Có thể ví ngôn ngữ trong tác phẩm văn học như cái ổ khóa bên ngoài cánh cửa, nếu không mở được nó thì người nghiên cứu văn học không thể bước vào lâu đài của thế giới nghệ thuật, không t
Trang 1Trường đại học sư phạm Hà Nội
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn:
- BGH, khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội
- BGH, các Phòng, khoa Sư phạm trường Đại học An Giang
- Quí đồng nghiệp, những người thân của tôi
đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Nghĩa Trọng, người đã tận tình chỉ dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tác giả
Nguyễn Văn Khương
Trang 3Số lần dùng
Tỉ lệ (%)
máu 28 14,3 Cô hồn 7 3,5 huyết 7 3,5 Cô hồn tử sĩ 1 0,5
tuỷ 6 3,0 ma 8 4,1 não, óc 4 2,1 quỉ ma 1 0,5
thịt 8 4,1 yêu tinh 3 1,5 xương 24 12,3 chết 4 2,1 hài cốt 1 0,5 thương vong 1 0,5
sọ, sọ dừa 16 8,2 thương vong uổng tử 1 0,5
đầu, đầu lâu 8 4,1 đám ma 1 0,5
thi thể 3 1,5 hòm 2 1,0
xác, hồn 1 0,5 hòm săng 1 0,5
khí 6 3,0 quách gỗ 1 0,5 hồn 30 15,3 huyệt 2 1,0 phách hồn 2 1,0 mộ 7 3,5
linh hồn 7 3,5 mồ 14 7,1
Ghi chú: - Tổng cộng có 195 lần sử dụng
- Trung bình có 5,4/bài
Trang 4PHô lôc 2
B¶ng thèng kª líp tõ ng÷ chØ mµu s¾c ë tËp th¬
"¸nh s¸ng vµ phï sa" "hoa ngµy th−êng, chim b¸o b·o"
Sè lÇn dïng Mµu
"¸nh s¸ng vµ phï sa" "Hoa ngµy th−êng,
chim b¸o b·o
1 - Tæng céng cã 222 lÇn sö dông Trung b×nh cã trªn 1,8 lÇn/bµi
2 - Ngoµi ra cßn líp mµu s¾c do chuyÓn nghÜa vµ líp mµu s¾c biÓu
c¶m chóng t«i kh«ng thèng kª ë ®©y
Trang 5B¶ng thèng kª c¸c kiÓu so s¸nh nghÖ thuËt
TËp th¬ A nh− B A lµ B A/B Tæng
§iªu tµn 16 7 3 26
¸nh s¸ng vµ phï sa 90 10 19 119 Hoa ngµy th−êng, chim b¸o b·o 23 7 10 185
Sè liÖu tæng hîp 69,7% 12,97% 17,3% 100%
Ghi chó: A/B bao gåm c¸c kiÓu so s¸nh cßn l¹i
Trang 6Trang
A phần mở đầu 1
I Lý do chọn đề tài 1
II Đối tượng - phạm vi nghiên cứu 2
III Phương pháp nghiên cứu 2
1 Phương pháp thống kê 2
2 Phương pháp so sánh 3
3 Phương pháp phân tích tác phẩm 3
IV Lịch sử vấn đề 3
VI Kết cấu đề tài 6
B Phần nội dung 7
Chương I: Ngôn từ và ngôn từ nghệ thuật trong thơ. 7 I Một số thuật ngữ, khái niệm liên quan ngôn ngữ thơ cần phân biệt
7 I.1 Ngôn ngữ - ngôn ngữ văn học 7
I.1.1 Ngôn ngữ 7
I.1.2 Ngôn ngữ văn học 8
I.2 Lời nói - ngôn từ 8
I.2.1 Lời nói 8
I.2.2 Ngôn từ 9
II Lời văn nghệ thuật-các phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật
10 II.1 Lời văn trong tác phẩm là một hiện tượng nghệ thuật 10 II.2 Các phương tiện, phương thức tổ chức của lời văn nghệ thuật 12
II.2.1 Các phương tiện của lời văn nghệ thuật 12
II.2.2 Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuậ 14
III Ngôn từ nghệ thuật trong thơ trữ tình 15
III.1 Khái niệm thơ và thơ trữ tình 15
III.2 Ngôn ngữ thơ trữ tình giàu tính hình tượng 20
III.3 Ngôn ngữ thơ trữ tình mang tính cá thể hoá 26
III.4 Ngôn ngữ thơ trữ tình giàu nhạc tính 29
Chương II: Chế Lan Viên - nhà lý luận ngôn ngữ thơ bằng thơ 34 I Ngôn ngữ nghệ thuật là kết quả của học tập, rèn luyện 35 II Quan niệm sáng tạo ngôn ngữ thơ 44
III Quan niệm về xây dựng hình tượng 53
Chương III: Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước 1975 59 I Các lớp từ vựng - ngữ nghĩa tiêu biểu 61
Trang 7I.2 Từ ngữ chỉ màu sắc 67
I.2.1 Lớp từ ngữ chỉ màu sắc u tối trong "Điêu tàn" 67
I.2.2 Hệ thống từ ngữ đầy sắc biếc, hồng trong "ánh sáng
và phù sa", "Hoa ngày thường chim báo bão"
II.2.1 Nghệ thuật xây dựng hình tượng con người qua đối lập 94
II.2.2 Hình tượng đất nước, dân tộc qua đối lập - tương phản 100
III Giọng điệu 106
III.1 Giọng điệu buồn thương, bi quan trong "Điêu tàn" 107
III.2 Giọng điệu trữ tình - lãng mạn trong "ánh sáng và phù
sa", "Hoa ngày thường, chim báo bão"
110
C Phần kết luận 114
Phụ lục Tài liệu tham khảo
Trang 8A - PHẦN MỞ ĐẦU
I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.Văn học là nghệ thuật ngôn tư - một loại hình nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ làm chất liệu tổ chức tác phẩm Tuy thuộc bình diện hình thức nhưng ngôn ngữ không phải là hình thức đơn thuần mà là hình thức mang tính nội dung Bởi lẽ, ngôn ngữ là một ký hiệu-một hệ thống ký hiệu, cái biểu đạt (hình thức tổ chức) và cái được biểu đạt (nội dung khách quan) của ngôn ngữ gắn bó mật thiết như hai mặt của một tờ giấy (Saussure)
Nghiên cứu bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào cũng không thể thoát
ly khỏi chất liệu mà nó sử dụng để tổ chức tác phẩm Nếu như nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc phải dựa trên đường nét, hình khối; hội họa phải dựa trên màu sắc thì nghiên cứu tác phẩm văn học không thể không bắt đầu từ ngôn ngữ
Theo lý thuyết ký hiệu học, giữa hai mặt của ngôn ngữ có tính võ đoán (Saussure) - tức có tính không lý do Trong tác phẩm văn học, tính không lý do
có tính chất tương đối dẫn đến cái biểu đạt và cái được biểu đạt có chất lượng khác trước Điều nầy thể hiện rõ nhất ở trong thơ, nhiều khi cái biểu đạt và cái được biểu đạt của ngôn ngữ tự nhiên lại trở thành cái biểu đạt cho một cái được biểu đạt khác Sở dĩ có hiện tượng đó là do ngôn ngữ được nhà văn sáng tạo theo
ý đồ cảm xúc đầy tính chủ quan Nó không còn là thứ ngôn ngữ yên tĩnh mà là ngôn ngữ nghệ thuật Phân tích tác phẩm văn học không thể không suy ngẫm ngôn ngữ của bản thân tác phẩm ấy
Có thể ví ngôn ngữ trong tác phẩm văn học như cái ổ khóa bên ngoài cánh cửa, nếu không mở được nó thì người nghiên cứu văn học không thể bước vào lâu đài của thế giới nghệ thuật, không thể chiếm lĩnh thấu đáo ý nghĩa cũng như cái đẹp của tác phẩm văn học
2 Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn của thế kỉ XX Ơ giai đoạn nào, ông cũng luôn là đại biểu tiên phong của tiến trình thơ ca hiện đại nước nhà Ông đã
để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ Với 12 tập thơ (547 bài) xuất bản lúc nhà thơ còn sống và 3 tập thơ ( 571 bài) xuất bản lúc nhà thơ đã qua đời, Chế Lan Viên xứng đáng là nhà thơ số một ở Việt Nam có năng lực sáng tạo phi thường
Mặt khác, cái làm nên sự phi thường ở Chế Lan Viên là tài hoa và trí tuệ Thơ ông là một minh chứng cho sức nghĩ, sức cảm của một tâm hồn thơ không ngừng tỏa sáng, một phong cách ngôn ngữ đặc biệt Chế Lan Viên đã góp phần làm nên sự đa dạng cho bộ mặt văn học nước nhà Trong những đóng góp của ông, nổi bật nhất là ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 9Thơ Chế Lan Viên là đối tượng tập trung chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình (khoảng hơn 200 công trình nghiên cứu lớn vừa và nhỏ về thơ Chế Lan Viên) Các công trình này tuy có đề cập đến ngôn ngữ thơ của ông nhưng chưa nhiều, chưa có hệ thống
Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước 1975, qua phát hiện, phân tích, lí giải những hiện tượng ngôn ngữ, chúng tôi một mặt, muốn tìm hiểu đặc trưng phong cách ngôn từ nghệ thuật của thơ ông; mặt khác, muốn góp phần xác định tầm quan trọng hàng đầu của việc khai thác các giá trị của ngôn từ khi giảng dạy tác phẩm văn học và góp phần bổ sung một số vấn đề lí thuyết về vấn đề này.
II - ĐỐI TƯỢNG - PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Từ việc tìm hiểu ngôn từ – lời nói nói chung, ngôn từ nghệ thuật trong thơ nói riêng, luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước năm 1975
2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thơ Chế Lan Viên trước năm 1975 Đây
là giai đoạn tiêu biểu cho thơ Chế Lan Viên về nhiều mặt Nhưng do khối lượng thơ Chế Lan Viên giai đoạn này quá lớn, bị giới hạn bởi thời gian nghiên cứu, với yêu cầu của một luận văn cao học, chúng tôi xin phép chủ yếu đi sâu khảo sát 3 tập thơ: “Điêu tàn”, “Anh sáng và phù sa”, “Hoa ngày thường chim báo bão” với tổng số 154 bài thơ Đây là những tập thơ tiêu biểu của Chế Lan Viên trước 1975
Ở đó, đánh dấu sự vận động, biến đổi, định hình một phong cách ngôn ngữ mạnh
mẽ, độc đáo và đặc sắc của hồn thơ Chế Lan Viên Với những tập thơ khác, những thể loại khác trước và sau 1975 cũng được coi là tư liệu tham khảo quí cho
đề tài trong việc so sánh, lý giải phong cách ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên.
