1. Trang chủ
  2. » Shoujo Ai

Su dung BDTD trong day hoc Ngu van

22 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 7,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình .Việc HS vẽ BĐTD có ưu điểm[r]

Trang 1

SÁNG KIẾN :

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

A ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lí luận:

Ngữ văn là môn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển

tư duy của con người Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo

dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh

Nếu đã từng thực sự biết khám phá, hiểu sâu và lĩnh hội hết những giá trị tư tưởngcũng như nghệ thuật của những tác phẩm văn học, chắc hẳn ai cũng có thể nhậnthấy những chức năng đặc thù của văn học trong việc bồi đắp tâm hồn, hình thànhnhân cách học sinh.Văn học trang bị những cảm xúc nhân văn, giúp con ngườihướng tới Chân - Thiện - Mỹ Nhờ có Văn học mà đời sống tinh thần của conngười ngày càng giàu có, phong phú, tinh tế hơn Tâm hồn trở nên bớt chai sạn,thờ ơ, bàng quan trước những số phận, cảnh đời diễn ra xung quanh mình hàngngày, trước thiên nhiên và tạo vật Điều này càng quan trọng khi chúng ta đangsống trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại Văn học bồi đắp cho họcsinh lòng yêu nước, thái độ trân trọng truyền thống, và ngôn ngữ mẹ đẻ Thời nàocũng vậy, tác phẩm Văn học chân chính có khả năng kì diệu là thanh lọc tâm hồncon người, làm người “gần người hơn” Môn Ngữ văn còn có vai trò quan trọngtrong việc rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, cách thức tạo lập cácloại văn bản phục vụ cho quá trình giao tiếp trên mọi lĩnh vực của mỗi người trongcuộc sống

2 Cơ sở thực tiễn:

Mặc dầu có vị trí, chức năng quan trọng đặc biệt như vậy nhưng hiện nay đangxuất hiện tình trạng nhiều học sinh không thích học môn Ngữ văn Tỉ lệ học sinhthi vào các trường khối C càng ngày càng ít Một số học sinh chọn thi khối C

Trang 2

không phải vì thích hoặc có khả năng học các môn khoa học xã hội mà chỉ vìkhông đủ khả năng để thi vào khối nào khác Nhiều bậc phụ huynh cũng thanphiền về việc con em mình không thích đọc sách văn học bằng các loại truyệntranh chỉ mang ý nghĩa giải trí đơn thuần Qua các kỳ thi, các bài kiểm tra mônNgữ văn, có thể nhận thấy có nhiều học sinh học theo kiểu đối phó, học vẹt, lạmdụng tài liệu tham khảo, không chú trọng kỹ năng diễn đạt, dùng câu, từ

Qua công tác giảng dạy cũng như chấm trả các bài kiểm tra Ngữ văn, tôi nhận thấy

có rất nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học văn của học sinh , cụ thể là:

- Học sinh thờ ơ với Văn: Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến công

tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với việchọc văn ở các trường phổ thông Điều đáng buồn nhất cho các giáo viên dạy văn lànhiều học sinh có năng khiếu văn cũng không muốn tham gia đội tuyển văn Các

em còn phải dành thời gian học các môn khác Phần lớn phụ huynh khi đã địnhhướng cho con mình sẽ thi khối A thì chỉ chủ yếu chú trọng ba môn: Toán, Lý,Hóa Điều đáng lo ngại hơn nữa, là có không ít phụ huynh đã chọn hướng cho conthi khối A từ khi học tiểu học

- Khả năng trình bày: Khi HS tạo lập một văn bản giáo viên có thể dễ dàng nhận

ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính tảsai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic Đặc biệt có những bài văndiễn đạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng củng

Một bộ phận không nhỏ học sinh không thích học Ngữ văn và yếu kém về nănglực cảm thụ văn chương không chỉ gây bi quan đối với dư luận xã hội mà còn tácđộng tiêu cực đến người dạy Nhiều thầy cô giáo dạy văn đã xuất hiện tâm lí chánnản, buông xuôi, không có động lực để trau dồi chuyên môn, tạo sức ỳ lớn trong

tư duy đổi mới, cải tiến phương pháp giảng dạy

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 3

Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo con người toàn diện, nhưng thực tế hiệnnay cho thấy, các bộ môn khoa học xã hội thường bị học sinh xem nhẹ, mặc dùkiến thức của các bộ môn này vô cùng quan trọng cho tất cả mọi người Muốnkhôi phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn khoa học xã hội, không thểchỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mới phương pháp dạyhọc văn để khôi phục động lực học tập, khơi dậy niếm say mê, tình yêu văn họccủa học sinh bằng những giờ dạy thực sự hấp dẫn, lôi cuốn từ đó hình thành chocác em phương pháp học văn hiệu quả nhất.

