán phản ánh tất cả những thông tin cần thiết liên quan đến tổ chứcphát hành thậm chí đó là những thông tin nội gián, thông tin mật Điều này cónghĩa là thị trường sẽ phản ánh hết sức nhanh trước những thông tin Và vì vậy,trong hình thái này không thể thực hiện bất kỳ một hình thức phân tích nào

2.1.3 Lý thuyết về đa dạng hoá rủi ro

Để đạt được mục tiêu tối đa hoá danh mục, nhà đầu tư phải đánh giá haithành phần quan trọng của danh mục đó là rủi ro và tỉ suất lợi nhuận Tất cả cácquyết định điều chỉnh danh mục đều được cân nhắc dưới góc độ rủi ro và tỉ suấtlợi nhuận kỳ vọng của danh mục đó Các nhà đầu tư đều muốn cùng một mức

độ rủi ro của danh mục thì lợi suất kỳ vọng của danh mục là lớn nhất hoặc cùng

Trang 7

với một mức lợi suất nhất định thì mức độ rủi ro là nhỏ nhất Ta biết mối quan

hệ giữa lợi suất và rủi ro: Rủi ro càng lớn thì lợi suất kỳ vọng càng cao Do đótùy vào mục tiêu đầu tư của từng nhà đầu tư mà chọn cho mình một danh mụcchứng khoán với lợi suất thích hợp

Trước hết tìm hiểu rủi ro là gì? Rủi ro được xem như là khả năng xuất hiện

những khoản thiệt hại không lường trước Những chứng khoán nào có khả năngxuất hiện các khoản lỗ lớn được xem như là có rủi ro lớn hơn những chứngkhoán có khả năng xuất hiện khoản lỗ thấp hơn Nói cách khác rủi ro thể hiện sựbiến đổi không chắc chắn của các tỷ suất lợi nhuận liên quan đến một chứngkhoán hay một tài sản nào đó Rủi ro danh mục được thể hiện bằng độ biếnđộng của danh mục đó, thể hiện sự biến động trong tương lai kết quả thu đượccủa việc đầu tư

Lợi suất của một tài sản hay của một danh mục thể hiện phần trăm thay

đổi giá trị của tài sản (danh mục) tại thời điểm xem xét với giá trị của tài sản(danh mục) ban đầu Lợi suất của tài sản (danh mục) thể hiện đầy đủ các thôngtin và đặc điểm của tài sản (danh mục) và lợi suất của tài sản thì không phụthuộc vào quy mô của việc đầu tư

Một danh mục đầu tư là sự kết hợp các vị thế của các tài sản tài chính vớinhau Điều đó thể hiện một nguyên tắc trong đầu tư tài chính là “ không bỏ tất

cả trứng vào cùng một giỏ” Sự đa dạng hoá đầu tư sẽ giảm thiểu rủi ro danhmục bằng cách kết hợp đầu tư nhiều loại chứng khoán mà các chứng khoán này

có giá hoặc lợi suất biến động không cùng chiều với nhau

Như vậy rủi ro có thể loại trừ được bằng cách đa dạng hoá danh mục đầu

2.2 Rủi ro của danh mục đầu tư

- Mỗi tài sản tài chính đều tiềm ẩn hai loại rủi ro: rủi ro hệ thống và rủi rophi hệ thống

Trang 8

- Rủi ro hệ thống là loại rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết cáctài sản trên thị trường Vì thế người ta gọi nó là rủi ro thị trường Một số nguyênnhân có thể dẫn đến rủi ro hệ thống như là thay đổi trong lãi suất, thay đổi trongsức mua, thay đổi trong kỳ vọng của nhà đầu tư về triển vọng của nền kinh tế

- Rủi ro phi hệ thống là loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản hoặcmột nhóm nhỏ các tài sản, nghĩa là loại rủi ro này chỉ liên quan đến từng doanhnghiệp cụ thể Một số nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro phi hệ thống này nhưnăng lực và quyết định quản trị, đình công, nguồn cung ứng nguyên vật liệu,những tác động về cạnh tranh của nước ngoài, mức độ sử dụng đòn bẩy tàichính và đòn bẩy kinh doanh