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong đề tài, chúng tôi sử dụng 3 phương pháp cơ bản
1 Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê dựa trên những khảo sát cụ thể giúp cho người nghiên cứu tổng hợp được những số liệu minh chứng cho các nhận định, đánh giá Với số lượng lớn,154 bài thơ, phương pháp thống kê giúp người nghiên cứu thu thập số liệu có hệ thống, tạo điỊu kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu
2 Phương pháp so sánh
Đánh giá, khẳng định một vấn đề bất kì, người nghiên cứu bao giờ cũng phải đặt vấn đề ấy trong mối quan hệ với những vấn đề khác và chỉ trong quan
hệ so sánh đối chiếu,vị trí, giá trị của vấn đề mới được khẳng định Từ đấy, chỉ
so sánh, đối chiếu mới làm rõ được phong cách ngôn ngữ đặc sắc của Chế Lan Viên
Chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu trên hai bình diện:
Trang 10- Lịch đại: một mặt so sánh đối chiếu ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên với ngôn ngữ thơ ca trong di sản văn học dân tộc để thấy được sự kế thừa, sáng tạo ở Chế Lan Viên so với truyền thống Mặt khác, so sánh đối chiếu ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên ở các giai đoạn trong suốt tiến trình thơ ông để thấy sự vận động, phát triển, đối mới của một phong cách ngôn ngữ
- Đồng đại: so sánh đối chiếu vơí phong cách ngôn ngữ của một số nhà thơ cùng thời để thấy cái đặc sắc cũng như sự đóng góp của Chế Lan Viên về mặt ngôn ngữ nghệ thuật cho tiến trình thơ ca hiện đại nước nhà
3 Phương pháp phân tích tác phẩm
Đây là phương pháp cơ bản nhất làm cơ sở cho việc nhận định, đánh giá bất kì lĩnh vực nào của văn học trong khi nghiên cứu Do mục đích của đề tài nên mức độ phân tích toàn diện tác phẩm sâu cạn khác nhau Tuy vậy, người nghiên cứu luôn trung thành với nguyên tắc: tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất vµ ngôn từ tổ chức, biểu hiện mọi phương diện của tác phẩm
IV LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
1 Ngôn từ đã được chú ý từ rất sớm, từ thời cổ đại Hy Lạp Nghệ thuật
làm cho người thưởng thức “tưởng như đó là chuyện thật trong cuộc sống điều
đó nói lên sức hấp dẫn của ngôn từ , của nghệ thuật tu từ ” (Goóc-gi-a, Triết
học Hy Lạp cổ đại)
Ở Phương Đông, các nhµ lý luận văn học cổ điển Trung Quốc như Lưu Hiệp, Bạch Cư Dị, Lý Ngư, Viên Mai đều có những ý kiến xoay quanh ngôn ngữ trong thơ như tầm quan trọng của ngôn ngữ trong vai trò chất liệu của văn học, đặc trưng của ngôn ngữ thơ, yêu cầu sáng tạo ngôn từ nghệ thuật đối với văn nghệ sĩ
Ơ Việt Nam, quan niệm về cái đẹp của ngôn ngữ trong thơ cũng đã được lưu ý từ xưa, Hoàng Đức Lương, Ngô Thời Nhậm, Lê Hữu Kiều, Phan Hữu Ích
đã nêu ra chuẩn mực: “Thơ mà quá cầu kỳ thì sa vào giả dối, quá trau chuốt thì
sa vào xảo trá [2, 74], làm thơ nếu “đặt câu không sắc sảo sẽ mắc vào bệnh thô
lỗ, kém cỏi; dùng chữ không có âm hưởng sẽ mắc vào bệnh tầm thường, tục tằn”[2, 55]
Những năm đầu của thế kỷ XX, Chủ nghĩa hình thức Nga mà đại biểu là
R.Jacobson, với nhiều công trình tập trung nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca “Ngôn
ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc mang lại cho người đọc những cảm xúc nhân sinh mới lạ, nó phải mang một tính chất biểu cảm mãnh liệt, khác xa với ngôn ngữ thường ngày chỉ mang tính chất ký hiệu cho sự vật.”[24, 213]
Ở Việt Nam, sau những năm 60 của thế kỷ XX, với sự xuất hiện của ký hiệu học, ngữ dụng học, lý thuyết giao tiếp, thi pháp học thì ngôn ngữ trong văn học mới được hiểu một cách sâu sắc, toàn diện hơn, bên ngoài một hình thức đơn thuần
Trang 11Nếu như quan niệm cũ xem ngôn ngữ chẳng qua chỉ là cái vỏ bên ngoài, một hình thức đơn thuần thì lý luận hiện đại khẳng định ngôn ngữ là hình thức
tồn tại của tác phẩm “Hình thức cũng là vũ khí Sắc đẹp c©u th¬ cũng phải đấu
tranh cho chân lý“ (Chế Lan Viên) Ngôn ngữ trong văn học là ngôn ngữ chủ
quan gắn liền với quan niệm nghệ thuật của nhà văn Đó là kết tinh trình độ ý thức của con người, phản ánh của tồn tại con người Cũng như ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ của văn học thể hiện cái nhìn, một quan niệm về thế giới của nhà văn
Lý luận văn học hiện đại nghiên cứu ngôn ngữ trong tính hệ thống, toàn diện Đó là tiền đề phát hiện quan niệm nghệ thuật ngôn ngữ của nhà văn, là cơ
sở lý giải tính nội dung của ngôn từ nghệ thuật
Chĩng t«i vận dụng những thành tựu của c¸c t¸c gi¶ vỊ nghiên cứu ngôn ngữ th¬, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu gần đây của Nguyễn Lai [18], Nguyễn Phan Cảnh [8], Lê Anh Hiền [14], Hữu Đạt [10], Phan Ngọc [27], §inh Trọng L¹c [19], [20], Nguyễn Thế Lịch [22], Trần Đình Sư [30], [31] §ng thi chúng tôi ứng dụng cơ sở lý thuyết về ngôn từ nghệ thuật của lý luận văn học làm tư liệu quí cho việc tham khảo, định hướng trong quá trình nghiên cứu ngôn ngữ thơ của Chế Lan Viên
2.Theo thống kê của chúng tôi, tính từ khi Chế Lan Viên xuất bản "Điêu
tàn" cho đến nay đã có hơn 200 công trình nghiên cứu, bài viết về thơ ông [5], [6]
Chỉ tính riêng thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước năm 1975, có trên dưới 40 ông trình, bài viết nghiên cứu Trong số đó, có những công trình tập trung vào một tập thơ, hoặc thiên về tổng kết một giai đoạn thơ, một đời thơ Đáng chú ý nhất
là những công trình nghiên cứu mang tính tổng kết (trên 20 công trình) của Vũ Tuấn Anh [5,80], Hoài Anh [5,140], Đoàn Trọng Huy [5,173], Nguyễn Văn Hạnh [5,239], Huỳnh Văn Hoa [5,132], Nguyễn Bá Thành [34], NguyƠn Xu©n Nam [5, 358] Về những tập thơ Chế Lan Viên xuất bản trước năm 1975, các
nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến "Điêu tàn", "Anh sáng và phù sa" Đặc biệt
là tập thơ đầu tay của Chế Lan Viên có trên 10 công trình nghiên cứu, giới thiệu của Nguyễn Minh Vỹ [5,271], Hoài Thanh [5,55], Hà Minh Đức [5,281], Lê
Thiều Quang [5,253] Về tập thơ "Anh sáng và phù sa", đáng chú ý là các công
trình của Xuân Diệu [5,303], Lê Đình Kỵ [5,313], Hà Minh Đức [5,312] Trong tất cả các bài viết, công trình nghiên cứu thơ Chế Lan Viên trước năm
1975, tuy chưa có tác giả nào trực tiếp nghiên cứu ngôn ngữ thơ một cách tập trung, có hệ thống nhưng ít nhiều, các bài viết đều có đề cập đến đặc điểm ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên Một cách khái quát, các nhận định của các tác giả về
ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên cơ bản gặp nhau ở chỗ: câu thơ Chế Lan Viên “có
cái trùng điệp của một đội quân ngôn ngữ, tạo nên một nét độc đáo trong phong cách của anh”,anh là “người đầu tiên thử nghiệm có kết quả phần nào việc đưa
Trang 12cỏi dỏng dấp văn xuụi vào thơ”, “Anh mở rộng cửa cõu thơ cho ngụn ngữ của đời sống, cho cỏc từ lịch sử, triết học, chớnh trị, kinh tế, quõn sự hiện đại, cả những từ thụng tục ớt ai đưa vào thơ nữa, ựa vào” [5, 93] Huỳnh Văn Hoa thy:
“nhà thơ đó sử dụng tất cả nguồn dự trữ giàu cú của ngụn ngữ dõn tộc”[5,132]
Trần Đỡnh Sử phỏt hiện: “Chế Lan Viờn núi nhiều đến sự đổi thay, biến húa kỳ
diệu của cuộc đời với những “húa”, những “thành”, những “mơ” là những tứ thơ rất Chế Lan Viờn Ngưới ta luụn bắt gặp những từ cảm thỏn kiểu “ễ hay”,
“Tụi sững sờ”, “Tụi ngỡ”, “tụi bỗng nhớ”, “trời bỗng thu” chỳng núi lờn cặp mắt giàu phỏt hiện của thi sĩ”[5,150] Cũng như Vũ Tuấn Anh và Nguyễn Quốc
Khỏnh, Nguyễn Lộc “đó bắt gặp những cõu cú tớnh chất chõm ngụn, tớnh chất
triết lý” trong thơ Chế Lan Viờn Hoài Thanh [5,55] cựng với Nguyễn Văn Hạnh
[5,70], Vũ Tuấn Anh [5,20], Hồ Thế Hà [5,170] cú nhận định thống nhất: kết cấu tương phản, đối lập được sử dụng nhiều Thống nhất với Hoài Anh trong nhận
xột thơ Chế Lan Viờn cú nhiều “ẩn dụ độc đỏo và sỏng tạo,” Lờ Lưu Oanh, Đinh Thị Nguyệt cũn phỏt hiện ở thơ Chế Lan Viờn “cú một thế giới đa sắc
được miờu tả bằng những từ ngữ chỉ màu sắc, khỏc lạ, màu của ấn tượng, những động từ rất mạnh, sắc.”[5,201]
Trong số cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu, chỳng tụi thống kờ được thỡ Đoàn Trọng Huy [16] là tỏc giả đề cập đến ngụn ngữ thơ Chế Lan Viờn ở diện sõu và
rộng hơn cả Đoàn Trọng Huy nhận xột: “Ngụn ngữ thơ Chế Lan Viờn nổi bật cú
ba nột đặc sắc: mật độ tu từ đậm đặc; chất duy lớ sắc sảo; tớnh thời sự thời đại”
Cảm nhận đầu tiờn của chỳng tụi về một trong những yu t qui tụ sự hấp
dẫn thơ Chế Lan Viờn đối với người thưởng thức chớnh là s “lạ húa” của một
phong cỏch ngụn ngữ Nhỡn toàn cục, chỳng tụi thấy những nhận định, đỏnh giỏ
về phong cỏch thơ của Chế Lan Viờn trong cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu là thống nhất với nhau Bờn cạnh cỏi được, cỏi chưa được trong sử dụng ngụn ngữ của Chế Lan Viờn cũng được đỏnh giỏ đỳng mực ý kin của Vũ Tuấn Anh là xác
đáng: “ Chế Lan Viờn là một nghệ sĩ ngụn từ cú kĩ thuật tài hoa” nhưng “ cú
một số cõu thơ quỏ dài, cỏch diễn đạt cầu kỡ, rắc rối làm người đọc khú hiểu”[5,39] Chỳng tụi kế thừa những ý kiến này vào việc tỡm hiểu đặc trưng
phong cỏch ngụn từ nghệ thuật của Chế Lan Viờn trước năm 1975
Trờn cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiờn cứu về thơ Chế Lan Viờn, đặc biệt là những ý kiến nhận định về ngụn ngữ thơ, chỳng tụi hy vọng sẽ tiếp cận, tỡm hiểu ngụn ngữ thơ Chế Lan Viờn một cỏch cụ thể cú hệ thống
Trang 13V KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài gồm 3 phần
A.Phần mở đầu
B.Phần nội dung
Chương I: Ngôn từ và ngôn từ nghệ thuật trong thơ
Chương II: Chế Lan Viên-Nhà lý luận ngôn ngữ thơ bằng thơ
Chương III: Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên giai đọan trước năm 1975
C.Phần kết luận
Trang 14B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I NGÔN TỪ VÀ NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ
I MỘT SỐ THUẬT NGỮ, KHÁI NIỆM LIÊN QUAN NGÔN NGỮ THƠ CẦN PHÂN BIỆT
Thuật ngữ “ngôn ngữ” của ngành ngôn ngữ học và ngôn ngữ tác phẩm văn học hay ngôn ngữ thơ mà người ta thường hay gọi một cách khái quát có liên quan với nhau nhưng hoàn toàn không phải là một Chính chỗ liên quan ấy
mà người nghiên cứu văn học cần thiết phải có sự hiểu biết tối thiểu về ngôn ngữ nói chung để không được ngộ nhận khi cho rằng chỉ hiểu biết ngôn ngữ là có thể chiếm lĩnh được ngôn từ, bởi vì ngôn từ trong tác phẩm văn học là ngôn từ nghệ thuật
I.1 Ngôn ngữ - ngôn ngữ văn học
I.1.1 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu (ký hiệu) đặc biệt Đó không phải là những tổ hợp âm thanh đơn thuần mà là mảnh đất ngầm chứa đựng kín đáo bao nhiêu thói quen về tâm lý xã hội văn hóa văn minh, đặc điểm dân tộc lịch sử Mối quan hệ giữa hai bình diện âm thanh và ý nghĩa của ngôn ngữ nằm trong tính chất võ đoán - tức tính không lí do Dù vậy, hai bình diện đó lại gắn bó hữu
cơ với nhau như “hai mặt của một tờ giấy”(Saussure) Như vậy thì không có thứ ngôn ngữ vô nghĩa; và nếu thay đổi hệ thống cấu trúc bề mặt sẽ kéo theo sự thay đổi ngữ nghĩa của nó Về phương diện chức năng, ngôn ngữ là một phương tiện