Năm học 2013 - 2014 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi mới phươngpháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường phổthông Một trong những phương pháp dạy học mới và hiện đại nhất được đưa vào

là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy (BĐTD) - một phương pháp dạy

học mới đang được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng Qua việc tìm hiểu vàvận dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy, tôi nhận thấy phương phápdạy học này rất có hiệu quả trong công tác giảng dạy và học tập của học sinh.Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý ngại học văn, khơi gợi trong học sinh tình yêuđối với môn học, đồng thời đem đến cho các em cái nhìn mới, tư duy mới về mônhọc Ngữ văn Vậy thế nào là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy? Cần sửdụng bản đồ tư duy như thế nào để nâng cao chất lượng trong các giờ học văn? Đó

là những vấn đề tôi muốn cùng được chia sẻ với các đồng nghiệp trong sáng kiến :

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

4 Đối tượng , phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng : Sử dụng BĐTD trong hoạt động dạy và học

- Phạm vi : Môn Ngữ văn Trường THCS Thụy Dương

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

1 Vai trò của bản đồ tư duy (BĐTD)

Trang 4

- Bản đồ tư duy còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy là hình thức ghi chép

sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng BĐTD là mộtcông cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với

sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạtđộng và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộnão

BĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả hơn: Việc rèn luyện

phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạyhọc mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chămchỉ nhưng vẫn học kém, các em thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đãquên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vậndụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn số học sinh khiđọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin,lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sử dụng thành thạo BĐTD trongdạy học sẽ giúp học sinh có được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động,sáng tạo và phát triển tư duy

BĐTD - giúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quả nghiên cứucho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chínhmình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Việc HS vẽ BĐTD có ưuđiểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học sinh, các em được tự do chọn màusắc ( xanh, đỏ, tím, vàng…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong ), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức củatừng học sinh và BĐTD do các em tự thiết kế nên các em sẽ yêu quý, trân trọng “tác phẩm” của mình.Vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một cáchtích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não

2 Phương tiện để thiết kế bản đồ tư duy

Phương tiện để thiết kế BĐTD khá đơn giản, chỉ cần giấy, bìa, bảng phụ, phấnmàu, bút chì màu, tẩy,…hoặc dùng phần mềm inMindmap, vì vậy có thể vận dụngvới bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay Điều quantrọng là GV hướng cho HS có thói quen lập BĐTD trước hoặc sau khi học một bài

Trang 5

hay một chủ đề, một chương, để giúp các em có cách sắp xếp kiến thức một cáchkhoa học, lôgic

3 Các bước thiết lập bản đồ tư duy.

Bước 1 : Xác định từ khóa

Bước 2 : Vẽ chủ đề ở trung tâm.

- Sử dụng một tờ giấy trắng (không kẻ ô) đặt nằm ngang và vẽ chủ đề ở chính giữa

tờ giấy Giấy trắng không kẻ ô sẽ giúp cho người vẽ sáng tạo hơn, không bị những

ô vuông cản trở suy nghĩ Vẽ trên giấy nằm ngang sẽ giúp có được không gianrộng lớn hơn để triển khai các ý

- Vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy, từ đó mới phát triển ra các ý khác ở xung quanhnó

- Có thể tự do sử dụng tất cả các màu sắc , chủ đề trung tâm có thể là chữ hoặc làhình, nếu kết hợp cả 2 thì càng tốt

- Chủ đề trung tâm cần gây sự chú ý để chúng ta dễ nhìn nhận vấn đề, do đó nên

vẽ chủ đề to , rõ ràng

Bước 3 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ (nhánh cấp 1)

- Tiêu đề phụ nên được viết bằng CHỮ IN HOA nằm trên các nhánh dày để làmnổi bật

Tiêu đề phụ nên gắn liền với trung tâm

- Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc chứ không nằm ngang, như vậynhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng hơn

Trang 6

sẵn có một cách dễ dàng Hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệmkhông gian và thời gian bất cứ lúc nào có thể.

- Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm và có cùng 1 màu

Bước 5 : Thêm các hình ảnh minh họa

Ở bước này, nên để trí tưởng tượng của mình bay bổng hơn bằng cách thêm nhiềuhình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như lưu chúng vào trínhớ mình tốt hơn vì não bộ của con người có khả năng tiếp thu hình ảnh cao hơnchữ viết Đừng ngại mình vẽ xấu, cứ vẽ theo những gì bạn nghĩ, những gì bạn liêntưởng, đôi khi càng hài hước càng giúp bạn nhớ chúng được lâu hơn

4 Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Ngữ Văn

4 1.* Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra kiến thức cũ

Vì thời gian kiểm tra bài cũ lúc đầu giờ không nhiều chỉ khoảng 5 - 7 phút nên yêucầu của giáo viên thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phân tích, so sánh…để trả lời câu hỏi Giáo viên thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một phần nội dung bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi Giáo viên sẽ chấm điểm tuỳ vào mức độ thuộc bài của học sinh Cách làm này vô tình để nhiều học sinh rơi vào tình trạng học vẹt, đọc thuộc lòng mà không hiểu Do đó, cần phải

có sự thay đổi trong việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh, yêu cầu đặt ra không chỉ kiểm tra “phần nhớ” mà cần chú trọng đến “phần hiểu” Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính xác học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập Sử dụng BĐTD vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với bài học cũ Các bản đồ được giáo viên đưa ra ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khoá trung tâm

Việc hoàn thiện thông tin ở các nhánh còn thiếu là một yêu cầu đơn giản, khôngmất thời gian nhưng nếu học sinh không học bài thì sẽ không điền được thông tinhoặc điền không chính xác

Ví dụ minh hoạ:

Trước khi học bài “Đề văn biểu cảm và cách làm bài văn biểu cảm”( Ngữ văn 7 Tập 1), giáo viên sẽ kiểm tra bài : Đặc điểm của văn biểu cảm Giáo viên đưa dữ

Trang 7

-liệu là từ trung tâm (Văn biểu cảm ) và vẽ các nhánh phụ để trống thông tin ( 5

nhánh tương ứng với 5 đặc điểm) và yêu cầu học sinh lên bảng hoàn thành bài tậpbằng BĐTD

Sau khi học sinh hoàn thành bài tập , giáo viên cho các học sinh khác nhận xét ,chỉnh sửa và bổ sung để hoàn thiện kiến thức về Đặc điểm của văn biểu cảm Nhưvậy , không chỉ học sinh được gọi lên bảng phải nhớ kiến thức mà tất cả các họcsinh khác đều cùng tham gia vào quá trình này , nhờ đó giáo viên dễ dàng kiểm trađược ý thức học bài của nhiều học sinh thay vì một , hai em như cách kiểm tracũ

Trang 8

Bản đồ tư duy bài : Đặc điểm của văn biểu cảm ( Ngữ văn 7 ).

4.2.* Sử dụng BĐTD trong việc giảng bài mới

Sử dụng BĐTD là một gợi ý cho cách trình bày mới Giáo viên thay vì gạch đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng thì sử dụng BĐTD để thể hiện được 1 phần hoặctoàn bộ nội dung bài học một cách rất trực quan Toàn bộ nội dung cần truyền đạt đến học sinh được thâu tóm trên bản đồ mà không bị sót ý Học sinh thay vì cắm cúi ghi chép thì chọn lọc các thông tin quan trọng, sơ đồ hoá chúng bằng các mối quan hệ và thể hiện lại theo cách hiểu của mình Với cách học này cả giáo viên và học sinh đều phải tham gia vào quá trình dạy học tích cực hơn Giáo viên vừa giảng bài vừa thể hiện trên BĐTD hoặc vừa tổ chức cho học sinh khai thác kiến thức vừa hoàn thành BĐTD Học sinh được nghe giảng, trả lời câu hỏi, đọc sách giáo khoa, ghi chép…sự tập trung chú ý được phát huy, cường độ học tập theo đó cũng được đẩy nhanh, học sinh học tập tích cực hơn

- Ví dụ minh họa

- Khi hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản “ Thông tin về ngày Trái Đất năm

2000”( Ngữ văn 8 tập 1 ) , để tìm hiểu về tác hại của bao bì ni lông, giáo viên đưa

từ khoá “ Tác hại của bao bì nilông" rồi cho học sinh theo dõi kênh chữ sách giáo

khoa kết hợp với hình ảnh minh hoạ , đặt các câu hỏi gợi mở để học sinh hoànthành nội dung bằng SĐTD

