1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh ngôn ngữ thơ chế lan viên trong hai tập điêu tàn và ánh sáng và phù sa

63 1,4K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh ngôn ngữ thơ chế lan viên trong hai tập điêu tàn và ánh sáng và phù sa
Tác giả Chế Lan Viên
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ và văn học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 204,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu về hai tập thơ Điêu tàn và ánh sáng và phù sa để trên cơ sở đó thấy đợc sự thống nhất và biến đổi trong ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên ở hai thời kỳ sáng tác.. Trên cơ sở khảo sát tì

Trang 1

2.1 Giới thiệu về Điêu tàn và ánh sáng và phù sa tr 17

2.2 Cơ sở của sự thống nhất và biến đổi của ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên

ở hai thời kì sáng tác tr 20

2.3 Ngôn ngữ thơ trong Điêu tàn và ánh sáng và phù sa dới cái nhìn đối sánh tr 29

Kết luận tr 58Tài liệu tham khảo tr 60

Trang 2

sáng và phu sa từ góc độ ngôn ngữ là một hớng cần thiết nhằm khám phá sâu sắc

đầy đủ hơn phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên

1.3 Gần nửa thế kỷ qua, thơ Chế Lan Viên đợc đa vào giảng dạy trong nhà trờng Tuy nhiên, tiếp cận, giảng dạy và học tập thơ Chế Lan Viên có những thử thách nhất định một phần cũng vì sự phong phú và phức tạp trong cấu trúc ngôn ngữ thơ ông Xuất phát từ yêu cầu học tập và thực hành nghiên cứu, chúng tôi chọn đề tài so sánh ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên qua hai tập thơ thuộc hai thời kì với mục đích nhìn rõ hơn sự thống nhất và biến đổi của một phong cách Những kiến giải của luận văn sẽ góp phần thiết thực cho công việc giảng dạy trong trờng phổ thông sau này của chính bản thân

Trang 3

2 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện từ đề tài này, chúng tôi nhằm vào hai mục đích sau đây:

2.1 Tìm hiểu về hai tập thơ Điêu tàn và ánh sáng và phù sa để trên cơ sở

đó thấy đợc sự thống nhất và biến đổi trong ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên ở hai thời

kỳ sáng tác

2.2 Trên cơ sở khảo sát tìm hiểu ngôn ngữ thơ trong hai tập Điêu tàn và

ánh sáng và phù sa dới cái nhìn đối sánh để từ đó khái quát phong cách thơ Chế

Lan Viên trớc và sau Cách mạng

3 Lịch sử vấn đề

Vào năm 1937, Chế Lan Viên còn là một cậu bé 16, 17 tuổi đã cho ra đời tập thơ đầu tay Điêu tàn gây chấn động trong đời sống văn học dân tộc Sau khi Cách mạng thành công, Chế Lan Viên lại ghi đợc một mốc son sáng chói nữa là

ánh sáng và phù sa: “ánh sáng rọi soi tôi và phù sa bồi đắp tôi, ánh sáng tinh

thần và phù sa vật chất của lý tởng tôi” Ngay khi mới ra đời, Điêu tàn và ánh

sáng và phù sa đã thu hút sự chú ý của đông đảo ngời đọc và giới nghiên cứu phê

bình văn học Đã có không ít bài viết luận bàn về hai tập thơ trên với những cách nhìn, cách nghĩ khác nhau Sau đây tôi xin điểm lại một số ý kiến tiêu biểu:

Nhà phê bình Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam (Nxb Văn học) đã nhận xét về Điêu tàn nh sau: Điêu tàn “ đã đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam nh một niềm kinh dị” (tr.216) Có ai dám tin rằng: “Cái mạnh mẽ, cái to lớn

ấy, những đau thơng vô lý mà da diết ấy, cái thế giới lạ lùng và rùng rợn ấy, ai có ngờ ở trong tâm trí một cậu bé 15 – 16 tuổi Câu bé ấy đã khiến bao ngời ngạc nhiên Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ XX, nó đứng sừng sững nh một cái tháp Chàm chắc chắn và lẻ loi, bí mật Chúng ta, ngời đồng bằng, thỉnh

Trang 4

thoảng trèo lên đó – có ngời trèo đuối sức – mà trầm ngâm và xem gạch rụng, nghe tiếng rên rỉ của ma Hời cũng hay, nhng triền miên trong đó không nên Riêng tôi mỗi lần nấn ná trên ấy quá lâu, đầu tôi choáng váng: không còn biết mình là ngời hay là ma Và tôi sung sớng biết bao lúc thoát giấc mơ dữ dội, tôi trở xuống, thấy chim vẫn kêu, ngời ta vẫn hát, cuộc đời vẫn bình dị, trời xa vẫn trong xanh” (tr.219).

Trong “Chế Lan Viên ngời làm vờn vĩnh cửu ,” Phong Lan đã dẫn ý kiến của Nguyễn Minh Vỹ: “Tôi nhận thấy thơ của anh độc đáo, nhiều bài cảm động Nếu Chế Lan Viên là con cháu của họ Chế Bồng Nga, chế Mân, thì thơ này là tiếng gọi của máu và nớc mắt đầy bi hận của dân tộc Chàm Nếu anh là ngời Việt mợn tên Chàm để khóc dân Chàm thì đây là những lời thanh cao tuyệt vời, đáng ghi vào lịch sử thơ ca” (tr.26) “Tập thơ Điêu tàn của anh còn để lại một chiếc bóng trong văn học sử Việt Nam, giống nh những tháp Chàm trên đất nớc Đồ Bàn, còn văng vẳng tiếng nức nở ngàn thu Chiêm nữ hận” (tr 28)

Nguyễn Minh Vỹ đã đánh giá về Điêu tàn : “Phải chăng điều thành công

kỳ diệu của Chế Lan Viên ở Điêu tàn là ở chỗ: khóc than dân tộc Chàm để thức tỉnh chính toàn dân tộc, làm cho tinh thần yêu nớc của mọi ngời có một chiều sâu mới, có khả năng đi sâu chen vào giành lại chỗ đứng của nó trong tâm hồn mọi ngời, lắng đọng lại để có dịp bung ra thành một sức mạnh mới, nh “tiếng sét” làm

“muôn tinh cầu tan vỡ dới trời xanh” (trích trong Chế Lan Viên Ng– ời làm vờn vĩnh cửu – Nxb Hội nhà văn 1995, tr 32, 33).

Hà Minh Đức đã khẳng định “Điêu tàn khai thác một đề tài thi ca có căn cứ lịch sử những không rõ quan hệ với thi nhân: sự sụp đổ của nhà nớc Chàm Một thế giới u linh của những quỷ dữ ma Hời, những đầu lâu sọ dừa, máu xơng cân não

và những tiếng khóc than không dứt Và cuối cùng là tấm lòng đau đớn, nuối tiếc

Trang 5

không nguôi của nhà thơ với những gì đã mất đi của xứ Chàm” (Điêu tàn và tâm hồn thơ Chế Lan Viên – tr.281).

Trong bài viết Chế Lan Viên và ba niềm sửng sốt, Trần Mạnh Hảo đã nhận xét Điêu tàn một cách khái quát nh sau: Điêu tàn“ là tập thơ mê sảng nhất của văn học Việt Nam, biểu hiện thiên tài kỳ lạ Chế Lan Viên là niềm sửng sốt, là cú sốc của mỹ học cái chết độc nhất vô nhị”

Nếu nh tập Điêu tàn đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu hơn bảy

m-ơi năm nay kể từ khi nó ra đời, thì đến tập thơ ánh sáng và phù sa (1960), Chế Lan Viên cũng gây đợc sự chú ý khá rộng rãi Nhà thơ Xuân Diệu đã nhận xét:

“tập ánh sáng và phù sa là cuộc phấn đấu của một tâm hồn để giữ gìn cái ánh sáng của t tởng Đảng: tinh thần lạc quan và tự vợt mình để nghĩ đến mọi ngời”…

“ánh sáng và phù sa là một giai đoạn đấu tranh của tâm hồn Chế Lan Viên, không những đấu tranh chống bệnh, mà thực ra còn chống nốt với những còn lại nào đó của giai đoạn suy nghĩ siêu hình trớc Cách mạng, vào trong những lớp kim tâm hồn cay đắng”, “thơ ăn mất hồn” (trích Chế Lan Viên Ng– ời làm vờn vĩnh cửu)

Hà Minh Đức trong Đọc ánh sáng và phù sa đã viết: “Qua ánh sáng và phù sa, con ngời mới đang đánh lùi một kiểu ngời cũ, cái vui nhân hậu đang thắng nỗi buồn da diết, nặng nề, tiếng khóc đang hoà thành lời ca, hiện tợng đang đẩy lùi dĩ vãng” (trích Chế Lan Viên - Ngời làm vờn vĩnh cửu)

Trần Mạnh Hảo đánh giá khá toàn diện về tập thơ ánh sáng và phù sa nhsau: “Đến lúc ánh sáng và phù sa, thơ Việt Nam đã xuất hiện một thi pháp mới, một giọng điệu mới, một cách cảm nghĩ mới” (Chế Lan Viên Ng– ời làm vờn vĩnh cửu) Và trong “Chế Lan Viên và ba miền sửng sốt” Trần Mạnh Hảo đã nhận