cơ bản và quan trọng nhất của tư duy và giao tiếp
Ngoµi chức năng giao tiếp, ngôn ngữ còn là phương tiện lưu trữ, bảo toàn
và cố định kết quả nhận thức tư duy Ngôn ngữ và tư duy tạo thành một thể thống nhất hữu cơ, bởi lẽ cái này không thể tồn tại nếu không có cái kia Nếu vỏ vật chất của ngôn ngữ là cái biểu đạt thì nội dung của ngôn ngữ - tức cái ®-ỵc
biểu đạt - là nhận thức tư duy Mác nói: “Hiện thực trực tiếp của tư tưởng là
ngôn ngữ và là công cụ giao tế quan trọng nhất của con người ”(Dẫn theo[10,
109])
Khả năng của ngôn ngữ vô cùng to lớn, n giĩp cho việc giao tiếp của con người ở tất cả mọi lĩnh vực hoạt động, ở khắp mọi nơi, giữa các thời đại khác nhau N cßn c khả năng biểu hiện tinh vi đời sống tình cảm, tư tưởng con người Với c¸c khả năng ấy, ngôn ngữ là chất liệu, phương tiện tỉ chc li v¨n nghệ thuật
Như vậy, thuật ngữ “ngôn ngữ” cần được hiểu là ngôn ngữ tự nhiên của con người Đó là một hệ thống tín hiệu tồn tại không phải cho từng cá nhân mà cho cả cộng đồng, mang bản sắc, phong cách từng cộng đồng, từng xã hội, đặc
Trang 15biệt là bản sắc từng dõn tộc Mỗi cỏ nhõn sử dụng muốn sỏng tạo ngụn ngữ phải tuõn thủ những qui ước chung của xó hội
Nếu nhà ngụn ngữ quan niệm ngụn ngữ là chất liệu, phương tiện sỏng tỏc văn học thỡ nhà lý luận văn học cho rằng ngụn ngữ dạng tự nhiờn chỉ là chất liệu của lời núi, tồn tại ngoài tỏc phẩm văn học Thật ra ngụn từ mới là phương tiện
để nhà văn(nhà thơ) sử dụng tổ chức tỏc phẩm;
I.1.2 Ngôn ngữ văn học
Trong ngoõn ngửừ hoùc, thuaọt ngửừ “ngoõn ngửừ vaờn hoùc” ủửụùc goùi laứ “ngoõn
ngửừ chuaồn”, “ ngoõn ngửừ tieõu chuaồn” “Ngoõn ngửừ vaờn hoùc ủửụùc xem laứ moọt trong nhửừng hỡnh thửực toàn taùi chuỷ yeỏu cuỷa ngoõn ngửừ”[4,172] Ngôn ngữ văn học cũng
là ngôn ngữ tồn tại trong văn học
Theo caực nhaứ lyự luaọn vaờn hoùc thỡ “ngoõn ngửừ vaờn hoùc laứ ngoõn ngửừ toaứn
daõn, thoỏng nhaỏt vaứ chuaồn hoựa, hỡnh thaứnh cuứng vụựi sửù hỡnh thaứnh daõn toọc thoỏng nhaỏt treõn cụ sụỷ kinh teỏ, vaờn hoựa”[4,318] Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm
không đồng nhất với ngôn ngữ văn học
I.2 Lời nói - ngôn từ
I.2.1 Lời nói
Nhaứ ngoõn ngửừ hoùc Thuợ Sú, F de Saussure(1857-1913) laứ ngửụứi ủaàu tieõn coự coõng lao ủaởt neàn moựng cho sửù phaõn bieọt ngoõn ngửừ vụựi lụứi noựi
Lụứi noựi laứ moọt daùng thửực toàn taùi cuỷa ngoõn ngửừ, mang tớnh cuù theồ, laứ saỷn phaồm, ủoọc ủaựo cuỷa caự nhaõn, nhaỏt thụứi Lụứi noựi mang ủaọm caự tớnh nhửng ủoự laứ
sửù vaọn duùng caựi chung vaứo caựi rieõng Daõn gian tửứng noựi “chớn ngửụứi mửụứi yự”,
vỡ vaọy maứ sửù theồ hieọn lụứi noựi caự nhaõn heỏt sửực ủa daùng sinh ủoọng
Caờn cửự vaứo phaùm vi, tớnh chaỏt sửỷ duùng, coự lụứi noựi trong giao tieỏp thửụứng
ngaứy vaứ lụứi vaờn Theo caực nhaứ lyự luaọn vaờn hoùc: “Moùi taực phaồm vaờn hoùc ủeàu
ủửụùc vieỏt hoaởc keồ baống lụứi: lụứi thụ, lụứi vaờn, lụứi taực giaỷ, lụứi nhaõn vaọt goọp chung laùi laứ lụứi vaờn” [1,313]
Nhử vaọy, ngoõn ngửừ ụỷ daùng tửù nhieõn laứ chaỏt lieọu cuỷa lụứi noựi thoõng thửụứng, toàn taùi ngoaứi taực phaồm; coứn lụứi vaờn trong taực phaồm vaờn hoùc khoõng coứn laứ hieọn tửụùng ngoõn ngửừ mang chửực naờng giao tieỏp thoõng thửụứng maứ ủaừ chuyeồn
Trang 16sang một hệ thống giao tiếp khác, mang chức năng khác - chức năng làm chất liệu của sáng tác văn học với đầy đủ tính chất thẩm mỹ của nó
Từ đó, có thể nói rằng lời văn trong tác phẩm văn học khác hẳn với lời nói thông thường Nếu như cấu tạo của lời nói thông thường chịu sự chi phối bởi qui luật lôgích thì lời văn trong tác phẩm không chỉ chịu sự chi phối bởi qui luật lôgích mà còn chịu sự chi phối bởi qui luật tình cảm thẩm mỹ
Từ những so sánh trên, chúng tôi thấy rằng vấn đề ngôn ngữ trong tác phẩm văn học và lời văn rõ ràng không đồng nhất với nhau nhưng quan hệ với nhau Các nhà lý luận văn học đã chỉ rõ: nhiệm vụ của người nghiên cứu
“không những phải biết ngôn ngữ của tác phẩm văn học, mà hơn thế, phải chiếm lĩnh lời văn nghệ thuật của no ùnữa”[1,313]
I.2.2 Ng«n tõ
Theo “Tự điển thuật ngữ ngôn ngữ học” thì ngôn từøõ là những “kết hợp
những từ có tổ chức nội tại hoàn chỉnh về đặc điểm từ vựng, ngữ pháp hoặc phong cách Ý nghĩa của từ trong từ điển thường được minh họa nhờ ngôn từ"
[4,173] Theo cách định nghĩa này thì ngôn từ tương đương với một câu xét về cấu trúc ngữ pháp và nó là đơn vị của lời nói
Theo quan niệm của giới nghiên cứu văn học thì thuật ngữ “ngôn từ” là lời nói viết dùng làm chất liệu để sáng tác văn học Đó là lời nói hay còn gọi là lời văn được dùng với tất cả phẩm chất thẩm mỹ và khả năng nghệ thuật của nó §ó là ngôn từ nghệ thuật Hiểu như thế để phân biệt với ngôn từ không phải là chất liệu của sáng tác văn chương
Từ việc tìm hiểu ở trên, chúng tôi thấy rằng giữa ngôn từ nghệ thuật và các khái niệm, thuật ngữ liên quan có sự thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất
Đến đây chúng ta có thể kết luận: chất liệu mà nhà văn dùng làm phương tiện tổ chức tác phẩm là ngôn từ nghệ thuật- cụ thể hơn là lời văn nghệ thuật
Trang 17II Lời văn nghệ thuật-các phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật
II.1 Lời văn trong tác phẩm là một hiện tượng nghệ thuật
Trong soỏ caực daùng lụứi vaờn thỡ lụứi vaờn cuỷa taực phaồm ngheọ thuaọt coự nhửừng ủaởc ủieồm rieõng vaứ vỡ vaọy maứ chieỏm moọt vũ trớ ủaởc bieọt
Lụứi vaờn ngheọ thuaọt ủửụùc toồ chửực theo qui luaọt ngheọ thuaọt veà noọi dung, phửụng phaựp, phong caựch, theồ loaùi Nó khoõng coứn laứ moọt hieọn tửụùng ngoõn ngửừ mang chửực naờng giao tieỏp thoõng thửụứng maứ ủaừ ủửụùc ủửa vaứo moọt heọ thoỏng
giao tieỏp khaực, mang chửực naờng khaực Sửù khaực bieọt coứn theồ hieọn ụỷ choó: “lụứi noựi
thửụứng giaỷi quyeỏt caực nhieọm vuù tửực thụứi, moọt laàn; lụứi vaờn taực phaồm khoõng chổ coự taực duùng ủoự, thaọm chớ, traựi laùi, noự coự tham voùng trụỷ thaứnh lụứi noựi cho nhieàu laàn, vụựi muoõn ủụứi”[1,313] Còn lụứi vaờn ngheọ thuaọt ủửụùc vieỏt ra vụựi duùng yự taùo neõn moọt saỷn phaồm tửụng ủoỏi ủoọc laọp vụựi heọ thoỏng giao tieỏp tửù nhieõn Vỡ vaọy vieọc hieồu lụứi vaờn ngheọ thuaọt chuỷ yeỏu laứ taọp trung vaứo vaờn baỷn, ụỷ ủoự lụứi vaờn coự qui luaọt toồ chửực rieõng cuỷa noự Có thể thấy trong giao tieỏp thoõng thửụứng, ủeồ ủaùt ủửụùc muùc ủớch, song song vụựi lụứi noựi ngửụứi ta coứn keỏt hụùp caực ủoọng taực nhử vaóy tay, laộc ủaàu, trụùn maột ,coứn trong vaờn hoùc taỏt caỷ ủeàu ủửụùc ngoõn ngửừ hoựa qua lụứi vaờn
Ta bieỏt thơ văn là tiếng nói của tâm hồn, mà taõm hoàn con ngửụứi thỡ chi ly phửực taùp neõn lụứi vaờn ngheọ thuaọt phaỷi ủửụùc saựng taùo ủaởc bieọt ủeồ dieón taỷ nhửừng tỡnh caỷm, caỷm xuực ủoự cuỷa con ngửụứi Chớnh Jacobson laứ ngửụứi ủi ủaàu trong vieọc phaựt hieọn ngoõn ngửừ thụ khoõng sửỷ duùng caỏu truực ngửừ phaựp truyeàn thoỏng maứ
sửỷ duùng “lieõn keỏt ủoàng ủaỳng”, cho nên trong thơ có nhiều cấu trúc đối lập tương
xứng Ngửụứi ngheọ sú duứng sửù tửụng xứng ủeồ taùo ra yự nghúa thửự ba maứ yự nghúa aỏy khoõng coự trong tửứng caõu chửừ, thaọm chớ khoõng naồy sinh tửứ trong quan heọ ngửừ ủoaùn maứ yự nghúa aỏy do sieõu ngoõn tửứ mang laùi Ví dụ như:
- Treõn gheỏ ủaự ủaàm ngoi ủớt vũt Dửụựi saõn oõng cửỷ ngoồng ủaàu roàng
(Traàn Teỏ Xửụng)
Aragoõng có yự kieỏn veà vaỏn ủeà naày nhử sau: “…Chổ coự thụ chửứng naứo coự
suy ngaóm veà ngoõn ngửừ vaứ tửứng bửụực coự sửù taựi taùo ngoõn ngửừ naày, noự bao haứm vieọc phaự vụừ nhửừng khung coỏ ủũnh cuỷa ngoõn ngửừ, nhửừng qui taộc vaờn phaùm, nhửừng ủũnh luaọt cuỷa dieón ngoõn”[11,50] Roừ raứng khi ủoùc thụ, ta thaỏy lụứi thụ coự nhieàu
caõu danh ngửừ maứ khoõng theo caỏu truực ngửừ phaựp thoõng thửụứng,chẳng hạn như: "
Khaựng chieỏn mửụứi naờm qua nhử ngoùn lửỷa Mửụứi naờm sau coứn ủuỷ sửực soi ủửụứng"
( Cheỏ Lan Vieõn), "Toỏi rửụùu saõm banh, saựng sửừa boứ" (Tuự Xửụng)…
Trang 18Moọt bieồu hieọn khaực cuỷa hieọn tửụùng thaựo vụừ, caỷi taùo laùi caỏu truực ngửừ phaựp thoõng thửụứng ủoự laứ loỏi vaột doứng
Choàng toõi cuừng bieỏt toõi thửụng nhụự Ngửụứi aỏy cho neõn cuừng hửừng hụứ
(T.T.K.H) Coự theồ nói sửù saựng taùo caỏu truực laứ moọt hieọn tửụùng ngheọ thuaọt cuỷa lụứi vaờn, chổ coự trong ngheọ thuaọt ngoõn tửứ Trong heọ thoỏng ngoõn ngửừ thỡ tửứ ủửụùc coi laứ moọt chổnh theồ coự caỏu truực voõ cuứng chaởt cheừ khoõng deó maứ phaự vụừ Maởc duứ vaọy, ủoự khoõng phaỷi ủieàu baỏt bieỏn trong thụ Traàn ẹỡnh Sửỷ noựi veà hieọn tửụùng
naứy nhử sau: “Noựi tụựi phong caựch hoùc maứ chổ noựi coự lửùa choùn vaứ toồ hụùp maứ
khoõng noựi tụựi sửù phaự vụừ thửụứng qui vaứ taựi caỏu truực thỡ cuừng chửa theồ noựi laứ ủaày ủuỷ.”[30,311]
Trong saựng taực vaờn hoùc, nhaứ vaờn, nhaứ thụ thửụứng khoõng thoaỷ maừn vụựi nhửừng tửứ ngửừ quen thuoọc voỏn coự saỹn mà luoõn tỡm toứi, saựng taùo nghĩa mới cho tửứ ngửừ ủeồ mieõu taỷ, bieồu hieọn moọt caựch mụựi laù, gaõy ủửụùc caỷm xuực thaồm myừ cho ngửụứi ủoùc Ví dụ tửứ “giao thửứa”, phaùm vi sửỷ duùng cuỷa noự raỏt haùn heùp, chổ ủửụùc
duứng ủeồ bieồu thũ sửù chuyeồn giao giửừa hai moỏc thụứi ủoaùn nhử: “ủeõm giao thửứa”,
“giao thửứa theỏ kyỷ” Vaọy maứ Kinh Kha đã saựng taùo theõm nghúa mụựi heỏt sửực ủoọc
ủaựo qua caõu: “ẹeõm nay laứ buoồi giao thửứa ủoựi no” hay từ "đột kích" trong câu thơ sau của Hồng Nguyên cũng vậy “Coự naộng chieàu ủoọt kớch maỏy haứng cau”
Beõn caùnh saựng taùo nghúa mụựi cho tửứ laứ hieọn tửụùng saựng taùo tửứ mụựi,
chaỳng haùn: “Nhua nhuựa nhửừng caựnh tay ủửa leõn ”(Toõ Hoaứi-Vửứ A Dớnh), “nhửừng
ủửựa treỷ nheõ nha khoực” (Nguyeõn Hoàng-Soựng gaàm) Sửù saựng taùo treõn ngoaứi vieọc goựp phaàn laứm neõn giaự trũ thaồm myừ cho taực phaồm coứn laứ moọt sửù ủoựng goựp quớ baựu laứm neõn sửù ủa daùng, phong phuự cuỷa vaờn hoùc veà maởt ngoõn tửứ
Ngoài ra noựi ủeỏn lụứi vaờn ngheọ thuaọt người ta còn nói tới tính hình tượng của nó (Seừ kết hợp trình bày ở mục III.2)
ẹaởc trửng cuỷa lụứi vaờn laứ tớnh toồ chửực cao Tớnh toồ chửực cao deó thaỏy nhaỏt
ụỷ thụ, lụứi thụ coự vaàn, coự nhũp, coự ủoỏi chaởt cheừ ễỷ vaờn xuoõi, ủeồ baỷo ủaỷm tớnh ngheọ thuaọt, tớnh toồ chửực cao vaón laứ nguyeõn taộc baột buoọc Giụựi nghieõn cửựu vaờn
Trang 19học nhận xét: “Lời văn nghệ thuật nói chung không bao giờ chỉ thông báo giản
đơn các việc xảy ra với nhân vật, mà còn tái hiện cả một phức hợp quan hệ chủ quan và khách quan trong sự kiện đó” [1,316] Chúng ta biết từ bao giờ cũng
gắn liền với khái niệm, đó vốn là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Mác đã từng nói ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy Vậy cái hiện thực trực tiếp ấy chính là hình tượng của hiện thực Khi tham gia vào tổ chức câu, trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mỗi từ không còn mang ý nghĩa độc lập tương đối của nó nữa mà chỉ còn là một nét của cái toàn thể đầy đặn, trọn vẹn hơn.Chế Lan Viên đã chỉ ra mối quan hệ nầy trong những câu thơ rất hay:
Số phận chữ à? Là tan biến vào câu Câu hay ư? Là câu không còn chữ nữa Lửa cháy lên rồi, chỉ còn có lửa
( Thơ bình phương- Đời lập phương) Cũng vậy, lời văn nghệ thuật là một tổng thể chứ không đơn thuần là phép cộng của các câu văn Chính sự tổ chức đặc biệt như thÕ, lời văn nghệ thuật đã tạo ra được một ý lớn ngoài lời Ý lớn ấy chẳng gì khác hơn là tính hình tượng mới được tạo ra từ các đơn vị nhỏ hơn, mà mỗi đơn vị đó đều đóng vai trò khêu gợi một cái gì đó lớn hơn nó, ngoài nó
Có nhà nghiên cứu đã nói: “văn học là siêu ngôn từ”- tức văn học tổ
chức lại ngôn từ nghệ thuật, làm toát lên ý nghĩa mà đôi khi nghĩa đó không tồn tại trên câu chữ Như vậy, lời văn nghệ thuật vừa gần gũi vừa xa lạ với lời văn của các phong cách khác Lời văn trong tác phẩm văn học không bao giờ là một yếu tố hình thức thuần tuý, mà là phương tiện có nội dung
II.2 C¸c ph−¬ng tiƯn, ph−¬ng thøc tỉ chøc cđa lêi v¨n nghƯ thuËt
II.2.1 C¸c ph−¬ng tiƯn cđa lêi v¨n nghƯ thuËt
Lời văn nghệ thuật không những sử dụng mà còn khai thác triệt để mọi khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ ở mọi phương diện của các cấp độ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và các phương thức chuyển nghĩa thuộc lĩnh vực phong cách học
Trang 20Nói đến từ vựng thì ngoài hệ thống từ loại, còn các lớp từ khác như từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ đồng âm, lịch sử, từ cổ, từ thi ca, từ lóng, từ địa phương, thành ngữ, từ vay mượn đều là các phương tiện tạo hình và biểu hiện vô cùng quan trọng của lời văn nghệ thuật
Ngoài ra nhà văn còn sử dụng vốn ngôn từ đã trở thành di sản nghệ thuật dân tộc để tạo thành lời văn nghệ thuât trong tác phẩm của mình, đặc biệt là những hình ảnh vốn đã trở thành ước lệ trong văn học, chẳng hạn như: cánh cò, con thuyền, cây đa, bến nước, Thạch Sanh, Từ Hải Có thể nói rằng
ở mỗi lĩnh vực của đời sống, có hệ thống từ vựng của nó Tô Hoài cho rằng:
”Mỗi chữ đều soi bóng hoàn cảnh và tình hình xã hội lúc chữ ấy ra đời Người
viết văn không thể ngồi bóp óc nghĩ cách trau dồi câu chữ mà phải đi vào thực tế đời sống mới bồi bổ được chữ nghĩa cho ngòi bút" ( Dẫn theo[1,321])
Trong các cấp độ của ngôn ngữ thì cấp độ ngữ âm được xem là phương tiện tổ chức lời văn có ý thức của tác phẩm văn học Nói đến ngữ âm là nói đến âm thanh của ngôn ngữ như vần, các loại vần; thanh điệu, âm vực của thanh điệu Nói tới thơ không thể không nói đến vần, vần la ømột tiêu chí hình thức phân biệt thơ với văn xuôi Cách gieo vần có tác dụng lớn trong việc hình thành các thể thơ Việc lặp lại vần trong thơ có giá trị liên kết lời thơ, câu thơ để tạo nên ý tưởng của tác phẩm Nhà thơ sử dụng vần bao giờ cũng ý thức được đó không chỉ là hình thức mà là một phương tiện nội dung Trong nhiều trường hợp cụ thể, chính vần lại gợi lên những hình ảnh cảm xúc mà bản thân nội dung của từ chưa gợi lên một cách đầy đủ Trong tiếng Việt có loại từ được cấu tạo theo phương thức láy âm thanh, cịng có tác dụng gợi hình, gợi âm thanh, nói chung là có giá trị gợi tả, chẳng hạn như: khập khiễng, xơ xác, ồn ào, lao xao, ngân nga đã được nhà văn sử dụng triệt để trong lời văn của mình
VỊ mỈt ng÷ ph¸p, nhà văn vận dụng tất cả các bình diện của ngữ pháp như một phương tiện để tổ chức lời văn, như cấu tạo của các phần chính, phụ, biệt lập của câu; các kiểu câu đơn, câu ghép, câu tĩnh lược nh−ng bao giê cịng tính đến giá trị thẩm mỹ, cái hiệu quả nghệ thuật đạt được của lời văn
Nói đến phương tiện tổ chức lời văn không thể không đề cập đến các phương thức chuyển nghĩa Có thể hiểu đó là những cách gọi tên thứ hai cho
Trang 21sửù vaọt, hieọn tửụùng, vụựi caựch goùi aỏy laứm cho sửù dieón ủaùt coự tớnh boựng gioự nhửng
yự tửụỷng thỡ saõu saộc, lũch laừm Vaờn hoùc noựi chung vaứ thụ noựi rieõng, coự ủaởc ủieồm laứ ngaùi noựi thaỳng maứ chổ khụi gụùi, “noựi nghieõng”, chửự ớt tửụứng minh nhử lụứi vaờn cuỷa vaờn baỷn khoa hoùc Cuừng vỡ vaọy maứ caực phửụng thửực chuyeồõn nghúa ủửụùc vaọn duùng ụỷ maọt ủoọ cao, ủaởc bieọt laứ thụ Caực phửụng thửực chuyeồn nghúa thửụứng thaỏy trong taực phaồm vaờn hoùc laứ: aồn duù, hoaựn duù, vớ von, nhaõn hoựa, vaọt hoựa, phoựng ủại, noựi giaỷm, nhaừ ngửừ, tửụùng trửng, noựi mổa
Noựi toựm laùi, nhaứ vaờn sửỷ duùng taỏt caỷ caực thaứnh tửùu cuỷa ngoõn ngửừ vaờn hoùc toaứn daõn ủeồ toồ chửực neõn lụứi vaờn ngheọ thuaọt ễÛ goực ủoọ ngoõn ngửừ, coự theồ chổ laứ hỡnh thửực nhửng trong vaờn hoùc taỏt caỷ caực yeỏu toỏ cuỷa lụứi vaờn khoõng coứn laứ hỡnh thửực ủụn thuaàn maứ luoõn mang noọi dung hay ớt ra cuừng laứ daỏu hieọu cuỷa noọi dung
II.2.2 Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật
Nhà văn taọn duùng caực phửụng tieọn, phửụng thửực tu tửứ cuỷa ngoõn ngửừ thuoọc caực caỏp ủoọ, caực bỡnh dieọn để toồ chửực lụứi vaờn ngheọ thuaọt chứ không phải
"bê nguyên xi" Cho nên: “ Chieỏm lúnh phửụng tieọn lụứi vaờn laứ moọt vieọc, maứ hieồu
ủửụùc lụứi vaờn ngheọ thuaọt laứ moọt chuyeọn khaực Ngửụứi ta coự theồ hieồu ủửụùc ngoõn ngửừ taực phaồm maứ vaón khoõng hieồu lụứi vaờn cuỷa noự nhử thửụứng! ” [1,325]
Lụứi vaờn ngheọ thuaọt thửụứng ủửụùc toồ chửực theo hai nguyeõn taộc cụ baỷn: vửứa cuù theồ hoựa, vửứa tổnh lửụùc
Vaờn hoùc phaỷn aựnh cuoọc soỏng, cuoọc soỏng luoõn trong traùng thaựi vaọn ủoọng
Vỡ vaọy, lụứi vaờn trong taực phaồm phaỷi ủaỷm ủửụng chửực naờng taựi hieọn ủụứi soỏng, qua ủoự maứ lyự giaỷi, bỡnh giaự veà noự ẹeồ laứm ủửụùc ủieàu ủoự, lụứi vaờn phaỷi laứm cho ủoỏi tửụùng ngaứy moọt cuù theồ hụn, baột reó vaứo taõm tử ngửụứi ủoùc đoự laứ nguyeõn taộc cuù theồ hoựa coự ủũnh hửụựng ủoỏi tửụùng mieõu taỷ
ẹoc vaờn Toõ Hoaứi, chuựng ta thaỏy oõng laứ ngửụứi raỏt coự yự thửực trong vieọc toồ chửực lụứi vaờn, duứ laứ vieỏt cho thieỏu nhi Mụỷ ủaàu “Chim Chớch Boõng” laứ lụứi giụựi
thieọu khaựi quaựt: “ Chớch Boõng laứ moọt con chim beự xinh ủeùp trong theỏ giụựi loaứi
chim” Caựi xinh ủeùp, caựi nhoỷ beự aỏy ủửụùc cuù theồ daàn vụựi nhửừng hỡnh aỷnh: “hai chaõn xinh xinh baống hai chieỏc taờm” nhửng “ nhanh nheùn, ủửụùc vieọc, nhaỷy cửự lieõn lieỏn”; roài “ Hai chieỏc caựnh nhoỷ xớu, caựnh nhoỷ maứ xoaỷi nhanh vun vuựt”; vaứ
cuoỏi cuứng laứ caựi ủeùp coự ớch, caựi ủeùp ủaựng quớ cuỷa Chớch Boõng ụỷ caởp moỷ:“ Caởp
moỷ Chớch Boõng tớ teùo baống hai maỷnh voỷ traỏu chaộp laùi Caởp moỷ tớ hon aỏy gaộp saõu treõn laự thoaờn thoaột Noự khéo bieỏt moi nhửừng con saõu ủoọc aực naốm bớ maọt
Trang 22trong hốc đất hay trong thân cây vừng mảnh dẻ, ốm yếu” Đó là sự cụ thể hóa
có định hướng, có tác dụng dẫn dắt người đọc từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, từ hiện tượng đến bản chất Chính sự cụ thể hóa ấy làm cho đối tượng
hiện lên cảm tính, vừa xác định chủ đề cũng là vừa khái quát: “Chích Bông là
bạn của trẻ em, Chích Bông còn là bạn của bà con nông dân”
§ặc trưng phản ánh cuộc sống cđa v¨n häc có liên quan đến nguyên tắc tổ chức lời văn Nếu như sự cụ thể hóa đối tượng miêu tả là hướng của tác giả nhằm khắc họa cảm xúc chủ đạo thì sự tỉnh lược, sự cố tình và thường xuyên
im lặng một số phương diện nào đó của đối tượng lµ để lời văn giàu ý vị trừu tượng, khái quát, tức cũng không ngoài định hướng nghệ thuật của tác giả Như vậy vừa cụ thể hóa, vừa tỉnh lược luôn là sự phối hợp hài hòa trong việc tổ chức lời văn, cả hai cùng chung một hướng là dẫn dắt người đọc đến với trung tâm chủ đề của tác phẩm
Theo các nhà nguyên cứu thi pháp thì song song với những nguyên tắc tổ chức nãi trên, lời văn nghệ thuật còn truyền cho người đọc một cái nhìn cá thể hóa, giàu cá tính sáng tạo Đó có thể là điểm nhìn của người trần thuật, hay của nhân vật, thậm chí là sự đan xen của cả hai trong cùng một tác phẩm Sở dĩ có trường hợp như vậy, bởi lẽ, nghệ thuật nói chung là phản ánh cuộc sống bằng cái nhìn chủ quan của mình đối với cuộc sống, và cũng từ cái nhìn đó mà bộc lộ cái nhìn của đời sống
Đọc văn, chúng ta nhận ra ở mỗi thể loại, các phương tiện có thế mạnh riêng, lời văn cũng được xây dựng theo một cách riêng Hiểu lời văn nghệ thuật cần thiết phải hiểu các phương tiện mà nhà văn tận dụng Chỉ hiểu hình thức thì chưa đủ mà quan trọng là phải hiểu nội dung của chúng, lý giải được sự tổ chức của chúng, phù hợp với các nguyên tắc tư tưởng – thẩm mỹ của tác giả Chỉ như vậy mới có thể thâm nhập vào thế giới của nghệ thuật, mới thấy hết được cái hay, cái đẹp của tác phẩm
III ng«n tõ nghƯ thuËt trong th¬ tr÷ t×nh
III 1 Kh¸i niƯm th¬ vµ th¬ tr÷ t×nh
Thơ là một hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài người Chính vì vậy mà có một thời gian rất dài, thuật ngữ “thơ” được dùng chỉ chung cho văn học Thơ có lịch sử lâu đời như thế nhưng để tìm một định nghĩa thể hiện hết
Trang 23đặc trưng bản chất của nó cho việc nghiên cưú thơ ngày nay thì thật không dễ Không phải không có định nghĩa về thơ, trái lại còn rất nhiều Nhiều ý kiến cho rằng: hình như có bao nhiêu nhà thơ, bao nhiêu nhà nghiªn cứu thì có bấy nhiêu cách định nghĩa về thơ Khó khăn trong việc chọn một định nghĩa về thơ được mọi người chấp nhận xuất phát từ chỗ: kể từ khi ra đời đến nay, thơ ca đã không ngừng vận động biến đổi cùng tiến trình văn học ë mỗi giai đoạn lịch sử văn hóa, quan niệm về nội dung, hình thức thơ khác nhau Đó là lý do khó tìm được một định nghĩa tiêu biểu, ổn định cho thơ Tình hình đó không riêng cho một nền văn học nào
Ở Việt Nam, quan niệm về thơ trước kia gần như xuất phát từ nội dung Xem nội dung nói về điều gì, đó là điều quan trọng hàng đầu của thơ Phan Phu Tiên, thế kỷ XV, khi biên soạn “Việt âm thi tập tân san” – là quyển hợp
tuyển thơ ca các đời- từ đời Trần đến đời Lê, đã viết: “ Trong lòng có điều gì,
tất hình thành ở lời; cho nên thơ để nói chí vậy” “ Thơ nói chí” ( Thi ngôn
chiù)[18,10]
Từ đầu thế kỷ XX, đời sống xã hội ở Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, lớp người mới với cách sống mới, suy nghĩ mới, tình cảm mới xuất hiện Chính Tản Đà, rồi các nhà thơ mới với những những cách tân táo bạo đã làm đổi thay bộ mặt thơ ca nước nhà, hoàn tất quá trình hiện đại hóa thơ ca cả nội dung lẫn hình thức Từ đấy đến nay, các ý kiến về thơ cũng mở ra một cái nhìn mới xác hợp với đặc trưng của thơ ca hơn Về cơ bản có thể xếp các quan niệm, định nghĩa về thơ thành một số xu hướng sau:
- Xu hướng mang tính chất huyền bí: thuộc xu hướng này phải kể đến
Hàn Mặc Tử: “Làm thơ tức là điên”, và Chế Lan Viên: “Làm thơ là làm sự phi
thường Thi sĩ không phải là người, nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại Nó xáo trộn dĩ vãng Nó ôm trùm tương lai Người ta không hiểu được nó, vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý” (tựa Điêu tàn, xb.1937), còn nhóm
“Xuân Thu nhã tập” thì định nghĩa: "Thơ là cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm
thúy, cao siêu.”
