1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cái tôi trữ tình trong thơ chế lan viên sau 1975

105 341 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 918,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài Thơ Chế Lan Viên, tác giả Nguyễn Văn Hạnh đã nói đến sự hòa hợp, thống nhất giữa cái tôi công dân và cái tôi nghệ sĩ của Chế Lan Viên trong những năm đánh Mỹ: “Cuộc đời và cái

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ THU LUYẾN

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SAU 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ: VĂN HỌC VIỆT NAM

Thái Nguyên - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ THU LUYẾN

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SAU 1975

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN DIỆU LINH

Thái Nguyên - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Luyến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Khoa học - Đại

học Thái Nguyên và được sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Diệu Linh

tôi đã thực hiện đề tài: “Cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau 1975”

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Diệu Linh đã tận tình giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành

cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Khoa học -

Đại học Thái Nguyên đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình

học tập, nghiên cứu Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm,

giúp đỡ, tạo điều kiện tốt để tôi nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất,

song trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất

định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô

giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

3.1 Mục đích nghiên cứu 7

3.2 Đối tượng nghiên cứu 7

3.3 Văn bản nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

4.1 Phương pháp nghiên cứu loại hình 8

4.2 Phương pháp nghiên cứu lịch sử 8

4.3 Phương pháp thống kê - phân loại 8

4.4 Phương pháp phân tích - tổng hợp 8

4.5 Phương pháp so sánh - đối chiếu 8

5 Đóng góp mới của đề tài 8

5.1 Về mặt lý luận 8

5.2 Về mặt thực tiễn 9

6 Bố cục của đề tài 9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 10

1.1 Thơ trữ tình và cái tôi trữ tình 10

1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên trước năm 1975 14

1.2.1 Cái tôi tràn ngập nỗi đau trước Cách mạng tháng Tám 1945 14

1.2.2 Cái tôi cách mạng đầy nhiệt huyết trong hai cuộc kháng chiến 18

1.3 Những yếu tố tạo nên sự chuyển biến của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau năm 1975 23

1.3.1 Sự thay đổi về hoàn cảnh xã hội 24

1.3.2 Sự thay đổi trong quan niệm thẩm mỹ về con người 26

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SAU 1975 33

2.1 Cái tôi thế sự, đời tư 33

Trang 6

2.1.1 Những băn khoăn, chiêm nghiệm về các vấn đề vĩnh cửu của cuộc sống 33

2.1.2 Cái tôi đấu tranh không biết mệt mỏi với thời gian 39

2.2 Cái tôi khao khát tìm về “bản ngã” 47

2.2.1 Cái tôi có nhu cầu sống trung thực với bản thân 47

2.2.2 Cái tôi bản lĩnh khi dám nói lên suy nghĩ của mình 52

2.3 Cái tôi nghệ sĩ tài hoa và trách nhiệm 57

2.3.1 Cái tôi ý thức trách nhiệm với nghề 57

2.3.2 Cái tôi trân trọng những giá trị văn hóa của dân tộc 63

Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SAU 1975 69

3.1 Sự kế thừa và phát triển các thể thơ 69

3.1.1 Thể thơ tự do 69

3.1.2 Thơ tứ tuyệt 73

3.2 Giọng điệu tâm tình, triết luận 78

3.2.1 Giọng điệu trữ tình sâu lắng 78

3.2.2 Giọng độc thoại nội tâm 83

3.3 Hiện đại hóa ngôn ngữ thơ 86

3.3.1 Ngôn ngữ thơ đậm chất đời thường 86

3.3.2 Sử dụng hợp lý, linh hoạt các biện pháp tu từ từ vựng 89

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong nền Văn học Việt Nam hiện đại, Chế Lan Viên luôn được coi là nhà

thơ lớn, có ảnh hưởng sâu rộng tới nền văn học nước nhà Con đường lịch sử của dân tộc và con đường thơ của Chế Lan Viên luôn gắn bó chặt chẽ, tạo điều kiện và

bổ sung cho nhau, làm nên một phong cách thơ rất riêng và đầy sức hấp dẫn Thơ Chế Lan Viên trên mỗi chặng đường đều có những cách tân nghệ thuật đáng trân trọng Nhiều thập kỷ qua, tác phẩm của Chế Lan Viên luôn được đưa vào các chương trình giảng dạy ở nhiều cấp học (từ bậc phổ thông đến bậc đại học), bởi thơ ông không chỉ phản ánh lịch sử, phản ánh thời đại mà còn tiêu biểu cho tiến trình phát triển của thơ ca dân tộc ở thế kỷ XX

1.2 Trong thơ, vấn đề chủ thể cái tôi trữ tình có một ý nghĩa đặc biệt quan

trọng Thơ trữ tình luôn gắn với cái “tôi” bởi nó là trung tâm và là giá trị tinh thần cốt lõi, tạo nên chân dung của nhà thơ Bởi vậy, khi nghiên cứu cái tôi trữ tình trên

các phương diện thuộc về thể loại, các trào lưu, khuynh hướng, các chặng đường sáng tác, các tác giả hay ngay cả một tác phẩm thơ cụ thể, người ta thường quan tâm

nhiều đến việc tìm hiểu cái tôi trữ tình

1.3 Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên phong phú và đa dạng Đó là một thế

giới ấn tượng với sức biểu cảm mang dấu ấn riêng vô cùng độc đáo Khi nghiên cứu

thế giới nghệ thuật của nhà thơ thể hiện qua cái tôi trữ tình, chúng ta nhận ra một hồn thơ giàu có và tràn đầy sức sống Cái tôi trữ tình của Chế Lan Viên luôn thể

hiện cá tính nghệ thuật bản lĩnh, một phong cách nghệ thuật không ngừng tìm tòi, sáng tạo Tất cả những điều ấy đã thể hiện tình yêu thương cuộc sống tràn trề, một tinh thần lạc quan, một sự gắn bó máu thịt với cuộc đời

1.4 Trong thơ Chế Lan Viên luôn tồn tại một cái tôi trữ tình không ngừng biến

đổi trên cơ sở kế thừa và cách tân Đó là sự vận động từ cái tôi lãng mạn trước cách mạng đến cái tôi trữ tình chính trị trong giai đoạn 1945 - 1975 và đến cái tôi đời tư

thế sự mang nặng cảm xúc trầm tư, suy ngẫm trong những bài thơ được sáng tác sau

năm 1975, đặc biệt là vào giai đoạn cuối đời Quả là, trong lịch sử phát triển của thơ

Trang 8

ca Việt Nam hiện đại thế kỷ XX, hiếm có một nhà thơ nào tạo ra sự chuyển biến liên tục trong suốt cả sự nghiệp sáng tác, tạo nên được sức hấp dẫn đối với công chúng yêu thơ như Chế Lan Viên

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: Cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên

sau 1975 nhằm thấy được nét độc đáo trong phong cách, những tiến bộ nghệ thuật,

những đóng góp của Chế Lan Viên trong nền thơ Việt Nam hiện đại Chúng tôi hy vọng luận văn sẽ góp một phần nhỏ vào việc nhận diện chân dung, tầm vóc của tác giả Chế Lan Viên giai đoạn sau năm 1975 Đồng thời, góp một mảng tư liệu cho việc nghiên cứu và giảng dạy về nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn của dân tộc: Chế Lan Viên

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ngay từ tập thơ đầu tiên Điêu tàn ra đời năm 1937 đến ba tập Di cảo, thơ Chế

Lan Viên luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của độc giả và giới phê bình Cùng với chặng đường 52 năm cầm bút của Chế Lan Viên là chặng đường liên tiếp xuất hiện các bài giới thiệu, các bài phê bình, nghiên cứu, các chuyên luận được in thành sách với một số lượng lớn mà chúng ta khó có thể thống kê một cách đầy đủ

Phải khẳng định ngay rằng, tất cả các bài nghiên cứu đã công bố đều muốn khẳng định sự tiếp tục và đổi mới của hành trình thơ Chế Lan Viên qua các chặng đường: trước 1945, từ 1945 đến 1975 và sau 1975 Nhưng tập trung nhiều nhất vẫn

là các bài giới thiệu về thơ chống Mỹ và thơ thời kỳ đổi mới của Chế Lan Viên Đặc

biệt, vấn đề cái tôi trữ tình của Chế Lan Viên cũng được nhiều nhà nghiên cứu tâm

huyết tìm hiểu

Các công trình nghiên cứu về cái tôi trữ tình của Chế Lan Viên trước năm 1975 đều khẳng định cái tôi trữ tình của Chế Lan Viên là cái tôi vận động từ cái tôi cô

đơn lạc lõng thuở Điêu tàn đã hòa nhập vào cái ta chung trong những năm kháng

chiến GS Hà Minh Đức là một trong những nhà nghiên cứu dành nhiều tình cảm

cho Chế Lan Viên Trong các công trình nghiên cứu của mình, ông đã đề cập đến

cái tôi trữ tình của Chế Lan Viên trong những năm chiến tranh với những nhận định

khá xác đáng Trong công trình “Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại”, ông viết: “Với Ánh sáng và phù sa, vấn đề riêng chung được đặt ra trực diện, cái

Trang 9

tôi trữ tình bộc lộ khá rõ nét qua những lời thơ tâm tình, chứa chất biết bao suy nghĩ và cảm xúc tự bên trong” [19, 38]

Cùng với Hà Minh Đức, Trần Đình Sử cũng có ý kiến: “Ánh sáng và phù sa,

Hoa ngày thường chim báo bão đã đánh dấu bước trỗi dậy, đổi mới của thơ Chế

Lan Viên, gắn liền với ý thức về cái tôi của ông…Chế Lan Viên xem cái Tôi như một điểm xuất phát để nói đến tất cả” [61, 151]

Vũ Tuấn Anh cũng là tác giả có nhiều bài viết về Chế Lan Viên Trong các công

trình nghiên cứu ấy, ông đặc biệt chú ý đến sự thể hiện cái tôi trữ tình của Chế Lan Viên

Trong luận án Phó tiến sĩ với đề tài “Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt

Nam từ 1945 đến nay” ông cho rằng: “Cái tôi có những trầm tư triết học quanh các câu hỏi Ta là ai? Ta vì ai?” Hay trong bài Chế Lan Viên với Điêu tàn và Vàng sao, nhà

nghiên cứu đã nhận định: “Cả cái tôi bản thể và cái Tôi nghệ sĩ của tác giả đều muốn

vượt lên cõi tục để tạo nên một Tháp nghĩ; một Đài thơ, để trên đài thơ cao ấy hướng tới

hư vô, tìm trong ấy sức mạnh sáng tạo” [3, 21]

Trong bài Thơ Chế Lan Viên, tác giả Nguyễn Văn Hạnh đã nói đến sự hòa

hợp, thống nhất giữa cái tôi công dân và cái tôi nghệ sĩ của Chế Lan Viên trong

những năm đánh Mỹ: “Cuộc đời và cái tôi không loại trừ nhau, mà xuyên thấm vào

nhau tạo thành thơ hay, thơ rung động sâu sắc người khác” [22, 73]