Trang 9

- VD2 : Văn bản " Đức tính giản dị của Bác Hồ "

Khi cho học sinh tìm hiểu Luận điểm 1 : Giản dị trong lối sống hàng ngày, giáo

viên cho học sinh theo dõi kênh chữ sách giáo khoa ( từ Con người Bác …… ngày

nay”) và hoàn thành sơ đồ tư duy

Tương tự như vậy , giáo viên có thể vận dụng phương pháp dạy học này cho nhiềubài học khác nhau đảm bảo cung cấp đủ kiến thức cho học sinh, kích thích hứngthú học tập của các em, thậm chí có thể giúp học sinh nhớ kiến thức bài mới ngaytrên lớp

§øc tÝnh gi¶n dÞ cña B¸c Hå

*Luận điểm triển khai1 : Giản dị trong lối sống hàng ngày.

Trang 10

4.3.* Sử dụng BĐTD trong việc củng cố kiến thức

Sử dụng BĐTD để củng cố kiến thức bài học là vệc làm rất có hiệu quả Giáo viên

sử dụng BĐTD để thể hiện lại những nội dung cơ bản của bài học, tránh bị bỏ sót

ý, khắc sâu những kiến thức trọng tâm Học sinh sử dụng BĐTD để thể hiện lại sự hiểu biết của mình qua việc tiếp thu nội dung bài học, đồng thời là một kênh thôngtin phản hồi mà qua đó giáo viên có thể đánh giá nhận thức của học sinh, định hướng cho từng học sinh và điều chỉnh cách dạy, cách truyền đạt của mình cho phù hợp

Phù hợp với mục đích củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học thì dạng bài tập thích hợp là điền thông tin còn thiếu vào BĐTD Các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học

Ví dụ minh hoạ:

Khi học bài “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du ( Môn Ngữ văn lớp 9), cuối giờ

GV cho từ khoá “ Truyện Kiều ” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câuhỏi gợi ý cho các em, sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bàytrước lớp để các học sinh khác bổ sung ý Giáo viên kết luận qua đó giúp các em

tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồngthời kích thích hứng thú học tập của học sinh

Minh họa BĐTD bài : Cô bé bán diêm ( Ngữ văn 8 )

Trang 11

Một số ví dụ minh họa khác:

Trang 12

Sơ đồ tư duy củng cố bài học văn bản : Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000

( Ngữ văn 8 )

Trang 13

Sơ đồ tư duy củng cố bài học văn bản : Tiếng gà trưa - Ngữ văn 7

Sơ đồ tư duy củng cố bài học văn bản : Hồi hương ngẫu thư - Ngữ văn 7

Trang 14

4.4.* Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà

Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài liệu nên bài tập về nhà mà giáo viên giao cho học sinh (hoặc nhóm học sinh) trước hết phảigắn với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép (trình độ học sinh, thời gian,kinh tế…) Yêu cầu đối với bài về nhà cũng cần khó hơn, phức tạp hơn và cần sự đầu tư lớn hơn (cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin…), qua đó còn thể hiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của học sinh Bài tập về nhà nên thiên về tính mở nên giáo viên cần định hướng cho học sinh cách tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu, đặc biệt là từ mạng Internet bằng cách cung cấp cho học sinh một số trang web thông dụng và chuẩn xác

4.5.* Sử dụng BĐTD để tổng hợp kiến thức 1 chương hoặc nhiều bài học

Dùng BĐTD có thể thể hiện một lượng thông tin nhỏ đến lớn và rất lớn Tương tự,giáo viên và học sinh có thể thể hiện 1 phần nội dung bài học, 1 bài học hoặc nhiều bài học, 1 chương kiến thức Vấn đề là các nội dung này có điểm chung với nhau, có mối quan hệ với nhau thông qua từ khóa Tùy theo mục đích sử dụng mà

có thể thiết kế BĐTD trong giờ học thông thường, trong giờ kiểm tra, ôn tập, tổng kết hay hệ thống một nội dung, một phần kiến thức Với bài tập này, giáo viên có thể cùng học sinh làm ngay tại lớp hoặc là bài tập giao về nhà cho học sinh, nhóm học sinh

vẽ xong BĐTD sẽ cho một học sinh khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung … Có thểcho học sinh vẽ thêm các đường, nhánh khác và ghi thêm các chú thích… rồi thảoluận chung trước lớp để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ BĐTD cho các em

Ngày đăng: 04/03/2021, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w