- Xu hướng dựa trên nội dung phản ánh: thơ gắn với cuộc sống con
người, tiêu biểu như: Lưu Trọng Lư: “ thơ là sự sống tập trung cao độ, là
Trang 24cái lối của cuộc sống”, Tố Hữu: “ Thơ là cái nhụy của cuộc sống”, “Thơ là chuyện đồng điệu”, Sóng Hồng thì: “ Thơ biểu hiện cuộc sống một cách cao đẹp”
- Xu hướng dựa trên cấu trúc ngôn ngữ: tiêu biểu cho xu hướng này phải
kể đến Phan Ngọc Trong “Thơ là gì?”, ông viết: “Thơ là một cách tổ chức
ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này”[27,18]
- Xu hướng dựa vào tính nội dung của hình thức: đây là những quan niệm, định nghĩa tiếp cận thơ của các nhà thi pháp học Theo họ thì mối quan
hệ giữa hình thức và nội dung trong thơ có tính đặc thù: “ Sự thống nhất hình
thức và nội dung phải được hiểu là nội dung hóa thân vào hình thức, biểu đạt nội dung, mang tính nội dung Hình thức là phương thức tồn tại và biểu hiện nội dung Muốn hiểu được nội dung chỉ có một con đường là đi sâu khám phá về hình thức” [32,24]
Chúng ta có thể nhận xét khái quát: xu hướng mang tính chất huyền bí có phần đề cao nghệ sĩ là con người khác thường, siêu phàm Họ nói rằng sự thống nhất giữa nội dung với hình thức thơ chính là sự thống nhất giữa cái hợp lý với cái vô lý mà chỉ có người siêu phàm mới hiểu được Còn xu hướng dựa trên cấu trúc ngôn ngữ có phần dựa trên trực quan cảm tính cái hình thức để nhận diện thơ, tức chỉ chú ý phần xác mà không chú ý phần hồn Trong khi đó
xu hướng dựa vào tính nội dung của hình thức thì các nhà thi pháp cũng quan tâm đến hình thức thơ nhưng đó là cái phần hồn, cái phần hồn được cảm nhận dựa vào “ siêu giác quan” Cuối cùng là xu hướng dựa vào nội dung, chỉ tập trung vào nội dung phản ánh, tuy chính xác nhưng chưa lưu ý đến mặt hình thức, một nhân tố cùng với nội dung làm nên chỉnh thể tác phẩm
Từ đậy, có thể nói những quan niệm, định nghĩa về thơ thể hiện được sự thống nhất giữa nội dung – hình thức tạo nên một chỉnh thể, luôn được đa số
chấp nhận: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuôc sống, thể hiện
những tâm trạng những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [3,210 ]
Chúng tôi nghĩ rằng những định nghĩa về thơ theo xu hướng có sự thống nhất nội dung – hình thức mới thể hiện hết được đặc trưng, bản chất của thơ
Trang 25Những định nghĩa như vậy không phải gần đây mới xuất hiện mà từ xưa đã phổ biÕn ở phương Tây, cả ở phương Đông và tất nhiên là cả ở Việt Nam
Trong tiến trình văn học, thơ phát triển đa dạng phong phú cả về hình thức lẫn nội dung biểu hiện Điều đó buộc người ta phải nhận diện, nhận dạng, phân loại để tiện cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, thưởng thức cũng như giảng dạy
Người ta dựa vào những tiêu chí khác nhau, cơ bản là hình thức biểu hiện và phương thức phản ánh, để chia thơ thành những loại khác nhau Việc phân loại thơ thành thơ tự sự, thơ trữ tình là dựa trên phương thức phản ánh; còn dựa vào đối tượng tạo nên cảm xúc của nhà thơ, người ta lại chia thơ trữ tình thành thơ trữ tình tâm tình, thơ trữ tình phong cảnh, thơ trữ tình thế sự, thơ trữ tình công dân Đối với thơ trữ tình, dù vẫn tồn tại những ý kiến khác nhau, nhưng xu hướng chung có tính thống nhất được đa số chấp nhận là quan
niệm: thơ trữ tình là thơ phản ánh thế giới theo phương thức nghệ thuật trữ tình
Ở đó, những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Nói như vậy có nghĩa
là thơ trữ tình chiếm lĩnh thế giới khách quan theo nguyên tắc chủ quan Nếu thế giới khách quan bao gồm tất cả các sự vật, hiện tượng tự nhiên, lịch sử, xã hội vô cùng phong phu,ù đa dạng, phức tạp, kể cả cuộc sống con người thì thế giới chủ quan chính là đời sống tinh thần bao gồm: cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ, trải nghiệm lại càng đa dạng phức tạp hơn nhiều Có thể nói dấu hiệu để nhận ra thơ trữ tình là ở chỗ phản ánh thế giới khách quan với việc biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan thống nhất hài hòa Điều đó thể hiện ở chỗ: mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người đều là cảm xúc về một cái gì, tâm trạng trước hiện thực nào và suy nghĩ về vấn đề gì Vì vậy, nếu thơ trữ tình là sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người thì các sự kiện đời sống sẽ được thể hiện một cách gián tiếp Vậy thì, các bài thơ kiểu như “Qua đèo Ngang” của Huyện Thanh Quan hay “ Tràng Giang” của Huy Cận thì tác giả miêu tả trực tiếp bức tranh phong cảnh hay tâm trạng? Nhiều ý kiến thống nhất cho rằng bức tranh phong cảnh ở đây chẳng qua là vật đối diện làm cái cớ để tác giả trực tiếp bộc lộ tâm trạng Đã là bức tranh tâm trạng, là nội tâm chứ không phải là tả ngoại giới, bởi lẽ, đọc bài thơ không ai lưu ý đến bức tranh đó có đẹp, có thực hay không mà chủ yếu là tìm hiểu tác giả cảm xúc, suy nghĩ gì
Trang 26qua cảnh ấy “Nhà văn lấy tâm hồn mình để phản ánh thực tế lịch sử Rồi nhà
văn lại nhìn vào tâm hồn mình để viết về cái thực tế lịch sử đã phản chiếu vào trong ấy” (Chế Lan Viên – Phê bình văn học, trang 15) Chế Lan Viên nhận xét rất tinh tế về cơ chế thơ trữ tình – cơ chế chủ quan – trực tiếp Tuy vậy, cũng sẽ sai lầm nếu cho rằng thơ trữ tình chỉ thể hiện cái riêng hoàn toàn đối lập với cái chung Bản chất của nghệ thuật nói chung và thơ trữ tình nói riêng
là phải nói được cái chung qua tiếng nói riêng của một cá nhân cá biệt “Qua
đèo Ngang” đâu phải chỉ là nỗi niềm của một con người mà là hoài niệm của
cả một tầng lớp, “Hổ nhớ rừng” đâu chỉ là lời của một con Hổ mà rộng hơn là
bi kịch của cả một giai cấp Cũng vậy, “Tràng Giang” đâu phải chỉ là tâm trạng riêng của Huy Cận mà là của cả một lớp trẻ trước Cách mạng tháng Tám Bạn đọc yêu quí thơ tình yêu của Xuân Quỳnh không loại trừ vì có bóng dáng mình trong ấy Không ai phủ nhận những biểu hiện thầm kín, chủ quan cũng như sự sáng tạo cá tính độc đáo của nghệ sĩ, nhưng nếu tất cả đều là riêng tư thì tác phẩm của họ sẽ không có sức đồng vọng Nhiều người có lý khi cho rằng khái quát trữ tình thường có tầm vóc phổ quát nhất về tồn tại và nhân sinh Biết bao câu thơ đã đi vào lòng người vì đã khái quát được chân lý
cuộc sống: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở”, “Người đâu gặp gỡ làm chi! Trăm
năm biết có duyên gì hay không?” Chính vì vậy mà thơ trữ tình trở nên có sức
tập hợp quanh mình một số đông, một tầng lớp, thậm chí còn có sức lay động cả nhân loại Trong suốt cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc ta, những vần thơ của Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Thu Bồn, Lê Anh Xuân và rÊt nhiều những nhà thơ khác nữa mà ở đó những suy tư trữ tình đã hòa quyện vào những chân lý phổ biến nhất của tồn tại con người §ó là: sự sống, cái chết, tình yêu, lòng chung thuỷ, ước mơ, lý tưởng, hạnh phúc, tương lai đã lay động lòng người, thức tỉnh thúc giục triệu triệu người “xông lên
phía trước”, vì lý tưởng cuộc sống “ Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không
chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Những vần thơ trữ tình của
Puskin, Maiacốpxki, Víchto Huygô của phương Tây hay Đỗ Phủ, Bạch Cư
Dị, Lý Bạch ở Trung Hoa và Nguyễn Du ở Việt Nam là tiếng lòng đến với lòng, bất chấp không gian, thời gian, ngôn ngữ cách trở Cũng vì lẽ đó, Bêlinxki nhận xét: thơ trữ tình là sự thể hiện trực tiếp thế giới chủ quan của
một con người nhưng đó là “ người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân loại”
Trang 27Tóm lại, biểu hiện trực tiếp những cảm xúc, suy tưởng của con người bằng những hình thức nghệ thuật đặc thù là cách phản ánh thế giới của thơ trữ tình
III.2 Ng«n ng÷ th¬ tr÷ t×nh giµu tÝnh h×nh t−ỵng
Văn học – nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng Tuy vậy, không có hình tượng chung chung mà chỉ có hình tượng gắn liền với một chất liệu cụ thể Mối quan hệ giữa chất liệu và hình tượng không phải là sự kết hợp bề ngoài mà là sự thâm nhập, xuyên thấm vào nhau Chất liệu là điều kiện tồn tại của hình tượng Thơ sử dụng chất liệu ngôn ngữ làm phương tiện xây hình tượng Sẽ không có hình tượng thơ nếu ngôn ngữ thơ không giàu tính hình tượng
Vậy “hình tượng” là gì? Và “tính hình tượng” là gì? Hiện vẫn tồn tại những cách hiểu khác nhau về hai thuật ngữ trªn Một số người cho rằng hai thuật ngữ trên chỉ là một Một số khác lại phân biệt rạch ròi hơn
Theo cách hiểu rộng của các định nghĩa truyền thống thì hình tượng là sự phản ánh một cách khái quát dưới hình thức đơn lẻ Ví dụ như Chí Phèo, Chị Dậu là những nhân vật đại diện cho một lớp người khốn cùng trong xã hội cũ, song cạnh đó, họ là những con người cụ thể có số phận, tính cách riêng trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì hình tượng là cách biểu hiện làm cho lời nói thêm cụ thể và có nhiều màu sắc, tức tính tạo hình gợi nên hình ảnh đơn lẻ
Như đã đề cập, mỗi ngành nghệ thuật có hình tượng riêng gắn liền với chất liệu mà nó sử dụng, nên tìm hiểu hình tượng văn học nói chung và hình tượng thơ nói riêng là hết sức cần thiết trước khi nói đến tính hình tượng của ngôn ngữ thơ, vì xét cho cùng, giữa chúng có mối quan hệ với nhau
Vậy hình tượng văn học là gì?
“ Hình tượng văn học nghệ thuật là một bức tranh sinh động của cuộc sống được xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ có trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cách đánh giá của nhà nghệ sĩ” [10,125] Khái niệm này cũng bao hàm cả thơ, tuy
nhiên thơ có quy luật hoạt động ngôn ngữ khác với văn xuôi, vậy hình tượng thơ là gì?