định thêm: “ánh sáng và phù sa quả là một Chế Lan Viên khác hẳn với Chế Lan Viên Điêu tàn, một thi pháp khác, một phong cách khác, một thể xác khác và một

Trang 6

linh hồn khác, một ngôn ngữ khác, mộc khổ đau và một hạnh phúc khác” ánh

sáng và phù sa lập tức trở thành hiện tợng văn học kinh động thời ấy, một niềm

sửng sốt thứ hai Chế Lan Viên mang lại cho thi đàn Việt Nam

Trong cuốn “Chế Lan Viên là một bản lĩnh, một tâm hồn thơ phong phú,

đa dạng và bí ẩn” Hoài Thanh cũng đã nhận xét: “Nếu tập thơ Điêu tàn đến với

ngời đời nh một niềm kinh dị pha chút sợ hãi, thì tập thơ ánh sáng và phù sa đến với chúng ta nh một niềm kinh ngạc xen lẫn niềm hân hoan, hào hứng và xúc động trớc hiệu năng kỳ lạ của thơ Đó là một cái bình dung tích rất lớn chứa thứ rợu cất

ủ lâu năm có khi chỉ uống một chén nóng đã đủ say”

Ngoài ra, còn có nhiều ý kiến khác cũng bàn về hai tập thơ này, nhng nhìn chung các tác giả đều tập trung khẳng định về một số vấn đề sau:

1 Đánh giá cao vai trò của hai tập thơ trên trong sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên

2 Khẳng định bớc chuyển biến cơ bản về cảm xúc, t duy, phong cách nghệ thuật nhà thơ trớc và sau Cách mạng

Tuy nhiên, viết về Điêu tàn và ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, các nhà nghiên cứu phê bình văn học mới chỉ dừng lại ở một khía cạnh, góc độ thơ nào

đó Cha có một bài viết, một chuyên luận nào đi sâu khảo sát toàn diện hai tập thơ này dới góc độ ngôn ngữ học Do vậy, nghiên cứu về hai tập thơ đó còn là một đề tài hấp dẫn cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học và những ngời quan tâm, yêu thơ ông

4 Phơng pháp nghiên cứu

Trang 7

Với đề tài này, chúng tôi sử dụng các phơng pháp sau: Phơng pháp thống

kê, phân loại ; phơng pháp phân tích, tổng hợp ; phong pháp so sánh đối chiếu

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn đợc triển khai thành hai chơng:

Chơng 1: Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài

Chơng 2: Sự thống nhất và sự biến đổi trong ngôn ngữ thơ Chế Lan

Viên từ tập Điêu tàn đến ánh sáng và phù sa

Sau cùng là Tài liệu tham khảo

Chơng 1

Trang 8

Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài

1.1 Thơ và đặc trng của ngôn ngữ thơ

1.1.1 Thơ là gì ?

Nói đến khái niệm thơ, từ trớc tới nay đã có nhiều cách kiến giải khác nhau

Nh chúng ta đã biết, thơ là một thể loại văn học thuộc phơng thức biểu hiện trữ tình Bản chất của thơ ca phong phú, đa dạng và nhiều biến thái Sự tác động của thơ đối với ngời đọc cũng bằng nhiều con đờng khác nhau Chính vì bản chất phức tạp vốn có của thơ ca mà ngời ta đa ra nhiều cách lý giải khác nhau, thậm chí trái ngợc nhau về bản chất của thơ ca Nhìn chung có một số khuynh hớng chủ yếu sau:

Thứ nhất, khuynh hớng thần thánh hoá thơ ca, xem bản chất của thơ ca là

tôn giáo và cho rằng hoạt động sáng tạo thơ ca gắn với một cái gì đó thiêng liêng, huyền bí Các nhà nghiên cứu thờng lý tởng hoá thơ ca hoặc đối lập một cách cực

đoan giữa thơ ca với hiện thực cuộc sống Cụ thể:

Platông xem bản chất của thơ ca thể hiện trong linh cảm – những cảm giác thiêng liêng nhất giữa thế giới cao xa của thần thánh và thế giới con ngời Và nhà thơ là ngời có chung năng lực cảm giác và biểu đạt

Lamactin lại cho rằng: “Thơ là hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con ngời, và hình ảnh tơi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên”

ở Việt Nam, do ảnh hởng của nền văn hoá phơng Tây, đặc biệt là văn hoá Pháp, đã xuất hiện một lớp công chúng mới với thị hiếu và quan niệm mới

Trang 9

Trên tuần báo Ngày nay, (xuất bản 1937), Thế Lữ viết: Thơ, riêng nó“

phải có sức gợi cảm bất cứ trong trờng hợp nào”.

Hàn Mặc Tử nói: “Làm thơ tức là điên” Chế Lan Viên lại triển khai thêm:

“làm thơ là làm sự phi thờng Thi sỹ không phải là Ngời, nó là Ngời Mơ, Ngời Say, Ngời Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại, nó xáo trộn dĩ vãng, nó ôm trùm tơng lai Ngời ta không hiểu đợc nó vì nó vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý” (tựa Điêu tàn – tr.1937) Nh vậy, nghiên cứu bản chất sự sáng tạo thơ, nhiều ngời xem nghệ sỹ là kẻ siêu phàm và coi quá trình sáng tạo thơ nh một cái gì đó thần bí

Thứ hai, giải thích bản chất của thơ ca xuất phát từ việc gắn sứ mệnh của

thơ với đời sống xã hội Ngời ta xem cuộc sống chính là mảnh đất phù sa màu mỡ,

là chất hơng nồng của thơ ca Không có cuộc sống thì không có thơ ca Nhà thơ

Tố Hữu viết: “Thơ là cái nhụy của cuộc sống” và “thơ chỉ trào ra khi trong tim ta cuộc sống thật tràn đầy” Nhà thơ Sóng Hồng phát biểu: “Thơ là sự thể hiện con ngời và thời đại một cách cao đẹp nhất” và “thơ chính là cuộc sống đợc tinh lọc”

Thứ ba, giải thích thơ ca xuất phát từ vấn đề đồng cảm trong thơ Tố Hữu

cho rằng: “Thơ là một điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu” , “thơ là tiếng nói tri

Trang 10

bản chất thơ ca còn quá chủ quan, phiến diện Vì quá tuyệt đối hoá yếu tố hình thức nên vô hình trung đã hạ thấp đa nội dung xuống bình diện thứ yếu.

Tóm lại, những khuynh hớng, quan niệm về thơ nêu trên mặc dù còn khác nhau, nhng đều tập trung làm rõ bản chất thơ ca và vai trò của con ngời trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Tuy nhiên, các quan niệm đó vẫn cha chỉ ra đợc đặc trng riêng biệt và cha bao quát đợc các tiêu chí định tính của thơ ca Từ quan niệm đó làm nảy sinh hai khái niệm tơng đồng: hình thức của nội dung và nội dung của hình thức mở đờng cho chúng ta đi vào khám phá văn bản thơ một cách có hệ thống và khoa học Rõ ràng, việc tìm một định nghĩa thơ hoàn chỉnh cả mặt nội dung lẫn hinh thức là công việc khá nan giải Công việc này dành riêng cho các nhà nghiên cứu chuyên sâu Từ yêu cầu của vấn đề đặt ra đối với luận văn, chúng tôi sử dụng định nghĩa về thơ đợc nêu trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học nh sau: “Thơ là hình thức sáng tạo văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất

là có nhịp điệu” Theo chúng tôi, định nghĩa này phần nào có thể bao quát đợc các

quan điểm nêu trên

1.1.2 Đặc trng của ngôn ngữ thơ

Ngôn ngữ thơ trớc hết là ngôn ngữ văn học, nghĩa là “ngôn ngữ thơ mang tính nghệ thuật đợc dùng trong văn học”(Từ điển thuật ngữ văn học – tr 149) Phan Ngọc luôn nhấn mạnh: “Hình thức tổ chức ngôn ngữ “quái đản” chính là nét

đặc trng của ngôn ngữ thơ” Jacobson đã có cái nhìn bao quát về ngôn ngữ thơ khi

ông kết luận: “Chức năng thi ca đem nguyên lý t ơng đơng của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp” Nhìn chung, những quan niệm về ngôn ngữ thơ nh trên đã

bao quát đợc vấn đề, song còn quá khái quát, trừu tợng, cũng với ý nghĩa đó, nhng chúng ta có thể diễn đạt một cách cụ thể hơn nh sau: “Ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ đời sống nhng đợc chọn lọc, tinh giản đến mức súc tích nhất, chúng đợc tổ

Trang 11

chức chặt chẽ, có khoảng ngắt, có vần điệu và có quy luật phối âm riêng, tuỳ

thuộc vào từng ngôn ngữ”.

Jacobson - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học - đã phân biệt thơ và văn xuôi trên phơng diện hình thức biểu đạt: ngôn ngữ văn xuôi là phơng tiện biểu đạt một ý nào

đó, sau đó ngời ta quên ngôn ngữ ấy Ngợc lại, ngôn ngữ thơ tự lấy mình làm mục

đích Chính vì vậy mà ngôn ngữ thơ nó có những đặc trng riêng nh sau:

1.1.2.1 Tính cảm xúc chủ quan

Nh chúng ta đã biết, thơ ca với t cách là tiếng nói trữ tình nên khi sáng tạo thì nhà thơ không chỉ bằng sự chiêm nghiệm, linh cảm và nhạy bén của trí tuệ mà còn bằng cả sự dào dạt của tâm hồn Trong ngôn ngữ thơ ta thấy có những cách tổ chức ngôn ngữ khác nhau, lấy nghĩa đen làm giá trị là cách tổ chức đơn các lợng ngữ nghĩa, trái lại tổ chức kép lợng ngữ nghĩa là bản chất của các phơng thức truyền nghĩa và tính chất ẩn dụ Chính về đặc trng này mà ngời đọc trong quá trình nhận thức, cảm thụ thơ có nhiều hớng tiếp cận khác nhau, ngời đọc không chủ tiếp cận thơ bằng mắt, bằng tai mà còn bằng sự xúc động tình cảm, bằng trí tởng tợng, liên tởng nữa Nếu khi nghiên cứu ngôn ngữ thơ thì cần chú ý đến cái gọi là “siêu ngôn ngữ” của nó.

1.1.2.2 Tính nhạc điệu

Tố Hữu viết “Thơ là một điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu” Thiên về biểu hiện cảm xúc một cách hàm súc cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu là một trong những đặc trng cơ bản của thơ Thơ đi vào lòng ngời bởi sự rung động của tình cảm con tim Còn nhà thơ sáng tạo thì không chỉ bằng sự chiêm nghiệm, linh cảm

và nhạy bén của trí tuệ mà còn bằng cả một tâm hồn dào dạt tình cảm, cảm xúc Khi khai thác tính nhạc trong thơ, cần chú ý sự đối lập sau:

Trang 12

+ Đối lập về trầm – bổng; khép – mở của các nguyên âm.

+ Đối lập về vang – tắc; giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh trong các phụ âm cuối

+ Đối lập về cao – thấp; bằng trắc của hệ thống thanh điệu

Ngoài ra, tính nhạc còn đợc tạo ra bởi vần, và sự trùng điệp của ngôn từ.Tính nhạc trong thơ đã đa thơ ca xích lại gần với âm nhạc, là chỗ dựa cho việc hình thành âm nhạc

1.1.2.3 Tính lựa chọn

Trong thực tiễn sáng tác từ xa đến nay, cha có thi sĩ nào kiến tạo công trình thơ mình bằng một mô hình ngữ pháp chung “các đại văn hào không sinh ra để chịu đựng luật của các nhà ngữ pháp mà để tạo ra cái ngữ pháp đặc biệt của họ, và không chỉ ý chí của họ mà còn là sự thay đổi thất thờng của họ nữa”(Panclandel)

Trớc hết là sự phân chia dòng thơ, trong thơ, đơn vị câu và đơn vị dòng thơ không phải lúc nào cũng trùng khít nhau Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng

mà mỗi dòng chỉ là một vế của câu, diễn đạt một ý riêng lẻ nào đó Đó là hiện ợng câu thơ vắt dòng, là câu văn xuôi đợc ngắt ra thành các dòng thơ

t-Thứ hai, cách sử dụng dấu câu trong thơ cũng rất linh hoạt Thông thờng, dấu chấm đợc đặt ở cuối dòng thơ, những ở đây có không ít trờng hợp dấu chấm đ-

ợc đặt ở giữa, chia tách, bẻ đôi dòng thơ ra tạo nên nhịp điệu, tiết tấu kỳ lạ Trên một dòng thơ có thể đủ nòng cốt C – V và cũng có thể là những câu đặc biệt Và trong số lợng chữ không quy định, các âm tiết nhiều ít không bị gò bó Nh vậy cấu trúc ngữ pháp của câu trong thơ không tuân theo một quy tắc bắt buộc nh câu trong văn xuôi, trong ngữ pháp nhà trờng Chính cách tổ chức ngôn ngữ khác th-ờng ấy đã đem đến cho thơ ca nội dung ngữ nghĩa mới

Trang 13

đồng thời sử dụng, đan xen nhau trong tác phẩm ngôn từ, khi nghiên cứu các ngôn

từ thơ của một tác giả, ngời nghiên cứu, lựa chọn hớng tiếp cận nh thế nào, sao cho khái quát đợc phong cách ngôn ngữ của tác giả đó Bởi vì, nghiên cứu ngôn ngữ thơ suy cho cùng chính là nghiên cứu phong cách nghệ thuật thơ của một tác giả

Một nghệ sỹ tài năng không thể không thiết lập cho mình một phong cách,

nh mỗi ngôi sao lấp lánh một thứ ánh sáng riêng Chế Lan Viên cũng đã để lại trong thơ hiện đại một dấu ấn của một phong cách mạnh mẽ, độc đáo và đặc sắc Thơ Chế Lan Viên vận động, biến đổi qua nhiều giai đoạn nhng vẫn định hình nét riêng thể hiện rõ cá tính sáng tạo Chất trí tuệ, vẻ đẹp triết lý trong thơ ông là một nét đặc sắc nhất mà ông đã góp vào nền thơ hiện đại Nhiều nhà nghiên cứu đã gặp nhau ở nhận xét này: “đọc thơ Chế Lan Viên chúng ta thờng gặp những câu thơ có tính chất châm ngôn, tính chất triết lý” (Nguyễn Lộc – Chế Lan Viên và những

tìm tòi nghệ thuật trong thơ, Tác phẩm mới số 9, 1976) Trong ngôn ngữ thơ, Chế

Lan Viên là một nghệ sỹ ngôn từ có kỹ thuật và tài hoa Ông là ngời có ý thức tu luyện và vận dụng kỹ xảo ngôn ngữ trong thơ Ông huy động vào thơ đủ mọi loại

từ ngữ, chính trị, tôn giáo, quân sự và sử dụng nó một cách đắc địa, tự nhiên.…

Ông cũng là nhà thơ biết cách khua động những con chữ, làm sống dậy những từ ngữ quen thuộc

Nh vậy, muốn chiếm lĩnh đợc nội dung t tởng của tác phẩm, ngời đọc cần trang bị cho mình một chiếc chìa khoá vạn năng để mở cửa đi vào tầng lớp ngôn ngữ diễn dạng đó Có vậy, vấn đề tri giác nghệ thuật mới thực sự có hiệu quả và

Trang 14

nhận rõ đợc phong cách ngôn ngữ của tác giả là nh thế nào và khác nhau ra sao? Bởi phong cách ngôn ngữ của mỗi tác giả là thật phong phú, đa dạng.

1.3 Chế Lan Viên trong nền thơ Việt Nam hiện đại

1.3.1 Chế Lan Viên trong phong trào Thơ mới

Trong không khí oi bức ngột ngạt của chế độ thực dân, phong trào Thơ mới

1932 – 1945 đã xuất hiện và phát triển một cách rầm rộ, đóng một mốc son lớn cho nền thơ ca hiện đại Giữa những tên tuổi nổi tiếng nh Xuân Diệu, Thế Lữ, Lu Trọng L thì Chế Lan Viên cũng đã khẳng định đ… ợc mình, xứng đáng giữ đợc một

vị trí quan trọng trong phong trào Thơ mới Là thành viên tích cực của phong trào Thơ mới chịu ảnh hởng nhiều của phong trào thơ này, tuổi đời và tuổi nghề còn rất trẻ, nhng Chế Lan Viên không rập khuôn máy móc Ông đã bứt phá tạo cho mình một thế giới nghệ thuật riêng khác lạ so với thế giới nghệ thuật có phần chuẩn mực của Thơ mới Hà Minh Đức trong Một thời đại trong thi ca cho rằng: Chế Lan Viên đã khai thác một thời đại thi ca có căn cứ lịch sử nhng mà không rõ quan hệ với thi nhân, đó là sự sụp đổ của nhà nớc Chiêm Thành, thế giới u linh của những quỷ dữ ma hời, những đầu lâu, sọ dừa, xơng máu và những tiếng khóc than không dứt Cuối cũng là sự đau đớn nuối tiếc không nguôi của nhà thơ với những gì mất

đi của xứ Chàm, thế giới hoàn toàn xa lạ Chế Lan Viên đã ý thức đợc nỗi nhục nhã của ngời dân mất nớc Chàng thiếu niên ấy phải vất vả trong sự bế tắc đến ngột thở Không tìm đợc con đờng đi cho mình, Chế Lan Viên đã tìm đến thơ nh một liệu pháp tinh thần Sự đổ nát của nền văn minh Chiêm Thành cộng với cái đa cảm sầu lụi của một trí thức trẻ tuổi (16, 17 tuổi) trong con bế tắc đã làm nên tập thơ Điêu tàn (1937) - một tập thơ khổ nhỏ, mỏng manh, gồm 36 bài với Lời tựa

đầy tự tin hào hứng

Trớc Cách mạng, Chế Lan Viên sáng tác còn ít, nhng tính sáng tạo của một tài năng thơ đợc lộ rõ Tập thơ Điêu tàn ra đời, đã đánh dấu thành công bớc đầu

Trang 15

của nhà thơ và chiếm vị trí quan trọng trong phong trào Thơ mới Giữa lúc Xuân Diệu đang chìm đắm trong niềm khắc khoải thời gian, Huy Cận bất lực vì nỗi sầu nhân gian, Thế Lữ tìm đến cõi tiên nh một giải pháp cho tâm hồn, thì Chế Lan Viên – một cậu thiếu niên 16, 17 tuổi đờng hoàng xuất hiện trớc những bậc đàn anh chắc tay bằng tiếng thơ lạ lùng và sắc nét Ngời ta không khỏi bàng hoàng hoặc đôi chút tò mò bởi vì ngời ta thấy nó lại lẫm quá, nó da diết quá, rùng rợn quá bởi vì nó vẽ lên một thế giới đầy yêu ma, quỷ quái, đầy sọ ngời và những tiếng khóc vật vờ, uất hận Có ai dám tin rằng “cái mạnh mẽ, cái to lớn ấy, những đau thơng vô lý ấy, mà da diết ấy, cái thế giới lạ lùng và rùng rợn ấy có ai ngờ trong tâm trí một cậu bé 16, 17 tuổi Cậu bé ấy đã khiến bao ngời ngạc nhiên Giữa đồng bằng văn học Việt Nam thế kỷ XX, nó sừng sững nh cái tháp Chàm chắc chắn và

lẻ loi, bí mật” (Hoài Thanh và Hoài Chân – Thi nhân Việt Nam, tr 219)

Nh vậy, trớc cách mạng, chỉ với tập Điêu tàn, Chế Lam Viên đã chính thức ghi tên mình vào hàng ngũ những nhà có vị trí quan trọng trong nền Thơ mới

1.3.2 Chế Lan Viên trong nền thơ sau cách mạng

Cũng nh phần đông các nhà thơ lãng mạn khác trở về với Cách mạng, Chế Lan Viên đã trải qua những chặng đờng đầy biến động của lịch sử đất nớc mình

Từ chỗ là một thi sĩ say sa trong cái Đài Thơ quen thuộc, giờ đây ông thành một ngời chiến sĩ say sa trên mặt trận văn hoá, mang ba lô đi theo các đoàn dân công,

bộ đội ra tiền phơng Có khi theo sát từng chiến dịch lớn, từng trận công đồn nhỏ, quan sát từng chiếc lô cốt, từng ụ súng đơn sơ và hoà lòng mình vào tấm lòng chiến sĩ để tổ chức sáng tác và sáng tác phục vụ kháng chiến Từ chỗ là một thi…

sĩ “không phải là Ng ời là Ngời Mơ, Ngời Say, Ngời Điên”, giờ đây ông đã có

một quan niệm hoàn toàn ngợc hẳn: “Tr ớc hết chúng ta làm văn nghệ là để tả sự thực Vả chăng sau này muốn truyền cảm cho ngời đọc, cố nhiên không phải chỉ nói cái cảm xúc của ta mà phải nói cả sự việc Nhng nghe sự việc nhất định độc giả sẽ nhờ đó mà cùng ta cảm xúc” (Chế Lan Viên – Kinh nghiệm tổ chức sáng

Trang 16

tác – thuyết trình của Chế Lan Viên trong hội nghị cán bộ văn nghệ liên khu IV,

không có cách mạng làm sao có thơ Chế Lan Viên, có Chế Lan Viên

Rồi ánh sáng của Đảng, phù sa của cuộc đời đã soi sáng, vun đắp cho khu vờn thơ Chế Lan Viên thêm tơi tốt ánh sáng và phù sa (1960) ra đời trong khi cả nớc đang bớc vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc vĩ đại có ý nghĩa lớn lao, tập thơ ghi nhận cuộc phấn đấu của ngời nghệ sỹ, ngời trí thức đã “từ thung lũng

đau thơng ra cánh đồng vui , từ chân trời một ng” “ ời đến chân trời tất cả”

(Eluya), từ bỏ triết lý siêu hình, vợt qua nỗi cô đơn và những ám ảnh của quá khứ buồn thơng để đến với cuộc đời, với nhân dân, đất nớc Tập thơ cũng thể hiện sự gắn bó và lòng biết ơn với Đảng cộng sản, với Chủ tịch Hồ Chí Minh; với cuộc sống nhân dân trong kháng chiến gian lao và lao động hoà bình; với đất nớc giàu

đẹp Và từ lãng mạn t… ợng trng phảng phất siêu thực, Chế Lan Viên đã trở thành nhà thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa Cũng từ đó, thơ ông mang một giọng điệu mới, giọng thơ triết luận cha từng có trên thi đàn Việt Nam và cũng với cống hiến

đó, Chế Lan Viên xứng đáng là một trong những nhà thơ ở vị trí hàng đầu trong nền văn học hiện đại Việt Nam, một vị trí không ai thay thế đợc

Trang 18

ý thức về cá thể, cá tính, khao khát tạo lập một cõi riêng trong văn chơng

đã đồng hành và thúc đẩy Chế Lan Viên từ những dòng khai bút Làm văn chơng trở thành một hành vi sáng tạo, sinh thành kỳ diệu

Bút danh Chế Lan Viên gắn với đời thơ của thi sĩ có vẻ nh một sự ngẫu nhiên Gặp bạn thơ Yến Lan, mới có hai chữ Lan Viên, bởi ảnh hởng tên Lan và v-

ờn lan nhiều hoa nhà bạn Rồi Hàn Mạc tử có bài Thi sĩ Chàm đề tặng Chế Bồng Hoan Thế là “với chữ Chế, dù là Chế Lan Viên hay Chế Bồng Hoan, tôi đã rời

số phận một ngời để sống số phận một dân tộc” (Lâm Tiến Phong – Chế Lan

Viên, Hàn Mạc Tử – Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 1998) Dới bút danh đó, mới 16, 17 tuổi đầu, tâm hồn cậu thiếu niên Chế Lan Viên kỳ lạ thay, đã bằng tuổi tháp Chàm Hay chính là hồn vía tháp Chàm miền Trung đã nhập vào thân xác nhà thơ từ thuở lọt lòng, mợn chú hài đồng họ Phan mà oa oa cất tiếng khóc ngàn năm

ứ nghẹn từ muôn trùng gạch đá? Và sau này lớn lên, học ở Quy Nhơn, Chế Lan Viên lại bị vây bủa bởi những tháp Chàm cô độc nh những cánh tay h vô đột ngột giơ lên xin phát biểu ý kiến với trời xanh Những Tháp Chàm bí mật, câm nín mất trăm năm chợt hu hu khóc nấc, chợt hú rít lên, rên la lên, chợt rú lên u u ơ ơ tiếng

tù và địa phủ bằng vần điệu, bằng thi ca Điêu tàn nh tiếng phát ngôn của dân Hời vạn thuở Tập thơ đợc ra mắt làng thơ năm 1937 Điêu tàn nh một hiện tợng kỳ vĩ, ngay lập tức làm sửng sốt thi đàn Việt Nam Điêu tàn cùng một lúc kết hợp và thăng hoa thành thơ nhiều yếu tố: ám ảnh tuổi thơ với những Tháp Chàm sừng sững trong hoàng hôn; nối cô đơn và bế tắc của một thiếu niên vừa lớn lên đã thấm thía nỗi buồn thời đại; và sau nữa, là một tâm hồn thi sĩ thiên phú

Nói đến Chế Lan Viên, ngời ta thờng nhắc đến Trờng thơ loạn với các nhà thơ nổi tiếng nh Hàn Mạc Tử, Bích Khê, Hoàng Diệp những nhà thơ này muốn…

đi tìm những cảm giác tột cùng, dù là đau thơng, dù là hơn giận, đều phải đạt đến

đỉnh cao Lời của Hàn Mạc Tử trong khi đề tựa “Tinh huyết” (Thơ Bích Khê) đã

Trang 19

nói lên phần nào cái “chất thơ , cảm hứng sáng tạo” “ ” của các nhà thơ trong

Tr-ờng thơ loạn: “Thi sĩ khát khao, hoài vọng cái mới, cái đẹp, cái gì rung cảm hồn

phách chàng đến tê liệt, dại khờ, dù cái đẹp ấy cao cả hay đê tiện, tinh khiết hay nhơ bẩn miễn là có tính chất gây nên đê mê, khoái lạc tới đáy, ta nhận thấy văn thơ của Bích Khê nhuộm đầy máu huyết của Bôđơle (tác giả tập Hoa ác) Thơ lúc này sẽ ham thích hết sức những gì thanh cao, nh hơng thơm nhân đức của các vị á thánh, hay say mê điên dại cái gì hết sức tội lỗi mà ngời thế gian cha từng phạm tới” Ra đời ở thời điểm đó nên cùng với những nhà thơ của Trờng thơ loạn, Điêu

tàn khởi sự một mỹ học mới trong thơ: đa ra một quan niệm khác lạ về thơ, và sự

xuất hiện một kiểu chủ thể trữ tình mới Chế Lan Viên viết Tựa Điêu tàn đã khẳng

định rất dứt khoát về kiểu nhà thơ và kiểu sáng tác đặc thù của mình Quả là cùng với Trờng thơ loạn, Chế Lan Viên muốn xác lập một thế giới mới trong thi ca“

khác với quan hệ của đời thờng ” (Hà Minh Đức – Điêu tàn và tâm hồn thơ Chế

Lan Viên, Tạp chí Văn học, số 10, 1996) 37 bài thơ của Điêu tàn thể hiên những

đau đớn và khắc khoải của một linh hồn Trong bi kịch tinh thần của nhà thơ, có bi kịch của nhân tộc, nỗi buồn của thời đại Bởi vì “Điêu tàn có riêng gì cho n ớc Chiêm Thành yêu dấu của tôi đâu? kìa kìa nó đang đục sọ dừa anh Tiếng xơng rạn vỡ dội thấu đáy hồn tôi”.

Điêu tàn nằm trong bối cảnh chung của Thơ mới mà vẫn khác lạ Hoài

thanh đã rất sâu sắc và chính xác khi dùng hai chữ “lẻ loi” và “bí mật” khi nói về

Điêu tàn Lẻ loi giữa không khí chung của Thơ mới Bí mật vì nó là một thế giới

đầy bóng tối, siêu hình, khép kín có lức làm rợn gợp và hoang mang ngời đọc Đó cũng là một thế giới bí ẩn của nghệ thuật để đến hơn nửa thế kỷ sau, nó vẫn tiếp tục đợc giải mã, cùng với sự giải mã t tởng sáng tạo của Chế Lan Viên thời kỳ này

2.1.2 Về tập ánh sáng và phù sa

Trang 20

Cách Mạng Tháng Tám vĩ đại 1945 đã cuốn mọi trào lu t tởng, mọi trờng phái văn chơng vào đứng dới bóng cờ đỏ sao vàng Chế Lan Viên phải làm một lúc hai cuộc kháng chiến: chống Pháp và chống con ma Hời siêu hình từng ám ảnh hồn ông Cuộc chia tay giữa Chế Lan Viên với con ma xó cô đơn thật quyết liệt,

đớn đau, quằn quại, rớm máu suốt 15 năm, bằng với số năm lu lạc của Thuý Kiều

T tởng nhà thơ đã đi về phía con ngời, về phía nhân dân, phía kháng chiến, nhng tâm hồn ông còn bị ma Hời đeo bám, cứ thập thò nh cứ muốn giành giật những giấc mơ, những suy tởng trong ông Cuộc chiến đấu giữa Chế Lan Viên với con quỷ siêu hình để giành lại quyền sở hữu linh hồn mình trong thi ca là cả một chặng đờng thơng khó Cây thập tự tôn giáo đè lên đôi vai tinh thần nhà thơ nặng

nề hơn một số phận, hệt nh nó là một phần cơ thể khổ đau ông phải mang theo trong câm nín Nhng con ngời trong ông đã tuyên chiến, đã mở giao thông hào

đánh lấn, giành từng tấc đất tâm hồn lại từ phía lô cốt h vô Và cuối cùng, con ma siêu hình phải bỏ chạy, đã hoảng loạn thoát ra từ chính những vết thơng tâm hồn nhà thơ Cuộc giằng xé, vật lộn giữa ma và ngời suốt 15 năm đã thai nghén, sinh

nở ra thi phẩm ánh sáng và phù sa năm 1960 thật kỳ diệu, nh thể sau khi bị đóng

đinh trên câu rút siêu hình, nhà thơ đã phục sinh

Phải nói rằng, Cách mạng đến nh một vầng ánh sáng nở bừng trớc mắt Chế Lan Viên, kéo nhà thơ ra khỏi con đờng lạnh lẽo, bế tắc “từ thung lũng đau th ơng

ra cánh đồng vui ” Tập thơ ánh sáng và phù sa, một thành tựu của nền thơ xã hội

chủ nghĩa Tập thơ phản ánh, ngợi ca cuộc sống mới đang lớn dậy từng ngày, kịp thời góp tiếng nói đấu tranh cùng với miền Nam và đồng thời xuyên suốt tập thơ là

sự giằng xé trong tâm hồn nhà thơ, đẩy lùi nỗi đau cũ để tiến đến niềm vui mới Tính trữ tình của tập thơ bộc lộ trực tiếp nhiều sắc thái, có chiều sâu

ánh sáng và phù sa là một đỉnh cao mới của thơ Chế Lan Viên Tập thơ đợc

đón nhận hào hứng ngay khi ra đời và cũng là một bông hoa thắm không bị phai

Trang 21

màu theo thời gian Đến nay, nó giữ nguyên giá trị, và hơn nữa, d luận phê bình còn đặt lên một vị trí cao hơn Nó đợc coi nh một “niềm sửng sốt” mới sau Điêu

tàn (Trần Mạnh Hảo), một tập thơ thuần tuý trữ tình bậc nhất“ ” (Trần Đình Sử –

Mỹ học của Chế Lan Viên – Văn nghệ số 26, 26/6, 1999) ở tập thơ này, “con ngời mới đang đánh lùi một kiểu ngời cũ, cái vui nhân hậu đang thắng nỗi buồn da diết, nặng nề, tiếng khóc đang hoá thành lời ca, hiện tại đang đẩy lùi dĩ vãng” (Hà Minh Đức)

2.2 Cơ sở của sự thống nhất và biến đổi trong ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên ở hai thời kỳ sáng tác

2.2.1 Cơ sở của sự thống nhất

Trong công trình Thơ Chế Lan Viên với phong cách suy tởng Nguyễn Bá Thành đã đánh giá: “Thế kỷ XX quả là một thế kỷ bùng nổ, một thế kỷ nhảy vọt trong tiến trình phát triển tuần tự của toàn nhân loại Và đối với Việt Nam thế kỷ…

XX lại càng có ý nghĩa hơn” Từ đầu thế kỷ cho đến năm 1990, không năm nào là năm thật sự bình yên đối với nhân dân Việt Nam “Nhng lạ thay, thế kỷ XX là thế

kỷ mà ngời Việt Nam làm thơ nhiều nhất” Hàng nghìn tập thơ đã đợc xuất bản Hàng trăm nhà thơ nổi tiếng Có hàng chục nhà thơ xứng đáng đợc xếp vào những bậc thi hào, thi bá nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng Phan Bội Châu,…Tản Đà, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn

Đình Thi, Trần Đăng Khoa và Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ nhà văn…tiêu biểu trong số các bậc thi bá thi hào thế kỷ XX “Một nhà thơ đã gọi là tiêu biểu cho nền thơ dân tộc phải mang nhiều nét đặc trng về dân tộc và về thơ của thế

kỷ mà nhà thơ đã sống Quan niệm về sự tiêu biểu ở đây bao hàm cả những mặt mạnh lẫn những mặt yếu, cả những cái hay lẫn những cái cha hay” Đặc biệt là các sáng tác thơ ấy phải tiêu biểu cho quan niệm sống và quan niệm thơ của ngời đơng thời

Trang 22

Một nhà văn nhà thơ luôn là một thể thống nhất bởi mỗi ngời đợc sinh ra ở một miền quê với môi trờng văn hóa cụ thể; mỗi ngời là một cá tính, có những sở thích khác nhau, với vốn học vấn, trình độ văn hóa, có sở trờng sở đoản của mình,

có nhãn quan ngôn ngữ đợc hình thành một cách tự giác Đây là những yếu tố cơ

sở tạo nên sự ổn định tơng đối về những phơng diện của sự sáng tạo ở mỗi ngời cầm bút

Ta có thể nhận diện một số gơng mặt tiêu biểu trong nền Thơ mới trên cơ sở nắm bắt tính ổn định trong sáng tác của họ, tức là yếu tố đã góp phần quan trọng hình thành ở họ một phong cách Thơ Xuân Diệu là một “khu vờn tình ái”, là “thế giới của yêu đơng” Ông luôn luôn khao khát giao cảm với đời, với ngời, khao khát tình yêu đến “vô biên và tuyệt đích” Ông Vội vàng, Giục giã yêu đơng, hốt hoảng trớc những biến chuyển của cuộc đời Trong những câu thơ của Xuân Diệu,

có lúc phảng phất lời kêu gọi hởng thụ cuộc sống trần gian đầy thanh sắc, cuộc sống ngào ngạt sắc hơng nh một khu vờn đầy hoa thơm, trái ngọt của Ronsard, thi

sĩ Pháp thời Phục hng Xuân Diệu không chấp nhận cuộc sống đơn điệu, tẻ nhạt, tù túng trong cái Ao đời bằng phẳng Nhà thơ kêu gọi chúng ta phải sống mạnh mẽ, sống có bản lĩnh, thà cứ vụt loé sáng lên trong giây phút rồi tắt ngấm, còn hơn là kéo một cuộc đời lơng thiện nhng buồn tẻ, vô nghĩa, cuộc đời mòn mỏi nh ngọn

đèn hạt đỗ le lói suốt canh trờng!

Bên cạnh một Xuân Diệu luôn ám ảnh về thời gian là một Huy Cận thờng xuyên khắc khoải trớc không gian Ông muốn trung hoà tính chất hằng cửu của không gian và biến chuyển của thời gian bằng cách quay về quá khứ Và cảm hứng của Huy Cận thờng xuất phát từ trời đất bao la Cái buồn da diết, ảo não nhất

là cái buồn “sầu nhân gian” cái buồn bàng bạc cả không gian, thời gian: sóng gợn tràng giang, trăng phơi đầu bãi, tiếng đìu hiu của bờ lau khóm trúc, nỗi buồn nhân thế từ ngàn xa theo gió thổi về…

Trang 23

Nh vậy, một nghệ sỹ tài năng không thể thiếu phong cách, nh mỗi ngôi sao lấp lánh chiếu một thứ ánh sáng riêng Và Chế Lan Viên cũng đã để lại trong thơ hiện đại dấu ấn của một phong cách mạnh mẽ, độc đáo và đặc sắc Nh Nguyễn Bá Thành trong Thơ Chế Lan Viên với phong cách suy tởng đã nói: Chế Lan Viên về cả thơ và đời nổi bật chiếm một vị trí quan trọng trong thi ca Việt Nam thế kỷ XX

là có nhiều lý do trong đó lý do không kém phần quan trọng Đó là thơ ông là thứ thơ triết mỹ, giàu màu sắc nhận thức luận, một thứ thơ “Không chỉ đa ra mà còn thức tỉnh, không chỉ ơ hờ mà còn đập bàn quát tháo, lo toan” (Chế Lan Viên)

Thơ Chế Lan Viên vận động, biến đổi qua nhiều giai đoạn nhng vẫn định hình những nét riêng, thể hiện rõ cá tính sáng tạo Chất trí tuệ, vẻ đẹp triết lý trong thơ Chế Lan Viên là một nét đặc sắc nhất mà ông đã góp vào nền thơ hiện đại Nhiều nhà nghiên cứu đã gặp nhau ở nhận xét này: “Đọc thơ Chế Lan Viên chúng

ta thờng gặp những câu thơ có tính chất châm ngôn, tính chất triết lý” (Nguyễn Lộc – Chế Lan Viên và những tìm tòi nghệ thuật trong thơ Tác phẩm mới số 9, 1970) “Trong thơ thời sự của mình, Chế Lan Viên kết hợp đợc óc khái quát và óc phân tích” (Nguyễn Xuân Nam – Lời giới thiệu Tuyển tập thơ Chế Lan Viên Tập

1 Nxb văn học, HN, 1982) Mạch thơ ông ngay từ thuở Điêu tàn đã biểu lộ một

sự trăn trở suy t, khát khao hiểu biết, luôn luôn động não kiếm tìm, muốn khám phá ra những điều kỳ lạ, mới mẻ Sau hoà bình, thơ ông vẫn nặng về triết lý, chính luận

Cũng nh phần đông các nhà thơ khác từ phong trào Thơ mới đi theo Cách mạng, Chế Lan Viên đã gắn thơ mình với sự nghiệp chung của đất nớc, của nhân dân Nhng cả trớc và sau Cách mạng, thơ ông đều nhằm mục đích khám phá thực tại, khám phá bản thân Ông luôn luôn cố gắng đào sâu, bới kỹ, mà vẫn thấy không bằng lòng, không thỏa mãn với những gì đã đạt đợc, đã kinh qua Trên nửa thế kỷ qua, Chế Lan Viên làm thơ với một bút lực dồi dào và thái độ lao động hăng say Xét về phơng diện lao động nghệ thuật, lao động nhà văn, Chế Lan Viên

Trang 24

đã làm việc hết sức mình “Cả một đời mình gắng mãi chứ có chơi đâu” Câu nói của ông cũng nh toàn bộ thơ ông đã phản ánh một tinh thần lao động, một thái độ sáng tác thật sự say mê, nghiêm túc Tuy có rất nhiều cách nói khác nhau, nhiều phơng thức biểu hiện khác nhau nhng tựu trung, t duy thơ của Chế Lan Viên thờng chú trọng “khai thác những yếu tố nghịch lý, những mặt đối lập đầy mâu thuẫn nhng cũng rất thống nhất trong các sự vật và hiện tợng, giữa nội dung và hình thức, giữa hiện tợng và bản chất, giữa cái xấu và cái đẹp, giữa thực và h ”…(Nguyễn Bá Thành – Thơ Chế Lan Viên với phong cách suy tởng) Cho nên có thể nói rằng: phẩm chất đầu tiên của thơ Chế Lan Viên chính là phẩm chất triết học, hay nói đúng hơn chiều sâu của t duy triết học đã tạo cho thơ Chế Lan Viên một màu sắc trí tuệ, một màu sắc nhận thức luận mà nhiều nhà phên bình, nhiều nhà văn đã nói đến Huy động mạnh mẽ năng lực trí tuệ, thơ Chế Lan Viên là thứ thơ giàu chất triết lý Triết lý trong thơ Chế Lan Viên không phải là trang điểm bề ngoài, mà là một phẩm chất nội tại của t duy thơ Trong số các nhà thơ Việt Nam hiện đại, Chế Lan Viên là ngời sớm đặt ra và lý giải những vấn đề triết học nhân sinh Câu thơ của ông viết từ thuở Điêu tàn: Ai bảo giùm ta: có có ta không?“ ” là một câu hỏi mang ý nghĩa nhận thức luận rất lớn mà triết học thời nào cũng quan tâm giải đáp Câu hỏi mà ở thời Phục hng nhân vật Hamlét (Hamlét – Sêcxpia) đã nhắc đi nhắc lại: “To be or not to be” (tồn tại hay không tồn tại) và tởng nh sang thế kỷ XVII, Đêcactơ đã tìm đợc câu trả lời trong một mệnh đề triết học bất hủ

Je Pense done je suis

“ ” (tôi t duy vậy là tôi tồn tại) và nó cũng gần với câu thơ của Chế Lan Viên: đã phản ánh một t tởng triết học về mối quan hệ giữa cái chủ thể và cái khách thể Đến ánh sáng và phù sa, có khi cả bài thơ là một t tởng, một triết lý (Hai câu hỏi), có khi có tồn tại thấp thoáng, ẩn hiện trong mỗi đoạn thơ để rồi hiện ra bất ngờ nh sự thăng hoa của t tởng, sự phát hiện và đúc kết chân lý đời sống Những câu thơ nh thế tạo nên những loé sáng kỳ thú trong nhận thức Nhờ triết lý

mà cái “quen thuộc” bỗng đợc “lạ hoá”, cái “cảm thấy” bỗng đợc “nhận ra” để

Trang 25

ng-ời đọc cảm thấy giàu thêm về nhận thức và xúc cảm Có nhiều câu thơ triết lý của Chế Lan Viên trở thành gần gũi để có lúc chợt trở về ngân nga trong hồn ngời:

- Lòng ta chửa bao giờ ta đi hết đợc

Đi hết lòng tiếng khóc hoá lời ca

- Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn

- Tình yêu làm đất lạ hoá quê hơng.

Và cứ thế, trong thơ Chế Lan Viên, ta luôn gặp những câu thơ cô đọng, những chân lý phổ quát, hoặc phát hiện ra những chân lý mới:

- Ôi kháng chiến mời năm qua nh ngọn lửa, Nghìn năm sau còn đủ sức soi đờng.

- Bác vĩ đại mà chẳng làm ai kinh ngạc.

- Khi đợc lúa, ta đợc cả chim trên trời đến hót Hạnh phúc lúc trở về hạnh phúc hoá thành đôi.

Ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ nghệ thuật Nó là sản phẩm chung nhng sử dụng nh thế nào là phụ thuộc vào trình độ, khả năng của từng ngời Mỗi cá nhân

có một sở trờng, sở đoản riêng do tâm lý, cá tính, trình độ và công phu rèn luyện khác nhau Đặc biệt đối với những nhà thơ có tài thì dờng nh mỗi ngời có một kho

từ vựng riêng, có kiểu cách ngắt nhịp, đặt câu khác biệt để tạo nên phong cách…của riêng mình Chế Lan Viên đợc xem là ngời có vốn tri thức về ngôn ngữ uyên bác và ông tỏ ra rất có ý thức trong việc lựa chọn, vận dụng ngôn ngữ dân tộc Ngôn ngữ đó ngày một đợc hoàn thiện dần trong quá trình sáng tạo của nhà thơ Nói chung, ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên có sự thống nhất, ổn định và cũng là điểm nổi bật ở thơ ông đó là: một phong cách ngôn ngữ độc đáo: phong cách suy tởng,

đậm chất trí tuệ không lẫn vào ai đợc Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn sáng tác mà…chất trí tuệ trong thơ ông có mức độ đậm nhạt khác nhau Bởi vì sự ổn định bao giờ cũng có tính tơng đối

Trang 26

2.2.2 Cơ sở của sự biến đổi

Bên cạnh sự ổn định, thống nhất do yếu tố chủ quan thì yếu tố khách quan

đã làm cho văn thơ thay đổi, biến đổi Sự biến đổi này không phải là một sự ngẫu nhiên mà nó đều có cơ sở lý do của nó “Thơ Chế Lan Viên không chỉ phản ánh lịch sử, phản ánh thời đại, mà còn phản ánh tiến trình thơ cao dân tộc ở thế kỷ XX” (Nguyễn Bá Thành) Lịch sử thơ ca Việt Nam ở thế kỷ XX trải qua ít nhất là

ba thời kỳ sôi động với ba cuộc cách mạng lớn: Cuộc cách mạng của thơ (1932 – 1945), cuộc cách mạng dân tộc (1945 – 1975) và cuộc cách mạng có tính toàn cầu (sau 1985) Cả ba thời kỳ đó, Chế Lan Viên đều chiếm lĩnh đỉnh cao Thời kỳ Thơ mới, thời kỳ “một cuộc cách mạng trong thơ ca”, Điêu tàn của Chế Lan Viên sừng sững nh một tháp Chàm Thời kỳ “Ba mơi năm dân chủ Cộng hoà” Chế Lan Viên có ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thờng làm sôi động văn đàn, làm vẻ…vang cho nền văn học chiến đấu chống ngoại xâm Thời kỳ đổi mới, thời kỳ cả văn học, cả dân tộc tiến lên hoà nhập cùng nhân loại, Chế Lan Viên để lại hàng trăm bài thơ đặc sắc Di cảo thơ (3 tập) Đó là một tiến trình thơ phản ánh sự biến

đổi về nhiều mặt trong sáng tạo của nhà thơ

Sự biến đổi này là có hai lý do căn bản:

Thứ nhất: do sự thay đổi của thời đại, của đất nớc đã kéo theo sự thay đổi của nền văn hoá và trong đó, ngôn ngữ là một hiện tợng xã hội chính vì vậy cũng

đã thay đổi, biến đổi theo xu hớng chung đó Và nhà văn sống trong thời đại nào thì nhất định sẽ hấp thu vốn ngôn ngữ thời đại đó mà rõ nhất là khía cạnh vốn từ Qua từ ngữ sẽ biết đợc phần nào quan hệ giữa ngời với ngời trong tình trạng chính trị xã hội đó Và ở đây ta gọi “mặt bằng ngôn ngữ văn học xã hội ” thay đổi mà nhiều nhất là từ vựng

Trang 27

Lý do thứ hai của sự thay đổi, biến đổi đó là t tởng của ngời cầm bút Mà cụ thể đó là “cái tôi cá nhân” Trớc cách mạng, “cái tôi” cá nhân là một thế giới riêng t, khép kín không có mối quan hệ cộng đồng với nhân dân Chính vì vậy mà ngôn ngữ của nhà văn đã thể hiện cái nhìn hẹp hòi của cái tôi cá nhân từ đó thể hiện sự thoả mãn nhu cầu biểu đạt tình cảm của cá nhân Nhng sau cách mạng, từ cái tôi cá nhân hẹp hòi đã chuyển sang “cái ta” chung, của cộng đồng, của nhân dân Nhà văn hoà mình chung vào đời sống chung của nhân dân, nói tiếng nói của nhân dân Và do yêu cầu biểu đạt những nội dung lớn lao của đời sống hiện thực,

sự phong phú của cuộc đời nên nhà văn cần trang bị cho mình vốn ngôn ngữ đa dạng hơn

Chính vì những lý do trên mà các nhà văn nhà thơ đã có sự biến đổi về cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, về t tởng, quan điểm, về phong cách v.v Chẳng hạn

nh nhà văn hiện thực Nam Cao ở hai thời kỳ có sự biến đổi rõ rệt Nhân vật ở những tác phẩm trớc Cách mạng luôn bị bế tắc và rơi vào bi kịch nh Đời thừa,

Sống mòn nh… ng khi Cách mạng thành công, Nam Cao đã có sự nhận đờng rõ ràng và đúng đắn đợc thể hiện ở Đôi mắt Trong bối cảnh chung ấy Chế Lan Viên cũng có sự biến đổi rõ rệt, dễ nhận thấy, tuy sự biến đổi diễn ra chậm hơn Thế kỷ

XX, dân tộc ta, đất nớc ta vận động và đổi thay mạnh mẽ nhất Thơ Chế Lan Viên

là loại thơ vận động và đổi thay theo thời cuộc Chữ “thời” và chữ “thế” trong sự nghiệp thơ của ông đã trở thành những phạm trù rất cốt lõi, rất căn bản Cách mạng nh một vầng ánh sáng nở bừng trớc mắt Chế Lan Viên, kéo nhà thơ theo con

đờng lạnh lẽo, bế tắc ấy Một ngời mác xít chân chính, một Đảng viên 40 năm tuổi

Đảng, nhng Chế Lan Viên không tự giới hạn mình về phơng diện quan niệm triết học Ông đã từ khuynh hớng thần bí, bi quan, yêu tôn giáo, siêu hình mà đến với cách mạng, cho nên ông đã tiếp thu và chịu ảnh hởng rất nhiều loại t tởng triết học khác nhau Bắt đầu từ một quan niệm thơ - làm thơ tức là điên, với những bài thơ

về máu xơng, về hồn ma bóng quỷ, mà sau đó ông đã biến thơ mình thành những

Trang 28

bài thơ đánh giặc, thành một thứ vũ khí tinh thần của giai cấp, của dân tộc, đây quả là một bớc đổi thay vĩ đại Cách mạng uốn nắn lại tâm hồn thi sĩ, giúp Chế Lan Viên nhận ra và phát huy đúng bản chất của mình Đổi cách nhìn, cách sống,

ông cố gắng đổi cả thơ mình Thơ ông lúc này có xu hớng tìm về sự trong sáng của thơ ca dân gian Từ “dĩ vãng buồn th ơng”, hoài cổ, thi nhân trở về hiện tại; từ

mộng ảo trở về cuộc sống trần thế, từ “cái tôi đến cái ta”, từ bóng tối đến ánh sáng với bao khó khăn, vất vả nhng lắm niềm vui, từ chán nản rã rời tởng chừng

nh khuỵ ngã, ông đi đến niềm tin và ý chí chiến đấu

Nếu trớc kia với Điêu tàn (1937) ông viết về những tháp Chàm lở lói rỉ“

rên than”, những đầu lâu, xơng máu, sọ ngời, những ma hời, quỷ dữ bằng trí t… ởng tợng siêu hình, thần bí thì đến ánh sáng và phù sa (1960) ông lại viết về Tổ quốc, về cách mạng, về Đảng, Hồ Chủ tịch, về cuộc sống mới về … “cái tôi ” trữ tình đằm thắm “Cái tôi” trữ tình đem đến những tính chất mới trong thơ Chế Lan Viên, đặc biệt là tinh thần chiến đấu, nhập cuộc của thơ trớc xã hội, tính hiện thực, khả năng bao quát và thâm nhập đời sống từ vấn đề lớn của thời đại đến các khía cạnh sinh tồn của đời sống, tính đại chúng và tinh thần dân chủ của thơ ca Trớc cách mạng là di tích của cái tồn tại, dấu vết của một dân tộc đã bị lãng quên, bị tiêu diệt, thì trong và sau cách mạng là sự tồn tại kiên cờng, bất khuất của một dân tộc, một quốc gia Từ thung lũng đau th“ ơng ra cánh đồng vui” đó là cảm hứng

-chủ đạo của tập thơ ánh sáng và phù sai ánh sáng và phù sa quả là một Chế Lan Viên khác hẳn với Chế Lan Viên Điêu tàn ở tất cả mọi phơng diện của sự sáng tạo

Qua hai giai đọan văn học, ta thấy sự biến đổi rõ rệt: từ lãng mạn đến hiện thực, từ cái tôi hớng đến cái ta, đó là con đờng vận động phát triển của t duy thơ hiện đại Việt Nam Thơ Chế Lan Viên cũng vận động theo hớng đó Nhng có lẽ Chế Lan Viên là ngời quyết liệt hơn, dứt khoát hơn trong việc “đoạn tuyệt” với thơ

Trang 29

trớc cách mạng Ông đã gọi thời kỳ làm thơ trớc Cách mạng của mình là “thời chua cay”, quá khứ trớc cách mạng là quá khứ buồn thơng” và ông đã tự liên hệ,

tự kiểm điểm mình một cách sâu sắc trong nhiều bài thơ, nhất là trong tập ánh

sáng và phù sa Tập thơ ra đời 1960 với lời chú thích ở cuối sách: “ánh sáng rọi soi tôi và phù sa bồi đắp tôi ánh sáng tinh thần và phù sa vật chất của lý tởng tôi

Nh vậy chúng ta có thể kết luận: Chế Lan Viên – tài năng đầy mâu thuẫn: vừa thống nhất, vừa biến đổi, vừa là nớc, vừa là lửa, vừa mê phật vừa sùng chúa, vừa say cách mạng Ông tự xé mình ra làm hai mảnh thực tại và siêu hình, vừa theo gót Đante đạt tới ba cõi: địa ngục, luyện tội, thiên đàng vừa theo Goethe phiêu du tìm nguồn vui cõi ngời – thực tại – Faust (ý của Trần Mạnh Hảo)

2.3 Ngôn ngữ thơ trong Điêu tàn và ánh sáng và phù sa dới cái nhìn

Trang 30

nhợc điểm của nó cả Nhà thơ bởi thế cần viết cho đợc nhiều thể Các thể thơ mà Chế Lan Viên quan tâm, sử dụng đều có đợc những thành công đáng kể, mang dấu

ấn cá tính sáng tạo của bản thân ở hai tập thơ Điêu tàn, ánh sáng và phù sa đợc tác giả sáng tác ở những loại chính: thơ 8 chữ, thơ 7 chữ, thơ tứ tuyệt và thơ tự do Ngoài ra, còn có một số bài thơ làm theo thể thơ khác nhng không đáng kể

ở Điêu tàn thể thơ chiếm tỷ lệ nhiều nhất đó là thể 8 chữ và 7 chữ Đây là

những thể thơ truyền thống của dân tộc đã đợc Chế Lan Viên sử dụng thuần thục Thể 7 chữ có 4 bài: Đọc sách, Xuân, Thu, Mơ trăng Thể 8 chữ có 23 bài nh:

Mộng, Đám ma, Xuân về, Cõi ta…Chế Lan Viên luôn luôn tìm tòi đổi mới cấu

trúc thơ Việc Chế Lan Viên tìm loại hình câu thơ nào đó không phải lạ sự ngẫu nhiên, mà nhằm tìm đến cách thể hiện phù hợp với tâm trạng và nhận thức của

ông ở tập thơ này cách ngắt nhịp của câu thơ rất linh hoạt Nhịp thơ không cố

Chiêm nơng ơi/cời lên đi em hỡi!

Cho lòng anh/quên một chút buồn lo

(Điêu tàn)

Điều đó cho ta thấy câu thơ của Chế Lan Viên thời kỳ này rất gần với câu thơ 8 chữ phổ biến trong Thơ mới Tuy nhiên trong từng trờng hợp cụ thể, ông đã

sử dụng nhịp điệu với yêu cầu biểu đạt riêng của mình và ông đã thành công

Đến ánh sáng và phù sa, thể thơ lại biển đổi gần nh là hoàn toàn ở tập thơ này, thể thơ chiếm nhiều nhất là thể thơ tự do và thơ tứ tuyệt

Trang 31

Thơ tứ tuyệt là một thể thơ rất khó, yêu cầu cô đúc về nội dung và đòi hỏi chặt chẽ về hình thức Tứ tuyệt luôn đợc xem là sở trờng của Chế Lan Viên Tuy nhiên, thơ tứ tuyệt của Chế Lan Viên ở đây không còn giữ đúng tinh thần của nó (tuyệt cú Đờng thi) mà tác giả đã có sự gia công chế biến Nếu ở Điêu tàn không

có một bài thơ tứ tuyệt nào thì ánh sáng và phù sa có tới 21 bài Và nói cho đúng hơn là thơ 4 câu vì đó là những bài tứ tuyệt biến cách Có bài gồm 4 câu lục bát

nh : Lá nguỵ trang, Nhớ Bế Văn Đàn Có bài 4 câu 8 chữ: … Trăng, Hai câu hỏi,

Đi thực tế có bài 5 chữ : Đêm tập kết Có bài 7 chữ nh… : Mẹ, Đêm ra trận Xét…

về mặt hình thức, thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên rất phong phú và đa dạng Ông có những phá cách cần thiết để diễn đạt đợc tối đa lợng thông tin ngữ nghĩa Sức hấp dẫn của thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên phải chăng ở chỗ: dù chủ yếu vẫn dựa vào cái nền của các thể thơ truyền thống, nhng tác giả đã thổi vào đó cái hồn của thời đại Bởi vậy, bài thơ vừa có cốt cách Đờng thi vừa rất hiện đại Thành công của Chế Lan Viên ở thể loại này là điều đáng ghi nhận

Với thể thơ tự do, bớc đầu thể nghiệm, Chế Lan Viên đã gặt hái một số thành công và ngày càng chiếm u thế trong sáng tác của ông Từ thơ cách luật, thơ truyền thống cho đến thơ tự do là một quá trình vận động lựa chọn loại thể của thơ

ca Việt Nam Thơ tự do Chế Lan Viên không nằm ngoài xu thế chung đó nhng

ông không chạy theo kiểu “trăm hoa đua nở” mà thơ tự do của ông có những nguyên tắc riêng, mang dấu ấn sáng tạo cá nhân Sáng tác theo thể tự do, ngòi bút Chế Lan Viên đợc tự do, phóng khoáng hơn trong cách diễn đạt, không bị gò bó bởi bất cứ một quy tắc nghiêm ngặt nào Câu thơ tự do của ông không có giới hạn

về âm tiết, nó có thể duỗi ra nh một câu văn xuôi tuỳ thuộc vào cảm xúc của tác giả ở ánh sáng và phù sa, tác giả đã sáng tác có câu 5 chữ nhng cũng có câu dài tới 25 chữ nh bài “Cành phong lan bể” đọc lên ta tởng đây là một câu văn xuôi Nhng đây vẫn là thơ, thơ văn xuôi Thơ tự do trong ánh sáng và phù sa chủ Chế

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Xuân Nam – Tuyển tập Chế Lan Viên, tập 1. Nxb Văn học, Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Chế Lan Viên
Nhà XB: Nxb Văn học
4. Đinh Trọng Lạc – 99 phơng tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt, Nxb Giáo dục 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phơng tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục 1997
5. Nguyễn Phan Cảnh – Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá Thông tin 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin 2000
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi – Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục – 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục – 1992
7. Hoài Thanh và Hoài Chân – Thi nhân Việt Nam (1932 - 1941), Nxb Văn học 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học 2000
8. Vũ Đức Nghiệu – Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, Nxb Giáo dục 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục 1999
9. Phan Cự Đệ (nhiều tác giả khác) - Văn học Việt Nam (1900 - 1945), Nxb Giáo dôc – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900 - 1945)
Nhà XB: Nxb Giáo dôc – 2000
10. Vũ Tuấn Anh – Chế Lan Viên về tác gia và tác phẩm , Nxb Giáo dục – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục – 2000
11. Phong Lan – Chế Lan Viên - Ngời làm vờn vĩnh cửu, Nxb Hội nhà văn 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên - Ngời làm vờn vĩnh cửu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn 1995
12. Đỗ Hữu Châu – Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, – Nxb Giáo dục, H.1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
13. Trí tuệ tài năng tâm hồn Chế Lan Viên - Tạp chí Văn học số 9 – 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ tài năng tâm hồn Chế Lan Viên
14. Hoài Anh – Chế Lan Viên Một bản lĩnh, một tâm hồn thơ phong phú, đa – dạng và bí ẩn, Tạp chí Văn học số 3/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên Một bản lĩnh, một tâm hồn thơ phong phú, đa"–"dạng và bí ẩn
15. Phan Cự Đệ - Phong trào Thơ mới, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Thơ mới
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
16. Nguyễn Lộc – Những tìm tòi nghệ thuật trong thơ, Tác phẩm mới 9. 1920 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tìm tòi nghệ thuật trong thơ
17. Lâm Tiến Phong – Chế Lan Viên Hàn Mạc Tử, – Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên Hàn Mạc Tử
Nhà XB: Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh 1998
19. Hà Minh Đức – Một thời đại thơ ca, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1997.19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời đại thơ ca
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
18.Đỗ Thị Kim Liên- Ngữ pháp Tiếng Việt ,NxbGiáo dục,1999 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đối sánh về thể thơ - So sánh ngôn ngữ thơ chế lan viên trong hai tập điêu tàn và ánh sáng và phù sa
Bảng 1 Đối sánh về thể thơ (Trang 29)
Bảng 2: Thống kê - so sánh từ Hán Việt ở một số bài trong tập thơ Điêu - So sánh ngôn ngữ thơ chế lan viên trong hai tập điêu tàn và ánh sáng và phù sa
Bảng 2 Thống kê - so sánh từ Hán Việt ở một số bài trong tập thơ Điêu (Trang 33)
Bảng 5: Thống kê - so sánh đại từ xng hô ở một số bài thơ trong hai tập - So sánh ngôn ngữ thơ chế lan viên trong hai tập điêu tàn và ánh sáng và phù sa
Bảng 5 Thống kê - so sánh đại từ xng hô ở một số bài thơ trong hai tập (Trang 43)
Bảng 6: Thống kê - so sánh hình ảnh biểu tợng ở một số bài thơ trong - So sánh ngôn ngữ thơ chế lan viên trong hai tập điêu tàn và ánh sáng và phù sa
Bảng 6 Thống kê - so sánh hình ảnh biểu tợng ở một số bài thơ trong (Trang 45)
Bảng 8: Thống kê - so sánh biện pháp ở một số bài thơ trong hai tập Điêu tàn - So sánh ngôn ngữ thơ chế lan viên trong hai tập điêu tàn và ánh sáng và phù sa
Bảng 8 Thống kê - so sánh biện pháp ở một số bài thơ trong hai tập Điêu tàn (Trang 49)
Bảng 11: Thống kê - so sánh câu hỏi tu từ ở một số bài thơ trong hai tập - So sánh ngôn ngữ thơ chế lan viên trong hai tập điêu tàn và ánh sáng và phù sa
Bảng 11 Thống kê - so sánh câu hỏi tu từ ở một số bài thơ trong hai tập (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w