Sau năm 1975, cái tôi trữ tình của Chế Lan Viên có sự chuyển động mãnh mẽ

hướng tới cảm hứng thế sự - đời tư Đặc biệt, vào đầu thập kỷ 80 là các tập thơ Hái

theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986) sự chuyển đổi ấy

càng được thể hiện rõ Và chặng cuối đường thơ Chế Lan Viên được đánh dấu bằng

ba tập Di cảo thơ do nhà văn Vũ Thị Thường sưu tầm, tuyển chọn vào các năm

1992, 1993, 1996 lại càng khẳng định sự thay đổi của cái tôi trữ tình Chế Lan Viên

Trang 10

lực, suy nghĩ, cảm xúc, Chế Lan Viên đã bắt được cái hơi thở hào hùng sảng khoái dội lại từ xưa ấy” [29, 367] Nhà thơ luôn đòi hỏi cái tôi “phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghĩ và cảm, tạo nên nhiều bài thơ, tập thơ vừa nồng nhiệt hào hùng vừa thiết tha lắng đọng, có sức cảm hóa thuyết phục lớn lao” [29, 371]

Tập thơ thứ hai thể hiện sự nỗ lực không mệt mỏi của Chế Lan Viên là tập Hoa

trên đá Nhà thơ Tế Hanh khẳng định: “Trong một khuôn khổ nhỏ, nhà thơ vẫn gửi

được nhiều xúc cảm của mình từ những đề tài lớn đến những đề tài bình dị” Và:

“Tập Hoa trên đá là một tập thơ đánh dấu một bước tiến mới của tác giả” [21, 3]

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình trong bài Chế Lan Viên khi đánh giá sự chuyển biến của cái tôi trữ tình của nhà thơ cũng nhận định: Thơ Chế Lan Viên “bắt đầu

bộc lộ những trăn trở nhận thức về trách nhiệm của người cầm bút trước nhiều vấn

đề nhân thế mà trước đây thơ còn ít quan tâm” [5, 225] Trong tập thơ này, nhà thơ

đã gửi gắm, đã “bộc lộ tâm tình và triết luận về các vấn đề muôn thuở của nhân

sinh”, với những “suy tư, chiêm nghiệm làm cho giọng thơ ông trầm xuống phảng phất một nỗi quan hoài…” [5, 226]

Nguyễn Xuân Nam cho rằng: “Hoa trên đá là tập thơ xứng với tên tuổi tác giả”

và “trong tập thơ này đã gặp một giọng thơ nhân tình hơn, gần gũi tiếng nói hàng

ngày hơn” [48, 3] Vĩnh Quang Lê cũng khẳng định hướng đi tới của thơ Chế Lan

Viên: “…thơ anh vẫn tiến lên Có lúc thơ anh bùng cháy lên, và có lúc thơ đi bước

một” [44, 135] Ngô Văn Phú nhìn suốt hành trình thơ Chế Lan Viên từ Điêu tàn

đến Hoa trên đá và nhận ra “giọng thơ của anh có một phong cách riêng, và vẫn

theo kịp với nhịp đi của đời sống” [56, 10]

Tiếp nối sự chuyển biến về tư tưởng, cảm xúc trong tập Hoa trên đá, năm 1986 Chế Lan Viên cho ra đời tập thơ Ta gửi cho mình, gồm 39 bài Nếu như ở hai tập

thơ trước vẫn còn đậm chất anh hùng ca, thì giờ đây thơ Chế Lan Viên đã chuyển hẳn sang khía cạnh đời tư Tuy nhiên, tập thơ này hầu như chưa có một công trình nghiên cứu công phu nào Có chăng chỉ được nhắc đến để so sánh với các tập thơ

khác

Trang 11

Ba tập Di cảo thơ là bước hoàn thiện cái tôi thế sự - đời tư của Chế Lan Viên Nhận xét và đánh giá về hai tập Di cảo thơ I và II, Nguyễn Bá Thành trong bài viết

“Đọc hai tập Di cảo thơ” đã nhận định về cảm xúc của Chế Lan Viên trong những

năm cuối đời thật tinh tế và sâu sắc: “Cảm xúc của Chế Lan Viên về “thời gian

sống” là định hướng lớn nhất cuốn hút tư duy của thơ ông trong những năm cuối

đời Nếu như ở Đối thoại mới nhà thơ vẫn còn đủng đỉnh triết lý về “những chiếc lá

thơm hái lúc về già” thì từ năm 1987, cảm xúc của ông dường như dồn nén hơn, thúc bách hơn” [63, 410]

Nhân ngày giỗ thứ tư của Chế Lan Viên (tháng 6 năm 1993), Trần Thanh Đạm

có bài Những vần thơ triết lý của Chế Lan Viên qua những trang Di cảo Ông khẳng

định: “Sự tìm tòi chính mình vẫn là việc phải tiếp tục Đó là niềm khao khát không

bao giờ nguôi của một hồn thơ không bao giờ tự thỏa mãn mà luôn luôn tự đòi hỏi,

tự đổi mới để đi tìm một tầm cao mới, càng tiến gần hơn đến sự viên mãn, sự tuyệt đối, tuy không bao giờ có thể đạt tới, song nếu không có nó thì cũng sẽ không bao giờ có sự sáng tạo nghệ thuật thực sự hướng đến chân, thiện, mỹ” [11, 396] Như

vậy, Trần Thanh Đạm nhận thấy ý thức tìm lại chính mình của Chế Lan Viên là một nhu cầu cấp bách, luôn thôi thúc tâm hồn nhà thơ, ngay cả khi bóng đã xế tà

Hồ Thế Hà là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu luôn thể hiện sự yêu mến thơ

Chế Lan Viên Trong Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, ông viết: “Cái tôi nhà

thơ, cái tôi trữ tình Chế Lan Viên khi bộc lộ khi tiềm tàng, có khi là cuộc phiêu lưu tư tưởng của thế giới nội tâm, có khi tỏ lộ thông qua các biện pháp đối lập, so sánh, thông qua cách nói riêng của ông” [23, 35] Và khi nhận xét về cái tôi trữ tình Chế

Lan Viên qua các chặng đường, nhà nghiên cứu cũng cho rằng: “Cái tôi trữ tình

trong thơ Chế Lan Viên đầy quyến rũ, năng động” [23, 41] Tác giả luận án cũng

nhận thấy sự phức tạp của thơ Chế Lan Viên trong thời kỳ mới và nhận định: “Khảo

sát toàn bộ các tác phẩm của Chế Lan Viên xuất bản sau năm 1975, ta thấy trong một số bài, ông có sự to tiếng nuối tiếc, tự mâu thuẫn với mình ( ) Nhưng thực ra,

đó chỉ là những lời tâm sự, tự kiểm điểm chân thành, pha chút chua xót chứ không phải sự phủ định, oán trách Phảng phất âm hưởng buồn, tiếc cho thơ mình một thời không được sống hết cái hồn nhiên vốn có của nó phải cùng con người lao vào trận

Trang 12

mạc (…) Cho nên sự mâu thuẫn, phủ định giai đoạn trước 1975, nếu có, thì đó chính là sự phủ định biện chứng để tìm hướng mới cho thơ trong hoàn cảnh mới mà thôi” [23, 36 - 37]

Đoàn Trọng Huy cũng ít nhiều nhắc đến cái tôi trữ tình của Chế Lan Viên trong các công trình của mình Ông nhận định: “Từ sau 1975, cái tôi trữ tình đã đổi

khác, hầu như có một sự thức tỉnh cá nhân mới Đúng là sự thức tỉnh những nhu cầu xã hội và cá nhân của cái Tôi trong thơ trữ tình” [30, 111] Đó là đòi hỏi về tất

cả những nhu cầu của cuộc sống đời thường cùng sự khẳng định cá tính mạnh mẽ

trước thế giới, trong các mối quan hệ xã hội và cá nhân

Nguyễn Quốc Khánh khi nghiên cứu về chặng đường thơ cuối cùng của Chế

Lan Viên qua Di cảo thơ với bài Di cảo thơ Chế Lan Viên hành trình tìm lại

chính mình đã đánh giá: “Suốt ba chục năm đi trên đại lộ cách mạng với niềm vui,

niềm tin phơi phới Chế Lan Viên rất chân thành gạt bỏ cái tôi cá nhân, hoặc có nói đến cũng chỉ là những niềm ăn năn hối hận về mình trước Cách mạng (…) để hòa cái tôi vào cái Ta chung của nhân dân Đó là chân dung mà chúng ta đã biết, đã quen thuộc về Chế Lan Viên suốt mấy chục năm qua…” [37, 425] Và tác giả bài

viết cũng cho rằng, thơ Chế Lan Viên trước và sau 1975 là sự tiếp nối chứ không

phải sự đứt đoạn của cái tôi trữ tình Bởi “có một Chế Lan Viên vừa quen vừa

lạ…Đọc ba tập Di cảo thơ của Chế Lan Viên người đọc một lần nữa lại phải kinh

ngạc về một Chế Lan Viên mới, khác với chân dung ông đã hiện diện trên ba chục năm qua các trang thơ ông đã từng công bố” [37, 423]

Nguyễn Diệu Linh trong bài Di cảo thơ và nhu cầu được sống trung thực với

mình của Chế Lan Viên đã nhận định: “Khát vọng “Đời cho anh là anh” luôn cháy bỏng trong nhiều trang thơ của Chế Lan Viên Được sống với chính bản thân mình, với tất cả sự chân thành, trung thực của con người đã làm nên một nét sắc sảo của

Trang 13

tình chỉ được đề cập ở một vài khía cạnh nhỏ Đến nay, chưa có một công trình

nghiên cứu chuyên sâu nào về cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên từ sau năm

1975 Đây là giai đoạn cái tôi có sự chuyển biến rõ rệt từ cái tôi sử thi cách mạng sang cái tôi thế sự - đời tư Chính vì vậy, với luận văn này chúng tôi hy vọng sẽ tìm hiểu những đặc điểm của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau 1975 Qua đó

nhận diện rõ hơn bức chân dung tinh thần mới của một cánh chim đầu đàn trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn khảo sát toàn bộ thơ Chế Lan Viên, trong đó tập trung vào các tập thơ

ra đời sau năm 1975, nhằm tìm hiểu một cách tổng thể, bao quát nội dung và nghệ

thuật thơ Chế Lan Viên ở giai đoạn này Từ đó, làm sáng tỏ sự thể hiện cái tôi trữ

tình của nhà thơ trong những năm tháng cuối đời Khi đó, sẽ thấy được đặc điểm

phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên cùng những đóng góp của ông cho nền thơ hiện đại sau 1975

Mục đích cuối cùng của luận văn là góp phần phục vụ việc nghiên cứu và giảng dạy nhà thơ Chế Lan Viên trong nhà trường

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của luận văn là những biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Chế

Lan Viên sau 1975

3.3 Văn bản nghiên cứu

Văn bản nghiên cứu của luận văn là toàn bộ những sáng tác thơ của Chế Lan Viên đã được xuất bản bao gồm 14 tập thơ Trong đó, luận văn tập trung nghiên cứu

các tập ra đời sau năm 1975 gồm: Hái theo mùa (1977), Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội;