Tổng rủi ro = Rủi ro hệ thống + Rủi ro phi hệ thống

Tổng rủi ro của danh mục P:

: rủi ro hệ thống hay rủi ro thị trường

Sự kết hợp giữa những tài sản rủi ro này sẽ tạo nên rủi ro cho danh mục.Rủi ro phi hệ thống có thể loại trừ được bằng cách đa dạng hoá, còn rủi ro thịtrường thì không thể loại bỏ được Điều đó thể hiện qua đồ thị sau:

Trang 9

Rủi ro hệ thống

N

Thực tế chứng minh khi tăng số lượng chứng khoán trong một danh mụcthì rủi ro của danh mục giảm xuống, nhưng việc giảm này chỉ đạt đến một điểmnhất định chứ không thể giảm mãi được Như vậy danh mục khi tăng số tài sảnlên thì nó đã giảm thiểu rủi ro phi hệ thống, còn rủi ro hệ thống là rủi ro do thịtrường tác động không thể giảm thiểu được

2.3 Phòng hộ rủi ro của danh mục đầu tư bằng các công cụ phái sinh

Công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công

cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tánrủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận

2.3.1 Một số kiến thức cơ bản về các công cụ phái sinh

2.3.1.1 Quyền lựa chọn (Option)

- Khái niệm: Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nóđược mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khốilượng nhất định hàng hoá với một mức giá xác định, và trong một thời gian nhấtđịnh.Các hàng hoá cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ

số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai

- Những yếu tố cấu thành một quyền lựa chọn

+ Tên của hàng hoá cơ sở và khối lượng được mua theo quyền

+ Loại quyền (chọn mua hay chọn bán)

Trang 10

+ Thời hạn của quyền.

+ Mức giá thực hiện theo quyền

- Những mức giá liên quan tới một quyền lựa chọn là:

+ Giá thị trường hiện hành của loại hàng hoá cơ sở

+ Giá hàng hoá cơ sở thực hiện theo quyền

+ Giá quyền lựa chọn

Đối với quyền chọn mua, nếu giá thực hiện thấp hơn giá hiện hành củachứng khoán cơ sở, thì quyền đó được gọi là đang được tiền (in the money), tức

là người có quyền có thể có lợi từ việc thực hiện quyền đó Nếu giá thực hiệnbằng với giá thị trường, quyền đang ở trạng thái hoà vốn (at the money), và nếucao hơn, gọi là đang mất tiền (out of money)

Đối với quyền chọn bán thì ngược lại, người thực hiện quyền sẽ có lợi nếu giábán thực hiện quyền cao hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở và sẽ bị mất tiềnnếu giá thực hiện quyền thấp hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở mà họ muốncung cấp

Giá trị mà người nắm giữ quyền lựa chọn sẽ nhận được bằng cách thực hiệnquyền được gọi là giá trị nội tại (intrinsic value) Nếu quyền ở trạng thái bị mấttiền, giá trị nội tại bằng 0 Giá thị trường của một quyền thường ít nhất là bằnggiá trị nội tại

Giá bán quyền được gọi là phần phụ trội, chênh lệch giữa giá bán quyền vớigiá trị nội tại (trong trường hợp quyền đang được tiền) được gọi là phần phụ trộigiá trị theo thời gian Nói cách khác, khi đó:

Giá trị theo thời gian của quyền chọn mua = Giá quyền - (giá thị trường - giáthực hiện)

2.3.1.2 Quyền mua trước (right)

Quyền mua trước là một quyền lựa chọn mua có thời hạn rất ngắn, có khichỉ vài tuần Quyền này được phát hành khi các công ty tăng vốn bằng cáchphát hành thêm các cổ phiếu thường Quyền cho phép một cổ đông mua cổphiếu mới phát hành với mức giá đã ấn định trong một khoảng thời gian xác

