Hoà mình vào dòng thác nhân dân, đi theo cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc- nhà văn hiện thực Nam Cao vui vẻ làm một anh “tuyên truyền viên nhãi nhép” trong hàng quân trùng trùng điệp
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
d d d
-TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
SỰ CHUYỂN ĐỔI QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN TRƯỚC VÀ SAU
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
Người hướng dẫn : TS Hoàng Đức Khoa Người thực hiện : Nguyễn Thị Toán Lớp : Cao học văn K15
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong lịch sử nhân loại, lịch sử mỗi dân tộc có những cuộc cách mạng không chỉ đem lại những biến chuyển sâu sắc về xã hội mà còn kéo theo sự biến chuyển của quan niệm văn chương, của tư duy nghệ thuật Một nhà văn, nhà thơ lớn không thể không gắn mình với những thăng trầm của thời đại với số phận của cộng đồng Cách mạng tháng 8 năm 1945 ở Việt Nam không chỉ mở ra một trang sử vàng chói lọi đưa cả dân tộc từ vũng bùn nô lệ bước ra ánh sáng độc lập - tự do mà còn mở ra hướng đi mới cho cả đội ngũ những người cầm bút trước cách mạng Hoà mình vào dòng thác nhân dân, đi theo cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc- nhà văn hiện thực Nam Cao vui vẻ làm một anh “tuyên truyền viên nhãi nhép” trong hàng quân trùng trùng điệp điệp Nhà văn lãng mạn Nguyễn Tuân thì gọi đó là một cuộc “lột xác” Xuân Diệu “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” - (Hoài Thanh- thi nhân Việt Nam) đã từng đem “cái tôi” của mình thách thức nhân gian:
“Ta là một, là riêng, là thứ nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta”
Thì sau Cách mạng đã hoà nhập với cuộc sống của nhân dân một cách tự nguyện, chân thành, sôi nổi và hồn nhiên nhất:
“Tôi cùng xương, cùng thịt với nhân dân của tôi
Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu Tôi sống với cuộc đời chiến đấu Của triệu người yêu dấu, gian lao”
Riêng Chế Lan Viên - để có thể “phá cô đơn ta hoà hợp với đời” nhà thơ đã phải trải qua rất nhiều trăn trở, suy tư, vật vã Đó là cả một cuộc hành trình vô vàn khó khăn để từ “thung lũng đau thương ra cánh đồng
Trang 3vui”, từ “chân trời một người đên chân trời tất cả” Đó cũng là hành trình đi tìm chân lý đích thực của nghệ thuật Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ đặt ra trong thơ mình những câu hỏi nhức nhối:
“Ta là ai Như ngọn gió siêu hình Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt
Ta vì ai?
Khẽ xoay chiều ngọn bấc Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh
Có khi phân thân như một sự hướng ngoại nhưng thực chất là hướng nội để hỏi chính lòng mình:
“Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng …” để rồi sau một cuộc đấu tranh tư tưởng gay go quyết liệt, nhà thơ đã đoạn tuyệt được với quá khứ, vơi cái tôi vị kỷ để đi đến sự khẳng định dứt khoát:
“Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép”
Chế Lan Viên thường dùng hình tượng để triển khai và bộc lộ ý tưởng, dùng thơ để triết lý về thơ và việc làm thơ Suy cho cùng điều gì làm nên sự khác biệt của thơ ông trước và sau Cách mạng? Đó chính là sự đổi thay quan niệm nghệ thuật của người cầm bút Thay vì đào xới loanh quanh cái bản ngã của chính mình, uống đến kiệt cùng đáy giếng cô đơn của hồn mình trong ba chữ “ta là ai”, nhà thơ trả lời câu hỏi “ ta vì ai” để đưa thơ đến giữa cuộc đời rộng lớn mà cuộc sống vĩ đại của nhân dân cần lao là nguồn cảm hứng dạt dào của thi ca không bao giờ vơi cạn
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Chế Lan Viên: con người