Hoa trên đá (1984), Nxb Văn học, Hà Nội; Ta gửi cho mình (1986), Nxb Tác phẩm

mới, Hà Nội và ba tập Di cảo thơ: tập I nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế (1992), tập II

nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế (1993) và tập III nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế

(1996)

Trang 14

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu loại hình

Phương pháp này căn cứ vào những phương diện loại hình của thơ trữ tình để nghiên cứu ngôn ngữ, giọng điệu, thể loại thơ Chế Lan Viên sau năm 1975 Từ đó, làm rõ những đặc điểm cơ bản, mang bản chất loại hình

4.2 Phương pháp nghiên cứu lịch sử

Sử dụng phương pháp này, người viết đặt thơ Chế Lan Viên sau 1975 trong bối cảnh lịch sử của sự phát triển của thơ Chế Lan Viên nói chung Từ đó tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau 1975 trong sự vận động của cái tôi trữ tình qua hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ

4.3 Phương pháp thống kê - phân loại

Phương pháp này dùng để thống kê các ý kiến về thơ trữ tình và cái tôi trữ tình

trong thơ Thống kê các tập thơ của Chế Lan Viên để phân loại, chọn những tập thơ

nào, bài thơ nào là tiêu biểu nhất thể hiện rõ cái tôi trữ tình Trên cơ sở đó sẽ có cái nhìn chính xác, cụ thể giá trị chính của thơ Chế Lan Viên

4.4 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Thống kê chỉ là một phương tiện, còn nhiệm vụ chính là phân tích các ý kiến,

các chi tiết nghệ thuật, từ đó đưa ra sự nhìn nhận đánh giá về cái tôi trữ tình Phân

tích tác phẩm sẽ là cơ sở cho việc tổng hợp các vấn đề chính của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau năm 1975 Bên cạnh việc phân tích, người nghiên cứu

sẽ tổng hợp lại một cách tổng quát sau khi luận giải các vấn đề

4.5 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Đây cũng là phương pháp được sử dụng một cách thường xuyên để thấy được

cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên có sự chuyển biến giữa các chặng đường

sáng tạo, thấy được sự kế thừa và sự cách tân trong thơ ông

5 Đóng góp mới của đề tài

5.1 Về mặt lý luận

Trang 15

Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu những đặc điểm cái tôi trữ tình của Chế Lan

Viên sau năm 1975 sẽ giúp người đọc nhận diện rõ hơn bức chân dung tinh thần mới của một nhà thơ lớn thế kỷ XX với phong cách nghệ thuật tài hoa mà độc đáo Luận văn cũng góp phần làm rõ quan niệm, cách cảm, cách nghĩ về cuộc đời, về con người, về thơ ca của Chế Lan Viên sau năm 1975, đặc biệt là trong những năm tháng cuối đời

Luận văn cũng góp thêm một cái nhìn có hệ thống về các sáng tác của Chế Lan Viên và khẳng định cái tôi nhiều cảm xúc và suy tư độc đáo trong giai đoạn sau

1975 Từ đó khẳng định những giá trị to lớn, đầy tính nhân văn mà nhà thơ Chế Lan Viên đã để lại cho đời

Chương 1 Những vấn đề lý luận chung

Chương 2 Đặc điểm cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau 1975

Chương 3 Nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau 1975

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Thơ trữ tình và cái tôi trữ tình

Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về thơ Nguyễn Xuân Nam

cho rằng: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống qua những tâm

trạng những cảm xúc dạt dào, những tưởng tượng mạnh mẽ trong một ngôn ngữ giàu

hình ảnh và nhất là có nhịp điệu rõ ràng” Các tác giả Nhập môn văn học lại quan

niệm: “Thơ là bộc bạch cảm xúc hoặc suy tư” Xuân Diệu cũng từng cho rằng: “Thơ

là lọc lấy tinh chất, là sự vật được phản ánh vào tâm tình” Còn các tác giả trong

nhóm Xuân Thu lại khẳng định: “Thơ là cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thúy, cao

siêu, cái hình ảnh bất diệt của cõi vô cùng” vv…Có thể nói, có bao nhiêu người làm

thơ, viết về thơ thì có bấy nhiêu quan niệm khác nhau Mỗi quan niệm đó đều xuất phát trên một số phương diện nhất định của thơ để khái quát, cho nên đều cho ta một

ý niệm về thơ

Chúng ta quan niệm thơ là một hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua một tổ chức ngôn ngữ đặc biệt Thơ trữ tình cũng như thơ nói chung luôn bộc lộ cảm xúc một cách mãnh liệt Không có cảm xúc thì không có thơ Chính vì thơ gắn với cảm xúc, bộc lộ cảm xúc nên khi được sử dụng ở các phương thức khác như tự sự hay kịch thì cũng không mất đi điều đặc biệt này, mà trái lại càng làm cho các tác phẩm đậm chất thơ, chất trữ tình hơn

Cảm xúc thơ khác với cảm xúc của văn xuôi Cảm xúc văn xuôi dù mãnh liệt

đến đâu vẫn mang tính khách quan Còn cảm xúc thơ, nói như Phan Ngọc là “được

cảm hóa ngay lập tức, đến mức là của chính tôi” Người ta đọc thơ, tiếp nhận cảm

xúc thơ như là cảm xúc của chính mình Người ta lấy thơ ra ngâm, ngẫm nghĩ trong những cảnh ngộ cụ thể, tâm trạng cụ thể của mình Thơ do đó là tiếng nói tri âm Người ta tìm đến thơ như tìm đến tri âm Chẳng thế mà Hoài Thanh đã từng viết:

“Thích một bài thơ là thích một con người đồng điệu”

Vì vậy, có thể hiểu thơ trữ tình là một thể loại thơ ca có đặc trưng là bày tỏ, nói lên tư tưởng tình cảm của tác giả, thông qua đó sẽ phản ánh cuộc sống Thơ trữ tình không miêu tả quá trình sự kiện, không kể tình tiết đầy đủ câu chuyện, cũng không

Trang 17

miêu tả nhân vật, cảnh vật cụ thể, mà mượn cảnh vật để bày tỏ tình cảm (tả cảnh trữ tình) Sáng tác thơ là một nhu cầu tự biểu hiện, một sự thôi thúc từ bên trong, nhiều khi mãnh liệt, dồn dập do sự tác động của đời sống con người gây nên Sáng tạo

nghệ thuật là hoạt động có ý thức của người nghệ sĩ, bị chi phối bởi “cái tôi” nghệ

sĩ Nhưng cái tôi ở đây là cái tôi nghệ thuật, không phải là cái tôi nhà thơ Cái tôi

trữ tình, trước hết là tính cách của bản thân người mang lời nói Cái tôi nghệ thuật

trong thơ bao gồm nhiều giá trị khác nhau như tài năng, sự sắp xếp các ngôn từ, cấu

trúc nghệ thuật…Cái tôi trữ tình có mối quan hệ thống nhất, nhưng không đồng

nhất với cái tôi nhà thơ

Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về cái tôi trữ tình như một hiện

tượng nghệ thuật Có thể kể đến một loạt các công trình tiêu biểu của Trần Đình Sử

như: Thi pháp thơ Tố Hữu (Hà Nội, 1987); Phẩm chất cái tôi trữ tình (TCVH số 1/1983); Cái tôi và hình tượng trữ tình (Báo Văn nghệ số 19/1993) Ngoài ra còn

rất nhiều các công trình khác nghiên cứu về cái tôi trữ tình trong thơ Hầu hết các

bài nghiên cứu đều nhận thấy, cái tôi của nhà thơ luôn luôn có một mối quan hệ trực

tiếp với cái tôi trữ tình trong thơ Từ cách nhìn, cách nghĩ, cách thể hiện những nỗi

niềm sâu kín, những tình cảm, thái độ của tác giả trước thế giới khách quan, cái tôi

trữ tình của nhà thơ sẽ được bộc lộ Cái tôi trữ tình là cái tôi nhà thơ đã được nghệ

thuật hóa và trở thành một thành tố quan trọng của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm Như vậy, nhân vật trữ tình trong thơ chính là người bộc lộ cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ thông qua một hệ thống các phương tiện như ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh…để dẫn dắt người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác giả Và thông qua thế giới nhân vật ấy, cái tôi trữ tình của nhà thơ được bộc lộ một cách rõ

nét Sự hiện diện của cái tôi trữ tình có thể sẽ là một tín hiệu quan trọng để nhận

biết diện mạo, tư tưởng của nhà thơ, thậm chí của cả một thời kỳ văn học

Trong hành trình sáng tạo của mỗi tác giả, cái tôi trữ tình lại được thể hiện khác

nhau Điều đó phụ thuộc vào sự chuyển biến trong cá tính sáng tạo của mỗi người nghệ sĩ, cũng như sự tác động, chi phối của hoàn cảnh lịch sử, xã hội, của các yếu tố

văn hóa, thời đại…Sự thay đổi và chuyển hóa của các kiểu cái tôi trữ tình sẽ tạo nên sự vận động của thơ Cái tôi trữ tình thường xuyên xuất hiện dưới dạng chủ thể

Trang 18

trữ tình hoặc nhân vật trữ tình Lê Lưu Oanh trong cuốn Giáo trình Lý luận văn

học, NXB Đại học Sư phạm (2008) đã chỉ rõ: “Nhân vật trữ tình chính là chủ thể

trữ tình, là người tự phát ngôn, tự miêu tả, tự bộc lộ Nhân vật trữ tình không có tên tuổi, diện mạo, hành động…nhưng để lại dấu ấn rất rõ qua giọng điệu, cảm xúc, cách suy tư…” [54, 200]

Trong cuốn 150 thuật ngữ Văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn cũng chỉ rõ:

“Nhân vật trữ tình là kẻ song sinh “đồng dạng” với nhà thơ tác giả; nó được hình

thành từ văn bản của kết cấu trữ tình (một trùm thơ, một tập thơ, một trường ca trữ tình, hoặc toàn bộ sáng tác thơ trữ tình), như một dáng người có đường nét rõ rệt hoặc một vai sống động; như một gương mặt có tính xác định của số phận cá nhân,

có đường nét tâm lý của thế giới nội tâm, và đôi khi có cả những đường nét tạo hình…” [4, 252]

Trong quá trình hình thành, cái tôi trữ tình luôn thể hiện những đặc trưng cơ bản Thứ nhất, cái tôi trữ tình mang bản chất chủ quan cá nhân Người làm thơ bao

giờ cũng có nhu cầu tự biểu hiện, giãi bày tâm tư, tình cảm riêng của mình Hiện thực cuộc sống rất rộng lớn, nhưng quan tâm đến vấn đề gì, nhìn nhận nó như thế nào là do nhà thơ thể hiện dựa trên sự trải nghiệm của cuộc sống cùng với sự thôi thúc cảm hứng sáng tạo nghệ thuật và tài năng của thi nhân Khi có chất liệu rồi thì đến lượt xây dựng văn bản trữ tình Sự lựa chọn, cách thể hiện nào trong văn bản trữ tình cũng mang rõ nét cá tính sáng tạo của chủ thể Do thơ trữ tình in đậm dấu vết cá nhân nên những gì liên quan đến cuộc đời tác giả, từ tiểu sử đến tính cách đều đóng một vai trò nhất định trong sáng tác