Trang 11

Loại quyền này thường được phát hành theo từng đợt, mỗi cổ phiếu đanglưu hành được kèm theo một quyền Số quyền cần để mua một cổ phiếu mớiđược quy định tuỳ theo từng đợt phát hành mới.Giá cổ phiếu ghi trên quyềnthường là thấp hơn giá hiện hành của cổ phiếu

Giá của quyền tính bằng chênh lệch giữa giá thị trường hiện hành của cổphần đang lưu hành và giá mua cổ phần mới theo quyền, chia cho số lượngquyền cần có để mua một cổ phần mới

Ví dụ: cổ phiếu bán theo quyền (giá thực hiện) là 800.000 đồng/cổ phần, nhưng

có giá thị trường là 1.000.000 đồng, nếu cứ 10 quyền được mua một cổ phầnmới thì giá của quyền được xác định theo công thức:

Vr = Po - Pn/r

Trong đó: Vr là giá trị của một quyền, Po là giá thị trường của cổ phiếuđang lưu hành, Pn là giá thực hiện cổ phiếu mới và r là số quyền cần có để muamột cổ phiếu mới

Vậy, giá quyền ở đây là Vr = (1.000.000 – 800.000)/10 = 20.000 đồng.Nếu không muốn thực hiện quyền, cổ đông thường có thể bán quyền trên thịtrường trong thời gian quyền chưa hết hạn Giá quyền có thể lên xuống trongkhoảng thời gian chào bán, tuỳ thuộc biến động giá thị trường của cổ phiếu

2.3.1.3 Chứng quyền (warrants)

Chứng quyền là quyền cho phép mua một số cổ phần xác định của một cổphiếu, với một giá xác định, trong một thời hạn nhất định Quyền này được pháthành khi tiến hành tổ chức lại các công ty, hoặc khi công ty muốn khuyến khíchcác nhà đầu tư tiềm năng mua những trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi nhưng cónhững điều kiện kém thuận lợi Để chấp nhận những điều kiện đó, nhà đầu tư cóđược một lựa chọn đối với sự lên giá có thể xảy ra của cổ phiếu thường

Đặc điểm:

Khác với quyền mua trước, chứng quyền có thời hạn dài hơn, do công ty đãphát hành công cụ cơ sở phát hành đồng thời với công cụ cơ sở Khác với quyền

Trang 12

lựa chọn (option), khi chứng quyền được thực hiện, nó tạo thành luồng tiền vàocho công ty và làm tăng thêm lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường Chứngquyền có thể được giao dịch tách rời với trái phiếu hay cổ phiếu mà nó đi kèm Các điều kiện của chứng quyền được ghi rõ trên tờ chứng chỉ: số cổ phiếuđược mua theo mỗi chứng quyền (thườnglà 1:1); giá thực hiện cho mỗi cổphiếu; tại thời điểm chứng quyền được phát hành, giá này bao giờ cũng cao hơngiá thị trường của cổ phiếu cơ sở, và giá đó có thể cố định, có thể được tăng lênđịnh kỳ; và thời hạn của quyền, đa số trường hợp là 5 đến 10 năm.

2.3.1.4 Hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó một người mua và một ngườibán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng nhất định, tạimột thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngàyhôm nay

Hàng hoá ở đây có thể là bất kỳ thứ hàng hoá nào; từ nông sản, các đồngtiền, cho tới các chứng khoán.Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham giavào việc ký kết, giá cả do hai bên tự thoả thuận với nhau, dựa theo những ướctính chủ yếu mang tính cá nhân

Giá hàng hoá đó trên thị trường giao ngay vào thời điểm giao nhận hànghoá có thể thay đổi, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đã ký kết tronghợp đồng ban đầu Khi đó, một trong hai bên mua và bán sẽ bị thiệt hại do đãcam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thịtrường

Như vậy bằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giớihạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình Vìchỉ có hai bên tham gia vào hợp đồng, cho nên mỗi bên đều phụ thuộc duy nhấtvào bên kia trong việc thực hiện hợp đồng

Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tănglên khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng Ngoài ra, vì mức giá đặt ra

Ngày đăng: 07/11/2013, 05:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w