và sự nghiệp văn thơ của ông Trong tiểu luận này chúng tôi chỉ giới hạn vấn đề tìm hiểu sự thay đổi quan niệm nghệ thuật, của Chế Lan Viên trong thơ trước và sau Cách mạng mà theo chúng tôi đó là nguyên nhân của những bước ngoặt tạo nên những chặng đường thơ trong cuộc đời cầm bút
Trang 4của ông Thiết nghĩ điều đó sẽ giúp ích phần nào cho chúng tôi- những người làm công tác giảng dạy môn văn ở nhà trường PTTH
Trang 5NỘI DUNG
I Quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên trong thơ trước Cách mạng
Trước Cách mạng Chế Lan Viên là đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ Mới lãng mạn 1930 - 1945 Ông cũng là một trong những người sáng lập ra trường thơ “loạn”- 17 tuổi nổi tiếng với tập “Điêu tàn” và là một trong số các nhà thơ mới chịu ảnh hưởng sâu sắc của các trường phái thơ lãng mạn, siêu thực, tượng trưng ở Pháp thế kỷ XIX
Trong cảm nhận của Hoài Thanh - tác giả “Thi nhân Việt Nam”
“Điêu tàn” đã đột ngột xuất hiện giữa đồng bằng của Thơ Mới như một
“niềm kinh dị”, như một “Tháp Chàm lẻ loi và bí mật” - lẻ loi giữa không khí chung của Thơ Mới luc bấy giờ - đa số các nhà thơ say sưa mơ mộng trong thế giới của thiên nhiên và tình yêu với những khám phá mới mẻ Bí mật vì nó là một thế giới đầy bóng tối, thế giới của cõi âm với mồ hoang,
sọ người, xương khô, máu, tuỷ và những “bóng ma hời sờ soạn đêm thâu”… than khóc cho một vương quốc Chiêm thành nay chỉ còn là dấu tích hoang tàn đổ nát Đúng vậy khác xa với quan niệm của các nhà Thơ Mới đương thời đi tìm cái đẹp thuần tuý mang màu sắc duy mĩ:
“Tôi chỉ là một khách tình si Ham cái đẹp có muôn hình muôn vẻ”
(Cây đàn muôn điệu - Thế Lữ)
Chế Lan Viên tự chọn cho mình một khách thể lạ mang tính hư cấu, tưởng tượng, siêu hình Dựng nên một nước Chàm đổ nát điêu linh để khóc than có phải là từ những ám ảnh trong tâm thức về miền đất có dấu tích Chiêm Thành nơi tuổi thơ ông đã sống? Hay nguồn thi cảm lạ lùng ấy có gốc rễ triết học từ tư tưởng siêu hình như Chế Lan Viên đã tự bộc lộ về mình: “Mở đầu tôi yêu Chúa, rồi tôi yêu Phật”… cùng với trí tưởng tượng
Trang 6lạ kỳ thi sĩ đẩy những suy nghĩ của mình về phía hư vô và hư cấu nên những hình ảnh kinh dị, gửi vào đó một khát vọng mê cuồng, điên loạn:
“Hỡi chiếc sọ ta vô cùng rồ dại Muốn riết mi trong sức mạnh tay ta
Để những giọt máu đào còn đọng lại Theo hồn ta tuôn chảy những hồn thơ”
(Điệu nhạc điên cuồng)
Theo Vũ Tuấn Anh - tác giả của bài viết “Chế Lan Viên - một tâm hồn thi sĩ, một chân dung văn hoá”: Cùng với các nhà thơ của ‘trường thơ loạn,’’
“Điêu tàn” khởi sự một mĩ học mới trong thơ: đưa ra một quan niệm khác lạ
về thơ và sự xuất hiện một kiểu chủ thể trữ tình mới Chế Lan Viên viết trong lời tựa “Điêu tàn”: “Làm thơ là làm sự phi thường Thi sĩ không phải là người Nó là tiên, là ma, là quỷ, là tinh, là yêu Nó thoát hiện tại Nó xối trộn
dĩ vãng Nó ôm trùm tương lai”.Nhà thơ muốn xác lập một thế giới mới trong thi ca khác với quan hệ của đời thường - một thế giới dị thường
Đã có lúc người thơ hốt hoảng, sợ hãi muốn bứt mình ra khỏi thế giới ma quái ấy:
“Có ai không? Nắm giùm tay ta lại Hãy bẻ giùm cây bút của ta đi”
Điêu tàn là tiếng vọng đau đớn khắc khoải của một linh hồn trẻ tự nguyện gồng gánh trên vai bi kịch dân tộc, nỗi buồn thời đại Nhà thơ lý giải: “Điêu tàn có riêng gì cho nước Chiêm Thành yêu dấu của tôi đâu? Kia kìa - nó đang đục sọ dừa anh Tiếng xương rạn vỡ dội thấu đáy hồn tôi…”
Hồ Thế Hà-tác giả của “Người lạ mặt giữa thế giới Điêu tàn” đã đặt ra trong bài viết của mình câu hỏi: “Vì sao Chế Lan Viên lại chọn một khách thể tưởng tượng mang tính siêu hình?” Và cho rằng căn nguyên của tư tưởng này là vì: trước một hiện thực bế tắc khủng hoảng- (hiện thực xã hội Việt Nam trước Cách mạng) không biết bấu víu vào đâu- Chế Lan Viên đã