Thứ hai, cái tôi trữ tình mang bản chất xã hội Trong đời sống xã hội xuất hiện

những cá thể người như một đơn vị tồn tại độc lập Điều đó đã khẳng định vị thế

của con người trong cộng đồng Các Mác đã khẳng định: “Con người là sự tổng hòa

mọi mối quan hệ xã hội”, con người có thể độc lập tự chủ, suy nghĩ và hành động

theo cách riêng của mình, nhưng con người không bao giờ biệt lập với cộng đồng, với nhân loại Làm thơ là để bày tỏ tình cảm, là sự giao lưu với mọi người xung quanh những vấn đề về số phận, về cuộc sống con người Thơ trữ tình trong lăng

Trang 19

kính hẹp nhất của cái nhìn cá thể, lại luôn luôn phản chiếu những vấn đề chung nhất của con người

Nếu như ở phương diện cái tôi trữ tình mang tính chủ quan cá nhân, chúng ta

quan tâm đến mối quan hệ giữa cái tôi nhà thơ với cái tôi trữ tình, thì phương diện

cái tôi trữ tình mang bản chất xã hội nhân loại, chúng ta chú ý đến mối quan hệ

giữa cái tôi trữ tình với cái ta cộng đồng Chúng ta thừa nhận thơ trữ tình là vương

quốc chủ quan, nhưng cái chủ quan này vẫn hướng về cái ta chung mang tính xã hội, nhân loại Ở Việt Nam, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã cho

ta thấy rõ được khối sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc Trong hoàn cảnh ấy sẽ ít

có chỗ cho cái tôi cá nhân tồn tại Nếu như thơ trữ tình lúc đó không phải là những lời hiệu triệu mọi người xông lên phía trước mà chỉ quay xung quanh những cảm xúc cá nhân khép kín, cô đơn thì thơ sẽ trở nên lạc lõng Thơ phải thể hiện sự lo toan trước vận mệnh nước nhà, phải đề cao ý thức công dân sẵn sàng hy sinh cái riêng, cái cá nhân cho quyền lợi chung của đất nước

Thứ ba, cái tôi trữ tình mang bản chất nghệ thuật Thông qua sự cảm nhận chủ

quan về hiện thực, nhà thơ đã tích lũy cho mình một nguồn tư liệu cần thiết Nguồn

tư liệu ấy được xem như là nội dung, chất liệu làm nên tác phẩm Đến lượt nó, cái

tôi trữ tình sẽ sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật đặc thù và tổ chức toàn bộ thế giới

nghệ thuật ấy dưới hình thức một văn bản trữ tình Rõ ràng, việc đưa hiện thực vào trong tác phẩm thơ trữ tình khác với tác phẩm tự sự hay tác phẩm kịch Bởi thế cần

phải nắm được bản chất nghệ thuật thẩm mỹ của cái tôi trữ tình và sáng tạo theo

những quy tắc riêng của thể loại

Tác phẩm trữ tình miêu tả và biểu hiện thế giới chủ quan trong tâm hồn con

người dưới mọi cung bậc tình cảm một cách ý nhị và tinh tế Cái tôi trữ tình mang

bản chất chủ quan, do đó thơ trữ tình cũng mang bản chất chủ quan của cái tôi nhà thơ Thế giới trữ tình của cái tôi là một thế giới mang giá trị thẩm mỹ được cấu thành bởi những giá trị văn hóa truyền thống và lịch sử Như vậy, thế giới trữ tình của cái tôi là một thế giới nghệ thuật giúp người đọc nhận diện cá tính sáng tạo của nhà văn Tất cả các bản chất trên sẽ quyết định đến sự hình thành nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của tác phẩm trữ tình

Trang 20

Nội dung, tình cảm của thơ trữ tình nằm bên trong của sự vật và yếu tố ngoại cảnh được nhắc đến trong thơ chứ không chỉ tồn tại ở trên câu chữ Cái tôi mang bản chất chủ quan, do đó thơ trữ tình cũng mang bản chất chủ quan của cái tôi Thế giới trữ tình của cái tôi là thế giới mang giá trị thẩm mỹ được kết tinh bởi những giá trị văn hóa truyền thống và lịch sử Như vậy, thế giới trữ tình của cái tôi là một thế

giới nghệ thuật giúp chúng ta hình dung được cá tính sáng tạo của cái tôi trữ tình

dựa trên thế giới quan và truyền thống văn hóa Người ta gọi thơ là tiếng lòng, là nhịp đập trái tim bởi lẽ trước tiên, thơ xuất phát từ dòng ý thức bên trong, là những điều sâu kín nhất, bí ẩn nhất mà người ta không thể nói bằng lời mà buộc phải dùng những ngôn từ đa nghĩa, hàm ẩn Đằng sau hình thức chính là nội dung chủ quan, cái tôi chủ thể là yếu tố hiện diện của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thơ trữ tình

Như vậy, cái tôi trữ tình với bản chất chủ quan chi phối mọi hành động, suy

nghĩ của cái tôi nghệ thuật có mối quan hệ mật thiết đối với nội dung và hình thức của tác phẩm trữ tình

1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên trước năm 1975

Cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên xuất hiện ở nhiều hình thái khác nhau:

khi bộc lộ trực tiếp, khi ẩn khuất, khi như một đối tượng phản ánh, khi thì lại chính

là cái tôi tác giả - chủ thể thẩm mỹ, khi thì thiên về nội dung, có khi lại thiên về hình thức…và có sự vận động theo thời gian, gắn liền với các mốc son của lịch sử

dân tộc Về tổng quan, ta có thể thấy sự thể hiện cái tôi trữ tình của Chế Lan Viên

trước năm 1975 qua hai chặng đường: trước Cách mạng tháng Tám và trong những năm kháng chiến

1.2.1 Cái tôi tràn ngập nỗi đau trước Cách mạng tháng Tám 1945

Chế Lan Viên làm thơ từ năm 12 - 13 tuổi Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan thành lập nhóm thơ Bình Định và đã trở thành một hiện tượng độc

đáo của nền Thơ Mới Hàn Mặc Tử (1912 - 1940) là con “Rồng” (Long), là “ngôi

sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam” Thơ Hàn Mặc Tử có hình ảnh đẹp như chính

tâm hồn Việt, nhưng lại có những hình ảnh mang chất khủng hoảng; Yến Lan (1916

Trang 21

- 1998) là con “Lân” (Ly), có nhiều thành tựu trong sáng tạo thơ; Quách Tấn (1910

- 1992), là con “Quy”, nghiêng về cổ điển; Còn Chế Lan Viên (1920 - 1989), là con

“Phượng”

Có thể nói trong “tứ linh” thì “Rồng” và “Phượng” là đặc sắc hơn cả Chế Lan

Viên và Hàn Mặc Tử đều chọn cho thơ mình đối tượng thẩm mỹ là những thế giới quái dị, lạ lẫm Hệ thống hình ảnh trong thơ họ đã đem đến cho người đọc những rung cảm thẩm mĩ thực sự mà không phải nhà thơ nào cũng có được Tuy nhiên, Chế Lan Viên đã sử dụng một cách đậm đặc các hình tượng thơ mà mình theo đuổi

(hình ảnh nước Chàm và dân Hời) Trong Điêu tàn, Chế Lan Viên đã sử dụng

những chất liệu kinh dị từ bóng tối, hồn ma, mồ hoang, sọ người, xương khô, máu

tuỷ để tạo nên khách thể thẩm mỹ đầy tính Hư cấu - Siêu hình - Kinh dị:

“Và hồn, máu, óc tươi trong suối mực

Đua nhau trào lên trên giấy khúc buồn thương Như không gian lùa vào ta chẳng dứt

Những hương mơ say đắm mộng ngông cuồng”

(Tiết trinh) [67, 56]

Cái chết, niềm cô đơn đã trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của Chế Lan Viên từ thời niên thiếu Hình ảnh của một đất nước đã tiêu vong trong lịch sử từ xa xưa bỗng nhiên trở lại trong thơ ca với những hình ảnh ma quái, với giọng thơ buồn thương, ảo não pha màu sắc huyền bí kỳ lạ, trở thành nỗi ám ảnh với người đọc Người phục dựng lại đất nước Chiêm Thành vàng son ấy đang ngập chìm trong nỗi buồn thương, ai oán của hồn ma, của máu, của xương khô, huyết tanh, yêu tinh khiến chúng ta phải giật mình Một nỗi cô đơn, lạc lõng đầy đau đớn:

“Chiều hôm nay bỗng nhiên ta lạc bước

Vào nơi đây thế giới vạn cô hồn Hơi người Chết tỏa đầy trong gió lướt Tiếng máu kêu rung chuyển cỏ non xanh”

(Xương khô) [67, 36]

Trang 22

Chế Lan Viên đã đi ngược thời gian, với trí tưởng tượng phong phú để tái hiện lại một thế giới đã suy tàn, chỉ còn lại những ký ức đau buồn và hãi hùng Một chàng thanh niên tuổi hoa niên bước vào thế giới siêu thực để cảm và thấu hiểu nỗi đau của người dân Chàm Cái chết đã trở thành nỗi ám ảnh trong tâm trí Chế Lan

Viên từ thuở ấy Âm hưởng chung của Điêu tàn chính là nỗi buồn, nỗi cô đơn, lạc

lõng của nhà thơ trước thời cuộc, mà không biết giãi bày cùng ai nên đã tìm về với

cõi siêu hình, ma quái đầy bí ẩn Đây cũng chính là tâm trạng chung của cái tôi trữ

tình trong Thơ Mới trước cách mạng tháng Tám Khi nghiên cứu về thơ Chế Lan

Viên thuở Điêu tàn, nhiều nhà nghiên cứu đã đi tìm căn nguyên của nỗi đau buồn

ấy: có lẽ vì Chế Lan Viên sống trong giai đoạn nước nhà chìm trong màn đêm nô lệ

và một không gian tràn ngập sắc buồn, cho nên tâm hồn của chàng trai trẻ yêu nước

đã bị nỗi đau diệt vong của dân tộc Chàm làm lay động tâm can Chàng trai trẻ mười năm, mười sáu tuổi ấy đáng lẽ phải đang say sưa trong những giấc mộng lớn

của cuộc đời bằng những lý tưởng, khát vọng về tuổi trẻ, về tình yêu thì lại “nhập

hồn, hóa cốt” vào dân tộc Chàm để vực dậy những hồn ma xung quanh đống đổ nát

điêu tàn và đưa vào trang thơ của mình Chàng thi sĩ Phan Ngọc Hoan đã có một tuổi thơ gắn bó sâu nặng với mảnh đất Bình Định Ông coi đây là quê hương thứ hai của mình Những buổi chiều tan học, chàng thi sĩ thường dừng chân bên những tháp Chàm đổ nát Và hình ảnh những đền đài xưa đã ăn sâu vào tâm trí chàng:

“Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi

Những đền xưa đổ nát dưới Thời Gian Những sông vắng lê mình trong bo ́ ng tối Những tháp chàm lở lói rỉ rên than”

(Trên đường về) [67, 38]

Với Điêu tàn, Chế Lan Viên đã thể hiện một tình yêu nước thầm kín Khóc

than về nỗi diệt vong của đất nước Chiêm Thành xưa với những cảnh thê thảm:

“Muôn ma hời sờ soạng dắt nhau đi”, cũng là để “thể hiện thầm kín tấm lòng yêu

đất nước, một đất nước đang tồn tại nhưng thực sự đang điêu tàn trong chế độ và

cảnh đời cũ” (Hà Minh Đức) Điêu tàn không chỉ mở ra một quá khứ đầy bi hận

Trang 23

của dân tộc Chàm mà còn khiến ta phải giật mình nhận ra rằng, không riêng dân Chàm mà ngay cả dân tộc ta cũng đã và đang phải trải qua thời kỳ đen tối Dân tộc

ta cũng đã bao phen bị kẻ thù đô hộ, thôn tính làm nô lệ Và hiện tại là sự giày xéo của thực dân Pháp trên mảnh đất hình chữ S Hiện thực ấy có lẽ đã chi phối đến tâm

tư tình cảm của thế hệ các nhà Thơ Mới Họ trốn tránh thực tại và tự tìm cho mình lối thoát: Xuân Diệu say trong cõi Tình, Lưu Trọng Lư hòa vào cõi Mộng, Hàn Mặc

Tử ẩn mình vào Trăng, Huy Cận buồn thương cùng vũ trụ…Dù trốn tránh hiện thực nghiệt ngã, nhưng đó không phải là sự phản ứng tiêu cực của các nhà thơ mà đó là

sự phản ứng có ý thức của những thanh niên có lòng yêu nước nhưng bất mãn với thực tại Khác với các nhà thơ Mới cùng thời, Chế Lan Viên một mình một nẻo xuống cõi Âm, đau cùng nỗi đau nhân thế của đất nước Chàm…

Rõ ràng trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn này, cái tôi trữ tình đã hiện diện một

cách mạnh mẽ Tuy nhiên, cái tôi ấy không ca khúc nhạc vui mà chỉ ngân lên điệu buồn sầu thương Qua lời ca ấy, chúng ta hiểu được bản chất nỗi buồn thương ấy chính là cảm hứng yêu nước Có điều, nhà thơ trẻ tuổi không trực tiếp bày tỏ tinh thần yêu nước mà thầm kín nói đến nỗi lòng ấy qua nỗi sầu vong quốc của những người dân Hời Nói đến tình yêu nước, thể hiện khát vọng thoát khỏi xiềng xích nô

lệ nhưng không nói đến tương lai huy hoàng mà chỉ nói đến cái chết, đến hồn ma…Có ai ngờ tất cả những đền đài, cung điện nguy nga, tráng lệ xưa kia giờ lại là những bãi tha ma, gào thét với oan hồn và khóc tìm Chiêm nữ Hoài niệm về một thời vàng son không còn nữa cũng là cách để thi nhân bộc lộ nỗi đau mất nước, thể hiện tình yêu tha thiết với non sông Nhưng nhìn vào hoàn cảnh chính trị lúc bấy giờ, một người yêu nước cổ vũ dân chúng vùng lên với bất kỳ hình thức nào cũng không phải là một việc làm yên ổn Do đó, muốn bày tỏ nỗi lòng một cách trọn vẹn, không gì hơn là quay về quá khứ, mượn hình ảnh người làm hình ảnh mình, mượn tiếng than của người làm tiếng than của mình, mượn nỗi thù hận của người làm nỗi thù hận của mình Nhập vào nỗi đau của người để nói về nỗi đau của mình, đó chính

là dụng ý của Chế Lan Viên

Điêu tàn đã nói lên nỗi đau mất nước của những người dân muốn thoát khỏi gông cùm nô lệ Nhà thơ viết: “Điêu tàn có riêng gì đất nước Chiêm thành của tôi

Trang 24

đâu! Kia kìa, nó đục sọ dừa anh Tiếng xương rạn vỡ dội thấu đáy hồn tôi” [67, 8]

Từ cái nhìn bi quan về cuộc đời, Chế Lan Viên đã vực dậy sự đổ nát, điêu tàn của thời đại để nói về nỗi đau mất nước của dân tộc Việt Tập thơ đã tạo một hiệu ứng tâm lý tích cực nơi người đọc lúc bấy giờ, bởi nhìn cảnh đổ nát của nước Chiêm Thành ai cũng phải có sự suy nghĩ, lo lắng cho số phận của nước Việt Nam trong tương lai

Có thể nói, trong chặng đầu tiên của đường thơ Chế lan Viên, cái tôi trữ tình

hiện lên mang đầy sắc buồn ảm đạm, thấm đẫm nỗi cô đơn Bóng dáng nhân vật trữ

tình lạc lõng giữa nhân gian, tồn tại một sự bế tắc nặng nề trong tâm hồn Do đó, cái

tôi trữ tình luôn có ý định thoát ly thực tại và đã thoát ly thực tại để tìm về với cõi

siêu hình Điêu tàn như một tháp thơ dựng lên trên mảnh đất lịch sử đau buồn của đất

nước mang gông cùm nô lệ, được xây bằng những viên gạch siêu hình, gắn liền với tâm trạng chán nản, u buồn vây phủ tư tưởng và những suy niệm về đời sống của nhà

thơ Có thể xem Điêu tàn vừa là sự khai mở, nhưng đồng thời cũng là điểm kết thúc

hành trình sáng tạo của một quan niệm thơ Cuối hành trình ấy nở rộ những bông hoa lung linh huyền ảo được mọc lên từ một tháp thơ lẻ loi và bí ẩn

1.2.2 Cái tôi cách mạng đầy nhiệt huyết trong hai cuộc kháng chiến

Trong vòng 30 năm, Chế Lan Viên đã đánh dấu từng chặng đường lịch sử bằng

các tập thơ: Gửi các anh (1955); Ánh sáng và phù sa (1960); Hoa ngày thường,

chim báo bão (1967); Những bài thơ đánh giặc (1972); Đối thoại mới (1973); Hoa trước lăng Người (1954-1976) Chế Lan Viên là nhà thơ thể hiện sâu sắc nhất cuộc

hành trình đầy gian khổ “từ chân trời một người đến với chân trời tất cả” Đến với

cách mạng, nhà thơ đã rũ bỏ được quá khứ buồn thương, đoạn tuyệt với thời kỳ

Điêu tàn để hòa mình vào niềm vui của toàn dân tộc, để được trở về với đời sống

của quần chúng nhân dân lao động, để hòa nhập vào cuộc sống mới, được gắn bó với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc

Cách mạng tháng Tám thành công đã đưa tâm hồn cô đơn, lạc lõng của Chế Lan Viên trở về với thực tại dưới ánh sáng soi đường của Đảng và niềm tin mãnh

liệt vào quần chúng nhân dân lao động Tập Gửi các anh (1955) đã đánh dấu bước

Trang 25

chuyển biến lớn trong tư tưởng cũng như sự nghiệp sáng tác của ông sau 1945 Từ chỗ là một nhà thơ lãng mạn thoát ly hiện thực, giờ đây sau 10 năm không sáng tác nhà thơ đã trở thành một chiến sĩ say sưa trên mặt trận văn hóa, mang ba lô đi theo các đoàn dân công, bộ đội ra mặt trận, hòa lòng mình vào lòng người kháng chiến,

để sáng tác phục vụ kháng chiến Trở về với nhân dân cũng chính là trở về với mạch

nguồn của sáng tạo thi ca Không còn tìm đến với cõi siêu hình hư vô, cái tôi trữ

tình trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn này đã hoàn toàn đổi khác Chấm dứt những

bi ai, bế tắc, nhà thơ đã hòa nhập vào cuộc đời chung của nhân dân vào những vấn

đề thời sự nóng bỏng: “Sự hồi sinh của cái tôi trữ tình đời tư theo xu hướng hòa

nhập với cái ta chung và sự đậm dần, mở rộng và phát triển mạnh mẽ của cái tôi sử thi” [81, 258]

Con người nhà thơ thay đổi đã kéo theo sự chuyển biến của hồn thơ Một thế

giới nghệ thuật mới đã hình thành Cái tôi trữ tình trong thơ giai đoạn này mang

một vóc dáng mới và đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo Đó là cái tôi yêu nước, hòa nhập vào cái ta cộng đồng, cái tôi hành động, cái tôi hiện thực Trước kia ông nhìn

vào thế giới “điêu tàn” để thể hiện mình, thì nay ông đã nhìn ra xung quanh để thể

hiện cuộc sống kháng chiến, để cảm nhận cái đẹp và cái anh hùng của thời đại Nghĩa là cái tôi không còn đóng vai một người siêu phàm siêu thoát mang tính hư cấu tưởng tượng nữa mà là cái tôi công dân gắn bó sâu sắc với vận mệnh đất nước Đánh dấu sự chuyển biến lớn trong tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ phải kể

đến tập Ánh sáng và phù sa (1960) Tập thơ đã ghi một dấu mốc quan trọng trên

hành trình thơ của Chế Lan Viên từ sau Cách mạng Cũng từ đây, cái tôi trữ tình

của nhà thơ đã thể hiện sự phát triển thêm một bước quan trọng - cái tôi sử thi

kháng chiến Nhà thơ đã “nới rộng không gian Thơ Mới từ tháp ngà nghệ thuật ra

giữa vòm trời Nhân dân và Tổ quốc” [27, 202] Đây là lúc ông đoạn tuyệt hoàn toàn

với giai đoạn “điêu tàn”, phá “cô đơn” để hòa nhập với cuộc sống “Lấy cái vui của

cuộc đời đánh bạt mọi đau thương” Ông đã cố gắng hòa hợp cái tôi vào cái ta

chung và hướng thơ vào cuộc sống kháng chiến sôi nổi để ngợi ca sự thay đổi trên

mọi miền đất nước Làm thơ là đến với nhân sinh, nhân quần Chính vì vậy, cái tôi

trữ tình của Chế Lan Viên đã thực sự hòa nhập vào cái ta rộng lớn và ông hiểu rõ

ngòi bút của mình cần phải hướng tới ai:

Trang 26

“Tôi viết cho ai? Cho tất cả mọi người

Nhưng rất gần - cho những đứa em tôi Ngày đau khổ khép tay trong tủi cực Nay mở tay ra, bến rộng sông dài Cho ai cũ thơ tôi làm ướt áo Nay họ về sưởi giữa nắng thơ tôi”

(Nghĩ về thơ) [69, 35]