Trang 28“ Hình tượng thơ là một bức tranh sinh động và tương đối hoàn chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính chất vần, điệu với trí tưởng tượng sáng tạo và cách đánh giá của nhà nghệ sĩ” [10,127 ]
Cßn “Tính hình tượng” chỉ là hình tượng đơn lẻ về một mặt, một phương
diện nào đó của của cuộc sống
- Tính hình tượng của ngôn ngữ thơ trong quan hệ với chất liệu
Khi tìm hiểu tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ, câu hỏi đặt ra đầu tiên là cái gì làm nên hiện tượng đó? Hữu Đạt [10] và Nguyễn Phan Cảnh [8] đều thống nhất về hai phương thức cơ bản của ngôn ngữ thơ, đó là phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện Chính hai phương thức này liên quan đến việc làm nên tính hình tượng của ngôn ngữ Có người cho rằng phương thức tạo hình là mảnh đất của văn xuôi - tự sự, bởi lẽ ở đó, việc vẽ lên bức tranh cụ thể, sinh động của đời sống là hết sức cần thiết; còn thơ là biểu hiện, lời thơ trữ tình là đánh giá bộc trực của con nguời trước hiện tượng đời sống Nói như vậy có nghĩa là trong thơ, tạo hình chỉ là phương tiện còn biểu hiện mới là cứu cánh Thật ra trong thơ phương thức tạo hình và biểu hiện xuyên thấm vào nhau như một quan hệ nguyên nhân – kết quả Đó là cũng là đặc điểm thể hiện của ngôn ngữ thơ trữ tình Một tác phẩm thơ ca có tính chất tạo hình là tác phẩm đem đến cho người đọc những bức tranh sinh động về cuộc sống mà người ta có thể cảm nhận qua ngôn ngữ Để làm nên phương thức tạo hình ở nghệ thuật hội họa, nhà nghệ sĩ phải dùng màu sắc; ở ngành điêu khắc ph¶i dùng đường nét, hình khối còn ở văn học thì phải dùng ngôn ng÷ Như vậy, ngôn ngữ là chất liệu mà nhà thơ sử dụng để làm nên tính chất tạo hình trong thơ
Chúng ta biết rằng việc phân loại thơ trữ tình là dựa trên phương thức phản ánh Ở đó, những cảm xúc suy tư của con người trước hiện thực cuộc sống được thể hiện một cách trực tiếp Để làm được điều này nhà thơ phải dùng nhiều phương thức biểu hiện Mặt khác khi phải miêu tả bức tranh ngoại giới thì nhà thơ phải cần đến phương thức tạo hình Tuy nhiên, như đã nói ở trên, tạo hình không phải là mục đích trong thơ trữ tình mà là phương tiện để thông qua đó nhà thơ muốn câu thơ, bài thơ của mình biểu hiện một cái gì đó,
Trang 29tức cái nội tâm cảm xúc của con người trước cuộc đời Người ta nói “ Tràng
giang” là bức tranh tâm trạng của Huy Cận hay “ Qua đèo Ngang” là bức
tranh tâm trạng của Huyện Thanh Quan chính cũng xuất phát từ đó
Khi tìm hiểu ngôn ngữ thơ, một trong những điều quan trọng mà người nghiên cứu phải hết sức lưu ý là khi đứng trước một bức tranh đẹp trong thơ mà dừng lại ở đấy thì chưa đủ Cái nguyên lý nội dung- hình thức hài hoà, nội dung biểu hiện qua hình thức, hình thức mang tính nội dung buộc người nghiên cứu phải thấu đạt Cái đẹp trong văn học không chỉ là cái đẹp hình thức mà là cái đẹp mang tính nội dung Cái đẹp hài hòa biện chứng giữa hai mặt: mặt phản ánh và mặt biểu hiện Đó cũng là hai mặt của một tín hiệu thẩm mỹ Nhiệm vụ của người nghiên cứu là phải tìm hiểu giá trị biểu hiện phía sau cái bề mặt ấy, bởi vì tính hình tượng hình thành do sức biểu hiện lớn của câu thơ, bài thơ thông qua phương thức tạo hình của nó Như vậy phương thức tạo hình có liên quan đến tính hình tượng của ngôn ngữ thơ trữ tình Nếu nói khái quát thì không có tạo hình sẽ không có hình tượng nhưng không phải mọi tạo hình
đều tạo được hình tượng “Hình vẽ trở thành hình tượng khi nào nó truyền được
cái thần, cái khí của khách thể tinh thần” [1,140]
Vậy hình tượng không phải là cái có sẵn sao chép mà được sáng tạo,
khái quát và "luôn luôn chỉ ra cái mới, phát triển cái độc đáo mang tính nghệ
sĩ” (Khrápsenco)
Nói ngôn ngữ thơ trữ tình giàu tính hình tượng trước hết là do đặc trưng
khả năng thể hiện của chất liệu, “ngôn từ mang tính hình tượng từ trong bản
chất” Khi Mác nói ngôn ngữ là hiện thực “ trực tiếp của tư duy” thì các hiện
thực trực tiếp ấy chẳng gì khác hơn là hình tượng của hiện thực Chúng ta không phủ nhận đặc trưng trên của ngôn ngữ đã góp phần làm cho ngôn ngữ thơ giàu tính hình tượng Nhưng hình tượng ta nói ở đây không phải là hình ảnh chung chung của lời nói thể hiện trong giao tiếp thông thường mà là hình tượng nghệ thuật, có tác dụng gợi lên cảm xúc, suy tư, ấn tượng của con người
trước thế giới hiện thực Người ta nói rằng ở thơ trữ tình “nhà thơ lấy tâm hồn
mình để phản ánh thực tế lịch sử”
- Những biểu hiện cụ thể tính hình tượng của ngôn ngữ thơ
Trang 30Khuôn khổ thơ là hạn hẹp nhưng thơ lại có tham vọng chiếm lĩnh thế
giới, nói như ¤giêrốp: “Bài thơ là một lượng thông tin lớn nhất trong một diện
tích ngôn ngữ nhỏ nhất ” [38, 52] cho nên thơ phải tận dụng mọi phương tiện
ngôn ngữ có thể để biểu hiện thế giới hình tượng tinh thần phong phú của con
người Với “ diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất” như vậy thơ khó nói hết ý tứ của con
người như lợi thế của ngôn ngữ văn xuôi Chỉ có hình tượng mới có thể nói hết
ý tưởng Cho nên, nhà thơ phải dùng ngôn từ để khắc hoạ hình tượng, gợi ra ý
tứ Mối quan hệ giữa hình tượng với lời thơ là: “Hình tượng là để nói ra ý, lời
là cái để nói hình tượng Nói hết ý không gì bằng hình tượng, nói hết hình tượng không gì bằng lời” (Vương Bột) Tính hình tượng của ngôn ngữ thơ được thể hiện ở nhiều mặt Thông thường nó được nhận ra trước hết là ở các phương tiện từ vựng, c¸c cơm tõ, sau nữa là lớp từ có nhiều nghĩa và đặc biệt là các
phương thức chuyển nghĩa
Quan sát thơ ca nước nhà từ những câu ca dao cho đến thơ ca trung đại, hiện đại, chúng ta nhận thấy những phương tiện ngôn ngữ như trên xuất hiện nhiều trong thơ Nhưng nếu nghĩ rằng cứ đem các phương tiện ấy vào thơ thì đương nhiên lời thơ có tính hình tượng là một sự nhầm lẫn Sự nhầm lẫn này dẫn đến chỗ hạ thấp vai trò cá tính sáng tạo của nhà thơ Chất lượng của hình tượng được quyết định bởi tài năng lựa chọn của nhà thơ; mặt khác, nếu chỉ qui tính hình tượng của ngôn ngữ thơ bó hẹp qua việc có sử dụng các phương tiện ngôn ngữ như trên thì chưa nói lên hết được đặc điểm riêng của ngôn ngữ,
vì các phương tiện trên cũng là của văn xuôi và thậm chí là của cả lời nói thông thường Tóm lại, nếu nói tính hình tượng của ngôn ngữ thơ trước hết là tận dụng lợi thế của các phương tiện ngôn ngữ có khả năng tạo hình thì mới chỉ là điều kiện; chính cái việc sau đây mới là quan trọng quyết định tính hình tượng của ngôn ngữ thơ: sự kết hợp đặc biệt, bất ngờ của lời thơ mang đầy dấu ấn cá tính
- Tính hình tượng của ngôn ngữ thơ nảy sinh trong quan hệ với kết hợp Từ ngữ tuy là đơn vị nền tảng của lời nói, có âm thanh, có ý nghĩa, gợi hình nhưng mới chỉ là những hình thức phản ánh các yếu tố của thế giới (con người, phẩm chất, tình huống, quan hệ) trong dạng đơn lẻ tách rời Phải là câu,
Trang 31sự kết hợp của từ ngữ tạo thành đơn vị lời thơ, đoạn thơ, bài thơ - một đơn vị trên câu míi có khả năng phản ánh được các yếu tố của hiện thực trong những mối quan hệ lẫn nhau và chỉ trong các mối quan hệ như vậy các tiềm năng thẩm mỹ, tức tính hình tượng của từ mới phát huy đầy đủ Từ đây, một nhân tố nữa có tính chất quyết định liên quan đến việc hình thành tính hình tượng của ngôn ngữ thơ đó là ngữ pháp thơ
Trong văn xuôi, qui luật lôgic ngữ nghĩa, ngữ pháp của từ trong câu là điều bắt buộc, nhất nhất phải đảm bảo, nếu không sẽ tạo ra những câu nói không đúng qui tắc ngữ pháp, dẫn đến vô nghĩa Thế nhưng trong thơ, những kiểu kết hợp cố tình đi lệch khỏi qui tắc ấy không phải là hiếm nếu không muốn nói là thường xuyên Cũng vì vậy mà từ xưa ở phương Tây cho đến ngày
nay cả ở Việt Nam, có những ý kiến cho rằng thơ có tổ chức ngôn ngữ “ quái
gở”, “ quái đản” mà không đâu có đưọc Nghiã “quái đản” ở đây được hiểu là
“khác thường” chứ không bao hàm nét nghĩa là xấu, là “lập dị” Bởi lẽ, xét
cho cùng sự kết hợp bất thường trong thơ không phải là không theo một qui tắc nào cả, nó vẫn không thoát hẳn cơ sở của những kiểu kết hợp của ngôn ngữ
dân tộc Nhưng lý do vì sao tổ chức ngôn ngữ thơ lại “ quái đản” như vậy?
Chính ý kiến của ¤giêrốp mà chúng tôi có dịp nhắc đến ở trước giải thích cho hiện tượng này Có nghĩa là những kết hợp bất thường sẽ tác động đến sự liên tưởng của người đọc gợi lên những hình tượng ẩn dụ, chẳng hạn:
- Em đã lấy tình yêu tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
( Lâm Thị Mỹ Dạ )
Ở câu thơ này có sự kết hợp bất ngờ về mặt ngữ nghĩa Trong đời thường khi nói đến việc thắp lửa, người ta một là, nghĩ đến phương tiện như cái bật lửa, que diêm ; hai là nguyên liệu như dầu hỏa, dầu dừa cụ thể để thắp Ở đây, nhà thơ lại thay nó bằng một chất liệu rất trừu tượng thuộc lĩnh
vực tinh thần và trong quan hệ với cái tinh thần đó Cái nghĩa bề mặt của “
ngọn lửa”, vật cụ thể đã bị mờ đi trong sự liên tưởng được gợi ra, đó là: chân
lý, niềm tin, lý tưởng, cuộc đời Hình tượng chân lý sống của tuổi trẻ hình thành Từ đây có thể nói rằng chính sự kết hợp bất thường mặt ngữ nghĩa trong lời thơ đã làm nảy sinh tính hình tượng Hình thức này là một trong những
Trang 32ủieồm ủeồ so saựnh sửù khaực bieọt vụựi hỡnh thửực ngoõn ngửừ vaờn xuoõi Ngoõn ngửừ vaờn xuoõi khoõng phaỷi khoõng coự tớnh hỡnh tửụùng Nhửng do hỡnh tửụùng trong vaờn xuoõi thửụứng ủửụùc khaựi quaựt leõn tửứ nhửừng chi tieỏt cuù theồ cuỷa ủoỏi tửụùng trong
hieọn thửùc ủụứi soỏng Vỡ vaọy maứ ngoõn ngửừ vaờn xuoõi coự xu hửụựng “ cheỷ sụùi toực
laứm tử” “ Caõu vaờn ủửụùc phaựt trieồn baống caựch taờng theõm ủoàng vũ, mụỷ roọng ủũnh ngửừ, lieõn tuùc thuyeỏt minh, taùo ra caực kieồu lụứi noựi khaực nhau tuứy theo nhửừng muùc ủớch ngheọ thuaọt nhaỏt ủũnh” [36] nhaỏt laứ ủoỏi vụựi vaờn xuoõi hieọn ủaùi ở đấy ngoõn
ngửừ ủi saõu vaứo phaõn tớch vaứ mieõu taỷ tinh teỏ, chi li caực ủoỏi tửụùng veà caực phửụng dieọn cuỷa hieọn thửùc ẹoự laứ ngoõn ngửừ cuỷa Anh ẹửực duứng ủeồ taỷ nhửừng ủửụứng neựt
heỏt sửực tổ mổ, sinh ủoọng veà maựi toực cuỷa Chũ Sửự trong taực phaồm “Hoứn ẹaỏt” gaõy
ủửụùc nhửừng aỏn tửụùng vaứ maứu saộc ủaọm ủaứ ẹoự cuừng laứ ngoõn ngửừ vaờn xuoõi cuỷa Buứi Hieồn trong vieọc mieõu taỷ ủoọng taực, phong thaựi cuỷa moọt phuù nửừ mua daàu dửứa, vaứ chaỷi toực ngay giửừa phieõn chụù:
“ Chũ phuù nửừ caồn thaọn ủaởt cheựn daàu leõn treõn mụự rau trong roồ ủeồ caùnh ngửụứi, xổa tieàn traỷ Traỷ xong, chũ chửa ủửựng daọy ngay Boóng dửng, raỏt baỏt ngụứ, chũ giụ hai tay khoaỷnh ra sau ủaàu, xoồ caựi buựi toực troứn naởng Mái toực ủen daứy, xoõ baọt ra traỷi xoỷa gaàn khaộp taỏm lửng beựo laỳn vaứ buoõng chaỏm ủaỏt Chũ laỏy ngoựn tay chaỏm vaứo cheựn daàu, thoa leõn toực roài móc tuựi laỏy moọt caựi lửụùc nhửùa vaứng, kheừ nghieõng ủaàu chaỷi Chũ chaỷi thong tha, maột gheự nhỡn caỷnh mua baựn chung quanh” (daón theo [37, 15]) Nhử vaọy ủaởc ủieồm noồi baọt cuỷa ngoõn ngửừ vaờn xuoõi
laứ mieõu taỷ coự xu hửụựng gaàn vụựi ngoõn ngửừ haứng ngaứy trong khi ngoõn ngửừ thụ laứ bieồu hieọn taọp trung cao caực kieỏn truực ngoaùi leọ
Neỏu lụứi noựi thoõng thửụứng vaứ caỷ trong vaờn xuoõi, sửù keỏt hụùp caực ủụn vũ ngoõn ngửừ theo quan heọ lôgíc coỏt sao taùo neõn ủửụùc bửực tranh hieọn thửùc thỡ lụứi thụ ủửụùc keỏt hụùp theo quan heọ lieõn tửụỷng coự tớnh bieồu hieọn veà nghúa Neỏu ngoõn
ngửừ vaờn xuoõi noựi thaỳng thỡ “thụ thửụứng noựi nghieõng Ngửụứi ủoùc thụ hieọn ủaùi neõn
boỷ lối ủoùc tuyeỏn tớnh theo loõgớc thoõng thửụứng maứ taọp ủoùc theo nhieàu chieàu treõn
cụ sụỷ nhửừng lieõn tửụỷng thoõng thoaựng Caực nhaứ phaõn taõm hoùc goùi ủoự laứ “moọt sửù chuự yự boàng beành”[11] Theo Phan Ngoùc, sụỷ dú ngoõn ngửừ thụ phaỷi toồ chửực “quaựi ủaỷn” mụựi coự theồ truyeàn ủửụùc moọt thửự thoõng baựo heỏt sửực caàn thieỏt cho ủụứi soỏng
tinh thaàn Thaọt ra vaờn xuoõi cuừng coự caựi khaỷ naờng aỏy maởc duứ ngoõn ngửừ ủửụùc toồ
chửực bỡnh thửụứng Moọt yự kieỏn khaực thỡ cho raống: “chổ coự thụ khi naứo coự suy
Trang 33ngaóm veà ngoõn ngửừ naứy, noự bao haứm vieọc phaự vụừ nhửừng khung coỏ ủũnh cuỷa ngoõn ngửừ, nhửừng qui taộc vaờn phaùm, nhửừng ủũnh luaọt cuỷa dieón ngoõn”[11] Hai yự kieỏn
treõn thoỏng nhaỏt ụỷ choó chớnh hỡnh thửực toồ chửực “baỏt thửụứng” aỏy laứ ủeồ boọc loọ
hỡnh tửụùng nhaốm thửùc hieọn chửực naờng giao tieỏp ngheọ thuaọt cuỷa thụ
Thụ laứ nụi coự taàn soỏ xuaỏt hieọn cao nhaỏt cuỷa ủuỷ loaùi caỏu truực mang hỡnh thửực khaực thửụứng thuoọc hai bỡnh dieọn: quan heọ ngửừ ủoaùn, quan heọ ngửừ phaựp Caựi
ủoựng goựp cuỷa nhửừng caỏu truực laù, “quaựi gụừ”, “quaựi ủaỷn” aỏy laứm neõn ủaởc trửng
tớnh hỡnh tửụùng cuỷa ngoõn ngửừ thụ, laứm cho boọ maởt thụ ca caứng theõm ủa daùng
sinh ủoọng, goựp phaàn cho “ nhieọm vuù lụựn cuỷa thụ laứ taùo ra moọt caựch nhỡn mụựi, noự
laứm cho taõm hoàn ngửụứi ủoùc theõm treỷ , theõm phong phuự” Noự “gaõy cho ngửụứi ủoùc moọt ủoọ ngaùc nhieõn nhaỏt ủũnh khoõng phaỷi ủoỏi vụựi moọt theỏ giụựi cao xa hay sieõu thửùc
gỡ, maứ ủoỏi vụựi theỏ giụựi thửụứng ngaứy bũ phuỷ mụứ bụỷi thoựi quen” [11,51]
Toựm laùi, vieọc xaõy dửùng tớnh hỡnh tửụùng vaứ hỡnh tửụùng trong thụ khoõng ngoaứi vieọc toồ chửực caực ủụn vũ ngoõn ngửừ Caựch lửùa choùn vaứ toồ chửực ngoõn ngửừ luoõn gaộn vụựi taứi naờng vaứ caự tớnh saựng taùo cuỷa nhaứ thụ Nhử vaọy hỡnh tửụùng noựi chung, moọt maởt mang daỏu aỏn chuỷ quan cuỷa nhaứ thụ; maởt coứn laùi laứ thuoọc veà yeỏu toỏ khaựch quan naốm trong qui luaọt toỏi thieồu cuỷa ngoõn ngửừ, neỏu khoõng seừ bũ
coi laứ bớ hieồm laứ “ quaựi ủaỷn” ( theo nghúa ủen cuỷa tửứ naứy )ủeồ taùo ra ủửụùc caõu thụ “ quaựi ủaỷn” “meõ hoaởc loứng ngửụứi” “ buoọc ngửụứi ủoùc phaỷi nhụự, caỷm xuực, suy
nghú” [27,19]
III.3 Ngôn ngữ thơ trữ tình mang tính cá thể hoá
Chúng ta biết lụứi noựi laứ ngoõn ngửừ ụỷ daùng hoaùt ủoọng, laứ saỷn phaồm cuỷa tửứng caự nhaõn cho neõn lụứi noựi bao giụứ cuừng mang tớnh caự theồ
Lụứi vaờn, lụứi thụ laứ moọt daùng cuỷa lụứi noựi, haỳn nhieõn mang tớnh caự theồ Neỏu so saựnh giữa caực hỡnh thửực saựng taực vaờn hoùc thì tớnh caự theồ hoaự của ngoõn ngửừ thụ trửừ tỡnh ở mức độ cao, nhaỏt laứ thụ hieọn ủaùi
Traàn ẹỡnh Sửỷ qua chuyeõn luaọn “Thi phaựp thụ Toỏ Hửừu” ủaừ phaõn bieọt thụ trửừ tỡnh “ủieọu noựi” vaứ thụ trửừ tỡnh “ủieọu ngaõm” Trửừ tỡnh ủieọu ngaõm laứ saỷn
phaồm thi ca cuỷa thụứi trung ủaùi, laứm thụ laứ taõm sửù gụỷi gaộm Maứ nguyeõn taộc gụỷi gaộm khaực haỳn nguyeõn taộc giao tieỏp trửùc tieỏp Do ủoự, thụ coồ ủieồn thieỏu haỳn caực
Trang 34dấu hiệu của lời nói như đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, thiếu liên hệ giữa các
câu thơ về mặt cú pháp “Nhà thơ nói đến tình cảm, cảm xúc của mình như là
“của người khác”, của vũ trụ, như là “không của ai cả”û [31,274] Như vậy, do
không quan trọng hóa chức năng giao tiếp mà ngôn ngữ thơ ca trữ tình điệu ngâm trên đại thể đã tách rời với ngôn ngữ nói, thiếu đi tính cá thể hóa của
ngôn ngữ Trái lại, sự chuyển mình của thơ mới “ đã góp phần căn bản cải tạo
lại thơ ca tiếng Việt từ thơ trữ tình của “vũ trụ” sang thơ ca của con người, chuyển tâm thế sáng tạo từ ý, hình sang lời, giọng điệu” [31,276] Qua sự cải
tạo này mà hình thức lời nói đã được đưa vào thơ, bộ mặt thơ ca phong phú thêm lên trong sự đa dạng giọng điệu, tính cá thể hóa ngôn ngữ thơ ca càng thêm rõ nét
Thơ trữ tình là một hình thức sáng tác để biểu hiện tình cảm Tình cảm là cái rất riêng nên cũng được thể hiện theo cách riêng và ngôn ngữ không thể không riêng được Ngôn ngữ trong thơ là hình thức mang tính nội dung, nó phải phù hợp với nội dung mà nó thể hiện Đó cũng là nhân tố làm nên tính cá thể hóa của ngôn ngữ thơ
Tính cá thể hóa của ngôn ngữ thơ trữ tình còn xuất phát từ nội dung của thể loại Ta biết thế giới chủ quan, cảm xúc; tâm trạng, ý nghĩ được trình bày
trực tiếp làm thành nội dung thơ trữ tình “Vì vậy mà ngôn ngữ thơ trữ tình
không bao giờ là thứ ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh của tác phẩm tự sự Lời thơ thường là một lời bình phẩm, đánh giá, trực tiếp thể hiện một quan hệ của chủ thể đối với cuộc đời” [1,365]
Nãi vỊ ph−¬ng thøc ph¶n ¸nh, văn xuôi tự sự thiên về miêu tả cụ thể, chi
tiết sống động thế giới hiện thực khách quan như nó vốn có Trái lại, thơ trữ tình phản ánh thế giới mang tính chất ước lệ, tượng trưng theo chủ quan để
qua đó mà biểu hiện tư tưởng chủ quan của con người Chẳng hạn: “Nắng
xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu” (Huy Cận – Tràng
Giang) Có thể thấy rằng, ở thơ trữ tình, người sáng tạo “xông ra” trực tiếp đối
thoại với bạn đọc mà không cần dấu mình: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ”,
“Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa” Trái lại ở kịch, tác giả lại tự giấu mình một cách
hết sức kín đáo Còn ở văn xuôi? Tác giả cũng tự giấu mình Tuy vậy, đôi lúc
Trang 35cũng có thể công khai bộc lộ mình nhưng nhìn chung là dung hòa nếu không muốn nói chủ yếu là giấu mình Sáng tạo thơ – thơ trữ tình là một hoạt động chủ quan Cái chủ quan biểu hiện bằng cái tôi và trở thành trung tâm qui tụ mọi yếu tố cảm hứng, tư tưởng, tình cảm, hình ảnh và yếu tố hết sức quan trọng là giọng điệu, một giọng điệu mang đầy dấu ấn chủ quan, cá thể
Ta biết cái tôi riêng vẫn không tách rời với cái ta chung Nếu không, cái tôi sẽ rơi vào lạc lõng hư vô Dù là cái chung vẫn qua một phát ngôn rất riêng, mang cá tính của chủ thể trữ tình hay nhân vật trữ tình chứ không phải chung chung của tác giả Như đã nói, cái tôi là trung tâm để bộc lộ tất cả những suy nghĩ, tình cảm, thái độ bằng một giọng điệu riêng, vì vậy mà làm nên tính cá thể của ngôn ngữ thơ trữ tình Ngoài ra, tính cá thể của ngôn ngữ còn thể hiện
ở khâu lựa chọn,sử dụng phương tiện chất liệu và tổ chức, sáng tạo ngôn ngữ
nghệ thuật Khi Hê-ghen, Phan Ngọc nói: “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ
quái đản” là đãù bao hàm sự phong phú đa dạng của những cấu trúc khác
thường của cá thể
Mét nh©n tè kh¸c làm nên tính cá thể hoá ngôn ngữ thơ, đó là cá tính ngôn ngữ tác giả Trong thơ trữ tình, mọi yếu tố ở cả hai bình diện nội dung và hình thức đều do nhà thơ chủ quan sáng tạo nên, dï lµ chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình đều do tác giả chủ quan xây dựng Ngôn ngữ thể hiện tư tưởng của các đối tượng ấy rõ ràng là cá thể Nếu xét cho tường tận tính cá thể hóa ngôn ngữ không nằm ngoài ý muốn của một quan niệm nghệ thuật ngôn ngữ của tác giả Cảm xúc ở mỗi t¸c gi¶ là khác nhau, thể hiện những điều ấy trong thơ khác nhau bằng một ngôn ngữ khác nhau mang tính cá thể
Tóm lại, ngôn ngữ thơ trữ tình mang đặc trưng cá thể hóa Tính cá thể hóa của ngôn ngữ thơ trữ tình biểu hiện ở những bình diện sau: thứ nhất, tính cá thể hóa của ngôn ngữ thơ trữ tình xuất phát từ đặc trưng thể loại trong sự so sánh với các thể loại văn học khác Thứ hai, ngôn ngữ trong thơ là ngôn ngữ của chủ thể trữ tình mang giọng điệu cá thể trong sự so sánh với giọng điệu ngôn ngữ giữa các nhân vật trữ tình với nhau; giữa tác phẩm trữ tình này với tác phẩm trữ tình khác Thứ ba, tính cá thể của ngôn ngữ thơ trữ tình có cội nguồn từ phong cách ngôn ngữ của tác giả thông qua sự so sánh giữa tác giả này với tác giả khác
Trang 36Cá tính sáng tạo của nhà thơ góp phần làm nên sự đa dạng cho phong cách ngôn ngữ, làm hấp dẫn người yêu thơ bởi sự lạ lẫm phong phú Tính cá thể hóa của ngôn ngữ thơ trữ tình góp phần làm nên bộ mặt mới lạ, phong phú cho thơ ca
III.4 Ng«n ng÷ th¬ tr÷ t×nh giµu nh¹c tÝnh
Ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng có đầy đủ phẩm chất của một tín hiệu Ngôn ngữ ngoài nội dung có chức năng định danh, biểu thị khái niệm, còn mặt âm thanh, nhất là của tiếng Việt, có phẩm chất đặc biệt, khác với cái biểu đạt của các loại tín hiệu khác Aâm thanh của ngôn ngữ không đơn thuần chỉ là hình thức Nếu người sử dụng biết tận dụng triệt để ưu thế của nó thì khả năng mang lại hiệu quả nghệ thuật là hết sức lớn
Trong giao tiếp thông thường, người nói chưa bao giờ ý thức khai thác giá trị có khả năng tham gia tạo nghĩa của mặt âm thanh mà chỉ chú ý nói sao cho rõ ràng cho người khác nghe dễ Vậy cái bình diện của ngôn ngữ mà người nói quan tâm nhất là đúng ý, tức mặt nội dung ý nghĩa vốn có của từ, của câu Việc sử dụng ngôn ngữ như vậy cũng giống như việc người ta giao tiếp với tín hiệu đèn báo trong giao thông; thấy màu đỏ chỉ biết dừng và màu xanh thì tiếp tục lưu thông chứ không hề lưu ý đến cái màu ấy đẹp hay xấu và tại sao phải là màu xanh, đỏ Ngôn ngữ (đúng nhất phải là ngôn từ ) là chất liệu, phương tiện sáng tác văn học Nhưng trong văn xuôi, nhà văn chủ yếu tập trung tổ chức câu văn đúng ngữ pháp, đúng nghĩa để miêu tả chi tiết thế giới hiện thực chứ không đặt nặng việc tổ chức âm thanh nghệ thuật như ngôn ngữ thơ Cßn ngôn ngữ thơ được tổ chức hết sức đặc biệt cả nội dung, ý nghĩa lẫn hình thức âm thanh Người ta không quá khi cho rằng chính hình thức là cơ
sở để nhận diện thơ “Hơn bất cứ ngôn ngữ ở thể loại nào khác, ngôn ngữ thơ
với tính cách là một thứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về cách hòa âm, tiết tấu, giàu từ láy âm, tượng hình, chính là thứ ngôn ngữ giàu nhạc tính”
[10,206] Cũng như các nhà ngữ âm học, Nguyễn Phan Cảnh cho rằng đặc trưng âm thanh của ngôn ngữ th¬ được tạo ra từ thuộc tính âm thanh vốn có của ngôn ngữ §ó là cao độ, cường độ, trường độ và các đơn vị âm thanh,đó là nguyên âm và phụ âm Theo chúng tôi khi nói đến đơn vị âm thanh của tiếng
Trang 37Việt còn phải kể đến thanh điệu Bởi lẽ, thanh điệu tuy là âm vị siêu âm đoạn nhưng vẫn có đủ bản chất như một âm vị ( tức âm vị nguyên âm, phụ âm ) và thế mạnh của thanh điệu trong thơ là rất đáng kể Khi sử dụng ngôn ngữ trong thơ có sự đối lập từng cặp cao – thấp, mạnh – yếu, dài – ngắn sẽ tạo nên tiết tấu nhịp nhàng Mà yếu tố làm nên sự đối lập ấy chính là các đơn vị âm thanh
Ví dụ các thanh điệu có sự tương phản cao (thanh sắc, hỏi, ngã) – thấp (thanh ngang, huyền, nặng), các âm vị tương phản mạnh (nguyên âm) – yếu (phụ âm) Ngoài những thuộc tính ấy góp phần tạo nên tiết tấu, các đơn vị âm thanh còn phối hợp nhau tạo thành vần thơ Chính hiệu quả của tiết tấu và vần
mà “chất liệu ngôn ngữ ở đây có một nét riêng rất tiêu biểu là đặc trưng tính
nhạc, kiểu như tiết tấu và hòa thanh trong âm nhạc” [8,132] Ta biết bất kỳ
nền nghệ thuật thơ ca nào cũng đều sử dụng phương tiện ngôn ngữ Tuy vậy, ngôn ngữ của mỗi nước là khác nhau, khác nhau về loại hình, khác nhau số lượng các đơn vị âm thanh, có hay không có thanh điệu mà có đặc trưng tính
nhạc khác nhau Hữu Đạt nhận xét: “tính giàu có về thanh điệu nguyên âm và
phụ âm là những đặc tính làm cho ngôn ngữ thơ Việt Nam có một dạng vẻ độc đáo riêng” [10,202]
ë trên chúng tôi đã đề cập đến tiếng Việt có đủ phẩm chất làm nên tính nhạc của thơ ca Ngoài ra phải nói đến đặc trưng của thể loại thơ trữ tình, là trực tiếp biểu hiện tình cảm Mµ tình cảm biểu hiện bằng lời thơ, tất yếu lời
thơ phải mang giọng điệu Vandriex nhận xét: “Tình cảm biểu hiện ra một
cách tự nhiên bằng giọng điệu, bằng cách lên xuống giọng, bằng tốc độ của lời nói, bằng cách nhấn mạnh khi phát âm một từ này hay từ khác phù hợp với những sắc thái nhỏ nhất của tình cảm” (Dẫn theo [14,19]) Như vậy thì giọng
điệu trực tiếp làm cho ngôn ngữ thơ có tính nhạc Mà giọng điệu là sản phẩm tất yếu của thơ trữ tình Từ đó chúng ta có thể khẳng định chính thể loại đã làm thơ trữ tình giàu tính nhạc Khi nói giọng điệu thì trong chừng mực nào đó,
ở lời nói thông thường cũng có giọng điệu Ngôn ngữ văn xuôi cũng không ngoại lệ Nhưng do thơ trữ tình là phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm ở mức độ cao nhất, sâu sắc nhất, vì vậy mà ý nghĩa của từ ngữ nhiều khi không thể hiện được trọn vẹn cái thế giới nội tâm vốn phức tạp ấy mà phải cả cái âm thanh nhịp điệu của từ ngữ ấy mới có thể đảm đương nổi
Trang 38Có nghĩa là âm thanh nhịp điệu của từ ngữ bổ sung thêm sắc thái mà bản thân
ý nghĩa của từ ngữ chưa thể hiện được hết Cũng chính từ chỗ này mà nhiều nhà nghiên cứu đã nhất trí xem tính có nhịp điệu là nét đặc thù rất cơ bản của tác phẩm th¬ trữ tình Nếu như Phan Ngọc nói cái ta phải nhớ, phải cảm xúc
thơ là vì hình thức tổ chức “quái đản” của ngôn ngữ thì chúng tôi nghĩ không
hoàn toàn là chỗ ấy mà cái làm ta nhớ chính là âm thanh nhịp điệu có tính nghệ thuật, tức tính nhạc của thơ Chính nhạc tính của ngôn ngữ thơ là ma lực hút con người đến với nó Chúng tôi biết có nhiều cụ già không hề biết chữ nhưng qua truyền miệng mà vẫn thuộc rất nhiều ca dao dân gian Cái yếu tố giúp các cụ dễ thuộc, dễ nhớ các câu ca dao chính là ở vần, nhịp của nó (tất nhiên không thể bỏ qua mặt nội dung ý nghĩa) Rồi người ta lại hát ru con, cháu bằng những bài ca dao, những bài thơ vì nhận thức được cái tính nhạc của lời thơ dễ đi vào lòng con trẻ, lắng đọng trong sâu thẳm hồn người Chúng tôi có may mắn được tiếp xúc với một số nhà sư, họ đã không thể giải thích được nghĩa của những bài kinh Phật được phiên âm từ tiếng Phạn Đã không hiểu
nghĩa vả lại lời kinh đầy những tiếng “lục cục” kiểu như: “ Nam mô a di đa bà
dạ, dà đa điệt dạ tha A di rị đa tất đam bà tì A di rị đa tì ca lan đế Dà di nị dà dà na Chỉ đa ca lệ ta bà ha ” thì không tài nào đưa kinh vào lòng tín đồ
được Khắc phục những hạn chế đó, nhà sư đã nghĩ đến ngữ điệu: lúc đọc cao đọc thấp, lúc lớn lúc nhỏ, lúc nhanh lúc chậm làm cho lời kinh gần víi thơ với nhạc hơn để cho tín đồ dễ nhớ hơn Nếu để ý cách dạy nghĩa từ Hán Việt như:
“ Thiên trời địa đất; cử cất tồn còn; tử con t«n cháu; lục sáu tam ba ” của sách “ Tam thiên tự” chính là vận dụng tính nhạc để khắc phục cho việc khó nhớ những ý nghĩa vốn rất trừu tượng của từ gốc Hán Từ đây có thể nói rằng
người xưa thích nói thơ, ngâm thơ chính vì thích nhạc điệu của nó “ Câu thơ
và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở nhà thơ vẫn quyến rũ người nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối” (Isokratés).( Dẫn theo [8,133]) Cũng vì
lưu ý đến tính nhạc mà lối thơ cách luật đã qui định khắc khe số dòng thơ, số chữ, đối xứng, vần để đảm bảo thơ có tính nhạc Ngày nay, thơ hiện đại không yêu cầu phải khắc khe trong tổ chức ngôn ngữ mà càng có xu hướng gần với văn xuôi hơn, ngay cả không bắt buộc phải có vần Tuy vậy, nhạc tính vẫn là yêu cầu cơ bản không thể thiếu của ngôn ngữ thơ Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ thể hiện ở ba mặt cơ bản, đó là: sự cân đối, sự trầm bổng
Trang 39và sự trùng điệp Sự cân đối là sự cân xứng hài hòa, có thể là hình ảnh, là âm
thanh, kiểu như: “Còn bạc còn tiền còn đệ tử Hết cơm hết rượu hêt ông tôi”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm) Đó là cách sắp xếp tổ chức mà chúng ta dễ dàng nhận thấy ở cặp câu thực, cặp câu luận trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú Đối với thơ hiện đại, yêu cầu đó không khắt khe Tuy vậy, nhà thơ vẫn hết sức chú ý đến hiệu quả nghƯ thuËt của phép đối xứng trong thơ của mình
Nhạc tính còn thể hiện ở sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ Sự trầm bổng
do sự thay đổi độ cao giữa hai nhóm thanh điệu, do sự phối hợp giữa các đơn
vị ngữ âm tùy theo nhịp cắt để tạo nên nhịp Xuân Diệu với hai dòng thơ toàn vận dụng vần bằng đã biểu hiện được cảm xúc lâng lâng bay bổng theo tiếng
đàn du dương, nhẹ êm “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư
nâng lòng lên chơi vơi” Chính Tố Hữu đã có lần nói đến giá trị ngữ âm của từ
“xôn xao” trong câu thơ “ Gió lộng xôn xao sóng biển đu đưa” (Mẹ Tơm) ®ó
đâu chỉ là âm vang của tự nhiên mà là âm vang của tâm hồn Vậy cái làm nên
âm vang đó chính là âm thanh, cái âm thanh của từ “xôn xao” đã cùng với
nghĩa của nó làm nên điều kỳ diệu ấy
Sự trầm bổng của âm thanh còn thể hiện ở nhịp điệu “Nhịp điệu là sự
lỈp lại cách quãng đều đặn và có thay đổi của các hiện tương ngôn ngữ, hình ảnh, mô típ nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mỹ về thế giới, tạo ra cảm giác vËân động của sự sống, chống lại sự đơn điệu” [3,165] Đối với các thể thơ cách luật, do qui định nghiêm ngặt về tổ chức ngôn ngữ mà nhịp điệu cũng được bố trí đều đặn, vì vậy mà cũng khó có được nhịp điệu đa dạng như cái nhịp của cuộc sống Còn thơ hiện đại với lối tổ chức ngôn ngữ phóng khoáng tự do, nhịp điệu cũng hết sức đa dạng Nhịp thơ là nhịp của cảm xúc, cảm nhận Như vậy âm thanh, nhịp điệu trong thơ không đơn thuần là hình thức mà là những yếu tố góp phần biểu hiện những khía cạnh tinh vi của đời sống tình cảm con người
Ngoài sự cân đối, sự trầm bổng, nhạc tính còn do sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ mang lại, cơ bản là điệp vần và điệp câu Điệp vần trong thơ vừa có tác dụng như một phương tiện kết dính nối các dòng thơ lại với nhau thành
Trang 40một đơn vị thống nhất, vừa tạo ra âm hưởng riêng, thuận lợi cho trí nhớ Người
ta hay nói đến vần chính, vần thông là dựa vào mức độ tương đồng giữa các âm tạo vần; còn nói đến vần chân, vần lưng là dựa vào vị trí của vần trong
dòng thơ Bên cạnh điệp vần là điệp câu, theo Trần Đình Sử: “các kiểu điệp
khổ, điệp cách dòng, điệp tõ, điệp nhóm từ đều là điệp câu.” [31,329] Điệp
câu có tác dụng làm cho ngữ khí của lời thơ có một sức vang nội tại Trong nghệ thuật hùng biện, mỗi từ, mỗi ý quan trọng luôn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, có thể ở hình thức này hay hình thức khác nhằm mục đích khắc sâu
vào tâm trí người nghe theo kiểu “ mưa lâu thấm đất” Điệp câu trong thơ
không ngoài dụng ý đó bên cạnh việc tạo nên tính nhạc
Tóm lại, phản ánh đời sống trong sự rung động của tâm hồn là đặc trưng của thơ trữ tình Tâm hồn con người vốn phức tạp, sâu kín, nó được biểu hiện trong thơ không chỉ bằng nội dung ý nghĩa của lời thơ mà còn ở cả mặt âm thanh, nhịp điệu nữa Như vậy âm thanh, nhịp điệu đã làm nên một sắc thái nào đấy trong ý nghĩa mà nội dung ý nghĩa cơ bản của lời thơ chưa thể hiện được hết Chính từ việc tổ chức âm thanh, nhịp điêu trong thơ mà ngôn ngữ thơ
có đặc trưng tính nhạc, “ Nhạc điệu trong thơ là đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ
thơ” [1,370]