LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ kỹ thuật Đề tài “Khảo sát, đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản ký chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huy
Trang 1NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
Chuyên ngành: Quản lý Môi trường
NGƯỜI HƯỚNG DẪN :
TS Trịnh Thành
NGHỆ AN - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ kỹ thuật Đề tài “Khảo sát, đánh
giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản ký chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” là
công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu trong luận văn là số liệu trung thực
Nghệ An, ngày 20 tháng 5 năm 2015
Học viên
PHẠM THỊ QUỲNH NGA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trịnh Thành, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn, người luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm Luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã trang bị cho tôi những kiến thức bổ ích, thiết thực cũng như sự nhiệt tình, ân cần dạy bảo trong những năm vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ủy ban nhân dân huyện Nghi Lộc đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có được những thông tin, tài liệu quý báu phục vụ cho Luận văn thạc sỹ kỹ thuật này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm Luận văn
Nghệ An, ngày 20 tháng 5 năm 2015
Học viên
Phạm Thị Quỳnh Nga
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 1
3 Nội dung chính của đề tài 1
4 Ý nghĩa của đề tài 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
Chương 1 TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Khái niệm và phân loại chất thải rắn 4
1.1.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phát sinh chất thải rắn 5
1.2 Ảnh hưởng của CTR đến môi trường và con người 6
1.2.1 Môi trường nước 6
1.2.2 Môi trường không khí 7
1.2.3 Môi trường đất 8
1.2.4 Ảnh hưởng của CTR đến sức khỏe con người 8
1.3 Thực trạng chất thải rắn sinh hoạt 9
1.3.1 Thực trạng CTRSH ở Việt Nam 9
1.3.2 Thực trạng CTRSH trên địa bàn tỉnh Nghệ An 13
1.3.3 Những vấn đề chính trong xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay 18
Chương 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC 21
2.1 Giới thiệu sơ lược về huyện Nghi Lộc 21
2.1.1 Vị trí địa lý 21
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 22
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 23
Trang 52.1.4 Đánh giá chung các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tác động đến
hoạt động bảo vệ môi trường 29
2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Nghi Lộc 30
2.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 30
2.2.2 Hiện trạng thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt 33
2.2.3 Hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt 50
2.2.4 Hiện trạng quy hoạch bãi tập kết rác thải 54
2.2.5 Công tác quản lý nhà nước 56
2.3 Dự báo chất thải rắn sinh hoạt phát sinh đến năm 2020 58
2.4 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nghi Lộc 61
2.4.1 Ưu điểm 61
2.4.2 Tồn tại, hạn chế 62
Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RÁC THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC 66
3.1 Giải pháp về kỹ thuật, công nghệ 66
3.1.1 Phân loại rác thải tại nguồn 66
3.1.2 Thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt 70
3.1.3 Giải pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt 72
3.2 Các giải pháp về quản lý 79
3.2.1 Các giải pháp xã hội hóa, tham gia của cộng đồng 79
3.2.2 Xây dựng các chương trình nâng cao năng lực quản lý nhà nước 81
3.2.3 Giải pháp quản lý nhà nước, tăng cường bộ máy quản lý 82
3.3 Giải pháp chính sách, kinh tế tài chính 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 98
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007 11
Bảng 1.2 Thực trạng các bãi chôn lấp rác trên địa bàn tỉnh Nghệ An 20
Bảng 2.1 Phân bố dân cư của huyện Nghi Lộc năm 2013 23
Bảng 2.2 Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2010 – 2014 25
Bảng 2.3 Khối lượng CTRSH phát sinh bình quân/người/ngày 31
Bảng 2.4 Thành phần CTR sinh hoạt huyện Nghi Lộc 32
Bảng 2.5 Lượng CTRSH được thu gom trên địa bàn huyện năm 2014 34
Bảng 2.6 Hiện trạng thu gom rác thải tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nghi Lộc 42
Bảng 2.7 Các hình thức xử lý CTR sinh hoạt tại các xã, thị trấn 53
Bảng 2.8 Quy hoạch sử dụng đất bãi thải, xử lý chất thải đến năm 2020 của các xã, thị trấn 55
Bảng 2.9: Tỷ suất tăng dân số bình quân năm địa bàn huyện Nghi Lộc 59
Bảng 2.10: Dự báo dân số huyện Nghi Lộc, 2014 - 2020 59
Bảng 2.11 Dự báo khối lượng CTR sinh hoạt huyện Nghi Lộc đến năm 2020 60
Bảng 3.1 Dự báo CTR sinh hoạt của nhóm 9 xã đến năm 2020 77
Bảng 3.2 Phí vệ sinh áp dụng trên địa bàn tỉnh Nghệ An được áp dụng tại huyện Nghi Lộc 87
Bảng 3.3: Mức phí và lộ trình tăng phí vệ sinh môi trường 91
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ phân loại phương pháp xử lý rác thải 5
Hình 1.2 Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các loại đô thị Việt Nam 10
Hình 1.3 Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các vùng nông thôn Việt Nam 12
Hình 1.4 Chân Cầu iát thành lãnh địa riêng của rác thải 15
Hình 1.5 Rác tràn xuống sông 16
Hình 1.6 Rác có khắp nơi, ngay sát quốc lộ 48B 16
Hình 1.7 Rác tràn ra lòng đường 17
Hình 1.8 Sơ đồ quản lý thu gom rác thải sinh hoạt 18
Hình 2.1 Quy trình thu gom RTRSH tại khu vực thị trấn 37
Hình 2.2 Quy trình thu gom, xử lý CTRSH tại các xã 38
Hình 2.3 Các hình thức xử lý CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện 50
Hình 2.4: Quy trình xử lý CTRSH tại nhà máy chế biến rác Nghi Yên 52
Hình 2.5 Sơ đồ tổ chức quản lý CTRSH trên địa bàn huyện Nghi Lộc 56
Hình 3.1 Cách phân loại chất thải tại nguồn 68
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Chất thải rắn sinh hoạt đô thị và nông thôn hiện đang là một trong những nguồn lớn gây ra ô nhiễm môi trường Hơn 70% dân số đất nước là nông dân vì vậy mà lượng rác thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt cũng như lao động sản xuất
ở nông thôn là tương đối lớn Quản lý rác thải sinh hoạt ở nông thôn đang trở thành vấn đề nan giải cần được nhà nước, xã hội và cộng đồng quan tâm
Rác thải trên địa bàn huyện Nghi Lộc đã được bước đầu đã được thu gom và
xử lý, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém nên dẫn đến tình trạng chất thải rắn sinh hoạt chưa được thu gom, xử lý triệt để, vẫn còn tình trạng rác thải đổ bừa bãi ra môi trường, gây nên nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe cộng đồng
và mỹ quan đô thị Trong khi, sự phát triển kinh tế xã hội, đời sống của người dân Nghi Lộc ngày càng được cải thiện, mức sống của người dân được nâng cao nên nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội càng cao, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng chất thải rắn sinh hoạt Chính vì vậy, công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nghi Lộc đang trở nên cấp thiết, cần có chủ trương, giải pháp để chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác quản lý
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên cho thấy Đề tài “Khảo sát, đánh giá
hiện trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An” có ý nghĩa sâu sắc, góp
phần nâng cao công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt cho huyện Nghi Lộc - tỉnh Nghệ An
2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá toàn diện hiện trạng thu gom và xử lý rác thải trên địa bàn, làm nổi bật những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý hoạt động thu gom và xử lý rác Tìm ra giải pháp thích hợp cho công tác quản lý và xử lý CTRSH trên địa bàn huyện Nghi Lộc
3 Nội dung chính của đề tài
- Đánh giá hiện trạng phát sinh, thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa
Trang 10bàn huyện Nghi Lộc
- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, tồn tại trong công tác quản lý, thu gom,
xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nghi Lộc
- Đề xuất giải pháp thích hợp, khắc phục hạn chế còn tồn tại của công tác quản
lý, thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nghi Lộc
4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
+ Việc đưa ra các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt đối với huyện Nghi Lộc có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế và xã hội, góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của huyện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
+ iảm đáng kể chi phí cho công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt và giải quyết triệt để vấn đề xử lý chất thải rắn sinh hoạt
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Đưa ra bức tranh toàn diện các vấn đề về công tác quản lý, thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nghi Lộc, từ đó đề xuất một số hướng xử
lý, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường
+ Áp dụng các giải pháp quản lý, thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nghi Lộc cho các huyện khác có quy mô tương tự
5 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp khảo sát thực địa: Đây là quá trình đi quan sát thực tế địa bàn
huyện Nghi Lộc để đánh giá tình hình thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt
* Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu: Kế thừa các kết quả khảo sát,
nghiên cứu khoa học đã được công bố có liên quan đến khu vực nghiên cứu Các thông tin liên quan đến lượng chất thải phát sinh, lượng chất thải thực tế được thu
gom, xử lý và các thông tin về công tác quản lý hiện nay
* Phương pháp phân tích, đánh giá: Phân tích các số liệu thu được; phân tích
công tác quản lý và tình hình thực tiễn ở huyện Nghi Lộc để đánh giá các ưu, khuyết điểm, từ đó làm cơ sở để đề xuất các giải pháp
* Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu: Các số liệu liên quan được thống
Trang 11kê, tổng hợp và sắp xếp thành báo cáo hoàn chỉnh
* Phương pháp dự báo: Dự báo nhu cầu xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nghi Lộc tính đến năm 2020 thông qua số liệu dự báo sự phát sinh chất thải rắn sinh hoạt theo sự gia tăng dân số;
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN
Chất thải rắn sinh hoạt là CTR phát sinh trong sinh hoạt cá nhân của các hộ gia đình, khu nhà ở (khu chung cư), khu thương mại, dịch vụ (cửa hàng, chợ, siêu thị, quán ăn, nhà hàng, khách sạn,…), các khu cơ quan (trường học, bệnh viện, trung tâm nghiên cứu, văn phòng, công ty,…), từ các hoạt động dịch vụ công cộng (quét dọn, vệ sinh đường phố, khu giải trí, công viên, hoạt động cắt tỉa cây xanh), hay từ sinh hoạt của các cán bộ, công nhân viên trong một số các cơ sở công nghiệp (khu công nghiệp, nhà máy, cơ sở sản xuất vừa và nhỏ) và từ công tác nạo vét cống rãnh thoát nước
1.1.1.2 Phân loại chất thải rắn
Chất thải rắn có thể được phân loại theo tính chất hoặc nguồn phát sinh Theo
tính chất có thể chia thành chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại; theo nguồn phát sinh được phân loại thành chất thải rắn sinh hoạt (phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng) và chất thải rắn công nghiệp (phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác) Tùy theo loại chất thải rắn mà có những phương pháp xử lý khác nhau, có thể tái chế, thiêu đốt, hoặc chôn lấp … được mô tả cụ thể trong hình 1.1
Trang 13Hình 1.1 Sơ đồ phân loại phương pháp xử lý rác thải [9]
1.1.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phát sinh chất thải rắn
Sự phát triển kinh tế và nếp sống: sự phát sinh chất thải có mối liên hệ trực
tiếp với sự phát triển kinh tế của cộng đồng Lượng chất thải sinh hoạt đã được ghi
nhận là có giảm đi khi có sự suy giảm về kinh tế Phần trăm vật liệu đóng gói (đặc
biệt là túi nilon) của chất thải cũng giảm đi
Mật độ dân số: các nghiên cứu xác minh khi mật độ dân số tăng lên, sẽ phát
sinh nhiều rác thải hơn
Sự thay đổi theo mùa: sự thay đổi về lượng rác thải phát sinh có sự khác biệt
trong những dịp như lễ giáng sinh, tết âm lịch (tiêu thụ đỉnh điểm) và cuối năm tài
chính (tiêu thụ thấp)
Ngoài ra, dư luận và ý thức cộng đồng cũng được xem là một yếu tố ảnh hưởng
đến tốc độ phát sinh chất thải rắn
Theo Dự án Việt Nam Canada Environment Project thì tốc độ phát sinh rác
thải đô thị ở Việt Nam được ước lượng như sau:
- Rác thải khu dân cư: 0,3 – 0,6 kg/người/ngày
- Rác thải thương mại: 0,1 – 0,2 kg/người/ngày
Chất hữu cơ dễ phân huỷ,
Tái chế
Thiêu đốt
Chôn lấp
Chôn, đốt hoặc chế biến phân
Trang 14- Rác thải quét đường: 0,05 – 0,23 kg/người/ngày
- Rác thải công sở: 0,05 – 0,2 kg/người/ngày
Tính trung bình, lượng rác thải rắn phát sinh ở Việt Nam: 0,5–0,6 kg/người/ngày; so với Singapore: 0,78kg/người/ngày; HongKong: 0,85 kg/người/ngày; Karachi, Pakistan: 0,50 kg/người/ngày [1] Qua đó có thể thấy các tác động từ sự phát triển kinh tế, nếp sống, mật độ dân số, sự thay đổi theo mùa và
cả sự nhận thức của cộng đồng dân cư có ảnh hưởng rất lớn đến việc giảm thiểu hay phát sinh CTRSH
1.2 Ảnh hưởng của CTR đến môi trường và con người
Khối lượng chất thải rắn trong các đô thị ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế xã hội và sự phát triển về trình độ và tính chất tiêu dùng trong đô thị Lượng chất thải rắn nếu không được xử lý tốt sẽ dẫn đến hàng loạt hậu quả tiêu cực đối với môi trường sống
1.2.1 Môi trường nước
Chất thải rắn, đặc biệt là chất hữu cơ trong môi trường nước sẽ bị phân hủy nhanh chóng Tại các bãi rác, nước có trong rác sẽ tách ra kết hợp với các nguồn nước khác như: nước mưa, nước ngầm, nước mặn, hình thành nước rò rỉ Nước rò rỉ
di chuyển trong bãi rác sẽ làm tăng khả năng phân hủy sinh học trong rác cũng như trong quá trình vận chuyển các chất gây ô nhiễm ra môi trường xung quanh
Các chất ô nhiễm trong nước rò rỉ gồm các chất được hình thành trong quá trình phân hủy sinh học, hóa học Nhìn chung, mức độ ô nhiễm trong nước rò rỉ rất cao (COD từ 3.000 – 60.000 mg/l; N-NH3 từ 10–800 mg/l; BOD5 từ 2.000 – 20.000 mg/l; TOC (Cacbon hữu cơ tổng cộng): 1.500 – 20.000 mg/l; Phosphorus tổng cộng: 5–100 mg/l; và một lượng lớn các vi sinh vật) [1]
Ngoài ra, nước rò rỉ có thể chứa các hợp chất hữu cơ độc hại như: chất hữu cơ
bị halogen hóa, các hydrocacbon đa vòng thơm , chúng có thể gây đột biến gen, gây ung thư Các chất này nếu thấm vào tầng nước ngầm hoặc nước mặt sẽ xâm nhập vào chuỗi thức ăn, gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho sức khỏe của con người ở thời điểm hiện tại và cả thế hệ mai sau
Trang 15Thơng thường các BCL chất thải đúng kỹ thuật cĩ hệ thống đường ống, kênh rạch thu gom nước thải và các bể chứa nước rác để xử lý trước khi thải ra mơi trường Tuy nhiên, phần lớn các BCL hiện nay đều khơng được xây dựng đúng kỹ thuật vệ sinh và đang trong tình trạng quá tải, nước rị rỉ từ bãi rác được thải trực tiếp ra ao, hồ gây ơ nhiễm mơi trường nước nghiêm trọng
Vì vậy, rác thải nếu khơng thu gom tốt cũng là một trong những yếu tố gây cản trở dịng chảy, làm giảm khả năng thốt nước của các con sơng, rạch và hệ thống thốt nước đơ thị
1.2.2 Mơi trường khơng khí
Các loại rác dễ phân hủy (như thực phẩm, trái cây hỏng…) trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (nhiệt độ tốt nhất là 350c và độ ẩm là 70-80%) sẽ được các vi sinh vật phân hủy tạo ra mùi hơi và nhiều loại khí ơ nhiễm
Quá trình phân hủy các chất hữu cơ, trong đĩ cĩ chứa sulfur trong chất thải
để tạo thành các chất cĩ mùi hơi đặc trưng như: Methyl mercaptan và axit amino butyric
CH3SCH2 CH(NH2)COOH H3SH + CH3 CH2 CH2(NH2)COOH
Methionine Methyl mercaptan Aminobutyric acid
Methyl mercaptan cĩ thể phân hủy tạo ra methyl alcohol và H2S Quá trình phân hủy rác thải chứa nhiều đạm bao gồm cả quá trình lên men chua, lên men thối rửa, mốc xanh, mốc vàng…cĩ mùi ơi thiu
Đối với các acid amin: tùy theo mơi truờng mà chất thải cĩ chứa các acid amin
sẽ bị vi sinh vật phân hủy trong điều kiện kỵ khí hay hiếu khí
Trong điều kiện hiếu khí: acid amin cĩ trong rác thải hữu cơ được men phân giải và vi khuẩn tạo thành acid hữu cơ và NH3 (gây mùi hơi)
Trang 16Vì vậy đã tạo ra một lượng đáng kể các khí độc hại và cả vi khuẩn, nấm mốc phát tán vào không khí
1.2.3 Môi trường đất
Các chất thải hữu cơ sẽ được vi sinh vật phân hủy trong môi truờng đất trong hai điều kiện hiếu khí và kị khí Khi có độ ẩm thích hợp sẽ tạo ra hàng loạt các sản phẩm trung gian, cuối cùng là hình thành các chất khoáng đơn giản như nước,
CO2, CH4…
Với một lựơng rác thải và nước rò rỉ vừa phải thì khả năng tự làm sạch của môi trường đất sẽ phân hủy các chất này trở thành các chất ít ô nhiễm hoặc không ô nhiễm Nhưng với lượng rác quá lớn thì vượt qua khả năng làm sạch của đất thì môi trường đất
sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm Các chất ô nhiễm này cùng với kim loại nặng, các chất độc hại và các sinh vật gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đất Hơn nữa, với các loại rác không phân hủy như nhựa, cao su nếu không có giải pháp xử lý thích hợp thì chúng sẽ là nguy cơ gây thoái hóa và giảm độ phì nhiêu của đất
1.2.4 Ảnh hưởng của CTR đến sức khỏe con người
Rác thải phát sinh từ các khu đô thị nếu không đuợc thu gom và xử lý đúng cách thì sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng dân cư
và làm giảm mĩ quan đô thị
Thành phần chất thải rất phức tạp, trong đó có chứa các mầm bệnh từ người hoặc gia súc, các chất thải hữu cơ, xác chết xúc vật… tạo điều kiện cho ruồi, muỗi, chuột…sinh sản và lây lan mầm bệnh cho con người, nhiều lúc trở thành bệnh dịch Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng… tồn tại trong rác có thể gây bệnh cho con người như: bệnh sốt rét, bệnh ngoài da, dịch hạch, thương hàn, tiêu chảy, lao, giun sán…Việc quản lý và xử lý CTRSH không hợp lý không những gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người, đặc biệt đối với người dân sống gần khu vực BCL
Tại các bãi rác lộ thiên, nếu không quản lý tốt sẽ gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho cộng đồng dân cư trong khu vực gây ô nhiễm không khí, các nguồn nước,
ô nhiễm môi trường đất và là nơi nuôi dưỡng các vật chủ trung gian truyền bệnh
Trang 17nguy hiểm Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các bệnh về
da liễu, viêm phế quản, đau xương khớp cao hơn hẳn những nơi khác
1.3 Thực trạng chất thải rắn sinh hoạt
1.3.1 Thực trạng CTRSH ở Việt Nam
1.3.1.1 CTR sinh hoạt đô thị
Năm 1990, Việt Nam có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ Nhưng tính đến tháng T 12/2013, cả nước có 770 đô thị, trong đó có 2 đô thị đặc biệt (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh), 14 đô thị loại I (thành phố), 10 đô thị loại II (thành phố), 52 đô thị loại III (thành phố), 63 đô thị loại IV (thị xã) và còn lại là các đô thị loại V (thị trấn và thị tứ) [5] Đô thị phát triển bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đã tạo ra sức ép
về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và phát triển không bền vững Lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp ngày càng
nhiều với thành phần phức tạp
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng 10 ÷16 % Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ
Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch iá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ
lệ tăng ít hơn (5,0%) [5]
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm Theo số liệu của Cục Hạ tầng kỹ thuật, Bộ Xây dựng, tổng lượng CTRSH phát sinh từ các đô thị năm 2015 sẽ vượt mức 37.000 tấn/ ngày Dự
báo khối lượng CTRSH này sẽ cao gấp 2 - 3 lần hiện nay, ước tính khoảng 59 nghìn tấn/ngày vào năm 2020 [1]
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh với tổng lượng phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng
Trang 18Hình 1.2 Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các loại đô thị Việt Nam [3]
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) [1]
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt
và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có
tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày [5]
Trang 19Bảng 1.1 Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007 [5]
STT Đơn vị hành chính
Lượng CTRSH bình quân trên đầu người (kg/người/ngày)
Lượng CTRSH đô thị
phát sinh Tấn/ngày Tấn/năm
1.3.1.2 CTR sinh hoạt nông thôn
Với dân số 60.703 triệu người sống ở khu vực nông thôn (năm 2010), lượng phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn khoảng 0,3kg/người/ngày,
ta có thể ước tính lượng rác thải sinh hoạt phát sinh khoảng 18.219 tấn/ngày, tương
đương với 6,65 triệu tấn/năm [5]
Trang 20Đồng bằng sông Cửu Long Nam Bộ
Hình 1.3 Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các vùng nông thôn Việt Nam [1]
Khoảng trên 80% khối lượng rác thải, nước thải sinh hoạt và hầu hết lượng vỏ bao bì thuốc BVTV chưa được thu gom để xử lý hợp vệ sinh và xả trực tiếp vào môi trường [27]
Chất thải rắn sinh hoạt ở khu vực nông thôn phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, nhà kho, chợ, trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính, từ hoạt động chăn nuôi, làng nghề…Phần lớn chất thải rắn sinh hoạt là chất hữu cơ dễ phân hủy (có tỷ
lệ chiếm tới 65% chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn), còn lại là các loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, thủy tinh
Đặc biệt, chất thải rắn của các làng nghề chiếm một phần đáng kể trong nguồn phát sinh chất thải rắn nông thôn Chất thải rắn làng nghề gồm nhiều chủng loại khác nhau, phụ thuộc vào nhiều nguồn phát sinh, ngày càng gia tăng về số lượng, đa dạng và phức tạp về thành phần như phế liệu từ chế biến lương thực, thực phẩm (nước thải, bã ngô, đậu, sắn), túi ni lông, chai lọ thủy tinh, nhựa, bao bì đựng nguyên vật liệu, cao su, gốm sứ, gỗ, kim loại
Các chất thải rắn sinh hoạt không được phân loại tại nguồn, bị vứt bừa bãi ra môi trường Một số nơi không quy định bãi tập trung rác, không có nhân viên thu gom rác Lượng rác tồn đọng tại các kênh, mương rất lớn và phổ biến, dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Hiện tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn vào khoảng 40-55% Mới chỉ có trên 60% số thôn, xã tổ chức thu gom rác định kỳ Công tác thu gom, lưu giữ và xử lý các loại vỏ bao bì, hoá chất
Trang 21bảo vệ thực vật cũng được nhiều tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện như Nghệ An, Tuyên Quang, Vĩnh Long Song các biện pháp này được áp dụng với quy mô nhỏ, chủ yếu dùng các thùng phuy chứa, không có các bể chứa cố định đúng quy chuẩn Việc quản lý chất thải rắn nông thôn chưa hiệu quả, xử lý chất thải rắn không hợp
vệ sinh gây ra ô nhiễm môi trường từ các bãi chôn lấp rác thải, làm ảnh huởng sức khoẻ của cộng đồng dân cư, gia tăng gánh nặng bệnh tật, gây ra các xung đột môi trường tại một số địa phương
1.3.2 Thực trạng CTRSH trên địa bàn tỉnh Nghệ An
1.3.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải rắn
Tỉnh Nghệ An nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung bộ tiếp giáp với tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Hà Tĩnh, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, với 419 km đường biên giới; phía Đông giáp biển, với 82 km đường bờ biển
Hệ thống mạng lưới giao thông gồm giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không: Quốc lộ 1A, a Vinh, Sân bay Vinh, Tuyến Quốc lộ 7 nối liền từ Đông sang Tây thông thương sang nước CHDCND Lào Có Cụm cảng biển Cửa Lò, Bến Thuỷ, Xuân Hải (tỉnh Hà Tĩnh) mà trọng tâm là cảng Cửa Lò với công suất bốc
dỡ hàng lên khoảng 2 triệu tấn/năm Với vị trí địa lý như vậy, tỉnh Nghệ An đóng vài trò quan trọng trong giao lưu kinh tế, thương mại, du lịch, vận chuyển hàng hóa với
cả nước và các nước khác trong khu vực nhất là các nước Lào, Thái Lan và Trung Quốc, là điều kiện thuận lợi để kêu gọi đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội [23]
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội thì lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng lớn, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt Theo Công ty TNHH 1TV môi trường
đô thị Nghệ An, khối lượng rác được thu gom tại thành phố Vinh từ năm 2004 đến cuối 2008 không có sự biến động lớn, trung bình mỗi ngày có khoảng 148 tấn rác thải sinh họat Từ đầu năm 2009, do có một vài xã được sát nhập vào thành phố vinh nên lượng rác thải có tăng lên, trung bình mỗi ngày thu gom 157 tấn [13] Nhưng đến năm 2011 lượng rác thu gom là 65.000 tấn/năm (trung bình 165 - 180 tấn/ngày, tỷ lệ thu gom ước đạt 85%), sang năm 2012 số lượng rác thu gom tăng lên đến 71.540 tấn/năm với bình quân 190 - 220 tấn/ngày [2]
Trang 22Lượng rác thải sinh hoạt lớn thường tập trung tại khu vực thành phố Vinh, các Thị xã có tiềm lực kinh tế lớn, có hoạt động dịch vụ du lịch hay các huyện bám đường QL1A như Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc Theo ước tính thì mỗi ngày trên địa bàn toàn huyện Quỳnh Lưu thải ra khoảng 80 - 100 tấn trong khi hoạt động thu gom chỉ thực hiện được khoảng 30 - 40 tấn rác thải; hay rác thải toàn huyện Diễn Châu từ 100 - 125 tấn/ngày [14, 20].
Theo Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An, dự báo tổng lượng CTR sinh hoạt toàn tỉnh ước tính đến năm 2020 là: tổng lượng CTR sinh hoạt: 1.083.320 tấn/năm, trong đó CTR không nguy hại: 1.076.820 tấn, CTR nguy hại: 6.500 tấn
Hầu hết rác thải không được phân loại tại nguồn mà được thu gom lẫn lộn, sau
đó được vận chuyển đến bãi chôn lấp Tỷ lệ thu gom trung bình tăng từ 70% (2004) đến 75% (2008) Tại các khu công nghiệp và khu vực thành thị chất thải nguy hại không được phân loại riêng, còn chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt [20]
Hầu hết các vùng nông thôn thì mạng lưới thu gom chưa phủ kín và ý thức của người dân trong giữ gìn vệ sinh môi trường đô thị còn chưa cao trong khi đó chưa quy hoạch được điểm tập kết rác cũng như chưa xây dựng được khu xử lý rác đạt tiêu chuẩn nên hiện tượng đổ rác bừa bãi vẫn đang còn phổ biến, người dân vẫn còn
có thói quen tiện đầu bỏ đó Rác thải sinh hoạt đổ xuống mương rãnh hở gây ô nhiễm nguồn nước và úng ngập khi mưa Đi dọc các xã ven biển của huyện Diễn Châu như Diễn Hùng, Diễn Hải, Diễn Kim, Diễn Bích, Diễn Thành, Diễn Thịnh… rác thải tràn ngập khắp nơi, tại huyện Quỳnh Lưu và Thị xã Hoàng Mai, dọc sông Mai iang, lạch Quèn, bờ biển, bãi ngang
Trên địa bàn tỉnh Nghệ An mới chỉ có Công ty TNHH 1TV Môi trường Đô thị Nghệ An và Công ty TNHH MTĐT - DVDL Cửa Lò đảm nhiệm thu gom, vận chuyển,
xử lý rác thải tại TP Vinh, thị xã Cửa Lò và các huyện lân cận thành phố Tỷ lệ thu gom, xử lý rác chỉ đạt 85% ở thành phố Vinh, 75% ở thị xã Cửa Lò, lượng rác còn lại vẫn bị vứt bừa bãi, tuỳ tiện gây mất vệ sinh và ô nhiễm môi trường sống [21]
Theo thống kê, hiện nay trên toàn tỉnh có 16 dự án bãi chôn lấp CTR, trong
đó chỉ có 04 bãi chôn lấp đang vận hành, tuy nhiên chí có 01 bãi rác được xây dựng
Trang 23theo đúng quy chuẩn, hợp vệ sinh Việc xử lý chất thải cho đến nay chủ yếu vẫn chỉ
là đổ ở các bãi thải lộ thiên không có sự kiểm soát, không xử lý, mùi nặng nề và nước rác là nguồn gây ô nhiễm đất, nước và không khí Việc lựa chọn điểm chôn lấp hoặc khu xử lý CTR còn gặp nhiều khó khăn do không được sự ủng hộ của người dân địa phương (ví dụ: như huyện Yên Thành) Công nghệ xử lý CTR chưa được chú trọng nghiên cứu và chưa hoàn thiện
Việc xử lý rác thải bằng biện pháp tái sử dụng và tái chế chỉ giảm được 10 - 12% khối lượng rác thải, được tập trung chủ yếu vào đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến rác thành phân hữu cơ Do chưa có những khảo sát chi tiết về khả năng chấp thuận của cộng đồng đối với sản phẩm phân vi sinh, đồng thời do kỹ năng phân loại trong quá trình sản xuất của các nhà máy này còn thấp nên hiệu quả chưa cao: nhà máy xử lý rác Đông Vinh (TP Vinh – Nghệ An) sử dụng công nghệ seraphin công suất từ 80 – 100 tấn/ngày, nhà máy xử lý rác thải Ecovi với công suất
300 tấn/ngày, nhưng hiện tại chỉ mới hoạt động với hiệu suất 10% công suất
Một số hình ảnh rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh:
Hình 1.4 Chân Cầu Giát thành l nh địa riêng của rác thải
Trang 24Hình 1.5 Rác tràn xu ng sông
Trang 25Hình 1.7 Rác tràn ra l ng đường
1.3.2.2 Hệ thống quản lý chất thải rắn tỉnh Nghệ An
Mô hình do Nhà nước quản lý: việc thu gom CTRSH tại Thành phố Vinh, Hưng Nguyên, Nam Đàn do Công ty TNHH 1TV Môi trường đô thị Nghệ An trực thuộc thành phố Vinh thực hiện Các Công ty Môi trường đô thị hoạt động dưới hình thức các đơn vị sự nghiệp có thu Tiền lương cho cán bộ nhân viên chức, các loại phương tiện, trang thiết bị ban đầu do nhà nước đầu tư lấy từ nguồn vốn ngân sách, nguồn thu từ hoạt động thu gom, xử lý rác thải theo định mức áp dụng theo tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, đơn giá được áp dụng theo đơn giá của UBND tỉnh Nghệ An ban hành theo thời điểm Việc thu chi kinh phí áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu
Đối với các huyện, thị xã không có Công ty MTĐT thu gom thì UBND huyện trực tiếp chỉ đạo UBND xã, thị trấn trực tiếp thu gom, vận chuyển đi đổ thải tập trung hoặc tự xử lý
Mô hình do các Công ty tư nhân, các doanh nghiệp:đây là các tổ chức cá nhân được giao chức năng thực hiện hợp đồng thu gom CTRSH trên địa bàn một số huyện, thị xã như: Công ty TNHH MTV môi trường đô thị, dịch vụ Cửa Lò thu gom trên địa bàn thị xã Cửa Lò, huyện Nghi Lộc, hợp tác xã môi trường đô thị (thị trấn Quán Hành) - huyện Nghi Lộc, Công ty TNHH Hải Đăng thu gom rác thải tại Nghi Lộc, Diễn Châu …
Trang 26Hình 1.8 Sơ đồ quản lý thu gom rác thải sinh hoạt
1.3.3 Những vấn đề chính trong xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay
Trong những năm gần đây, quản lý CTRSH là một trong những lĩnh vực luôn được các cấp chính quyền tỉnh Nghệ An quan tâm Tuy nhiên, thực tế hiện nay công tác quản lý này còn nhiều khó khăn và lúng túng, nhất là định hướng và các giải pháp
xử lý chất thải chưa được cụ thể, rõ ràng và thống nhất Việc chôn lấp chất thải ở các bãi rác lộ thiên tự phát hoặc bãi rác có thiết kế, xây dựng và kiểm soát ô nhiễm đang
là hình thức xử lý phổ biến song nhược điểm của phương thức xử lý này là tốn diện tích đất, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm cao và khó lựa chọn vị trí thích hợp
CTR
Đội quét dọn thu
gom, vận chuyển
rác tại các khu dân cư, đường phố
Đội vận chuyển chất thải rắn
Tổ thu gom vận chuyển chất thải rắn cho các đơn
vị
Tổ chức thu gom, vận chuyển chất thải rắn tại các ngõ
BCL Điểm tập kết
Trang 27Tình trạng quá tải, gây ô nhiễm:
Hệ thống các công trình xử lý CTRSH ở tỉnh Nghệ An còn thiếu và yếu Toàn tỉnh Nghệ An hiện có 16 dự án bãi chôn lấp, nhưng chỉ có 04 bãi chôn lấp đang vận hành nhưng chỉ có KLH xử lý CTR Nghi Yên được xây dựng theo đúng quy chuẩn Một số huyện có quy hoạch bãi tập kết rác tập trung toàn huyện, tuy nhiên chỉ tập kết rác tại đó chứ chưa có biện pháp xử lý nên không có sự kiểm soát, mùi nặng nề và nước rác là nguồn gây ô nhiễm đất, nước và không khí Một số bãi rác, bãi chôn lấp cũng đang rơi vào tình trạng quá tải, như Bãi rác Đông Vinh là nơi chứa rác thải sinh hoạt của thành phố được xây dựng từ năm 1977, phải đổ rác cao từ 7m -8m, nước thải
rò rỉ từ bãi rác không được thu gom, xử lý, mùi phát tán trên diện rộng, ruồi, muỗi và túi nilon theo gió bay vào khu dân cư ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân gần bãi rác, hiện bãi rác đã đóng cửa nhưng lượng rác trong bãi chưa có biện pháp xử lý, hay bãi rác Nghi Hương có diện tích 0,7ha, lượng rác trong bãi cao từ 3 - 4 m, nằm ngay sát nhà dân mà không được xử lý KLH xử lý chất thải rắn Nghi Yên được thiết kế đạt quy chuẩn, hiện nay mới 02 ô chôn lấp hoàn chỉnh, hàng ngày tiêu thụ khoảng hơn 300 tấn rác thải từ TP Vinh, TX Cửa Lò, các huyện Hưng Nguyên và Nghi Lộc Hiện tại, 2 ô xử lý rác thải sinh hoạt của Khu liên hợp đã quá tải
Thiết kế không đạt chuẩn: các BCL rác không được thiết kế đúng kỹ thuật
(không có hệ thống thu nước rỉ rác, không có lớp vải lót kỹ thuật, không có hệ thống thoát nước mưa mà theo kiểu xây tường bao rồi đổ rác vào trong, chứ không đào sâu dưới lòng đất và chia ô) Bãi rác được xây dựng ngay gần khu dân cư (cách khoảng 200-300 m) hay xây dựng đầu nguồn nước như bãi rác Ngọc Sơn nằm đầu nguồn hồ chứa nước An Ngãi(huyện Quỳnh Lưu) nên có nguy cơ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, nguồn nước và sức khoẻ người dân
Tình trạng rác thải bỏ thải bừa bãi: Tại các vùng nông thôn hầu hết đều chưa có
tổ chức thu gom, chưa quy hoạch điểm đổ rác và xử lý rác thải đúng nơi quy định Theo báo cáo của các địa phương (Thanh Chương, Đô Lương, Diễn Châu, Nghi Lộc ) ngoài lượng rác thải được thu gom đổ đúng nơi quy định thì lượng rác thải còn lại người dân tuỳ tiện đổ ra ven bờ sông, đường giao thông, đồng ruộng, ven bờ biển gây
ô nhiễm môi trường Chưa có một công ty thu gom rác thải cho toàn huyện
Trang 28Bảng 1.2 Thực trạng các b i chôn lấp rác trên địa bàn tỉnh Nghệ An [21]
TT Tên bãi rác Địa điểm Diện tích (ha) Ngày bắt đầu HĐ
1 KLH xử lý
CTR Nghi Yên
Nhìn chung từ thực trạng tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay thì việc nghiên cứu, đề xuất được các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, thu gom và xử lý triệt để chất thải rắn sinh hoạt phát sinh là rất cần thiết
Trang 29Chương 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC
2.1 Giới thiệu sơ lược về huyện Nghi Lộc
2.1.1 Vị trí địa lý
Nghi Lộc là một huyện đồng bằng ven biển, nằm từ 18041' đến 18054' vĩ độ Bắc và 105028' đến 1050
45' kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp: huyện Diễn Châu, Yên Thành
- Phía Nam giáp: huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên và thành phố Vinh
- Phía Đông giáp: Thị xã Cửa Lò và biển Đông
- Phía Tây giáp: huyện Đô Lương
Là khu vực vùng đệm của thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, vị trí tiềm năng để quy hoạch phát triển thành phố Vinh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là khu vực thuận lợi cho việc phân bổ các khu công nghiệp và các nhà máy sản xuất kinh doanh thúc đẩy sự phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Nghệ An Có 10 xã nằm trong Khu kinh tế Đông Nam sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc thu hút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trong tương lai gần đây sẽ là vệ tinh của khu Kinh tế Đông Nam Nghệ An và thành phố Vinh (đô thị loại I) [18]
Với mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ khá thuận lợi
Có nhiều tuyến giao thông của Trung ương và tỉnh chạy qua địa bàn huyện như: Quốc lộ 1A (dài 16 km), quốc lộ 46 (dài 8 km), đường sắt Bắc- Nam (dài 16 km), tỉnh lộ 534 (dài 28 km), tỉnh lộ 535 (dài 12 km), tỉnh lộ 536 (dài 8 km) Với chiều dài 14 km bờ biển, có 2 con sông lớn chảy qua địa bàn huyện là sông Cấm (dài 15 km) và sông Cả (dài 6 km), cách cảng Cửa Lò chưa đầy 2 km Tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông giữa huyện với thành phố, thị xã, các huyện trong tỉnh và các tỉnh khác
Trang 302.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Địa hình
Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển, địa hình đa dạng, có hướng thấp dần
từ Tây sang Đông và có thể chia thành 2 vùng lớn:
- Vùng bán sơn địa
Phía Tây và Tây Bắc của huyện có nhiều đồi núi cao, địa hình chia cắt mạnh,
độ dốc lớn do chia cắt bởi những khe suối; tại những khu vực này có những vùng đồng bằng phù sa xen kẽ tương đối rộng, một số hồ đập lớn được xây dựng nên đây cũng là vùng cung cấp lương thực cho huyện, với diện tích đất tự nhiên khoảng 18.083 ha, chiếm 52% so với tổng diện tích của cả huyện ồm các xã Nghi Lâm, Nghi Công Bắc, Nghi Công Nam, Nghi Mỹ, Nghi Văn, Nghi Kiều, Nghi Phương, Nghi Hưng, Nghi Đồng Vùng này chiếm diện tích khá lớn nhưng tập trung ít dân
cư khoảng 57.842 người chiếm 31,4% tổng dân số của cả huyện
- Vùng đồng bằng
Khu vực trung tâm và phía Đông, Đông Nam của huyện địa hình tương đối bằng phẳng, chỉ có ít đồi núi thấp xen kẽ độc lập, độ cao chênh lệch từ 0,6- 5,0 m, với diện tích tự nhiên khoảng 16.686 ha, chiếm 48% so với diện tích của cả huyện
2.1.2.2 Khí hậu
Khí hậu huyện Nghi Lộc hàng năm mang tính chất chuyển tiếp giữa khí hậu Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Nhìn chung, khí hậu chịu ảnh hưởng của khí hâu nhiệt đới ẩm gió mùa
Những đặc trưng về khí hậu là: Biên độ nhiệt độ giữa các mùa trong năm lớn, chế
độ mưa tập trung vào mùa mưa bão (tháng 8- tháng 10), mùa nắng nóng có gió Lào khô hanh, đó là những nguyên nhân chính gây nên mưa lũ xói mòn hủy hoại đất nhất là trong điều kiện cây rừng bị chặt phá và sử dụng đất không hợp lý
Trang 31đập Khe Nu, hồ Khe Thị, hồ Khe ỗ, hồ Khe Bưởi
- Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm của huyện khá phong phú nhưng mới chỉ khai thác một lượng nhỏ để phục vụ sinh hoạt cho nhân dân, việc khai thác
để phục vụ sản xuất nông nghiệp là chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của nó
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
2.1.3.1 Về dân cư
Theo số liệu thu thập được từ Chi cục thống kê huyện đến năm 2013 dân số toàn huyện Nghi Lộc có 195.138 người, với 48.717 hộ, quy mô hộ khoảng 4,0 người/hộ, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2009 là 1,09 %, năm 2010 là 0,92 %, năm
2011 là 0,91%, năm 2012 là 1,2%, năm 2013 là 1,0% [6]:
Bảng 2.1 Phân b dân cƣ của huyện Nghi Lộc năm 2013 [6]
Trang 32Tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất 5 năm giai đoạn 2010- 2014 đạt 12,8%
iá trị sản xuất của ngành nông - lâm - ngư nghiệp tăng bình quân 3,20 %/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 20,20%/năm và ngành thương mại - dịch vụ tăng 15,50%/năm
b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của huyện huyện Nghi Lộc trong những năm qua có bước chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành dịch
Trang 33vụ- thương mại Cơ cấu kinh tế, nông - lâm - ngư giảm từ 45,3% năm 2010 xuống còn 30,2% năm 2014, công nghiệp và xây dựng tăng từ 27,3% lên 36,8%, thương mại- dịch vụ tăng từ 27,4% lên 33%
Bảng 2.2 Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2010 – 2014 [15]
ĐVT: %
2 Công nghiệp - xây dựng 27,3 29,0 30,5 33,5 36,8
3 Dịch vụ - thương mại 27,4 29,1 30,6 30,9 33,0
c Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
* Nông nghiệp:
- Trồng trọt: Triển khai tốt các đề án ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất,
làm tốt công tác bảo vệ thực vật, chất lượng cung ứng giống, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng mùa vụ phù hợp nên năng suất các loại cây trồng tăng lên Sản lượng lương thực năm 2014 đạt 82.090 tấn, tăng 7.816 tấn so với năm 2010 iá trị thu nhập trên đơn vị diện tích tăng từ 34 triệu đồng/ha năm
2010 lên 43 triệu đồng/ha vào năm 2014 (năm 2013 đã có 2500 ha có giá trị thu nhập đạt 50 triệu đồng/ha)
- Chăn nuôi: Chăn nuôi phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng Đề án phát
triển chăn nuôi của huyện đã mang lại hiệu quả, chương trình cải tạo đàn bò, nạc
hoá đàn lợn, gà, chăn nuôi theo trang trại Tổng đàn trâu, bò đến năm 2014 có
38.250 con, tăng 7.606 con so với năm 2010, trong đó đàn bò tăng 6.310 con
Chuyển chăn nuôi từ nhỏ lẻ phân tán sang nuôi tập trung có quy mô lớn hơn, hình thành các trang trại, gia trại, từng bước đưa chăn nuôi ra đồng kết hợp với đào
ao nuôi trồng thuỷ sản Kinh tế trang trại tiếp tục phát triển và mở rộng quy mô, toàn huyện hiện có 78 trang trại và gia trại (trong đó có 62 trang trại và gia trại chăn nuôi lợn, 4 trang trại, gia trại nuôi bò và 12 trang trại chăn nuôi gia cầm) với qui mô
Trang 34vừa và nhỏ, thu nhập bình quân 1 trang trại khoảng 50 triệu đồng/năm, trong đó có một số trang trại có mức thu trên 100 triệu đồng/năm Phát triển trang trại đã giúp chuyển hàng chục ha lúa trũng sâu cho năng suất thấp bấp bênh và ao hồ, đầm bỏ hoang trở thành những trang trại VAC với tôm sú, tôm he, lợn siêu nạc, gà công nghiệp và cây ăn quả đặc sản tập trung chủ yếu ở Nghi Xuân, Nghi Hợp, Nghi Xá, Nghi Quang, Nghi Thái, Nghi Diên, Nghi Công Bắc, Nghi Yên
- Lâm nghiệp:
Ngành lâm nghiệp không những có giá trị về kinh tế mà nó còn mang ý nghĩa rất lớn đối với môi trường Trong giai đoạn 2001- 2010 diện tích rừng trồng tập trung đạt 2.723 ha và năm 2010 diện tích trồng rừng tập trung khoảng 135 ha;
độ che phủ rừng tăng từ 21% năm 2005 lên 23,4% vào năm 2010 [14]; phát triển diện tích rừng, giao đất khoán rừng đến từng hộ gia đình và quy hoạch 3 loại rừng được triển khai thực hiện đã mang lại hiệu quả cao Sản lượng khai thác gỗ bạch đàn, gỗ tràm đạt 2.500 m3
và 450 tấn nhựa thông, thực hiện tốt công tác chăm sóc khoanh nuôi và bảo vệ rừng; nâng cao ý thức trong công tác bảo vệ rừng nên hạn chế tối đa hiện tượng chặt phá rừng và cháy rừng ở phạm vi lớn
- Thủy sản:
Tổng sản lượng thủy sản đến năm 2014 đạt 7.025 tấn, trong đó sản lượng đánh bắt hải sản đạt 3.600 tấn, sản lượng nuôi trồng đạt 3.425 tấn, tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 1.615 ha [12]; ngành nghề đánh bắt được đa dạng và phù hợp hơn, nâng cao hiệu quả đánh bắt gắn với việc phát triển nuôi trồng và chế biến thuỷ sản; diện tích nuôi trồng thủy sản được mở rộng Cơ sở hậu cần nghề cá được quan tâm đầu tư xây dựng
* Công nghiệp
iá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng ngày càng tăng, riêng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng gấp nhiều lần Đặc biệt là ngành chủ lực như sản xuất gạch ngói Khai thác đá, sản xuất hàng mộc và đóng tàu thuyền ổn định qua các năm, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp địa phương như dịch vụ cơ khí, sửa chữa, thủ công
mỹ nghệ, may mặc, đan lưới, chế biến hải sản được khôi phục và phát triển
Trang 35iá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2014 đạt 971 tỷ đồng tăng 2,6 lần so với năm 2010 Tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2010-2014 đạt 21,29% [12]
Trong giai đoạn 2010-2014 đã thu hút được nhiều dự án đầu tư vào địa bàn,
đã cấp phép đầu tư cho 43 dự án, tổng số vốn đăng ký 3.350 tỷ đồng và đã thực hiện 1.150 tỷ đồng trên diện tích 1920 ha [12]
Khu công nghiệp Nam Cấm với quy mô diện tích hơn 279,66 ha Đến tháng năm 2010 đã cấp phép đầu tư cho 39 dự án, với tổng số vốn 1.767 tỷ đồng và 24,6 triệu USD Trong đó 7 dự án đã đi vào hoạt động với doanh thu đạt gần 142 tỷ đồng (tăng 1,63 lần so với năm 2005), trong đó giá trị xuất khẩu đạt gần 54 tỷ đồng (tăng 1,6 lần so với năm 2005), nộp ngân sách trên 4,4 tỷ đồng ( tăng 2,9 lần so với năm
2005 ), tạo việc làm cho 372 lao động (chưa kể lao động thời vụ) có thu nhập ổn định 1,3 triệu đồng/tháng
Khu công nghiệp Trường - Thạch đã có một số nhà máy đi vào hoạt động là Công ty CP cơ khí và xây dựng Miền Trung, Công ty cổ phần đá ốp lát thành công, công ty CP khí ga hóa lỏng Thăng Long và Công ty CP TNHH tư vấn xây dựng Thành Công, Công ty CP xây dựng Trường Sơn cùng một số dự án đã hoàn thành công tác PMB đang triển khai đầu tư xây dựng Huyện đang tiếp tục kêu gọi các nhà đầu tư và ưu tiên các ngành nghề vật liệu xây dựng, sản xuất sản phẩm cơ khí, dệt, may, chế biến lâm sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, hàng mộc, sản xuất các mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu có mức độ ô nhiễm môi trường ít vào KCN Trường Thạch và KCN Đồng Trộ
Làng nghề phát triển tương đối nhanh, đặc biệt là nghề mây tre đan thủ công mỹ nghệ Năm 2000 có 02 làng ở Nghi Phong và Nghi Thiết, đến năm 2010 toàn huyện
20 làng có nghề, trong đó có 19 làng được tỉnh công nhận Làng nghề phát triển đã tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho nhiều lao động
Công nghiệp khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng tăng nhanh trong giai đoạn 2001-2005, khai thác đá xây dựng chủ yếu ở các xã Nghi Lâm, Nghi Vạn, Nghi Yên, đến năm 2007 sản lượng khai thác đạt hơn 43.000m3; gạch nung được sản xuất ở Nghi Hưng,
Trang 36Nghi Hoa, Nghi Vạn và một số xã như Nghi Trung, Nghi Diên, Nghi Lâm, đạt 42,7
triệu viên, do các Công ty cổ phần và doanh nghiệp đóng trên địa bàn thực hiện
* Dịch vụ
iá trị sản xuất Dịch vụ - Thương mại năm 2014 đạt 488 tỷ đồng, tăng 2 lần
so với năm 2010 Tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân đạt 15,36%
Triển khai thực hiện tốt đề án phát triển kinh tế Dịch vụ - Thương mại giai đoạn 2007 - 2010 nên các hoạt động dịch vụ, thương mại phát triển theo hướng hội nhập và tăng trưởng khá, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với các loại hình dịch
vụ thuận lợi hơn, gắn dịch vụ với giải quyết việc làm tăng thu nhập Phát huy lợi thế mạng lưới dịch vụ trên toàn huyện nên trong những năm qua đã đầu tư mở rộng và xây dựng mới được 4 chợ và nâng cấp 3 chợ nông thôn Doanh số bán lẻ trên thị trường đạt hơn 225 tỷ đồng/năm
Dịch vụ vận tải hàng hoá và vận chuyển hành khách hàng năm trên địa bàn tăng nhanh, đến nay trên địa bàn huyện có 80 đầu xe, trong đó có 75 xe vận tải hàng hóa;
Đầu tư hoàn thành giai đoạn I khu du lịch sinh thái Bãi Lữ (Nghi Yên) với tổng mức đầu tư đạt 300 tỷ đồng Các loại hình dịch vụ tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm tiếp tục phát triển tạo điều kiện hỗ trợ về các nguồn vốn cho các doanh nghiệp và nhân dân sản xuất kinh doanh, đã phát triển thêm 01 ngân hàng và 01 quỹ tín dụng nhân dân (hiện có 3 ngân hàng và 3 quỹ tín dụng hoạt động có hiệu quả ) Tổng dư
nợ ngân hàng đạt 535 tỷ đồng, trong đó vay hỗ trợ lãi suất 33 tỷ đồng (theo gói cơ chế kích cầu), cho vay hộ nông dân 80 tỷ, xuất khẩu lao động 7,3 tỷ đồng, giải quyết việc làm 4,8 tỷ đồng, học sinh sinh viên 53,8 tỷ đồng và chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường 9,6 tỷ đồng, [13]
Các dịch vụ bưu chính, viễn thông cơ bản đáp ứng nhu cầu của người dân Đến nay 28/30 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá, đạt tỷ lệ 93,3%; 100% số xã
có báo đọc trong ngày; tổng máy điện thoại cố định trên toàn huyện đến năm 2010 đạt 11,2 máy/100 dân (chưa tính máy điện thoại di động) [13]
Trang 372.1.4 Đánh giá chung các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tác động đến hoạt động bảo vệ môi trường
2.1.4.1 Thuận lợi
- Quỹ đất có khả năng đảm bảo được nhu cầu về quy hoạch các khu vực xử
lý chất thải rắn nói chung, chất thải rắn sinh hoạt nói riêng cho khu vực huyện hiện tại và tương lai
- Lợi thế về mặt địa hình khi có các con sông lớn chảy qua chính là tạo điều kiện tiếp nhận cho hệ thống xử lý nước thải, giảm được khả năng ô nhiễm cục bộ
- Về điều kiện khí hậu thời tiết mang đặc trưng của kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa là một thuận lợi cho người quản lý trong việc lựa chọn đa dạng các phương pháp xử lý chất thải rắn hiện đang được áp dụng ở nước ta đồng thời có lợi thế khi tiếp cận những kinh nghiệm trong quá trình áp dụng các phương pháp, công nghệ
xử lý này
- Trên cơ sở cơ cấu kinh tế và mức thu nhập bình quân đầu người cho thấy khả năng thu hút nguồn lao động tham gia vào một số dịch vụ môi trường như: thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt góp phần tăng thu nhập cho người lao động đặc biệt đối với nguồn nhân lực từ hoạt động nông nghiệp tiềm năng lớn
- Định hướng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội thể hiện sự quan tâm của cấp chính quyền đối với công tác bảo vệ môi trường, tạo điều kiện cho các hoạt động trong công tác bảo vệ môi trường nói chung, hoạt động xử lý chất thải rắn nói riêng được triển khai
- Có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh các loại như đường QL, TL, đường liên xã, liên huyện, đường thôn-xóm được bê tông hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển xử lý chất thải rắn
2.1.4.2 Khó khăn và thách thức
- Năng lực tiếp cận các công nghệ xử lý môi trường, khả năng đáp ứng về kết cấu hạ tầng phục vụ việc quản lý, xử lý chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt nói chung còn nhiều hạn chế
- Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp, các nhà máy trên địa bàn
Trang 38huyện và vùng lân cận, cùng với sự phát triển của các ngành dịch vụ, thương mại đã gây ra một sức ép không nhỏ đối với vấn đề môi trường của huyện
- Bên cạnh đó là lối sống đô thị hóa đang ảnh hưởng, làm thay đổi nhiều thói quen, nếp sống vốn mang đậm nét lối sống nông thôn Lối sống đô thị hóa có cả tính tích cực và tiêu cực đối với sự phát triển chung, do đó đặt ra những thách thức
về quản lý, yêu cầu cần có sự cân nhắc và điều chỉnh phù hợp để hướng người dân xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh lành mạnh đối với môi trường
- Các xã khu vực bán sơn địa và ven biển tận dụng lợi thế về địa hình khai thác khả năng phát triển về dịch vụ, du lịch sinh thái và du lịch biển tuy nhiên ý thức trong công tác bảo vệ môi trường đối với các khu vực này còn gặp nhiều khó khăn
- Địa hình phức tạp, bao gồm cả vùng đồng bằng, ven biển, vùng bán sơn địa, cùng với việc thời tiết thất thường cũng đặt ra những thách thức đối với công tác quản lý môi trường tại địa bàn, đặc biệt là sự tương tác giữa các điều kiện thời tiết theo mùa với các phương thức xử lý chất thải
2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Nghi Lộc
2.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
2.2.1.1 Nguồn gốc phát sinh:
CTRSH của huyện phát sinh từ những nguồn chính sau đây:
- Từ các hộ dân cư
- Từ các chợ
- Các cơ quan hành chính, sự nghiệp đóng trên địa bàn thành phố
- Các công ty, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, thương mại…
- Các hệ thống trường học
- CTRSH từ các bệnh viện, trung tâm y tế phường, xã, cơ sở y tế tư nhân…
2.2.1.2 Khối lượng CTRSH phát sinh:
Do sự phân bố dân cư và điều kiện phát triển KTXH của mỗi xã, mỗi vùng khác nhau nên lượng rác thải phát sinh trên địa bàn các xã không đồng đều Lượng rác thải phát sinh cao tại Thị trấn và các xã vùng phụ cận như Nghi Trung, Nghi
Trang 39Hoa, Nghi Long với khối lượng 3 - 5 tấn/ngày/xã; ngoài ra các xã ven biển và các
xã nằm phía đông huyện như Nghi Thiết, Nghi Thái, Nghi Quang, cũng có lượng rác thải phát sinh lớn từ 2 - 3 tấn/ngày/xã Lượng rác thải phát sinh thấp tại một số
xã phía tây huyện, xa khu trung tâm với khối lượng 1 - 2 tấn/ngày Tỷ lệ thu gom chất thải rắn trung bình toàn huyện là 70% [10]
Theo số liệu tổng hợp từ phòng Tài nguyên và Môi trường huyện năm 2013,
đã chia ra làm 5 khu vực có sự khác biệt về phát sinh chất thải rắn: khu vực thị trấn Quán Hành; khu vực ven khu đô thị bao gồm: Nghi Trung, Nghi Vạn, Nghi Long, Nghi Hoa, Nghi Diên; khu vực phía tây Nghi Lộc: Nghi Lâm, Nghi Văn, Nghi Kiều, Nghi Công Bắc, Nghi Công Nam, Nghi Phương, Nghi Đồng, Nghi Hưng, Nghi Mỹ; khu vực ven biển bao gồm: Nghi Yên, Nghi Tiến, Nghi Thái, Phúc Thọ, Nghi Thiết, Nghi Quang; khu vực phía đông Nghi Lộc: Nghi Phong, Nghi Xá, Nghi Thịnh, Nghi Trường, Nghi Khánh, Nghi Thạch, Nghi Hợp, Nghi Xuân, Nghi Thuận Lượng CTRSH phát sinh bình quân trên đầu người của toàn huyện dao động từ 0,2 – 0,92 kg/người/ngày Theo đó khối lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt thấp nhất là tại các xã phía tây với 0,2 kg/người/ngày, cao nhất là thị trấn Quán Hành với 0,92 kg/người/ngày (bảng 2.3)
Bảng 2.3 Kh i lượng CTRSH phát sinh bình quân/người/ngày
Chỉ tiêu
Thị trấn Quán Hành
Các xã ven khu
đô thị
Các xã nằm phía tây
Các xã ven biển
Các xã phía đông huyện
TB
Tổng lượng CTRSH (tấn/ngày) 5 16 11,8 13,9 24,6 2,38
Tổng nhân khẩu (người) 5.444 35.683 59.439 39.672 53.614 6.462
Khối lượng phát sinh CTRSH
Trung bình toàn huyện, mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 70 tấn rác thải sinh hoạt Tính bình quân lượng rác thải trên đầu người là xấp xỉ 0,48
Trang 40kg/người/ngày Hệ số này cho thấy so với hệ số phát sinh chất thải chung của cả nước 0,5-0,6 kg/người/ngày [1], hệ số phát sinh trung bình chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn huyện Nghi Lộc ở mức thấp.
Đối với các xã thuần nông phía tây huyện có mức sống thấp hơn so với các xã khác với thu nhập bình quân trên người là 8 triệu/người/năm và trên địa bàn không
có các hoạt động phát triển công nghiệp thì số lượng rác thải phát sinh hàng ngày là thấp nhất 0,2 kg/người/ngày; đối với các xã ven khu đô thị và các xã phía đông, các
xã ven biển có lượng rác phát sinh cao hơn từ 0,35 - 0,46 kg/người/ngày Đây là các
xã có tốc độ đô thị hóa nhanh, có các hoạt động công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa diễn ra mạnh nhất của huyện trong thời gian qua Kinh tế của các xã này khá phát triển, thu nhập bình quân trên người vào khoảng 12 triệu/người/năm; đối với khu vực thị trấn Quán Hành thì lượng rác thải phát sinh cao nhất 0,92 kg/người/ngày, đây là khu đô thị và cũng là nơi có kinh tế phát triển nhất với thu nhập bình quân trên người vào khoảng 25 triệu/người/năm Sự chênh lệch về kinh tế và mức sống của người dân của các khu vực là nguyên nhân chính dẫn đến sự khác biệt về khối lượng CTRSH phát sinh
2.2.1.3 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt
Từ số liệu thu thập của phòng TNMT, qua phân tích tổng hợp cho thấy CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện Nghi Lộc có thành phần như sau:
Bảng 2.4 Thành phần CTR sinh hoạt huyện Nghi Lộc Thành phần CTR sinh hoạt Tỷ lệ (%)
Chất thải hữu cơ (vỏ rau củ, thức ăn thừa, hoa quả hư
Chất có thể tái chế, tái sử dụng (giấy bìa carton, dẻ
Chất không thể tái chế, tái sử dụng (sành sứ, xỉ than,