Cuộc sống mới chứa chan Ánh sáng và phù sa đã giúp Chế Lan Viên “lấn từng

nỗi đau như mùa chiêm lấn vành đai trắng” và “nay trở về ta lấy lại vàng ta” Khi

đã có hướng rồi, nhà thơ không ngần ngại “Đi ra với sông, đi ra với trời, đi ra với

đời” để cảm nhận được:

“Tôi yêu quá cuộc đời như con đẻ

Như đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng Tôi nối với bạn bè như với bể

Cả lòng tôi là một giải sông Hồng”

(Chim lượn trăm vòng) [69, 38]

Nhà thơ đã “cố gắng vượt khỏi cái tôi cô đơn, bé nhỏ để hòa nhập vào cái ta

chung của mọi người” [20, 323] trong dòng chảy của lịch sử Ý thức cái tôi cá nhân

đã phát triển cao độ khi mà tiếng nói của nhà thơ là nhân danh cộng đồng, nói với cộng đồng Và với cái tôi sử thi hào hùng, ông đã say sưa ngợi ca Tổ Quốc, ca ngợi

Bác Hồ trong tiếng gọi thiết tha với những gì thiêng liêng, tươi đẹp nhất: “Hỡi sông

Hồng tiếng hát bốn nghìn năm / Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? / Chưa đâu và ngay cả trong những ngày đẹp nhất / Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc / Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng… / Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả / Dù mai này đời muôn vạn lần hơn…” (Tổ quốc bao giờ đẹp

thế này chăng?) [69, 142]

Trang 27

Bên cạnh những vần thơ về cái chung, cái toàn thể, cái tôi trữ tình của Chế Lan

Viên giai đoạn này còn hướng tới cái riêng với một niềm tin yêu cuộc sống thật đáng khâm phục và trân trọng Đó là sự cân bằng cần thiết của cái tôi đã thấm nhuần tinh thần yêu nước và cảm hứng sử thi Bởi trong những thời điểm ác liệt nhất của cuộc chiến, con người có thể sẽ trải qua những giây phút mệt mỏi…và sự trở về với tình cảm đời thường sẽ làm con người cân bằng trạng thái để có thêm năng lượng cho những cuộc chiến tiếp theo:

“Đây tôi sống những ngày nhân hậu nhất

Mỗi mai hồng áo trắng đến thăm tôi Nghiêng những đài sen, nghiêng tiếng hát Che nỗi đau trong bóng nụ hoa cười”

(Ý nghĩ mùa xuân) [69, 69]

Có thể nói, từ Ánh sáng và phù sa, cái tôi trữ tình của Chế Lan Viên đã có sự

hòa nhập giữa niềm vui chung với niềm vui riêng Dù đâu đó có những câu thơ, bài thơ còn mang nặng tâm trạng bùi ngùi, xót xa Nhưng đây là tập thơ đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ nhất của một hồn thơ đã tự nguyện đi theo tiếng gọi của Cách mạng

Thơ Chế Lan Viên trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ được xem như là thứ vũ khí sắc bén để cải tạo tư tưởng, để xung trận chiến đấu Cuộc kháng chiến ác liệt đó đã đặt con người, cuộc sống và nghệ thuật vào thế phải tự vươn lên một tầm cao mới xứng đáng với tinh thần của thời đại Các tập thơ chống Mỹ của

Chế Lan Viên ra đời trong những ngày tháng ác liệt đó: Hoa ngày thường, chim

báo bão (1967); Những bài thơ đánh giặc (1972); Đối thoại mới (1973)…là minh

chứng cho sự hòa nhập giữa cái tôi và cái ta Cái tôi (Chế Lan Viên) và cái ta (dân tộc, nhân loại) hòa quyện làm một, tất cả vì mục đích lớn của dân tộc

Hiện thực đời sống thời kỳ chống Mỹ là nguồn cảm hứng cho Chế Lan Viên có thêm nhiều vần thơ tràn đầy sức sống Tâm hồn nhà thơ rộng mở hướng tới khắp mọi miền của Tổ quốc để nhạy bén thu nhận chất thơ của đời sống và hòa nhịp sống

Trang 28

của mình với nhịp sống của dân tộc Những nhiệm vụ quan trọng của đất nước ta được nhà thơ ghi dấu bằng một loạt các bài thơ hay Từ năm 1965, khi cả nước hòa chung là một chiến trường chống Mỹ, cái tôi chiến sĩ của Chế Lan Viên lại bùng cháy

với sự hào sảng khi tố cáo tội ác của quân thù với lời kêu gọi: “Hãy giết sạch lũ hung

thần bóng tối” Không chỉ có vậy, nhà thơ đã nhận thức sâu sắc hơn về vẻ đẹp của Tổ

quốc và sự gắn bó rất đỗi đằm thắm, tha thiết “như máu thịt”, như “mẹ cha ta” như

“vợ như chồng” của con người Việt Nam

Càng yêu Tổ quốc, nhà thơ càng nhận thức sâu sắc bản chất của kẻ thù và những nỗi đau mà dân tộc phải trải qua, càng làm bùng lên nỗi khát khao về một

cuộc sống yên bình hạnh phúc Cái tôi trữ tình đã thực sự gắn bó máu thịt, nặng

nghĩa với lịch sử dân tộc, với cách mạng Tính thời sự là một trong những đặc điểm quan trọng của thơ Chế Lan Viên giai đoạn này Nhà thơ khẳng định sự có mặt của cách mạng đã làm thay đổi hiện thực, làm tỏa nắng cho tâm hồn một thời u ám của mình:

“Những năm cách mạng chưa về

Vườn ta có hoa mà không đậu quả Rặng liễu tâm hồn chưa xanh tơ mà đã úa vàng Nhiều chim bằng chưa bay đã hóa cu nhà, chim sâu ăn đất Chưa gặp trời đã gãy cánh giữa lồng nan.”

(Nghĩ về thơ) [69, 102]

Trong những năm kháng chiến ác liệt nhất của lịch sử dân tộc, Chế Lan Viên luôn là con chim đầu đàn trong việc bám sát vào những vấn đề nóng bỏng nhất của cuộc chiến Và cũng từ mảnh đất hiện thực màu mỡ ấy, thơ Chế Lan Viên thực sự là tiếng kèn xung trận trong mọi cuộc chiến Nhà thơ nhận ra rằng, hiện thực luôn có những vẻ đẹp tiềm ẩn, nếu nhà thơ không mở lòng đón nhận thì sẽ không bao giờ

hiểu được cuộc sống, bởi: “Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép” Nếu không có

sự tìm tòi sáng tạo thì thơ sẽ không thể nói lên điều gì có ích:

Trang 29

“Cuộc sống đánh vào thơ trăm nghìn lớp sóng

Chớ ngồi trong phòng ăn bọt bể, anh ơi!

Tâm hồn anh là của đời một nửa Một nửa kia lại cũng của đời”

1.3 Những yếu tố tạo nên sự chuyển biến của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau năm 1975

Cái tôi trữ tình với tư cách là một hiện tượng nghệ thuật, nó có sự hình thành,

phát triển, kết thúc hoặc chuyển hóa sang một dạng khác Quá trình vận động ấy sẽ khó hình dung một cách đầy đủ trong thơ của một số tác giả khi sự nghiệp thơ của

họ quá ngắn ngủi với một vài ấn phẩm Nhưng với các tác giả có số lượng tác phẩm nhiều, lại sáng tác qua các giai đoạn lịch sử và văn học có nhiều biến chuyển thì dấu

ấn của sự vận động lại càng rõ nét

Sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của Chế Lan Viên kéo dài hơn nửa thế kỷ qua ba chặng đường lớn của dân tộc và văn học Việt Nam thế kỷ XX Nghiên cứu, tìm hiểu thơ Chế Lan Viên, ai cũng dễ dàng nhận thấy, thơ ông giữa giai đoạn trước với giai đoạn sau đều có những bước tiến triển

Trang 30

Có thể nêu lên đây những yếu tố tạo nên sự chuyển biến của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau 1975:

1.3.1 Sự thay đổi về hoàn cảnh xã hội

Đây được xem là nguyên nhân khách quan Giữa hoàn cảnh xã hội và tiến trình văn học có mối quan hệ khăng khít, gắn bó chặt chẽ với nhau, cho nên, không phải ngẫu nhiên mà trong các bài văn học sử về giai đoạn văn học này đều phải thông qua bước tìm hiểu hoàn cảnh xã hội, văn hóa tư tưởng Hoàn cảnh này có những tác

động nhất định đến cái tôi trữ tình Bởi vì, cái tôi trữ tình bao giờ cũng là sản phẩm

của một thời đại Nói đến hoàn cảnh xã hội còn là nói đến sự tiếp nhận của người đọc Trong sáng tạo nghệ thuật, không thể không chú ý đến đối tượng tiếp nhận Có một thực tế là nhà thơ đã tạo ra công chúng của mình nhưng công chúng cũng có thể tạo ra nhà thơ của họ

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, hòa bình được lặp lại, đất nước ta hoàn toàn thống nhất về mặt lãnh thổ, cả nước bắt tay vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa với những nhiệm vụ quan trọng cho từng miền Mặc dù khó khăn còn nhiều, nhưng với sự quyết tâm không biết mệt mỏi của toàn Đảng, toàn dân, đất nước ta dần lấy lại được cân bằng và bước đầu có những thành tựu đáng kể Thắng lợi đó đã thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân là xây dựng một đất nước giàu mạnh, thống nhất, từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội

Trải qua 10 năm thực hiện kế hoạch 5 năm lần 1 và lần 2 (1976 - 1980 và 1981

- 1985), Việt Nam đạt được những kết quả nhất định trên cả hai phương diện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song cũng gặp nhiều khó khăn Đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội, do những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện Để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng và vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, phải tiến hành công cuộc đổi mới Những thay đổi của tình hình thế giới và quan hệ giữa các nước do tác động của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật trở thành xu thế tất yếu Trong thời điểm đó, đổi mới là yêu cầu

Trang 31

cấp bách, có ý nghĩa sống còn đối với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời là vấn đề phù hợp với xu thế chung của thời đại

Từ Đại hội VI (12/1986) trở đi, Đảng ta đã đề ra những quan điểm đổi mới, nhưng không phải là thay đổi mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà làm cho mục tiêu

ấy được thực hiện có hiệu quả với những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp

Đồng thời phải đổi mới toàn diện và đồng bộ, từ kinh tế và chính trị đến tổ chức, tư tưởng, văn hoá Đảng ta xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân; lấy liên minh công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, coi dân chủ vừa là mục tiêu vừa

là động lực của công cuộc đổi mới

Từ những thay đổi quan trọng về tình hình kinh tế, xã hội và văn hóa xã hội đã

có những tác động tích cực đến nền văn học nói chung và thơ Chế Lan Viên nói riêng Sau năm 1986, văn học thực sự đổi mới cùng đất nước Trong hai ngày, 06 và