Trang 7chọn cho mình một lãnh địa phù hợp nhất để nói lên gián tiếp cái hiện thực
mà mình từng khắc khoải- nỗi đau tâm hồn của một kẻ mất nước:
“Tạo hoá hỡi! Trả tôi về Chiêm Quốc Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chán mắt Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn”
(Những sợi tơ lòng)
Theo tác giả Hồ Thế Hà đây là một sự lựa chọn nghệ thuật có thái
độ Sự lựa chọn này bộc lộ quan niệm nghệ thuật của riêng Chế Lan Viên:
“Cái đẹp chính là cái buồn, cái quái đản” và làm nên những “niềm kinh dị” trong “Điêu tàn”
Tương ứng với khách thể thẩm mĩ trên là một chủ thể sáng tạo đặc biệt cực đoan, thần bí, quái đản Ghi lại những chứng tích lên từng sự vật, hiện tượng- hiện vật nói lên khát vọng của con người trước dòng thời gian
vô định ở “Điêu tàn” có thể nói rằng đó là sự hồi sinh nối liền sự sống với cái chết Nhà thơ quay về quá vãng để nói nỗi bi phẫn của hiện tại bằng hình ảnh lạ và sự quái đản Điều đó khiến Chế Lan Viên trở thành người lạ mặt giữa thế giới điêu tàn nhưng lại là người quen biết của thời đại giữa lòng dân tộc Việt
Với “Điêu tàn” Chế Lan Viên không tránh khỏi rơi vào tư tưởng bi đát, hoài nghi vì ông cũng là một chủ thể bé nhỏ, nhưng đó là sự hoài nghi
có tính triết học: “Ai bảo giùm: ta có, có ta không?” Đó là điểm khởi đầu cho những nghi vấn xuất hiện: “Biết làm sao giữ mãi được ta đây” cuối cùng là sự từ bỏ thế giới siêu hình rợn ngợp để trở về với đời, với sự tươi rói của thiên nhiên tran trề nhựa sống trong cág bài thơ:“Xuân về”, “Trưa đơn giản”…
Mặc dù bao trùm cả tập thơ là nỗi chán chường, tuyệt vọng:
“Với tôi tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”
Trang 8Nhưng “với thi cảm này mặc dầu lạ lùng, mặc dầu quý báu, ông sẽ không thể nói được nhiều Nói nữa sẽ không khỏi rơi vào sự sáo, ông tự sáo với chính ông” (Lê Thiều Quang)
Sự bế tắc của hồn thơ Chế Lan Viên sẽ là hiển nhiên khi cái bóng của nhà thơ mất hút trong cõi siêu hình Đến “Vàng sao” (1942)- Chế Lan Viên ca tụng cái đẹp linh thiêng, tìm đến cúi mình trước những tượng trưng tôn giáo: “Thích Ca! GiêSu! Khổng Khâu! Lão Tử! tôi đều thành tâm cúi đầu trước uy linh huyền diệu của các ngài”
Tóm lại: trước Cách mạng với quan niệm thi sĩ là điên, là ma, là quỷ,
là tinh, là yêu- làm thơ là sáng tạo ra một thế giới mới khác hẳn Chế Lan Viên đã sáng tạo trong thơ mình một khách thể thẩm mĩ mang tính tưởng tượng, hư cấu, siêu hình và một chủ thể mang tính cực đoan, thần bí, quái đản, được chỉ đạo bởi tư duy hỗn hợp hoà nhập những yếu tố huyền thoại, thần bí, kinh dị pha đậm màu sắc tôn giáo (khác hẳn thế giới vườn trần trong thơ Xuân Diệu hay màu sắc tôn giáo siêu thực trong thơ Hàn Mặc Tử) Bởi vậy, Chế Lan Viên đã tạo dựng lên một lâu đài thơ “Điêu tàn”, kinh dị Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên trong thơ giai đoạn sau Cách mạng không chỉ do yếu tố khách quan là yêu cầu của thời đại mới mà có gốc rễ từ nhu cầu nội tại: muốn thoát khỏi tư tưởng siêu hình, bế tắc, thoát khỏi thế giới của hồn ma để trở về với thế giới thực của
sự sống tươi xanh, tưng bừng và rộn rã Đó là sự đổi hướng cảm xúc và một cách nhìn mới về hiện thực, một sự thể nghiệm mới về thơ Cách mạng
đã thay đổi số phận của cả một dân tộc và chắp cánh cho hồn thơ Chế Lan Viên bay bổng đến chân trời mới đầy niềm tin, hy vọng ở tương lai
II Quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên trong thơ sau Cách mang tháng Tám 1945 đến 1975.
“Tâm hồn tôi khi Tổ Quốc soi vào Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ Con ngọc trai, đêm hè, đáy bể
Trang 9Uống thuỷ triều bỗng sáng hạt châu”
Cách mạng đến như một vầng ánh sáng chói lọi ấm áp xua tan bóng
ma siêu hình lạnh lẽo ám ảnh, dồn đẩy Chế Lan Viên vào chân tường bế tắc Tập thơ “Gửi các anh” (1955) là hoa trái đầu mùa mà nhà thơ hái được trên con đường thơ Cách mạng Tiếp đến là những tập thơ: “Ánh sáng và phù sa”, “Hoa ngày thường, chim báo bão …” thêm một lần mang đến cho người đọc “niềm kinh dị”, sửng sốt bởi tài hoa, trí tuệ, cảm xúc thơ Chế Lan Viên Hồn thơ ông đã hoàn toàn đổi khác Trước kia thi sĩ trăn trở với câu hỏi: “Ta là ai” trong nỗi cô đơn, tuyệt vọng bởi thời đại còn chìm trong đêm đen với những phong trào Cách mạng bị dìm trong bể máu (phong trào
Xô Viết Nghệ Tĩnh, khởi nghĩa Nam Kỳ) thì nay ông đi tìm sự trả lời cho câu hỏi chứa đầy niềm tự hào bởi ý thức được sứ mệnh của người nghệ sĩ nhân dân “Ta vì ai?”
Trước kia Chế Lan Viên nhìn vào sự hoảng loạn của tâm hồn mình
để kêu lên nỗi bi ai thời đại thì nay ông nhìn ra cuộc sống rộng lớn của triệu triệu đồng bào trong cuộc kháng chiến và kiến quốc vĩ đại để cảm nhận cái đẹp, cái cao cả:
“Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia
Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc!
Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng…
… Ôi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường…”
(Tiếng hát con tàu)
Nếu như “Gửi các anh” đánh dấu sự chuyển hướng trong tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên bước đầu đến với Cách mạng thì “Ánh sáng
và phù sa” là trái chín ngọt ngào, là vụ mùa bội thu của sự hoà nhập đến tận cùng trái tim mình với nhân dân, đất nước Bởi vậy mà bên cạnh giọng thơ
Trang 10tràn ngập niềm vui, phấn chấn, tự hào, tin tưởng ở tương lai ta còn thấy trong thơ Chế Lan Viên một giọng ăn năn sám hối đầy day dứt và rất đỗi chân thành Trên con đường đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi lớn “Ta vì ai”, nhà thơ không đánh mất mình mà càng hiểu rõ hơn “Ta là ai” khi đặt “cái tôi” trong tương quan so sánh:
“Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp Giấc mơ con đè nát cuộc đời con Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn…
…Lòng ta thành con rối Cho cuộc đời giật giây…”
(Người đi tìm hình của nước)
Và:
… “Con đến Nha Trang ngắm trời bể đẹp
Có hay đâu hang Pắc Bó gió lùa Giường lãnh tụ là đôi hàng nứa ghép Manh áo chàm Bác mặc quá đơn sơ”
Đó là quá khứ Còn hiện tại:
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”
(Tiếng hát con tàu)
Lý tưởng thẩm mĩ của nhà thơ sau Cách mạng là “chất vàng mười”
mà nhân dân đã tôi luyện nên trong lửa đỏ của những năm kháng chiến gian lao, là “nhựa nóng” của máu và mồ hôi chiến sĩ, đồng bào khắp mọi miền đất nước đã và đang đổ xuống từng ngày Đó là nguồn cảm hứng dạt dào của thi ca nghệ thuật:
“Tây Bắc ơi người là mẹ của hồn thơ
Trang 11Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa
Nay trở về ta lấy lại vàng ta”
(Tiếng hát con tàu)
Nếu trong Điêu tàn cái tôi dị ứng, bất mãn với thời cuộc đến mức chỉ muốn quay lưng lại cả với mùa xuân trở thành nguồn thi cảm để chàng trai
17 tuổi phải thốt lên:
“Ai đâu trở lại mùa thu trước Nhặt lấy cho tôi những lá vàng Với của hoa tươi muôn cánh rã
Về đây đem chắn nẻo xuân sang”
Thì trong ánh sáng và phù sa là một cái tôi hạnh phúc vô bờ khi nghe tiếng gọi của Tổ Quốc mà ngỡ như tiếng giục giã của chính lòng mình:
“Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga …”
(Tiếng hát con tàu)
Từ sự trải nghiệm ngọt ngào ấy nhà thơ triết lý:
“Cám ơn vị muối của đời đã cho thơ chất mặn”
Với niềm biết ơn vô hạn cuộc đời mới:
“Sợi chỉ lòng ta nghèo có một màu
Se vào cái đa sắc của đời nên chói lọi”
Viết về đất nước, nhân dân, thời đại- những đề tài xã hội rộng lớn, ca ngợi những đường lối chủ trương đúng đắn của Đảng, Chế Lan Viên không nhân danh “cái ta” như Tố Hữu mà bao giờ cũng xuất phát từ những cảm nhận, suy tư sâu sắc của cái tôi cá nhân đã đi qua nhiều trải nghiệm thấm thía Chính vì vậy “Ánh sáng và phù sa” không có mấy bài sa vào đại ngôn,
hô hào chung chung mang ý nghĩa thời sự nhất thời mà thấm đẫm chất lãng mạn, trữ tình sâu lắng:
Trang 12“Anh vẫn nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương”…
… “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn…”
(Tiếng hát con tàu)
Cảm hứng về Tổ Quốc, dân tộc là cảm hứng chủ đạo trong các tập thơ tiếp theo của Chế Lan Viên: Sao chiến thắng; Hoa ngày thường, chim báo bão; Những bài thơ đánh giặc - luôn là những phát hiện mới mẻ, sự ngạc nhiên đến sửng sốt và niềm kiêu hãnh tự hào về tổ quốc Một Tổ Quốc trong quá khứ từng“đói nghèo trong rơm rạ- văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi” thì nay trong hiện tại là một Tổ Quốc anh hùng nối tiếp truyền thống bất khuất của cha ông: “Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt-mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng” Nhà thơ khẳng định: “Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả”… (Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng)
Đặc biệt Chế Lan Viên giành riêng một mảng thơ viết về Bác: tập
“Hoa trước lăng Người” (1976) không chỉ là sự phát hiện ngợi ca những phẩm chất cao đẹp của Bác, còn là nơi Chế Lan Viên bộc lộ lòng biết ơn vô hạn của mình đối với “Người thay đổi đời tôi- Người thay đổi thơ tôi” Viết
về Lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với Chế Lan Viên cũng có nghĩa là một sự khám phá chiều sâu cội nguồn gốc rễ của nhận thức cá nhân mình về lịch
sử, về dân tộc
III Quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên trong thơ sau 1975
“Hái theo mùa” (1977) là tập thơ vẫn còn dư vang của âm hưởng sử thi trong “Sao chiến thắng” nhưng đến “ Hoa trên đá” (1984) - gần 10 năm sau hoà bình thêm nhiều trải nghiệm về cuộc sống sau chiến tranh thơ Chế