Tiếng thơ Nguyễn Duy sau 1975 là một tiếng thơ đặc biệt, là sự chuyển biến trong cảm hứng thơ, đi từ cảm hứng công dân, cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự đời tư, nhà thơ trăn trở trướ
Trang 1- -
TRẦN THỊ BÍCH NGA
Cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Nguyễn
Duy sau 1975 qua các tập thơ Ánh trăng,
Mẹ và em, Quà tặng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Công trình này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thanh Trường Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung khoa học trong công trình này
Đà Nẵng, ngày 11 tháng 05 năm 2012
Người thực hiện:
Trần Thị Bích Nga
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thanh Trường
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn Đồng cảm ơn thầy cô giáo khoa Ngữ văn, các cán bộ thư viện Đại học Sư phạm đã giúp tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu
Đà Nẵng, ngày 11 tháng 05 năm 2012
Người thực hiện:
Trần Thị Bích Nga
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Giới thuyết thuật ngữ 4
4.1 Cảm hứng 4
4.2 Cảm hứng thế sự đời tư 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp hệ thống - cấu trúc 5
5.2 Phương pháp so sánh 6
6 Bố cục khóa luận 6
NỘI DUNG 7
Chương 1 Cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Việt Nam sau 1975 7
1.1 Thơ Việt Nam sau 1975 với những biểu hiện cảm hứng thế sự đời tư 7
1.1.1 Khắc khoải, âu lo trước cuộc sống thực tại bộn bề 7
1.1.2 Thức tỉnh trước bi kịch thời hậu chiến 10
1.1.3 Khát khao hạnh phúc đời thường 13
1.1.4 Ý thức đào sâu vào bản ngã 15
1.2 Thơ Nguyễn Duy trong dòng cảm hứng thế sự đời tư của thơ ca Việt Nam sau 1975 17
1.2.1 Nguyễn Duy - nhà thơ của hồn quê Việt 17
1.2.2 Cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Nguyễn Duy- một cái nhìn phác thảo 20
Trang 52.1 Trăn trở trước thực tế cuộc sống đói nghèo, cay cực 24
2.1.1 Nỗi buồn về sự ngưng đọng dai dẳng của đói nghèo 24
2.1.2 Nỗi xót xa trước cảnh làng quê vất vả nhọc nhằn vì thiên tai 26
2.2 Ám ảnh về bi kịch tinh thần của con người sau chiến tranh 28
2.2.1 Về quê hương, về kí ức tuổi trẻ với chiến tranh lửa đạn 28
2.2.2 Về những đau thương, mất mát 31
2.2.3 Về thế thái nhân tình 34
2.3 Chiêm nghiệm hạnh phúc đời thường 36
2.3.1 Về cuộc sống của những người thân 36
2.3.2 Về tình yêu lứa đôi 38
Chương 3 Một số phương thức thể hiện cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Nguyễn Duy sau 1975 42
3.1 Hình ảnh thơ 42
3.1.1 Cánh cò trắng 42
3.1.2 Ánh trăng 45
3.2 Thể thơ 47
3.2.1 Lục bát 47
3.2.2 Thơ tự do 50
3.3 Ngôn ngữ 52
3.3.1 Giàu chất khẩu ngữ 53
3.3.2 Đậm hương vị ca dao
3.4 Giọng điệu 58
3.4.1 Giọng tâm tình sâu lắng 58
3.4.2 Giọng chiêm nghiệm suy tư 60
3.4.3 Giọng hài hước, cười cợt 62
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong số những nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ,
Nguyễn Duy được đánh giá là một hồn thơ độc đáo Thơ ông là những trăn trở, băn khoăn trước bộn bề cuộc sống, trước số phận con người và số phận cả dân tộc Những câu thơ nặng trĩu hồn quê, lay động tận trong sâu thẳm tâm linh và như đưa người đọc trở về với bản ngã, với những gì con người nhất
Với ông, người cầm bút không thể nhỏ giọt dòng thơ không dễ dãi mà phải
đêm đêm thao thức như cây chổi quét đường (Mười năm bấm đốt ngón tay)
Tiếng hát của Nguyễn Duy lúc này không chỉ là tiếng hát của một công dân, một nhà thơ ý thức sâu sắc về trách nhiệm nghĩa vụ của mình với đất nước mà còn là tiếng lòng của một con người có ý chí, có bản lĩnh hơn người, vượt lên mọi hoàn cảnh khắc nghiệt, để kiên trì bền bỉ với nghiệp thơ mà mình đã lựa chọn Tiếng thơ Nguyễn Duy sau 1975 là một tiếng thơ đặc biệt, là sự chuyển biến trong cảm hứng thơ, đi từ cảm hứng công dân, cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự đời tư, nhà thơ trăn trở trước những đổi thay của cuộc sống, trước những số phận con người nhỏ bé mong manh Đọc thơ Nguyễn Duy, người đọc trải lòng mình để chiêm nghiệm những gì gần gũi nhất trong cuộc sống
này
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy, tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu cảm hứng thế sự đời tư trong thơ ông sau
1975 một cách cụ thể và đúng mức
Tiến hành nghiên cứu, khảo sát đề tài “Cảm hứng thế sự đời tư trong
thơ Nguyễn Duy sau 1975 qua các tập thơ Ánh trăng, Mẹ và em, Quà tặng”,
chúng tôi có cái nhìn sâu sắc hơn về sự đóng góp của cảm hứng thơ Nguyễn Duy mà cụ thể là cảm hứng thế sự đời tư trong dòng cảm hứng thơ ca Việt Nam sau 1975
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thơ Nguyễn Duy là đối tượng mà các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, đặc biệt cảm hứng trong thơ ông luôn là vấn đề có sức hấp dẫn lớn Về cảm hứng trong thơ Nguyễn Duy nói chung, đã có khá nhiều ý kiến đánh giá, luận bàn của các nhà nghiên cứu
Từ Sơn trong bài viết Thơ Nguyễn Duy (Nhân đọc tập thơ “Ánh
trăng”) viết: Điều đáng mừng là anh đã góp vào kho tàng thơ xã hội chủ nghĩa hiên đại những bài thơ mang dáng vẻ riêng: nồng nàn hơi thở đời sống, giàu hương vị dân tộc và dạt dào tình yêu cuộc sống trong dáng hình bình dị, chân chất, dân dã… Cái quý trong thơ anh chính là anh đã “thương mến đến tận cùng chân thật - những miền quê gương mặt bạn bè” với những dòng thơ, bài thơ có lúc đã đạt được cái trong veo của nắng mai, cái hào phóng của cơn gió nơi đồng nội, cái ấm áp của một lời thổ lộ tâm tình.[16, tr.202]
Chu Văn Sơn là người có đóng góp lớn trong việc tìm hiểu con người
và quá trình sáng tạo của Nguyễn Duy Trong bài Nguyễn Duy thi sỹ thảo dân
ông đã nói về nét đặc trưng trong cảm hứng thơ Nguyễn Duy, đó là Nguyễn Duy đã mang được hơi thở của quê hương, hơi thở của nhân dân lao động vào
trong thơ Ông viết: Duy sẽ đi vào cái vô danh để mang về cái vô giá Đi vào
“những ngọn cọng rơm xơ xác gầy gò” để chắt chiu thứ “hơi ấm hơn rất nhiều chăn đệm” Đi vào cái tối để mang về ánh sáng [15, tr.38] Đó là nhận
xét vừa mang tính tổng quát vừa rất sâu sắc góp phần định hướng một cái nhìn chung về cảm hứng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy
Bên cạnh đó là những nhận định về cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Nguyễn Duy nói riêng
Tác giả Lê Quang Hưng trong Thơ Nguyễn Duy và “Ánh trăng” đã viết: Hầu hết các bài trong tập thơ đều xuất phát từ một khoảnh khắc, một
Trang 8câu chuyện riêng tư Nhưng từ những điều khởi xuất, có tính riêng, cụ thể đó, Nguyễn Duy đã biết bồi đắp để phổ quát hóa chúng thành những cảm xúc, những suy tư của mình…Giờ đây, Nguyễn Duy vẫn nhạy cảm, giàu suy tư như thế và từng trải, sâu sắc hơn.[10, tr.207]
Vũ Văn Sỹ trong bài Nguyễn Duy - người thương mến đến tận cùng chân thật đã đề cập đến cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Nguyễn Duy, theo
ông, cái tạo nên cảm hứng này trong thơ Nguyễn Duy thường là những rung động nhẹ nhàng, những cảnh những tình thuộc về kỉ niệm, về người thân Ông
có nhận xét khá tinh tế: Nguyễn Duy thường nắm bắt những cái mong manh
nhưng vững chắc trong đời: chút rưng rưng của ánh trăng, một tiếng tắc kè lạc về giữa phố, một dấu chân cua lấm tấm ruộng bùn; một kỉ niệm chập chờn nguồn cội; một mùi thơm của huệ trắng trong đền, thoáng hư thực giữa người
và tiên phật…[15, tr.69]
Như vậy đã có khá nhiều nhà nghiên cứu khảo sát, tìm hiểu về cảm hứng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy nói chung và cảm hứng thế sự đời tư trong thơ ông nói riêng Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống về vấn đề cảm hứng thế sự đời tư trong thi phẩm
của Nguyễn Duy, cụ thể là các tập Ánh trăng, Mẹ và em, Quà tặng Trên cơ
sở kế thừa thành tựu của những công trình đó, cộng với nỗ lực tìm tòi, nghiên
cứu chúng tôi đi vào khảo sát đề tài Cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Nguyễn
Duy sau 1975 qua các tập thơ Ánh trăng, Mẹ và em, Quà tặng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: Cảm hứng thế sự đời tư trong
thơ Nguyễn Duy sau 1975
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 9Chúng tôi tiến hành khảo sát các tập Ánh trăng (Nxb tác phẩm mới, 1984); Mẹ và em (Nxb Thanh Hóa, 1987); Quà tặng (Nxb Văn học, 1990)
4 Giới thuyết thuật ngữ
4.1 Cảm hứng
Theo Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa cảm hứng chủ đạo là trạng
thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm [9, tr.44]
Trong cuốn Lý luận văn học (Phương Lựu chủ biên) định nghĩa: Cảm
hứng là trạng thái tâm lý căng thẳng nhưng say mê khác thường Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc khi đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh sẽ bùng cháy trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến những mục tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản năng [11,
tr.210]
Từ những định nghĩa, khái niệm trên cho thấy cảm hứng chính là thái
độ tình cảm nồng nhiệt, say đắm của nhà văn khi thể hiện tư tưởng của mình
trong tác phẩm chứ không phải là bản thân tư tưởng xét trên bình diện triết học, xã hội học, cũng như không phải là cái hứng, cảm xúc bột phát của nhà văn khi bắt tay cầm bút Cảm hứng có vai trò rất quan trọng trong tác phẩm,
nó đem lại cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định, thống
nhất tất cả các cấp độ và yếu tố nội dung tác phẩm
4.2 Cảm hứng thế sự đời tư
Cảm hứng thế sự đời tư là những xúc cảm, suy tư mãnh liệt khi con người phải đối mặt với hiện thực bụi bặm, méo mó, bất toàn để hướng tới một môi trường xã hội nhân văn, tiến bộ Đó là loại cảm hứng mô tả đời sống nhằm mục đích nhận thức nó trong tất cả các trạng thái nhân thế phức tạp vốn
có Văn nghệ sỹ nhìn thẳng vào sự thật cuộc sống, trực diện hướng ngòi bút
Trang 10của mình vào các vấn đề xã hội, đặt lên hàng đầu những suy nghĩ và chủ kiến
cá nhân để phản ánh, lí giải hiện thực một cách triệt để Đi cùng với một ý thức trách nhiệm đạo đức - công dân, một thái độ, một lí tưởng xã hội mạnh
mẽ, tích cực, họ cũng khẳng định mình trong tư cách “con người đời thường” với tất cả mọi biểu hiện chân thực và nhân bản Họ tập trung tinh lực trong ngòi bút của mình để khai thác những mảnh đời nhỏ bé, đời thường mà có ý nghĩa nhân văn cao cả Họ không nói đến những cái to tát, những cái lớn của tập thể mà đi sâu vào những con người nhỏ bé Với cảm hứng này, mỗi nhà văn, nhà thơ đã tạo nên một phong cách riêng, những cái tôi cá nhân đặc trưng
và đặc biệt nó tạo nên những giá trị thẩm mĩ chuyên biệt, có sức hút với độc giả và góp phần khẳng định tên tuổi của các nhà văn trong bức tranh chung của đời sống văn học Nghệ sĩ tập trung viết về đời tư, về những suy nghĩ, tâm
lí, tình cảm của cá nhân Họ sử dụng sức nặng diễn đạt của ngôn từ vào khai thác những cảm xúc rất riêng tư, những mâu thuẫn trong tâm hồn con người
Họ không đi vào miêu tả những cái cao xa, mà là những lát cắt rất nhỏ của đời sống diễn ra trong một khoảng không gian và thời gian chóng vánh nhưng có một giá trị nhân bản, giá trị thẩm mĩ sâu sắc
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp hệ thống - cấu trúc
Trong quá trình khảo sát chúng tôi đặt đối tượng nghiên cứu cảm hứng
thế sự đời tư trong thơ Nguyễn Duy sau 1975 qua các tập thơ Ánh trăng, Mẹ
và em, Quà tặng trong dòng cảm hứng thế sự thơ ca Việt Nam sau 1975
5.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Chúng tôi đi vào chia tách cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Nguyễn Duy thành nhiều yếu tố nhỏ hơn, đi sâu vào cấu trúc bên trong, xem xét những cấp độ nhỏ hơn của vấn đề Từ yếu tố riêng rẽ đó, chúng tôi đi đến cái nhìn khái quát, tổng hợp tạo nên tính chỉnh thể cho vấn đề nghiên cứu
Trang 115.2 Phương pháp so sánh
Với đề tài này, chúng tôi đi vào so sánh cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Nguyễn Duy với các nhà thơ cùng thời để thấy được nét riêng, nét đặc sắc của Nguyễn Duy Bên cạnh đó chúng tôi so sánh cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Duy trong tương quan với cảm hứng thế sự đời tư chung của thời đại
để nhận thấy sự thống nhất của cảm hứng thế sự ở thơ ông trong phong cách thời đại
6 Bố cục khóa luận
Khóa luận được bố cục theo 3 chương:
Chương 1 Cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Việt Nam sau 1975
Chương 2 Những biểu hiện cảm hứng thế sự đời tư trong thơ
Nguyễn Duy sau 1975
Chương 3 Một số phương thức thể hiện cảm hứng thế sự đời tư
trong thơ Nguyễn Duy sau 1975
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CẢM HỨNG THẾ SỰ ĐỜI TƯ TRONG THƠ VIỆT NAM SAU 1975
1.1 Thơ Việt Nam sau 1975 với những biểu hiện cảm hứng thế sự đời tư
Với khí thế Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, nhân dân ta đã đưa cuộc
kháng chiến chống Mỹ đi đến toàn thắng Giờ đây, trong văn học cảm hứng
sử thi hào hùng vẫn tiếp nối như một quán tính nghệ thuật Có thể nhận thấy một loạt trường ca xuất hiện như những bức tranh tổng kết cuộc kháng chiến hoành tráng, vĩ đại của dân tộc Tuy nhiên, trước những tàn dư mà chiến tranh
để lại cho cuộc sống của nhân dân, các nhà thơ không thể dửng dưng Họ đã chứng kiến hoặc đang đau nỗi đau do chiến tranh gây ra, điều đó thôi thúc họ
viết về những trăn trở trong cuộc sống đời thường, những nỗi niềm con người
nhất Tuy vẫn mang âm hưởng hào hùng nhưng các nhà thơ bắt đầu chú ý nhiều hơn đến bi kịch con người, quan tâm trực diện đến số phận cá nhân, và thậm chí có khi số phận của đất nước được đo ướm bằng số phận cá nhân Cái nhìn sử thi đã dần phai nhạt và thay vào đó là cái nhìn phi sử thi Cảm hứng thế sự đời tư đã trở thành nền tảng và cảm hứng chủ đạo của thơ ca sau 1975
1.1.1 Khắc khoải, âu lo trước cuộc sống thực tại bộn bề
Sau chiến tranh, đất nước đi vào ổn định, khắc phục hậu quả chiến tranh và phát triển kinh tế Cơ chế kinh tế thị trường một mặt làm cho cuộc sống nhân dân khởi sắc, đem lại sự đầy đủ hơn cả về nhu cầu vật chất và tinh thần Mặt khác, chính cơ chế này làm mất dần những tình cảm tốt đẹp mà trước và trong chiến tranh đã có Con người sống và đối xử với nhau lạnh lùng hơn, các mối quan hệ trở nên lỏng lẻo hơn Bối cảnh lịch sử và văn hóa mới khiến các nhà thơ không thể nhìn cuộc sống một chiều như trước đây mà buộc họ phải thích ứng với sự thay đổi chóng mặt của cuộc sống
Trang 13Thấy được, cảm được những bộn bề, chật vật của con người trong cuộc sống hiện tại, Lưu Quang Vũ cay đắng nghẹn ngào khi nghĩ về Tổ quốc
Bài thơ Đất nước đàn bầu hiện lên hình ảnh một đất nước đau thương, nhọc
nhằn, nghèo khó:
Dân tộc tôi bốn ngàn năm áo rách Những người chết đặc trong lòng đất Những mặt vàng sốt rét
Những bộ xương đói khát vật vờ đi
Nhà thơ nói tới những miền khuất lấp, ở sự khốc liệt, tàn phá của chiến tranh, ở số phận của dân tộc, nhân dân từ nhiều góc nhìn hết sức nhân bản và cũng bằng chính trái tim nghệ sĩ rất mực khắc khoải của anh Những câu thơ trên được viết ra do nhu cầu thúc bách nội tâm của bản thân, nó là suy nghĩ, là nỗi lòng, là tâm trạng của con người cảm biết nỗi đau và nghịch cảnh của đồng loại
Các nhà thơ trong giai đoạn này luôn nhạy cảm trước biến cố của cuộc sống Họ không phải là những người rao giảng đạo đức hay minh họa cho một
tư tưởng sẵn có mà phải thực sự vào cuộc, phải rung động, chia sẻ với những nỗi niềm của con người, góp phần đánh thức những khát khao, những niềm trắc ẩn của họ Trong âm hưởng hùng ca, say sưa với hào quang chiến thắng, thơ chống Mỹ thường tránh nói nỗi đau:
Đã có thời nỗi đau ta phải giấu
Ta đánh mất ta trong mỗi con người”
(Trương Nam Hương)
Hoặc nếu phải đối diện với hiện thực nghiệt ngã thì các nhà thơ vẫn cố
gắng “xoa dịu” vết đau bằng sức mạnh tinh thần:
Một tháng vã hành quân Hai chân phồng rộp cả
Trang 14Quấn băng rồi vẫn đau Nhiều lúc đi bằng đầu (Mùa xuân đi đón - Hữu Thỉnh)
Sau 1975, các nhà thơ đã có cái nhìn khác về thực tại, về nỗi đau và những mất mát Ở đây, hiện thực trần trụi được mổ xẻ một cách sâu sắc, nó
hiện lên với nhiều sắc màu, nhiều khía cạnh khác nhau Trong tập Cửa mở,
nhà thơ Việt Phương đưa vào thơ bao nỗi niềm tâm sự còn ngổn ngang, nhà
thơ dùng chữ đau để đa dạng những cung bậc của nó Có nỗi đau lớn mang hình vũ trụ nỗi đau trái đất và lại có nỗi đau trong mỗi cuộc đời Có nỗi đau
qua đi rất nhanh, nhưng cũng lại có nỗi đau thấm vào ta rất lâu trải suốt những đêm dài nặng trĩu Có nỗi đau mồ côi và có cả những nỗi đau sinh nở Có nỗi đau người và nỗi đau chuyển sang vạn vật vô tri Trong đó, theo ông không
có nỗi đau nào sánh được với nỗi đau người, nỗi đau ấy triền miên, tăng dần cấp
độ Và hơn thế nữa, nỗi đau không sao chuyển thành niềm vui được (Nỗi đau trái
đất), nhà thơ thấm thía niềm đau về sự hi sinh của dân tộc :
Thời gian trườn đi quằn quại
Ta uống một dòng đau nhói Đau ngay trong cả nụ cười (Cây sấu quê hương)
Cùng thế hệ các nhà thơ trẻ, cùng chứng kiến sự tàn phá của chiến tranh, Thanh Thảo đem đến tiếng thơ đầy ắp trăn trở, những suy ngẫm về các cặp phạm trù đối lập giữa được - mất, sống - chết, chung - riêng Thơ anh nói nhiều đến chiến thắng nhưng còn nói nhiều hơn đến mất mát, hy sinh bằng một nỗi xót xa thấm thía:
Thằng bạn tôi dăm năm Nhìn một ngôi sao trong hố bom nhoè nước (Một người lính nói về thế hệ mình)
Trang 15Thanh Thảo cũng đã viết những câu thơ đầy ám ảnh về tuổi thọ của
chiếc áo lính:
Những năm Chiếc áo dính chặt vào thân bạc màu ngắn nhanh rồi rách Những năm
Một chiếc áo có thể sống lâu hơn một cuộc đời Rồi tới lúc chúng con thay áo khác
Nhưng khi cởi áo ra Con không còn gì thay được!
(Những người đi tới biển)
Các nhà thơ đã có ý thức nhìn đời bằng cái nhìn tỉnh táo và lúc này thơ ca hiện lên như một hình thức tra vấn không ngừng về đời sống, về con người Điều đó cho thấy ý thức tạo dựng nhãn quan nghệ thuật mới của nhiều nghệ
sĩ Sự đổi mới ấy buộc thơ ca thoát khỏi chất trữ tình ngọt ngào thường thấy trong thơ trước đó để tìm đến sự đa dạng với những câu thơ trúc trắc mang tính đối thoại cao, giọng thơ gần với giọng điệu của cuộc sống đời thường
1.1.2 Thức tỉnh trước bi kịch thời hậu chiến
Hai cuộc kháng chiến đã lùi xa nhưng những dư âm của nó còn vang vọng trên nhiều trang viết Dường như sau những bi kịch trên chiến trường, con người bấy giờ lại rơi vào những bi kịch tinh thần đau đớn mà khó nhìn thấy trong thời kỳ hậu chiến Những trang thơ sau chiến tranh đã viết nên những nỗi niềm day dứt, trăn trở về những bi kịch đó, và rồi nói lên tiếng nói trách nhiệm về quá khứ, vun đắp tương lai Các nhà thơ sau 1975 đã có một
độ lùi cần thiết để nhìn cuộc chiến của dân tộc bằng cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn, hiện thực thời chiến hiện lên trong thơ chủ yếu được tái hiện trong ký ức Với khoảng cách thẩm mỹ như thế, chiến tranh không chỉ được nhìn từ mặt trước mà còn được nhìn từ phía sau với bao nỗi đau trĩu nặng,
Trang 16những nhức nhối khó lành Sự xuất hiện của hai đợt sóng trường ca sau 1975 cùng sự đóng góp của Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Anh Thái là minh chứng cho điều đó Chính tính trường sức của thể loại được gắn kết với những trải nghiệm cá nhân và những suy tư mang tính khái quát cao
đã khiến cho các trường ca này giàu tính nghệ thuật về số phận đất nước, bi kịch nhân dân
Từ điểm nhìn hiện tại, các nhà thơ phóng chiếu cái nhìn sâu xa về lịch sử đất nước - một lịch sử oai hùng nhưng cũng không ít đau thương và bất hạnh:
Giông bão đổ về đâu Giận dữ đổ vào đâu Người làng âm thầm chèo chống Ngày ba bề tiếng ếch rạc bên sông Lều dựng lại
Mái tranh xơ nát Ban thờ mờ Chân nhang đổ đầy vơi Bàn tay run sau khoé mắt bời bời Cơn bão qua
Người sực tỉnh giữa vùng tai hoạ Ngày câm lặng
Gốc đa già bật rễ đổ đêm
(Trần Anh Thái - Đỗ bóng xuống mặt trời)
Hay nỗi đau về thân thể, những vết thương khó lành mà chiến tranh còn để lại dấu vết nơi con người thời bình:
Trang 17Nhiều lúc anh muốn bứt đi dòng hồi tưởng của mình Những ký ức từng làm em sây xẩm
Khi sốt rét quật anh ngã sấp Buổi động trời vết thương cũ nghiến răng
( Hoàng Trần Cương - Giải pháp)
Đến giai đoạn sau năm 1975, đặc biệt là giai đoạn đầu thập kỉ 80, các nhà thơ nói nhiều hơn về nỗi buồn nhân sinh, về những cảm nhận của cái tôi trước một thực tại khắc nghiệt Có nỗi buồn vì thần tượng gẫy đổ, có nỗi buồn
vì cuộc sống mưu sinh làm con người xa dần những giá trị tinh thần, có cả những trắc ẩn về tình yêu đôi lứa
Hiện thực chiến tranh hiện lên với đầy đủ những dấu ấn của sự khốc liệt đã chạm khắc, đè nặng lên số phận con người dù ở tuyền tuyến hay hậu phương Thơ chống Mỹ thường nói tới những con người dũng cảm, đại diện cho phẩm chất của cộng đồng, dân tộc hơn là những người bình thường, những số phận bé nhỏ trong cõi nhân gian và thường ngợi ca, cổ vũ mà ít nói tới thương đau Vượt khỏi khuynh hướng đó, các nhà thơ sau 1975 đã có cái nhìn khác, họ đi vào chiều sâu của bi kịch trong những con người bình thường, họ khám phá những quay quắt, nghiệt ngã của cuộc sống thời hậu chiến và hé mở một cái nhìn khác về cuộc chiến tranh Giáng Vân ám ảnh không nguôi về một quãng thời gian đánh mất bằng một cái nhìn nuối tiếc, hụt hẫng; Dương Kiều Minh, Trương Nam Hương, Đoàn Lam Luyến, Phạm Thị Ngọc Liên đau đáu về một thời quá vãng chẳng bình yên; Tấn Phong, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Quang Thiều…không khỏi lo âu, hằn học trước những phũ phàng của tình người, tình đời
Hướng vào đời sống thế sự và chiêm nghiệm về nhân sinh, phần lớn các nhà thơ đều đã mất đi cái cảm giác bình yên mà thay vào đấy là nỗi âu lo gieo vào lòng họ một cách thường trực Mối quan hệ giữa người với người,
Trang 18giữa cá nhân và xã hội trong một hoàn cảnh mới đã đổi khác rất nhiều so với thời chiến tranh Và chính điều đó khiến các nhà thơ luôn có cái cảm giác cô đơn, lạc lòng, ngay cả trong thơ tình yêu:
Em chết trong nỗi buồn Chết như từng giọt sương Rơi không thành tiếng Trái tim em còn trẻ dại Trắng trong
Ai cất giùm em Cái nhìn già nua Bàn tay cằn cỗi
(Lâm Thị Mỹ Dạ - Tặng nỗi buồn riêng)
Để viết nên những bi kịch thời hậu chiến, các nhà thơ đã đưa vào thi phẩm của mình một chất giọng xót xa, thấm đượm sự mất mát Ý thức nói nhiều hơn về bi kịch khiến cho thơ giai đoạn này không rơi vào giọng điệu tụng ca dễ dãi mà thể hiện chiều sâu ngẫm ngợi của nhà thơ về thế thái nhân tình, nỗi buồn nhân sinh trong sự chuyển động không ngừng của lịch sử Chất giọng tự thú, tự bạch trở thành gam giọng phổ biến Điều này xuất phát từ nỗi buồn thời thế, sự khủng hoảng về niềm tin, sự bất an trước thời cuộc
1.1.3 Khát khao hạnh phúc đời thường
Để phù hợp với thực tiễn, thơ sau 1975 đã mở rộng diện phản ánh ra nhiều diện, phản ánh ra nhiều việc, nhiều chiều hướng, đặc biệt là việc miêu
tả những vấn đề bộn bề của tâm cảm Nhà thơ đặt con người trong mối quan
hệ đa dạng của cuộc sống và dựa vào đó để đi vào thăm dò hiện thực tâm lý bên trong nó Bằng sự khám phá đó, các nhà thơ đã mạnh dạn đi vào phản ánh những tâm tư thầm kín, những khát khao đời thường nhất của con người Đặc biệt là các nhà thơ nữ, họ đưa cái niềm mong ước yêu đương chân thực, khát
Trang 19khao hạnh phúc bình dị đời thường vào thơ Những khát vọng, mơ ước đó luôn đi kèm với những âu lo, cô đơn trên hành trình dài dặc kiếm tìm hạnh phúc:
Em lo âu trước xa tắp đời mình Trái tim đập bao điều không thể nói Trái tim đập cồn cào cơn đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi
(Xuân Quỳnh - Tự hát)
Ngay từ khi đến với thơ, nữ thi sỹ Xuân Quỳnh đã bộc lộ rõ cá tính tâm hồn mình: vừa sôi nổi, vừa tha thiết và chân thành Thơ Xuân Quỳnh, nhất là từ sau 1975, là tự bạch của một tâm hồn luôn khao khát hạnh phúc đời thường Chị cứ phơi trải những đam mê, những lo âu, niềm vui và nỗi buồn trong cuộc sống thường nhật của một người phụ nữ lên những trang thơ Chị khát khao tình yêu, hạnh phúc và lại cũng hiểu rằng những điều đó đâu là
vĩnh viễn: Hôm nay yêu mai có thể xa rồi Nhưng chính vì niềm khát khao
xen lẫn những âu lo về những đổi thay, biến suy của đời người và lòng người làm cho trái tim yêu càng da diết và thành thực:
Lời yêu mỏng manh như màu khói
Ai biết tình anh có đổi thay?
(Hoa cỏ may)
Tình yêu đẹp và mãnh liệt, đáng trân trọng như một niềm bí mật mùa xuân, Lê Thị Mây đã từng ví người yêu của mình như một ly rượu ngọt ngào, nồng cháy để cô dốc cạn cho thỏa niềm khát khao, nhớ mong:
Nửa ly rượu mạnh Ngấm lửa không tàn
Em dốc cạn
Trang 20Cuộc đời anh
Và uống Cũng không sao hết khát một mình Cũng không sao đỏ được má mùa xuân
(Lê Thị Mây - Bí mật mùa xuân )
Trải nghiệm và cọ xát qua hai cuộc chiến tranh, nhà thơ Ý Nhi vẫn luôn mong trở về với hạnh phúc của tổ ấm gia đình thân thương, với chị, gia đình
là một cái gì thiêng liêng nhất:
Em đã đợi chờ anh suốt cuộc đời mình Như đá xám chờ tay người tạc tượng Sông khô cạn chờ mùa mưa lớn Cây giữa rừng đợi ánh mặt trời lên
(Tìm về Chiêm Hóa)
Thơ sau 1975 là tiếng lòng của những con người mới luôn khát khao hạnh phúc, yêu đương mãnh liệt và họ dám nói lên những khát khao nồng cháy ấy Tình yêu lứa đôi, hạnh phúc bình dị đời thường được trải đều trên các trang thơ với những rung động tế vi nhất, sâu sắc nhất Điều này đã đưa đến cho thơ sau 1975 một diện mạo mới hơn, phong phú hơn
1.1.4 Ý thức đào sâu vào bản ngã
Trên con đường khát khao sáng tạo của trí tuệ, con người thường ưu tư
và hoài nghi về sự hiện hữu của chính họ Điều đó khiến con người thao thức
và không ngừng khám phá, thăm dò hiện thực về chính mình Có thể nói đi sâu vào vũ trụ của chính mình và khám phá chiều sâu của nó bao giờ cũng là thách thức với người nghệ sỹ Nhà thơ tìm hiểu về bản thể của cái tôi trong các quan hệ đời sống, sự tương tác giữa cá nhân và hoàn cảnh cũng như tìm hiểu cấu trúc cái tôi trong quan hệ với chính nó Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã thúc đẩy tinh thần dân chủ và sự phát triển mạnh mẽ ý thức cá
Trang 21nhân trong văn học Thơ ở thời kỳ này thể hiện khát vọng đào sâu vào bản ngã, vào con người bên trong con người, đặc biệt là thế giới tâm linh, những vùng mờ của tiềm thức, vô thức Cũng trong tinh thần dân chủ ấy mà nhiều xu hướng thơ được nảy nở, nhiều thể nghiệm mạnh bạo được ra mắt công chúng, nổi bật là các thi phẩm của Hoàng Hưng, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Dương Tường…
Với thế hệ các nhà thơ sau 1975, ý thức cá nhân càng được đề cao và mài sắc Họ muốn phơi bày con người thực của mình, chống lại mọi thứ khuôn phép, lề thói có sẵn, thậm chí cả những quan niệm phổ biến về thi ca,
về đạo đức Vi Thùy Linh khẳng định:
Tôi là tôi Một bản thể đầy mâu thuẫn Tôi đã nhìn mình trong gương cả khi khóc khi cười Bất cứ lúc nào, trên sân khấu cuộc đời
Tôi vẫn là diễn viên tồi Bởi tôi không bao giờ hóa trang để nhập vai người khác
(Tôi) Tại đây, tính tự động tâm lý đậm màu siêu thực và sự ú ớ trong cảm
thức nghệ thuật được đề cao, coi thơ là hình ảnh nội tâm về thế giới nội tâm,
là ý thức chống lại các quy tắc có sẵn trong thơ, là sự khước từ sự có mặt của
tư duy duy lý trong nghệ thuật
Cơn thể ngiệm đầy triển vọng hoàn thành, thì một hôm (có lẽ tại thời
tiết, jở jời) bỗng phát sinh một số biến chứng, biến chứng từ trong ra Hôm ấy trời se se - mùa chuyển, anh lại thấy người gai gai khó nói - như man mác - như mây trôi - lại như trống trải cô li - như tiếng gọi mùa
(Đặng Đình Hưng - Ô mai)
Sự chập chờn nửa mơ nửa tỉnh trong thơ Lê Đạt :
Trang 22Chia xa rồi anh mới thấy em Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng đầy cong khung nhớ Mưa mấy mùa mây mấy độ thu Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu Chiều Âu Lâu bóng chữ động chân cầu
(Lê Đạt - Bóng chữ)
Có thể Lê Đạt đã dồn hết tâm sức vào bài thơ, cũng có thể ông viết nó trong cơn mơ chập chờn: cái mùi hoa đi vắng mà vẫn làm thức vườn, cái sự
em ở đâu khi em vẫn ở đây, lời thơ như có chút gì vừa hối tiếc vừa hoài niệm
về một điều thiêng liêng đã phai tàn
Nói đến thơ Việt Nam sau 1975, câu nói của cụ Nguyễn Tuân thật có
lý: Thơ là mở ra được một cái gì mà trước khi có câu thơ đó, trước khi có nhà
thơ đó vẫn như là bị phong kín Đúng vậy, có thể coi thơ giai đoạn này là một
bước đổi mới, sáng tạo so với các giai đoạn thơ trước đó và tạo đà để làm nên
sự tỏa phát của thơ Việt Nam giai đoạn tiếp theo
1.2 Thơ Nguyễn Duy trong dòng cảm hứng thế sự đời tư của thơ ca Việt Nam sau 1975
1.2.1 Nguyễn Duy - nhà thơ của hồn quê Việt
Người ở rừng mang vết suối dáng cây người mạn bể có chút sóng chút gió người đô thị thì nét đường nét phố như tôi mang dấu ruộng dấu vườn
(Tuổi thơ)
Với mỗi con người Việt Nam, ruộng vườn là những hình ảnh thân thương nhất, sâu lắng nhất của hồn quê, và Nguyễn Duy không là ngoại lệ
Trang 23Dấu ruộng dấu vườn mà nhà thơ nói đến chính là dấu ấn sâu đậm của gốc gác
thôn dân khắc sâu trong tâm hồn ông Với những cánh đồng biếc mạ, những khu vườn xanh lam rau muống xanh rờn mùng tơi, những mái nhà tranh có xó
bếp đầy bụi mồ hóng, lép bép lửa tàu cau nhà thơ đã vẽ nên cả một bức tranh
cuộc sống dân quê sau lũy tre làng
Rơm rạ ơi ta trở về đây Xin cúi lạy vong linh làng mạc
Bà và mẹ hóa cánh cò cánh vạc Ông và cha man mác kiếp trâu cày
( Về đồng )
Dạo bước chân trên khắp chốn đường đời, đi đến những miền quê mới,
cả những chốn thị thành nhộn nhịp, cuối cùng Nguyễn Duy vẫn trở về với nơi
neo đậu của tâm hồn, với vong linh làng mạc và kỉ niệm tuổi thơ Phải chăng
sự trở về với cái hôm qua của nhà thơ chính là trở về với những gì gần gũi nhất, trở về với chính tâm hồn mình
Hết gạo nuôi hết thảy chúng ta no riêng cái ấm nồng nàn như lửa cái mộc mạc lên hương của lúa đâu dễ chia cho tất cả mọi người (Hơi ấm ổ rơm)
Phải gắn bó và có cái nhìn tinh tế về quê hương, gia đình biết mấy mới cảm nhận được cái ấm áp nồng nàn bên bếp lửa, cả mùi lúa mới lên hương Nhà thơ có cái tài đặc biệt trong việc truyền đến người đọc trọn vẹn
cảm giác tưởng chừng như không thể biết, cảm giác co ro thu mình lại vì lạnh của từng nhành mạ, cái nhức nhối của bàn chân trần nứt nẻ khi ngập sâu trong bùn lạnh giá, cái lóp ngóp hụt hơi của con người trong luồng nước lũ, cái đói cồn cào vì đứt bữa Đó là cảm giác của người trong cuộc đã từng rét run vì
Trang 24lạnh, từng thót mình khi lội xuống bùn sâu, từng bơi một cách tuyệt vọng trong xoáy lũ
Suốt trong các thi phẩm của Nguyễn Duy thường hiện lên đâu đó sự nghèo nàn của cảnh quê, sự lam lũ của người quê:
Nơi ấy nhá nhem giữa quên và nhớ Đỉnh núi hiện lên bóng bà và mẹ Mây chiều hôm gánh gạo đưa ta
Tất tưởi đường xa cầu vồng ráng đỏ
tranh đã lùi xa hàng chục năm: Gốc cây hòn đá cũ càng / trâu bò đủng đỉnh
như ngàn năm nao; vẫn đồng cạn vẫn đồng sâu / chồng cày, vợ cấy con trâu
đi bừa (Về làng)
Sự nghèo khổ lam lũ của người dân quê còn được Nguyễn Duy thể hiện thật chân thực, cảm động qua chính cuộc đời của những người thân trong gia đình ông Là bóng bà thập thững trong những đêm đông rét mướt, là sự vất vả nhọc nhằn của cha, cả sự hi sinh thầm lặng của đời mẹ Họ là hiện thân của quê hương nghèo khó, lam lũ, là phần lắng sâu nhất, da diết nhất, xót xa nhất của quê hương đọng lại trong tâm trí nhà thơ
Tuy nhiên dù nhà thơ có cảm nhận sâu sắc đến bao nhiêu vẻ đẹp của
cái tạo hình cuốc đất, cái tạo hình gồng gánh thì ông vẫn mạnh dạn phủ định: cái đẹp ấy lẽ ra không nên tồn tại nữa (Đánh thức tiềm lực)
Và trước sự ngưng đọng bất biến của căn bệnh đói nghèo truyền kiếp ở làng quê ấy, nhà thơ cảm thấy mình là người có lỗi, người mắc nợ:
Trang 25Ta nhớ ta còn cắm những món nợ lớn nơi đồi núi trọc lốc xơ xác
nơi thửa ruộng bạc phếch nứt nẻ nơi dòng nước cạn kiệt tôm cá nơi đám mây chưa kịp mọng thành mưa
(Nhớ nhà)
Nhà thơ luôn trông chờ một sự đổi thay:
Mồ hôi đã chảy ròng ròng máu và nước mắt sao không có gì (Về làng)
Đó là tâm trạng của một người con biết yêu thương, luôn có ý thức trách nhiệm với quê hương đất nước
Như vậy trong thơ Nguyễn Duy viết về quê hương mình có lắng đọng một hồn quê Sự vất vả nhọc nhằn, sự đói nghèo lam lũ hiện lên trong thơ ông
cũng chính là một mảnh của hồn quê đất Việt Đây là mảnh hồn của đồng quê
binh lửa, đồng quê biến động và ưu tư, đúng như Nguyễn Duy tự nhận xét về
Trang 26tinh thần của xã hội và đã có được những gương mặt thơ, những bài thơ lưu giữ được trong tâm trí của công chúng Một số nhà thơ kiên trì và thủy chung với định hướng đã chọn, đưa thơ về với cuộc đời giữa muôn cái xô bồ, hỗn tạp, bụi bặm mà vẫn không đánh mất mình
Nguyễn Duy và hành trình thơ của ông từ sau 1975 không nằm ngoài quá trình vận động và đổi mới đó Các tác phẩm của ông là minh chứng cho
sự vận động của cảm hứng nghệ thuật từ cảm hứng công dân sang cảm hứng thế sự đời tư Cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Duy sau 1975 mang một số biểu hiện của cảm hứng thế sự đời tư của cả nền văn học giai đoạn này Đó là
sự âu lo, khắc khoải trước cuộc sống thực tại bộn bề, những trầm tư về thế thái nhân tình, đặc biệt là những ám ảnh bởi bi kịch tinh thần của con người sau chiến tranh Tuy nhiên cảm hứng của Nguyễn Duy có nhiều cái mới, cái riêng so với các nhà thơ thuộc huynh hướng này Ông viết nhiều về quê hương, về những kỉ niệm tuổi trẻ và chiến trường với tình cảm tha thiết cùng những trở trăn, suy tư Cũng viết về bi kich thời hậu chiến, về sự thay đổi của thế thái nhân tình nhưng ẩn chứa đâu đó trong thơ ông là niềm lạc quan, tin tưởng ở tương lai:
Tôi muốn được làm tiếng hát của em tiếng trong sáng của nắng và gió tiếng chát chúa của máy và búa tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai tiếng trần trụi của lưỡi cuốc
lang thang khắp đất nước hát bài hát ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC…
(Đánh thức tiềm lực)
Trang 27Cay đắng của cuộc đời, những khổ và khó không làm giảm niềm tin tưởng của nhà thơ đối với tương lai, với ông điều quan trọng nhất là lòng tin
yêu, thái độ nhiệt tình của con người giữa cuộc đời này:
Thưa liền anh hơi men cay từng trải
đủ cho em ớn lạnh tựa sốt rừng khổ và khó có đáng gì sợ hãi chỉ sợ lòng trống trải dửng dừng dưng (Từng trải)
Ông đánh thức tiềm lực còn ngủ yên trong lòng đất với ngòi bút vừa táo
bạo vừa bình tĩnh nhưng vẫn đầy hy vọng rằng tiềm lực ấy sẽ bừng sáng Viết
về hạnh phúc đời thường, Nguyễn Duy rất ít nói về những khát vọng mạnh
mẽ, trần tục mà luôn hướng ngòi bút của mình đến thứ tình cảm hết sức mộc mạc và suy ngẫm về nó:
Tiếng em như tiếng gió lùa:
- thôi đừng nói giọng người xưa, buồn cười
Từ môi mưa giọt xuống môi nhấm chung một hạt mưa rơi mặn mà (Mưa trong nắng Nắng trong mưa)
Nếu có viết về nỗi buồn vì tình yêu xa cách, trắc trở thì cũng là nỗi buồn dịu nhẹ chứ không bộc lộ sự đau đớn như các nhà thơ khác:
Cửa gỗ cài then…bóng em mất hút
xe cúp đã thay cho ngựa tía võng điều
ta trở lại gốc si già…và làm lại làm thơ tình tặng những lứa đang yêu (Một góc chiều Hà Nội)
Những người thân trong gia đình là đối tượng xuất hiện thường xuyên
trong thơ ông, ông luôn trăn trở về họ và suy ngẫm về tình yêu, về hạnh phúc
Trang 28Thơ Nguyễn Duy có những sáng tạo đặc sắc về cảm hứng thế sự, nhân sinh, đó là sự thể hiện cuộc sống nhiều chiều, sâu và rộng, nhưng với một ngòi bút khá nhẹ nhàng, không đào sâu vào hiện thực cuộc sống một cách quá nặng nề như một số nhà thơ cùng thời
Nguyễn Duy vừa đưa vào thơ mình cả bụi bặm, phồn tạp của cuộc sống nơi đô thị, nhưng vẫn chắt lọc được những giá trị bền vững từ những nguồn sâu xa của đời sống dân dã và cả những vẻ đẹp mong manh, thoáng qua chưa phải đã mất hết Ông thật sự đã góp những giọt nước mát ngọt vào dòng thơ ca thế sự Việt Nam sau 1975
Trang 29CHƯƠNG 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CẢM HỨNG THẾ SỰ ĐỜI TƯ
TRONG THƠ NGUYỄN DUY SAU 1975
Từ sau 1975, trong thơ Nguyễn Duy đã có sự chuyển hướng vận động
từ cảm hứng sử thi, cảm hứng công dân sang cảm hứng thế sự đời tư Tuy nhiên đó không phải là sự lột xác hoàn toàn, hơi hướng sử thi, viết về chiến tranh, ngợi ca chiến thắng của dân tộc vẫn còn trong thơ ông, nhất là trong tập
Ánh trăng Ánh trăng được coi là tập thơ trung chuyển, nó vẫn mang màu sắc
của cảm hứng công dân, vừa bước đầu đề cập đến những vấn đề thế sự, nhân sinh, những nhức nhối, nan giải của con người và cuộc sống thời kì hậu chiến
Đến 2 tập Mẹ và em, Quà tặng thì cảm hứng thế sự đời tư là cảm hứng chủ
đạo Xét cảm hứng thế sự đời tư với những biểu hiện của nó trong thơ Nguyễn Duy qua 3 tập thơ này là cơ sở để khái quát được cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Nguyễn Duy nói chung
2.1 Trăn trở trước thực tế cuộc sống đói nghèo, cay cực
2.1.1 Nỗi buồn về sự ngưng đọng dai dẳng của đói nghèo
Chiến tranh đã đi qua, nhưng giờ đây nhiều vấn đề khác nan giải không kém đang rình rập cuộc sống con người từng ngày Nỗi lo cơm, áo, gạo, tiền luôn là vấn đề ám ảnh trong tâm trí mỗi người, cái đói như bóng ma vẩn vơ bên mỗi căn nhà Điều này được nhiều văn nghệ sỹ nói đến và Nguyễn Duy cũng dùng cây bút vẽ nên những cảnh tượng thương tâm:
Sân ga Thanh Hóa chiều mưa đổ Một người mẹ dắt con
Một em gái mắt tròn đen lay láy Một bàn tay chìa ra run rẩy Một thều thào như với riêng tôi
“Ai làm ơn nuôi cháu nên người”
Trang 30(Thơ tặng người ăn mày)
Cảnh sân ga chiều Thanh Hóa với mẹ con người ăn mày dắt nhau đi trong mưa làm người đọc động lòng thương cảm Người mẹ chìa tay ra run rẩy, bà xin gì? Xin cơm gạo, xin tiền? Và có lẽ người mẹ ăn mày này biết
mình không thể qua cơn đói kém, bà thều thào xin một điều thật bất ngờ : “Ai
làm ơn nuôi cháu nên người” Thật cảm động, chỉ thế thôi cũng đủ để biết
tấm lòng người mẹ nghèo mênh mông đến nhường nào, cái bà mẹ cần nhất lúc này là có một ai đó nuôi dạy con mình nên người Cái đói thường làm tàn lụi tình thương, cả tình mẫu tử, nhưng ở đây chúng ta nhận thấy một người
mẹ với tấm lòng cao cả, tình thương bao la Viết nên những dòng thơ cảm động như thế có lẽ xuất phát từ chính lòng trắc ẩn, sự đồng cảm, chia sẻ chân thành của nhà thơ đối với những kiếp người nghèo khổ
Để đánh thức tiềm lực của nhân dân, của đất nước, Nguyễn Duy không ngần ngại nói ra thực tại đói nghèo của nhân dân:
Đã qua đi những huyền thoại cũ mèm những đồng lúa ma không trồng mà gặt những ruộng cá không nuôi mà sẵn bắt những ghểnh cẳng, vuốt râu mà làm chơi ăn thật miếng ăn nào không nước mắt mồ hôi!
(Đánh thức tiềm lực)
Đã qua rồi những tháng ngày huyền thoại, tài nguyên thiên nhiên bị
khai thác cạn kiệt vì đói, qua rồi cái thời của những cánh đồng lúa không trồng mà gặt, ruộng cá không nuôi mà sẵn bắt Cuộc sống càng ngày càng khó
khăn, nhà thơ khẳng định miếng ăn nào không nước mắt mồ hôi, cái giá phải
trả cho sự sống, cái ăn, cái mặc lớn quá
Cái đói dai dẳng được Nguyễn Duy diễn tả hết sức thê thiết:
đói
Trang 31đói thâm niên
đói truyền đời
điệu múa cổ cũng chậm buồn như đói…
(Đánh thức tiềm lực)
Bên cạnh cái nghèo, cái đói chung của nhân dân, nhà thơ viết về cả cái đói nghèo của chính bản thân, gia đình mình:
Giữ ngọc gìn vàng biết mấy công phu
ta giàu lắm mà con ta đói lắm
ta ngất ngưởng mà vợ ta lận đận
cha mẹ ta trong lụt bão trắng trời
(Bán vàng)
Nhà thơ không khỏi trăn trở trước sự vất vả, lận đận của vợ con, cha
mẹ, điều này cũng phần nào mở ra cho người đọc thấy được tinh thần trách nhiệm của nhà thơ đối với cuộc sống người thân, gia đình nói riêng và nhân dân nói chung
2.1.2 Nỗi xót xa trước cảnh làng quê vất vả nhọc nhằn vì thiên tai
Sinh ra và lớn lên trên đất nước nhiệt đới gió mùa và quê hương là mảnh đất miền Trung - mảnh đất nhiều thiên tai, khí hậu khắc nghiệt, Nguyễn Duy thấm thía cái khó khăn, khổ sở của người dân nơi đây Ông là nhà thơ
của hồn quê Việt, là thi sỹ thảo dân theo đúng nghĩa của nó, ông đã trải
nghiệm nỗi khổ vì thiên tai của chính bản thân, gia đình mình và vì thế ông thấu hiểu được sự vất vả của người dân quê Nhà thơ diễn tả cảnh quê xơ xác
vì thiên tai một cách chân thực:
cơn bão chưa qua, hạn hán đổ tới rồi ngọn cỏ nhọn thành gai trốn không khỏi úa đất nứt nẻ ngỡ da người nứt nẻ
cơn gió Lào rát ruột lắm em ơi
Trang 32(Đánh thức tiềm lực)
Bão chưa qua hạn hán đã ập tới, sự tàn phá của thiên tai như thấm vào
làm xót xa lòng người, có thương lắm, xót lắm mới cảm nhận được đất nứt nẻ
ngỡ da người nứt nẻ, cảm giác được cái rát ruột vì gió Lào thổi
Nguyễn Duy đã đưa được cái hồn vào cảnh vật một cách tinh tế, những mất mát vì thiên tai như thấm vào từng hạt gạo, chiếc thuyền, cả khúc dân ca cũng trầm hơn, buồn hơn như bèo dạt mây trôi Một tâm hồn đồng cảm như nhà thơ mới cảm nhận được hồn của cây cỏ, của thiên nhiên, cảm được
cả những đổi thay của cảnh vật, đem đến cả cái rung động tinh tế để nó trở lại làm xao lòng người đọc
Bao nhiêu thời vỡ đê trắng đất mất đồng thuyền vỏ trấu mỏng manh ba chìm bảy nổi khúc dân ca cũng bèo dạt mây trôi
hột gạo nõn nà hao gầy đi vì thiên tai (Đánh thức tiềm lực)
Tuy nhiên vẽ nên cảnh quê hương, đất nước cơ cực vì thiên tai,
Nguyễn Duy vẫn thể hiện sự lạc quan ngay cả lúc lụt trắng đồng Lụt trắng
đồng mà không trắng lòng, lụt đấy, mất mát đấy nhưng Tết đến xuân về ly
rượu vẫn ấm nồng bởi tình bè bạn:
Lụt trắng đồng mà không trắng lòng bạn đón ta hoa đào và xôi gấc
be Tết không đầy nhưng không nhạt uống rồi nghe có bão bên trong (Tết ở vùng quê sau lụt)
Và như thế nhà thơ vẫn truyền đến cho khung cảnh quê sau lụt một sức mạnh hồi sinh, những hy vọng, đó chính là cái quý trong hồn thơ Nguyễn Duy
- người yêu mến đến tận cùng chân thật
Trang 332.2 Ám ảnh về bi kịch tinh thần của con người sau chiến tranh
2.2.1 Về quê hương, về kí ức tuổi trẻ với chiến tranh lửa đạn
Tuổi thơ của Nguyễn Duy gắn liền với quê hương và khói đạn chiến tranh, tuổi trẻ của ông đồng hành cùng hơi thở của núi rừng, cùng thôn xóm Lớn lên cùng năm tháng, nhà thơ vẫn mang trong mình những kỉ niệm, kí ức thơ bé ấy
Chuyển vào sống ở thành phố, Nguyễn Duy cứ mãi tương tư chú dế
mèn bé nhỏ, ngọn cỏ may duyên nợ bơ vơ, và mãi nhớ nhung thăm thẳm chỉ
một mùi rơm ải (Nhớ thiên nhiên) Ra nước ngoài, hình ảnh rừng cây, âm thanh của chú hải âu to đùng mổ vào kính cửa sổ, cái lạnh buốt của tuyết cũng gợi ông nhớ về những vùng đồi trơ trụi, sự thiếu vắng cánh chim trời vì chiến
tranh, những cơn gió mùa đông bắc ở quê hương mình, đúng như ông đã tâm
sự: trọn kiếp người ta chập chờn nguồn cội/ có một miền quê trong đi đứng
nói cười (Tuổi thơ)
Nơi ấy
ta nướng khoai lùi sắn xoa xít hít hà thơm bùi cháy họng lấm tấm đầy đầu bụi mồ hóng lép bép lửa tàu cau
râu tôm nấu với ruột bầu khen ngon
(Xó bếp)
Cái “xó bếp” nghèo nàn, đầy bụi mồ hóng đó chứa bao kỉ niệm một thủa còn nghèo nàn mà đáng nhớ Nơi ấy là nơi mà thời thơ ấu nhà thơ thường nướng khoai, nướng sắn, nơi mẹ nấu những món ăn đơn giản của người nghèo Có lẽ chẳng bao giờ ông quên được âm thanh lép bép quen thuộc phát ra từ bếp lửa chất tàu cau, tuy đơn sơ, bé nhỏ mà gần gũi lạ kì Bếp
Trang 34lửa ấy như sưởi ấm tình cảm cha mẹ, gia đình và cả quê hương, sưởi ấm lòng thi nhân những lúc hoài niệm về tuổi thơ
Tuổi trẻ anh áo nâu chân đất bữa cháo bữa khoai đi cày và đi học bụng cồn cào con chữ chạy liêu xiêu
… Thể nào em cũng lặp lại anh thôi phán xử buồn vui từng mẩu quá khứ
em thanh xuân như ngày xưa của anh ơi!
(Gửi về trường Lam Sơn)
Nhớ về cái ngày “áo nâu chân đất”, Nguyễn Duy không khỏi chạnh lòng bởi những tháng ngày cực nhọc, đói nghèo Ông đã gửi lại ở những ngày tháng đó một tấm lòng, một niềm nhung nhớ
Với cái vầng trăng duy nhất trên đời, bao thi nhân đã tìm được cảm
hứng cho riêng mình Bài Ánh trăng của Nguyễn Duy như lời thủ thỉ tâm tình
kể lại cho người đọc nghe về người bạn thân quen, người đã cùng đi suốt cuộc hành trình tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành của tác giả:
Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ
(Ánh trăng)
Vầng trăng đồng hành cùng tuổi thơ, với đồng, với sông và bể, đến những tháng năm chiến tranh, nằm trên chiếc võng mắc trong rừng thì vầng trăng ấy vẫn hiện diện như gọi về một kỉ niệm đáng nhớ Cái ánh sáng ấy đã thành người bạn tri kỉ của nhà thơ trong suốt chặng đường dài Nguyễn Duy luôn sống trong hoài niệm:
Trang 35Tuổi thơ tôi cứ ngỡ mất đi rồi năm tháng trôi qua không bao giờ chảy lại cái năm tháng mong manh mà vững chải con dấu đất đai tươi rói mãi đây này
(Tuổi thơ)
Cuộc sống cứ lặng lẽ trôi với những bộn bề, có lúc chúng ta ngỡ tưởng
kỉ niệm về những năm tháng đã qua không còn nữa, bởi năm tháng trôi qua
không bao giờ chảy lại nhưng cái dấu ấn ấy còn mãi với thời gian, những kỉ
niệm vẫn luôn tươi rói
Chiến tranh là mất mát, là hy sinh, là xa cách nhưng những ngày tháng
đó vẫn để lại trong lòng những điều đáng nhớ Con người gặp gỡ nhau, để lại cho nhau những tấm lòng, những kỉ niệm rồi lại xa cách, những gương mặt thân thương đó không dễ gì quên được
Mười năm tôi ở đây thêm bạn mới và gặp nhiều bạn cũ màu áo lính đi về cùng bụi đất mười phương thằng còn sống chớ phụ lòng thằng chết
kỉ niệm chiến tranh như vết đạn trên tường
(Mười năm bấm đốt ngón tay)
Mười năm ròng khoác chiếc áo lính chiến đấu bên cạnh đồng đội, cùng trải qua những tháng ngày gian khổ, chia ngọt sẻ bùi, họ gắn bó với nhau như tình cảm anh em máu thịt Trở về thời bình, lúc mà mỗi người đi về một phương thì những kí ức bên đồng đội vẫn không nguôi trong lòng họ
Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia dưới lá là rừng là tăng là võng
là cơn sốt rét rừng vàng bủng
là muỗi vắt, bom, mìn, vực sâu, đèo trơn