07 tháng 10 năm 1987, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã có buổi nói chuyện với gần 100 văn nghệ sĩ Không khí dân chủ thực sự được mở rộng Các nghệ sĩ được nói lên tiếng nói của chính mình sau một thời gian dài nén chặt Từ đó, rất nhiều cuộc hội thảo, các cuộc tranh luận đã diễn ra nhằm xác định hướng đi mới cho nền văn học hòa bình với nhiều vấn đề lý luận, như: Quan hệ giữa văn học và chính trị; Vấn đề tự do sáng tác; Vấn đề phản ánh hiện thực; Đánh giá thành tựu văn học thông qua các hiện tượng văn học…

Các thể loại văn học bắt đầu có những chuyển biến mạnh mẽ trên tinh thần đổi mới của đất nước Ký trở thành thể loại xung kích hàng đầu thể hiện những mặt tiêu cực của đời sống Cảm hứng phê phán những mặt trái của xã hội đã được bạn đọc đón nhận Truyện ngắn và tiểu thuyết cũng thể hiện chiều sâu của các vấn đề thời sự nóng bỏng với các cây bút tiêu biểu: Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Quang Lập, Đỗ Chu…Thơ ca cũng đã bắt đầu nói lên tiếng nói của số phận cá nhân với những buồn vui thường nhật của cuộc sống

Trang 32

Sau ngày đất nước thống nhất (1975), Chế Lan Viên cùng gia đình vào Sài Gòn sinh sống và tiếp tục con đường sáng tạo nghệ thuật không biết mệt mỏi của mình Trong số các nhà thơ trưởng thành từ cách mạng thì Chế Lan Viên vẫn được coi là người đi đầu trong quá trình đổi mới của văn học nói chung và thơ ca nói riêng Nghiên cứu thơ Chế Lan Viên từ sau năm 1975, ta cũng thấy rõ sự ảnh hưởng to lớn

của hoàn cảnh xã hội đối với sự hình thành và phát triển của cái tôi trữ tình trong thơ ông Thời kỳ sau 1975, cuộc sống và nghệ thuật trở lại với muôn mặt đời thường, thị

hiếu thẩm mỹ của người đọc thay đổi, người ta quan tâm nhiều đến những tác phẩm phản ánh đời tư thế sự, đến đời sống cá nhân Điều đó buộc nhà thơ thay đổi giọng

điệu, từ giọng “vang ngân” chuyển sang “giọng trầm” của cuộc sống thường nhật: “Xưa tôi hát mà bây giờ tôi tập nói

Chỉ nói thôi mới nói hết được đời.”

(Sổ tay thơ) [72, 131]

Hay:

“Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng trầm

Tiếng hát lẫn vào im lìm của đất”

(Giọng trầm) [77, 187]

Trong khoảng vài năm cuối đời (1986, 1987, 1988, 1989), Chế Lan Viên tăng ngòi bút với số lượng tác phẩm không nhỏ Điều đó chứng tỏ nhà thơ đã có một giai đoạn đổi mới cùng đất nước và văn học Những thay đổi về đời sống - xã hội cũng

đã tác động lớn đến ngòi bút Chế Lan Viên Trong khung cảnh hòa bình, nhà thơ có thêm nhiều điều kiện, cả về vật chất lẫn tinh thần và thời gian để sáng tạo nên những vần thơ có ý nghĩa

1.3.2 Sự thay đổi trong quan niệm thẩm mỹ về con người

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, con người được thể hiện khá đa dạng, phong phú qua các sáng tác của các nghệ sĩ Trước năm 1945, những nhân vật trong tác phẩm được xây dựng với những khát vọng vươn lên thật chính đáng Tuy nhiên, sống trong bùn lầy của xã hội cũ, họ lại không có lý tưởng thật sự để phấn đấu và

Trang 33

vươn lên Lúc này con người cá nhân còn chưa định hình được rõ nét Chính vì vậy, tâm thế cô đơn, vô vọng, buồn chán choáng ngợp trên nhiều trang sách

Sau năm 1945, dân tộc giành được độc lập, văn học cũng được giải phóng Trong văn học đã xuất hiện kiểu con người mới, kiểu con người vừa thoát khỏi bùn đen nô lệ để bước vào cuộc đời tự do Họ là những người có ý thức, được giác ngộ

lý tưởng Lúc đầu, những con người đó được văn học mô tả một cách đơn giản nhưng đầy nhiệt tình cách mạng Về sau nhờ được tôi luyện trong các cuộc kháng chiến và cả trong xây dựng nên dần dần họ trở thành đối tượng thẩm mỹ quan trọng của văn học

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), con người mới được văn học miêu tả trên bình diện số đông Họ là con người quần chúng Mặc dù đó là những con người có tên, có tuổi nhưng người ta chỉ nhận ra họ trong tập thể Trong

các tác phẩm giai đoạn này, nổi bật lên là nhân vật “đám đông” nên vai trò của con

người cá thể bị giới hạn

Bước sang giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân vật trung tâm của tác phẩm chính là con người tập thể, con người của độc lập tự do Những nhân vật điển hình của văn học thời kỳ mới đã bắt đầu xuất hiện Họ là những con người có xương có thịt, có tính cách rõ ràng Trong thời kỳ chiến tranh, văn học chỉ quan tâm đến vận mệnh của cả dân tộc nên con người Việt Nam đã đoàn kết lại thành một khối vững mạnh để đương đầu với mọi thách thức, có lúc tưởng như không thể vượt qua được Người cầm bút lúc này có nghĩa vụ tham gia vào cuộc đấu tranh lớn lao đó của cả dân tộc Nhà văn cũng là người chiến sĩ đã làm trọn sứ mạng lịch sử đã giao phó

Sau ngày đất nước thống nhất, mặc dù hiện thực đã có sự thay đổi nhất định nhưng con tàu văn học vẫn chưa thoát khỏi quán tính cũ Văn học đã bắt đầu rũ bỏ

bộ áo khoác cũ nhưng chưa bắt nhịp được với cuộc sống mới Nhà văn Nguyên

Ngọc gọi đây là khoảng chân không của văn học Các tác phẩm văn học chủ yếu

vẫn được viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn và vẫn viết về những vấn đề lớn của dân tộc Cảm hứng chính trong thơ ca là ngợi ca những năm

Trang 34

tháng hào hùng đã qua Các nhân vật được các nhà văn xây dựng vẫn thường là đại diện cho cộng đồng

Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, văn học ta bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu đổi mới và đổi mới mạnh mẽ từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Cuộc đổi mới đó đã tạo đà bứt phá cho nhiều nhà văn Trong không khí dân chủ hoá, văn học

đã gặt hái được nhiều thành tựu nổi bật ở lực lượng sáng tác, ở sự phong phú của đề tài, ở sự đa phong cách và phương thức thể hiện Tất cả đã làm cho văn học sự gần gũi với đời sống hàng ngày của con người thời bình với bao trăn trở, lo toan Văn học thế sự - đời tư chiếm ưu thế Dòng văn học này đặc biệt quan tâm đến con người Nếu như trước đây, văn học đã phải tạm gác lại những gì là riêng tư của từng

cá nhân con người thì ngày nay những vấn đề đó lại mang tính thời sự hơn bao giờ hết Văn học đã cất cao tiếng nói phục vụ con người và cuộc sống

Chế Lan Viên là nhà thơ của thời Thơ Mới đi theo cách mạng với những sáng tác chủ yếu trong kháng chiến Sau chiến tranh, ông cũng đã nỗ lực hết mình để đi tìm những biểu hiện mới trong cuộc sống thời bình Và những bài thơ được sáng tác

sau năm 1975, đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới với ba tập Di cảo thơ là thành quả

của quá trình tìm tòi không biết mệt mỏi đó Đây được xem là một di sản quý mà nhà thơ đã để lại cho đời Một trong những vấn đề được giới nghiên cứu và bạn đọc quan tâm đó chính là tư tưởng về tính phức tạp của con người Chế Lan Viên nhận

ra rằng, con người ở mỗi giai đoạn lịch sử mang một sứ mệnh khác nhau Nếu như trước 1975, mà chủ yếu là trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ con người được miêu tả còn đơn giản hoặc là con người hoà vào cái ta chung thì trong thời kỳ đổi mới, quan niệm về con người của Chế Lan Viên đã đổi khác Con người trở thành những cá nhân cụ thể Họ là một kho tàng bí mật không dễ gì khám phá Con người với tất cả cảm xúc từ niềm vui - nỗi buồn, cái thiện - cái ác, cái cao cả - cái thấp hèn, tin tưởng - hoài nghi, hy vọng - thất vọng , có niềm vui, cô đơn lạnh lẽo, có những chiêm nghiệm về cuộc đời, có suy nghĩ về sự sống và cái chết đều được nhà thơ thể hiện một cách sắc sảo trong thơ sau 1975

Nhận thức tư tưởng về tính phức tạp của con người qua từng thời kỳ và đặc biệt

là trong những năm đổi mới của văn học đã cho ta thấy sự thay đổi trong tư tưởng

Trang 35

nhận thức của Chế Lan Viên Cách mạng tháng Tám thành công đã đem đến cho

Chế Lan Viên nguồn cảm hứng vô tận Chế Lan Viên luôn là người con trung thành nhất của Đảng và Cách mạng Con người hiện hữu trong thơ ông là sự thống nhất giữa ý chí và hành động Trên phương diện tư tưởng, người đọc dễ nhận thấy Chế

Lan Viên luôn trung thành với sự nghiệp của cách mạng, luôn “suy nghĩ trong

những điều Đảng nghĩ” và luôn “bay theo đường dân tộc đang bay” Thơ Chế Lan

Viên xứng đáng là ngọn cờ đầu trong cuộc chiến đấu trên mặt trận tư tưởng Trước hiện thực đời sống chiến tranh đầy biến động, nhà thơ như hoà mình vào nỗi đau

nhưng rất hào hùng của dân tộc

Ở vào thời điểm cuộc chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất, Chế Lan Viên là nhà thơ đi đầu trong đoàn quân tình nguyện đứng trong hàng ngũ người lính trực diện

đối mặt với quân thù Nhà thơ nhận thức rõ được vị trí của mình giữa lòng dân tộc:

“Cho tôi sinh giữa những ngày diệt Mỹ,

Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ

Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi.”

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng) [69, 100]

Con người công dân thể hiện rõ nét trong hoàn cảnh cả nước đang sôi sục khí thế đánh thắng trận đầu, sẵn sàng chiến đấu với quân thù trong những cuộc đọ sức tiếp theo Bầu máu nóng ấy đã đi suốt chiều dài của cuộc kháng chiến lần hai của dân tộc mà không chút băn khoăn

Trong những năm ác liệt nhất của cuộc chiến tranh, con người hiện lên rất rõ ràng, thẳng băng trong suy nghĩ và trong hành động Chế Lan Viên cũng không phải

là một ngoại lệ Ông dành trọn vẹn tình yêu cho quê hương, đất nước, với gia đình, bạn bè và hết lòng cổ vũ cho cuộc chiến Chính vì vậy, thay mặt cho lớp lớp người

dân Việt Nam, Chế Lan Viên đã chạm vào “huyệt thần kinh nhạy bén nhất”, thiêng

liêng nhất của con người, chính là tình yêu Tổ quốc:

“Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt,

Như mẹ cha ta, như vợ như chồng

Trang 36

Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi con sông ”

(Sao chiến thắng) [70, 78]

Những năm tháng chiến tranh ác liệt đã khép lại, chân trời của độc lập - tự do được mở ra Con người được sống với ý nghĩa đích thực khi bắt tay vào xây dựng cuộc đời mới với niềm hy vọng và khát khao một cuộc sống tươi đẹp Đảng Cộng sản Việt Nam với vai trò lãnh đạo sáng suốt không chỉ trong những năm tháng chiến tranh, mà ngay cả trong thời bình cũng thể hiện rõ vai trò của mình với quyết định đưa đất nước ta vào công cuộc Đổi mới toàn diện (1986)

Cùng với sự đổi mới của đất nước, quan niệm về con người của Chế Lan Viên

cũng thay đổi Vào đầu những năm 80, Chế Lan Viên từng có ý định: “Vực sự sống

ba chiều - lên trang thơ hai mặt phẳng” Và đến năm 1988, là năm nhà thơ đang

phải chống chọi lại bệnh tật, ông lại viết:

“Anh là tháp Bay - On bốn mặt

Giấu đi ba, còn lại đấy là anh Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình”

(Tháp Bay - On bốn mặt) [77, 81]

Chính những câu thơ đó đã khơi nguồn cho một quan niệm mới về con người

của Chế Lan Viên Bạn đọc đã có người không khỏi băn khoăn: “Chế Lan Viên té ra

là người hai mặt trong thơ, rằng trước đây, ông đã có cơ hội che đi, giấu đi bộ mặt thật của mình Quả thật, người đọc có quyền hiểu như thế Nhưng sự thật đâu chỉ có thế Xét về ý nghĩa triết học, mỗi con người là cả một vũ trụ đầy bí ẩn với muôn mặt khác

nhau được giấu bên trong” [37, 68] Quả đúng như vậy, con người giờ đây không

phải là con người tập thể như thời chiến tranh nữa, mà nó là một “tiểu vũ trụ” với

rất nhiều chiều phức tạp Trong đó, con người chứa đựng nhiều mâu thuẫn nhưng

vẫn trong một chỉnh thể thống nhất Chế Lan Viên cũng không phải là con người “hai

mặt”, mà những gì trước đây và bây giờ ông nghĩ và hành động vẫn luôn thống nhất

Trang 37

trong một con người Có chăng là sự thể hiện khác nhau sao cho phù hợp với hiện thực

mà thôi Trước đây, vì yêu cầu của lịch sử, giữa cái chung và cái riêng, nhà thơ đã chọn

cái chung để cao giọng cổ vũ chiến đấu Chế Lan Viên đã từng nhận ra rằng: “Khi

riêng tây, ta thấy mình xấu hổ / Khi nhìn đời, mỗi lá mỗi tơ non” (Người thay đổi

đời tôi - Người thay đổi thơ tôi) [70, 37]

Con người trong chiến tranh phải dẹp đi mọi riêng tư để tập trung vào nhiệm vụ lớn Nhưng bước sang thời kỳ đổi mới, những con người năm xưa ấy lại nhận nhiệm

vụ mới không kém phần quan trọng, đó là đấu tranh với cái đói, cái nghèo, cái lạc hậu Điều đó càng làm cho con người bộc lộ rõ những sự phức tạp trong tư tưởng Chế Lan Viên nhận ra:

“Chúng ta ở trên đời không phải để ra lộc ra hoa

mà còn để mang thương tích

Cũng không phải chỉ nỗi đau cao sang mà

là hủi cùi ghẻ lở đục hình hài

Ở đời không hài thì cũng phải chơi bi kịch

Màn mở, trống rung rồi, anh phải đội mũ mang hia lên,

Mang số phận vào người”

(Nhiệm vụ) [79, 42]

Bài thơ đã thể hiện và khẳng định ý nghĩa của cái riêng trong mỗi cá nhân trước cái chung đó Đây là bước chuyển hoàn toàn biện chứng trong nhận thức về con người cùng tính phức tạp của nó trong thơ Chế Lan Viên sau 1975 Trước đây, văn

học nhận diện “con người quần chúng, con người tập thể, con người chính trị và

dân tộc” (Trần Đình Sử) thì sau 1975, nhất là khi bước vào công cuộc đổi mới, con

người thế sự - đời tư hiện diện trên từng trang thơ của Chế Lan Viên

Như vậy, trong suốt hành trình sáng tạo thơ của mình, Chế Lan Viên luôn có những tìm tòi, khám phá mới mẻ để tìm về cội nguồn bản thể người Cả một hành trình dài hơn năm mươi năm sáng tạo nghệ thuật, thực chất thơ Chế Lan Viên chỉ

Trang 38

xoay quanh hai câu hỏi: Ta là ai và Ta vì ai? Thuở Điêu tàn, Chế Lan Viên băn

khoăn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Ta là ai? Trong những năm kháng chiến, nhà

thơ đã phấn đấu không biết mệt mỏi cho câu hỏi “Ta vì ai?” Đến cuối đời, trong Di

cảo thơ, Chế Lan Viên lại quay trở về với câu hỏi: Ta là ai? Từ Điêu tàn đến Di cảo thơ, những câu hỏi ấy như một vòng tròn khép kín của bản thể người Như một

nỗi ám ảnh vô hình, Chế Lan Viên luôn nỗ lực hết mình nhằm tìm ra câu trả lời thích đáng nhất

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Những vấn đề đã nêu ở chương 1 có ý nghĩa định hướng cho những vấn đề lý

thuyết liên quan đến đề tài Thơ trữ tình mà hạt nhân là cái tôi trữ tình luôn được các nhà thơ quan tâm thể hiện Cái tôi trữ tình trong thơ với những đặc trưng cơ bản

là yếu tố quan trọng để người đọc nhận diện phong cách nghệ thuật của một tác giả

cụ thể, thậm chí là cả một nền thơ

Cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên luôn có sự vận động theo thời gian Sau

năm 1975, những thay đổi về đời sống xã hội đã kéo theo những chuyển động trong

ý thức nghề nghiệp cũng như quan niệm thẩm mỹ về con người Hành trình thơ Chế Lan Viên luôn song hành cùng thời đại nên mọi sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc đều được phản ánh một cách chân thực và sống động Thơ Chế Lan Viên sau năm 1975, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới luôn thể hiện sự trăn trở của một hồn thơ lớn trước những thay đổi của cuộc sống

Trang 39

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SAU 1975 2.1 Cái tôi thế sự, đời tư

2.1.1 Những băn khoăn, chiêm nghiệm về các vấn đề vĩnh cửu của cuộc sống

Nếu như văn học Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến trải qua quá trình nhận thức và thể hiện con người quần chúng, con người tập thể, con người chính trị và dân tộc, thì sau năm 1975, con người thế sự - đời tư đã hiện lên với dáng vẻ phong phú, sinh động và phức tạp Trở về với những âu lo trong đời sống thường nhật là xu hướng được các nhà thơ quan tâm thể hiện Số phận của cá nhân, những bất cập trong

xã hội, nỗi lo toan đời thường, sự nghiệt ngã của chiến tranh thời hậu chiến…là những mảng đề tài lớn trong văn học giai đoạn này Cảm nhận và thể hiện hiện thực một cách thẳng thắn, trung thực là một đặc điểm quan trọng trong thơ Chế Lan Viên sau năm 1975 Nhìn cuộc đời bằng cái nhìn tỉnh táo, và nói lên tiếng nói của cá nhân, nhà thơ đã chỉ ra những khó khăn của cuộc sống thường nhật và bày tỏ sự phê phán những mặt trái của xã hội Cùng với đó, những nhu cầu chính đáng của con người cũng như sự đa dạng, muôn hình muôn vẻ của cuộc sống lần đầu tiên được biểu hiện trong thơ của Chế Lan Viên sau 1975

Ngay từ tập thơ Hái theo mùa (1977), Chế Lan Viên đã bộc lộ những suy ngẫm, những điều trăn trở về đời Nhưng phải đến tập Hoa trên đá (1984), những

suy tư ấy mới thật sự bùng nổ Tập thơ đã phản ánh được quá trình vận động từ văn học sử thi sang văn học thế sự - đời tư xuất hiện vào đầu thập kỷ 80 và trở nên

mạnh mẽ từ sau Đại hội VI của Đảng “Những nhu cầu xã hội và cá nhân dần dần

trở thành trung tâm của tiếng nói trữ tình”, nhà thơ “bắt đầu bộc lộ những trăn trở nhận thức về trách nhiệm của người cầm bút trước nhiều vấn đề nhân thế mà trước

đây thơ còn ít quan tâm” [5, 225] Cái mới của tập Hoa trên đá chính là ở chỗ nhà

thơ đã gửi gắm, đã “bộc lộ tâm tình và triết luận về các vấn đề muôn thuở của nhân

sinh” Những “suy tư, chiêm nghiệm làm cho giọng thơ ông trầm xuống phảng phất một nỗi quan hoài…” [5, 226] Nhà thơ bắt đầu suy tư về thời gian đời người, về

công việc của mình:

Trang 40

“Chiều rồi!

Chim gọi anh về thôi!

Hãy thu đội hình thi tứ lại Lùa nghìn câu tản mát của anh vào trang giấy Bài thơ một đời của anh đâu? Khất mãi

Viết nhanh lên! Nắng hết, chiều rồi”

(Thơ bình phương - Đời lập phương) [75, 80]

Là một trong những nhà thơ tiên phong của nền thơ cách mạng, đã từng trải qua những giây phút hào hùng nhất của lịch sử dân tộc, Chế Lan Viên có một thời cống hiến hết mình cho mục tiêu chung của thời đại Thế nhưng, khi đất nước đã hòa bình, dân tộc Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng cuộc sống mới, đặc biệt là từ năm 1986 trở đi, khi Đảng và nhà nước đưa ra những chính sách đổi mới toàn diện,

Chế Lan Viên không khỏi hụt hẫng bởi sự thay đổi quá nhanh của cuộc sống: “Thế

kỷ 20 Nôn mửa thành cổ điển / Và phá phách vào Hàn lâm viện / Họ chia ra buồn tiền chiến và say hậu chiến / Biến chén rượu hạt mít và cái ao nhà thành ra biển / Dựng cặp đùi lên thành Khải hoàn môn / Giết hết hoa sen để vạn tuế buồn / Họ lao trượt ái tình như trẻ con chơi cầu trượt…/ Đồ vật là chúa tể mà / Nhân loại sắp hoàng hôn” (Mô - đéc) [78, 120]

Nền kinh tế thị trường đã đem lại cho cuộc sống nhiều khởi sắc, nhưng mặt khác, những lo toan đời thường cũng khiến con người dường dần quên đi những giá trị nhân văn Cuộc sống mới với những khó khăn, thiếu thốn đã chi phối không ít đến tư tưởng nhà thơ:

“Đêm ngủ chỉ toàn lo vật giá

Xa dần truyện ngắn, bớt dần thơ”

(Cảnh điền viên) [78, 42]

Ngày đăng: 21/12/2017, 21:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm