Nam Đàn là một huyện trọng điểm du lịch của tỉnh Nghệ An và một trong những huyện điểm xây dựng Nông thôn mới của cả nước nên công tác quản lý môi trường nói chung, chất thải rắn sinh ho
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường đã truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian theo học cũng như thời gian làm luận văn Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Vũ Đức Thảo - Giảng viên Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn động viên, chia sẻ và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Đức Thảo Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí theo danh mục tài liệu của luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 5
1.1 Giới thiệu chung về chất thải rắn sinh hoạt 5
1.1.1 Khái niệm và phân loại 5
1.1.1.1 Khái niệm 5
1.1.1.2 Phân loại 5
1.1.2 Thành phần 7
1.1.3 Đặc điểm 8
1.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe con người và môi trường 8
1.2.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe con người và mỹ quan khu vực 8
1.2.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường 10
1.2.2.1 Làm ô nhiễm môi trường không khí 10
1.2.2.2 Làm ô nhiễm môi trường đất 10
1.2.2.3 Làm ô nhiễm môi trường nước 10
1.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam 11
1.3.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam 11
1.3.1.1 CTR sinh hoạt đô thị 11
1.3.1.2 CTR sinh hoạt nông thôn 13
1.3.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam 14
1.3.2.1 Thu gom, xử lý CTR sinh hoạt tại các đô thị 14
1.3.2.2 Thu gom, xử lý CTR sinh hoạt ở nông thôn 16
1.4 Định hướng quản lý chất thải rắn tại Việt Nam 18
Trang 4CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN 20
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Nam Đàn 20
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 20
2.1.1.1 Vị trí địa lý 20
2.1.1.2 Địa hình 21
2.1.1.3 Khí hậu 21
2.1.1.4 Thủy văn 22
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 22
2.1.2.1 Quy mô và tăng trưởng kinh tế 22
2.1.2.2 Cơ cấu kinh tế 23
2.1.2.3 Dân số 23
2.1.2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 23
2.2 Hiện trạng quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện Nam Đàn 24
2.2.1 Thực trạng phát sinh CTR sinh hoạt 24
2.2.1.1 Nguồn phát sinh 24
2.2.1.2 Khối lượng và thành phần 25
2.2.2 Thực trạng quản lý CTR sinh hoạt 26
2.2.2.1 Thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR sinh hoạt 26
2.2.2.2 Xử lý CTR sinh hoạt 32
2.2.2.3 Công tác quy hoạch khu xử lý rác, các bãi /điểm tập trung rác 35
2.2.2.4 Công tác quản lý nhà nước 37
2.2.3 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nam Đàn 38
2.2.3.1 Đánh giá công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt 38
2.2.3.2 Về công tác quy hoạch bãi rác thải 40
2.2.3.3 Công tác quản lý nhà nước của các cấp 40
2.2.3.4 Nhận thức của cộng đồng 40
2.3 Dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyện Nam Đàn đến năm 2020 41
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN 43
3.1 Giải pháp về kỹ thuật, công nghệ 44
3.1.1 Phân loại rác thải tại nguồn 44
Trang 53.1.2 Thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt 45
3.1.2.1 Giải pháp thu gom, vận chuyển 45
3.1.2.2 Giải pháp quy hoạch các điểm tập kết rác thải của khối xóm 46
3.1.2.3 Đầu tư trang thiết bị, phương tiện thu gom, vận chuyển 47
3.1.3 Giải pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt 48
3.1.3.1 Giải pháp xử lý CTR sinh hoạt giai đoạn 2015 – 2020 48
3.1.3.2 Định hướng giải pháp xử lý CTR sinh hoạt giai đoạn 2020 – 2025 60 3.2 Giải pháp tuyên truyền, giáo dục, tập huấn nghiệp vụ 61
3.3 Giải pháp quản lý nhà nước, tăng cường bộ máy quản lý 63
3.4 Giải pháp chính sách, kinh tế tài chính 64
3.5 Giải pháp xã hội hóa công tác BVMT, quản lý CTR 64
3.6 Giải pháp xây dựng và nhân rộng các mô hình BVMT, quản lý CTR 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 71
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
URENCO Công ty môi trường đô thị
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại CTR theo tính chất 6
Bảng 1.2 Thành phần của chất thải rắn 7
Bảng 1.3 Lượng CTR sinh hoạt phát sinh tại một số tỉnh, thành phố năm 2010 12
Bảng 2.1 Giá trị sản xuất phân theo các ngành 22
Bảng 2.2 Thành phần CTR sinh hoạt huyện Nam Đàn 26
Bảng 2.3 Hiện trạng thu gom rác thải tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn 30
Bảng 2.4 Các hình thức xử lý CTR sinh hoạt tại các xã, thị trấn 33
Bảng 2.5 Quy hoạch và hiện trạng thực hiện QH đất thu gom và xử lý rác thải 36
Bảng 2.6 Dự báo dân số huyện Nam Đàn đến năm 2020 41
Bảng 2.7 Dự báo khối lượng CTR sinh hoạt huyện Nam Đàn đến năm 2020 42
Bảng 3.1 Khoảng cách thích hợp khi lựa chọn bãi chôn lấp 54
Bảng 3.2 Dự báo CTR sinh hoạt của nhóm 11 xã đến năm 2020 57
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Ảnh hưởng của CTR sinh hoạt đối với sức khỏe con người và động vật 9
Hình 1.2 Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các loại đô thị Việt Nam 12
Hình 1.3 Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các vùng nông thôn Việt Nam 14
Hình 2.1 Bản đồ huyện Nam Đàn 21
Hình 2.2 Sơ đồ nguồn phát sinh CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện 25
Hình 2.3 Sơ đồ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt đến bãi rác xã và bãi rác Nghi Yên (Nghi Lộc) 27
Hình 2.4 Các hình thức xử lý CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện 32
Hình 3.1 Phân vùng 3 nhóm xã để đề xuất các giải pháp xử lý CTRSH 49
Hình 3.2 Vị trí BCL rác thải đề xuất tại vùng Lèn Dơi xã Khánh Sơn 56
Hình 3.3 Định hướng mặt bằng BCL chất thải rắn tại Lèn Dơi xã Khánh Sơn 59
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa ở Việt Nam, chất thải rắn ngày càng gia tăng nhanh chóng ở hầu hết các đô thị và nông thôn và đang là một trong những nguồn lớn gây ra ô nhiễm môi trường Quản lý chất thải rắn nói chung và chất thải rắn sinh hoạt nói riêng đang là vấn đề quan trọng trong công tác quản lý môi trường
ở Việt Nam hiện nay
Nam Đàn là một huyện trọng điểm du lịch của tỉnh Nghệ An và một trong những huyện điểm xây dựng Nông thôn mới của cả nước nên công tác quản lý môi trường nói chung, chất thải rắn sinh hoạt nói riêng được các cấp ngành rất quan tâm Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, đời sống của người dân Nam Đàn ngày càng được cải thiện, mức sống của người dân được nâng cao nên nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội càng cao, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyện ngày càng nhiều trong khi công tác thu gom, xử lý trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều yếu kém nên dẫn đến tình trạng chất thải rắn sinh hoạt thải đổ bừa bãi ra môi trường gây nên nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe cộng đồng và mất mỹ quan của một huyện điểm du lịch Chính vì vậy, công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nam Đàn đang trở nên cấp thiết, cần có chủ trương, giải pháp để chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác quản lý
Từ thực tế trên, tôi chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An” với mong muốn đóng góp một phần vào giải quyết các
vấn đề khó khăn hiện nay trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt của huyện Nam Đàn
Trang 102 Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Đánh giá thực trạng phát sinh và thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nam Đàn
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR sinh hoạt phù hợp với địa phương để giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ cảnh quan môi trường trên địa bàn huyện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt và công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ
An
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài thực hiện trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
4 Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới
- Khái quát được nguồn phát sinh, lượng phát sinh cũng như thành phần của chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nam Đàn
- Thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt; công tác quản lý nhà nước đối với chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nam Đàn
- Từ thực trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn sinh hoạt, đề xuất các giải pháp phù hợp với địa phương nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt cho huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát thực địa
Điều tra khảo sát thực địa là phương pháp không thể thiếu trong các đề tài
nghiên cứu Kết quả của đề tài phụ thuộc rất nhiều vào kết quả khảo sát thực địa, nhằm thu thập, cập nhật các dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, điều tra hiện trạng và diễn biến phát sinh, các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt
Trang 11Trong quá trình thực hiện đề tài, đã phối hợp với cán bộ phụ trách môi trường tại các xã, thị trấn tổ chức đi khảo sát thực tế trên địa bàn các xã Tiến hành khảo sát các bãi chứa rác, chôn lấp rác hiện có của các xã, tình hình thực hiện quy hoạch các điểm/bãi tập trung rác; tìm hiểu thành phần chất thải rắn sinh hoạt và các vấn đề về phương thức thu gom, xử lý rác thải,… để đánh giá được hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt và tình hình thực tế của công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các địa phương Khảo sát sơ bộ xác định vị trí có điều kiện địa hình thuận lợi, có khả năng xây dựng bãi chôn lấp rác; khảo sát đường giao thông vận chuyển rác;
Quá trình khảo sát tổng hợp giúp hình dung rõ nét hơn về đặc điểm điều kiện
tự nhiên, hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội và hiện trạng phát sinh, thu gom, xử
lý chất thải rắn sinh hoạt của các xã, các nhóm xã Đây là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp quản lý
- Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập các tài liệu, số liệu, các thông tin có sẵn đã được công bố trong các báo cáo, tạp chí của các cơ quan tổ chức; các thông tin, số liệu từ sách, giáo trình đã được xuất bản Đồng thời, thu thập thông qua các cơ quan nghiên cứu, các cơ quan chuyên ngành trên địa bàn tỉnh, huyện như Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, UBND tỉnh Nghệ An, UBND huyện Nam Đàn, UBND các xã, thị trấn; các đề
án, quy hoạch và các bài báo nghiên cứu về khu vực
Tài liệu được thu thập là những thông tin, số liệu liên quan trực tiếp đến đề tài như: các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, KTXH, các thông tin về hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải
- Phương pháp ph n t ch, đánh giá
Phân tích các số liệu thu được để đánh giá chất lượng môi trường; phân tích công tác quản lý môi trường nói chung, quản lý chất thải rắn sinh hoạt nói riêng và tình hình thực tiễn ở địa phương để đánh giá hiện trạng môi trường và công tác quản
lý, từ đó làm cơ sở để đề xuất các giải pháp
Trang 12- Phương pháp dự báo d n số và t nh toán khối lượng CTR sinh hoạt
+ Dân số là một trong những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến lượng rác thải hàng ngày Do vậy, khi dự báo khối lương rác phát sinh cần phải quan tâm chú
ý tới yếu tố dân số Với tốc độ gia tăng dân số thu thập được, sử dụng hàm Euler cải tiến để dự báo dân số:
Công thức Euler cải tiến
N*i+1 = Ni + r t Ni
Ni+1/2 = (N*i+1 + Ni)/2
Ni+1 = Ni + r t Ni +1/2
Trong đó:
Ni: Dân số hiện tại;
Ni+1: Dân số năm tiếp theo;
N*i+1: giá trị trung gian;
Ni+1/2: giá trị trung gian;
r: Tốc độ tăng dân số;
t: khoảng thời gian (bước tính)
+ Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được tính dựa vào số dân và hệ số phát thải rác thải sinh hoạt trên đầu người Công thức tính:
W = N x q Trong đó:
- N: dân số (người) trong năm
- q: Mức phát thải CTRSH của một người trong 1 ngày đêm (kg/người/ng.đ)
- Phương pháp thống kê tổng hợp và xử lý số liệu
Thống kê, tổng hợp các số liệu thu được sau đó xử lý số liệu và soạn thảo văn bản trên phần mềm Microsoft word và Excel
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
1.1 Giới thiệu chung về chất thải rắn sinh hoạt
1.1.1 Khái niệm và ph n loại
1.1.1.1 Khái niệm
Chất thải rắn (CTR) là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại
Chất thải rắn sinh hoạt là CTR phát sinh trong sinh hoạt cá nhân của các hộ gia đình, khu nhà ở (khu chung cư), khu thương mại, dịch vụ (cửa hàng, chợ, siêu thị, quán ăn, nhà hàng, khách sạn,…), các khu cơ quan (trường học, bệnh viện, trung tâm nghiên cứu, văn phòng, công ty,…), từ các hoạt động dịch vụ công cộng (quét dọn, vệ sinh đường phố, khu giải trí, công viên, hoạt động cắt tỉa cây xanh), hay từ sinh hoạt của các cán bộ, công nhân viên trong một số các cơ sở công nghiệp (khu công nghiệp, nhà máy, cơ sở sản xuất vừa và nhỏ) và từ công tác nạo vét cống rãnh thoát nước
1.1.1.2 Phân loại
- Phân theo tính chất gồm có: các chất cháy được, các chất không cháy được
và các chất hỗn hợp (Bảng 1.1)
- Phân loại theo quan điểm thông thường, gồm có:
Rác thải hữu cơ: bao gồm: thức ăn dư thừa, cây cỏ loại bỏ, rau quả hư hỏng,
xác động vật, phân chăn nuôi, Đây là loại rác thải có khả năng gây ô nhiễm môi trường khá lớn do sự phân rã của chất hữu cơ trong thành phần của rác thải
Rác thải khó phân hủy: gồm các loại cao su, nhựa, túi nilon, kim loại, thủy tinh, sành sứ,
Rác thải nguy hại: Các chất thải rắn hóa học, sinh học, chất gây phóng xạ,
chất cháy, chất dễ gây nổ như: pin, bình acquy, bóng đèn huỳnh quang, bao bì chất tẩy rửa, vỏ hộp sơn,… các chất thải này thường được sinh ra từ các hoạt động sinh
Trang 14hoạt của người dân; khi thải ra môi trường có ảnh hưởng đặc biệt nghiệm trọng tới môi trường
Bảng 1.1 Phân loại CTR theo tính chất [11]
- Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ gỗ, tre
- Các vật liệu và sản phẩm
từ chất dẻo
- Các vật liệu và sản phẩm
từ thuộc da và cao su
- Các túi giấy, mảnh bìa
- Vải, len
- Các rau, quả, thực phẩm
- Đồ dùng hư, bàn ghế, vỏ dừa
- Phim cuộn, túi chất dẻo,
- Các vật liệu không bị nam châm hút
- Các vật liệu và sản phẩm chế tạo từ thủy tinh
- Các vật liệu không cháy khác
- Hàng rào, dao, nắp lọ
- Vỏ hộp nhôm, đồ đựng bằng kim loại
- Chai lọ, đồ dùng bằng thủy tinh, bóng đèn
- Vỏ trai, ốc, gạch đá, gốm sứ,
3 Các chất hỗn hợp
- Tất cả các loại vật liệu không phân loại ở phần 1 và
2 đều thuộc loại này
- Đá, đất, cát
Trang 15
1.1.2 Thành phần
Thông thường thành phần của CTR sinh hoạt bao gồm chất thải thực phẩm, giấy, carton, vải vụn, sản phẩm vườn, gỗ, thủy tinh, nhựa, kim loại, bụi tro, cát đá, gạch,
Bảng 1.2 Thành phần của chất thải rắn [11]
Hợp phần
(kg/m 3 ) Khoảng
giá trị
Trung bình
Khoảng giá trị
Trung bình
Khoảng giá trị
Trung bình
Trang 16bằng sông Cửu Long, tỷ lệ chất hữu cơ khá cao, đạt trung bình tới 71,07%, các chất
vô cơ 18,61%, các chất khác 10,33% Trong khi đó khu vực Đồng bằng sông Hồng
tỷ lệ chất hữu cơ ở các đô thị trung bình chỉ đạt 54,5%; các chất vô cơ 29,1%; các chất khác 16,4% Độ ẩm chất thải rắn sinh hoạt đô thị Việt Nam thường dao động từ
55 - 70%, tỷ trọng 0,42 - 0,6 tấn/m3 [12]
1.1.3 Đặc điểm
- Chất thải rắn sinh hoạt có số lượng và thành phần rác hữu cơ chiếm tỷ lệ lớn hơn các loại rác vô cơ khác, đây là điều kiện tốt để xem xét xử lý rác thải hữu
cơ thành phân hữu cơ, giảm thiểu lượng chất thải rắn xử lý chôn lấp hoặc đốt
- Chất thải rắn sinh hoạt phân hủy nhanh, phân hủy trong môi trường hiếu khí và yếm khí, quá trình phân hủy tạo ra mùi khó chịu và các khí độc hại như H2S,
NH3, CH4, SO2, CO2,
- Chất thải rắn sinh hoạt chứa các mầm bệnh, các điểm tập kết CTR sinh hoạt
là nơi sinh sản trú ngụ của ruồi muỗi, bọ, chuột,… là các sinh vật sản sinh và lây lan mầm bệnh cho con người
- Chất thải rắn sinh hoạt có độ ẩm cao, dao động từ 55-70% và cao hơn vào mùa mưa
1.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe con người và môi trường
1.2.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe con người và
mỹ quan khu vực
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các khu vực đô thị và nông thôn nếu không đuợc thu gom và xử lý đúng cách thì sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng dân cư và làm mất mỹ quan khu vực, gây cản trở giao thông Khi làm mất cảnh quan khu vực sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch của địa phương
Tác động đầu tiên dễ nhận thấy của CTR là gây mùi, gây khó chịu, ảnh hưởng đến đường hô hấp Thành phần chất thải rất phức tạp, trong đó có chứa các mầm bệnh từ người hoặc gia súc, các chất thải hữu cơ, xác chết súc vật… tạo điều
Trang 17kiện cho ruồi, muỗi, bọ, chuột,… sinh sản và lây lan mầm bệnh cho con người, có lúc trở thành bệnh dịch Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng,… tồn tại trong rác có thể gây bệnh cho con người như: bệnh sốt rét, bệnh ngoài da, dịch hạch, thương hàn, tiêu chảy, lao, giun sán,… CTR sinh hoạt nếu không được thu gom tốt cũng là một trong những yếu tố gây cản trở dòng chảy, làm giảm khả năng thoát nước của các sông, kênh mương và hệ thống thoát nước khu vực dân sinh
Việc quản lý và xử lý CTR sinh hoạt không hợp lý không những gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người, đặc biệt đối với người dân sống gần khu vực bãi chôn lấp Tại các bãi rác lộ thiên, nếu không được quản lý tốt sẽ gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho bãi rác và cộng đồng dân cư trong khu vực: gây ô nhiễm không khí, các nguồn nước, ô nhiễm đất và là nơi nuôi dưỡng các vật chủ trung gian truyền bệnh cho người
Hình 1.1 Ảnh hưởng của CTR sinh hoạt đối với sức khỏe con người
NGƯỜI VÀ ĐỘNG VẬT
Trang 181.2.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường
1.2.2.1 Làm ô nhiễm môi trường không khí
Nguồn rác thải từ các hộ gia đình chủ yếu là thực phẩm chiếm phần lớn trong khối lượng CTR sinh hoạt phát thải Với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều như ở Việt Nam sẽ là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân hủy, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa, ảnh hưởng đến môi trường không khí và gây mùi khó chịu cho con người Khí sinh học hình thành từ các bãi chôn lấp do quá trình phân hủy các thành phần sinh học trong chất thải có chứa rất nhiều các khí độc hại như H2S, NH3, CH4, SO2, CO2 và các hợp chất hữu cơ bay hơi Ngoài các hơi khí gây ô nhiễm thông thường thì trong quá trình thiêu đốt rác thải có thể tạo ra các khí như PCBs, PAHs, các hợp chất dioxin và furans
1.2.2.2 Làm ô nhiễm môi trường đất
Các chất thải hữu cơ sẽ được vi sinh vật phân hủy trong môi trường đất trong hai điều kiện hiếu khí và yếm khí, khi có độ ẩm thích hợp sẽ tạo ra hàng loạt các sản phẩm trung gian, cuối cùng hình thành các chất khoáng đơn giản, nước, CO2, CH4
Với một lượng rác thải và nước rò rỉ vừa phải thì khả năng tự làm sạch của môi trường đất sẽ phân hủy các chất này trở thành các chất ít ô nhiễm hoặc không ô nhiễm Nhưng với lượng rác quá lớn vượt quá khả năng tự làm sạch của đất thì môi trường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm Các chất ô nhiễm này cùng với kim loại nặng, các chất độc hại và các vi trùng theo nước trong đất chảy xuống nguồn nước ngầm làm ô nhiễm tầng nước này
Đối với rác không phân hủy (nhựa, nilon, cao su, ) nếu không có giải pháp
xử lý thích hợp là nguy cơ gây thoái hóa và giảm độ phì của đất
1.2.2.3 Làm ô nhiễm môi trường nước
Nước ngấm xuống đất từ các chất thải được chôn lấp, các hố phân, làm ô nhiễm nước ngầm Nước chảy khi mưa to qua các bãi chôn lấp, các hố phân, chảy vào các mương, rãnh, ao, hồ, sông, suối làm ô nhiễm nước mặt Nước này chứa các
vi trùng gây bệnh, các kim loại nặng, các chất hữu cơ, các muối vô cơ hoà tan vượt quá tiêu chuẩn môi trường nhiều lần
Trang 19Các chất thải rắn, nếu là chất thải hữu cơ sẽ bị phân hủy nhanh chóng trong môi trường nước tạo ra các hợp chất trung gian và sau đó là sản phẩm cuối cùng
CH4, H2S, H2O, CO2 Tất cả các chất trung gian đều gây mùi hôi thối và là độc chất Bên cạnh đó, còn rất nhiều vi trùng và siêu vi trùng làm ô nhiễm nguồn nước
Nếu rác thải là những chất kim loại thì nó gây nên hiện tượng ăn mòn trong môi trường nước Sau đó oxy hóa có oxy và không có oxy xuất hiện, gây nhiễm bẩn cho môi trường nước, nguồn nước
1.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
1.3.1.1 CTR sinh hoạt đô thị
Tại khu vực đô thị, CTR sinh hoạt phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, các khu chung cư, chất thải đường phố, chợ, các trung tâm thương mại, văn phòng, các
cơ sở nghiên cứu, trường học, Hàng ngày, mỗi người dân đô thị lớn thải ra khoảng 0,9 - 1,2 kg CTR sinh hoạt, đô thị nhỏ là 0,5 – 0,65 kg/người/ngày Lượng CTR sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng 10 ÷16 % Tỷ lệ CTR tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên
có tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) [3].Tổng lượng phát sinh CTR sinh hoạt tại các đô thị loại III trở lên và một
số đô thị loại IV của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTR sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 đã cho thấy, lượng CTR sinh hoạt
đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, chiếm tới 45,24% tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh từ tất cả các đô thị tương ứng khoảng 8.000 tấn/ngày (2,92 triệu tấn/năm) [3]
Trang 20Hình 1.2 Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các loại đô thị Việt Nam [3]
Chất thải rắn sinh hoạt ở các đô thị phát sinh với tỷ lệ rất khác nhau từ các hộ gia đình và thay đổi ở mỗi đô thị, mỗi vùng Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt đô thị
từ các hộ gia đình chiếm từ 45 - 65%; từ các chợ và các hộ kinh doanh chiếm tỷ lệ
20 - 30%; tỷ lệ chất thải rắn nguy hại thường từ 0,3 - 1%
Lượng CTR sinh hoạt phụ thuộc vào mức sống ở các đô thị; mức sống, thu nhập càng cao tại các đô thị lớn thì lượng CTR sinh hoạt phát sinh càng nhiều
(Bảng 1.3)
Bảng 1.3 Lƣợng CTR sinh hoạt phát sinh tại một số tỉnh, thành phố
năm 2010 [3]
Loại đô thị, Vùng Đơn vị hành chính Lƣợng CTR sinh hoạt phát sinh (tấn/ngày)
Trang 21lệ này lên đến 90%), thì dự báo đến năm 2015 khối lượng CTR sinh hoạt tại các đô thị khoảng 30 nghìn tấn/ngày và năm 2020 khoảng 43 nghìn tấn/ngày Với lượng phát sinh CTR sinh hoạt như trên, để quản lý tốt đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do CTR sinh hoạt gây ra
1.3.1.2 CTR sinh hoạt nông thôn
Dân số ngày càng tăng, điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng của người dân ở các vùng nông thôn nói chung và khu dân cư nói riêng ngày càng phong phú và đa dạng Đây cũng là nguyên nhân chính làm gia tăng thành phần và tải lượng rác thải sinh hoạt nông thôn
CTR sinh hoạt ở khu vực nông thôn phát sinh chủ yếu từ các hộ gia đình, chợ, trường học, cơ sở y tế, cơ quan hành chính, CTR sinh hoạt ở nông thôn có tỷ
lệ chất hữu cơ khá cao, chủ yếu là từ thực phẩm dư thừa, chất thải vườn, phần lớn là chất hữu cơ dễ phân hủy (tỷ lệ các thành phần dễ phân hủy chiếm 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn) còn lại là các chất thải khó phân hủy như túi nilon, thủy tinh, nhựa, kim loại,
Trang 22Với dân số 60,703 triệu người sống ở khu vực nông thôn (năm 2010), lượng phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn khoảng 0,3kg/người/ngày,
ta có thể ước tính lượng rác thải sinh hoạt phát sinh khoảng 18.219 tấn/ngày, tương
đương với 6,65 triệu tấn/năm [3].
Đồng bằng sông Cửu Long Nam Bộ
Hình 1.3 Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tại các vùng nông thôn Việt Nam [3]
Từ hình 1.3 có thể thấy các vùng: Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long Nam Bộ có lượng CTR sinh
hoạt nông thôn phát sinh lớn nhất
1.3.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
Quản lý chất thải rắn sinh hoạt là tổng hợp các quá trình quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ khâu thu hồi, phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển đến khâu xử lý cuối cùng là tiêu hủy Hầu hết chất thải rắn sinh hoạt đô thị và nông thôn chưa được phân loại tại nguồn mà được thu gom lẫn lộn, sau đó vận chuyển đến bãi chôn lấp với phần lớn là các bãi chứa rác lộ thiên không đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh môi trường
1.3.2.1 Thu gom, xử lý CTR sinh hoạt tại các đô thị
Tỷ lệ thu gom trung bình ở các đô thị từ 72% năm 2004 tăng lên khoảng 80 - 82% năm 2008 và đạt khoảng 83 - 85% cho năm 2010 Mặc dù tỷ lệ thu gom có tăng nhưng vẫn còn khoảng 15 ÷ 17% CTR đô thị bị thải ra môi trường vứt vào bãi đất, hố đất, ao hồ, hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môi trường Một số đô thị đặc biệt,
đô thị loại 1, có tỷ lệ thu gom đạt mức cao hơn như Hà Nội đạt khoảng 90 - 95% ở 4
Trang 23quận nội thành cũ, Tp Hồ Chí Minh đạt 90 - 97%, Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng đều đạt khoảng 90% ở khu vực nội thành [3]
Công ty Môi trường đô thị của các tỉnh, thành phố là đơn vị tổ chức thực hiện công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR sinh hoạt Nguồn vốn hoạt động của các Công ty này lấy từ ngân sách hỗ trợ của Nhà nước và nguồn thu từ các dịch vụ vệ sinh môi trường Tại một số đô thị trong nước đã kết hợp cả 2 mô hình là: Mô hình do Nhà nước quản lý - Công ty Môi trường đô thị thực hiện và mô hình do Doanh nghiệp tư nhân - Hợp tác xã đảm nhiệm
+ Mô hình do Nhà nước quản lý: Việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị do các Công ty Môi trường đô thị trực thuộc UBND tỉnh, thành phố hoặc huyện, thị xã thực hiện Các công ty Môi trường đô thị hoạt động dưới hình thức các đơn vị sự nghiệp có thu
+ Mô hình do các Doanh nghiệp tư nhân, các Hợp tác xã quản lý: Các tổ chức tư nhân tham gia công tác này dưới hình thức hợp tác xã và tổ, nhóm thu gom rác Hợp tác xã, tổ thu gom rác được hình thành với hình thức tự nguyện, mỗi tổ có một cá nhân đứng lên làm nhóm trưởng để quản lý và trả công cho các thành viên
Mô hình hợp tác xã và tổ thu gom rác hiện nay đang được phát huy và được các cấp chính quyền ủng hộ Tuy nhiên, hình thức này vẫn còn mang tính tự phát và
có quy mô nhỏ lẻ Theo số liệu điều tra, hiện chỉ có 9/69 (chiếm 13%) đô thị triển khai xã hội hóa công tác quản lý, thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt, điển hình là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Tp Lạng Sơn, Tp Buôn Mê Thuột,
Tx Gia Nghĩa, Tp Biên Hòa, Tp Cần Thơ… Tỷ lệ này còn thấp, phạm vi hoạt động còn hẹp, chỉ ở cấp phường, xã và hầu hết các phương tiện thu gom, vận chuyển còn thô sơ [9]
CTR đô thị có thể tái sử dụng, tái chế thành các sản phẩm như: các chất thải hữu cơ chế biến làm phân hữu cơ, làm thức ăn chăn nuôi; tái chế giấy, kim loại, nhựa, thủy tinh, Tỷ lệ tái chế các chất thải làm phân hữu cơ và tái chế giấy, nhựa, thủy tinh, kim loại như sắt, đồng, chì, nhôm, chỉ đạt khoảng 8 ÷ 12% CTR đô thị thu gom được [3].
Trang 24Hiện nay, biện pháp xử lý chất thải rắn đô thị chủ yếu là sử dụng phương pháp chôn lấp Tỷ lệ CTR được chôn lấp hiện chiếm khoảng 76 - 82% lượng CTR thu gom được (trong đó, khoảng 50% được chôn lấp hợp vệ sinh và 50% chôn lấp không hợp vệ sinh) Thống kê trên toàn quốc có 98 bãi chôn lấp chất thải tập trung
ở các thành phố lớn đang vận hành nhưng chỉ có 16 bãi được coi là hợp vệ sinh Ở phần lớn các bãi chôn lấp, việc chôn lấp rác được thực hiện hết sức sơ sài Như vậy, cùng với lượng CTR được tái chế, hiện ước tính có khoảng 60% CTR đô thị đã được xử lý bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh và tái chế trong các nhà máy xử
lý CTR để tạo ra phân compost, tái chế nhựa, [3]
1.3.2.2 Thu gom, xử lý CTR sinh hoạt ở nông thôn
Tại khu vực nông thôn, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt vào khoảng 40 - 55% Lượng chất thải rắn sinh hoạt chưa thu gom, xử lý còn khá lớn, nhiều nơi rác thải đổ bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường, cảnh quan, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân, trong đó có vấn đề về nguồn nước vì hiện nay phần lớn người dân nông thôn đang sử dụng nước ngầm, nước mặt không qua hệ thống xử lý tập trung Theo thống kê có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ; trên 40% thôn,
xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản [3] Việc thu gom, vận chuyển rác bằng các phương tiện còn rất thô sơ như các xe cải tiến, xe kéo, xe công nông, xe tải nhỏ, Mặt khác, hoạt động thu gom này không được diễn ra thường xuyên mà thường kết hợp với các đợt nạo vét kênh mương do xã phát động Nhiều xã không
có quy hoạch các bãi rác tập trung, không có bãi rác công cộng, không quy định chỗ tập trung rác, không có người và phương tiện chuyên chở rác Do đó, các bãi rác tự phát đã hình thành ở rất nhiều nơi, làm cho tình trạng CTR sinh hoạt nông thôn trở thành vấn đề nan giải khó quản lý Một số huyện, xã mặc dù đã có quy hoạch bãi rác, nhưng vẫn chưa có các cơ quan quản lý, biện pháp xử lý đúng kỹ thuật và người dân vẫn chưa có ý thức đổ rác theo quy định
Thực tế hiện nay, CTR nông thôn hầu như chưa được quan tâm xử lý, nếu có
xử lý thì chỉ bằng những công nghệ hết sức thô sơ, lạc hậu Đối với CTR sinh hoạt nông thôn, chủ yếu được xử lý bằng phương pháp chôn lấp Tuy nhiên, toàn quốc
Trang 25chỉ có 12 trên tổng số 64 tỉnh thành phố có bãi chôn lấp hợp vệ sinh hoặc đúng kỹ thuật ở nông thôn và phần lớn được xây dựng trong vòng 10 năm qua Hầu hết, các bãi chôn lấp chất thải nông thôn là các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, chủ yếu là bãi rác hở và để phân hủy tự nhiên Hiện nay, phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn phù hợp nhất là chôn lấp hợp vệ sinh Ngoài ra, các biện pháp khác như phương pháp làm phân hữu cơ, đốt chất thải thu năng lượng cần được tiếp tục nghiên cứu và mở rộng
Nhìn chung, hầu hết CTR sinh hoạt nông thôn chưa được phân loại, thu gom, vận chuyển đảm bảo vệ sinh môi trường Tình trạng xả rác thải tùy tiện mọi nơi, mọi lúc đang phổ biến như thải bừa bãi ra các vệ đường, ao hồ, kênh mương, sông ngòi, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, làm mất mỹ quan làng xóm và phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người Bên cạnh đó, sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền và cộng đồng về quy hoạch, phân loại, thu gom,
xử lý CTR sinh hoạt chưa được chú ý, chưa phù hợp với sự phát triển KTXH của địa phương; nguồn chi ngân sách cho hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển và
xử lý CTR sinh hoạt còn quá ít; công nghệ xử lý chưa phù hợp, chưa hiệu quả ở nhiều vùng nông thôn
Việc quản lý CTR sinh hoạt nông thôn chưa hiệu quả, xử lý rác thải không hợp vệ sinh gây ra ô nhiễm môi trường từ các bãi chôn lấp rác, làm ảnh huởng sức khoẻ của cộng đồng dân cư, gây ra các xung đột môi trường tại một số địa phương Bên cạnh đó, một số giải pháp đã được đề xuất, áp dụng nhằm cải thiện môi trường nông thôn, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại về phân công trách nhiệm trong công tác quản lý CTR nông thôn, nhiều lỗ hổng và chồng chéo; thể chế chính sách về quản lý chất thải rắn chưa được thực thi triệt để; công tác huy động cộng đồng nông thôn tham gia quản lý CTR sinh hoạt chưa được phát huy
Để tiếp cận theo hướng giảm thiểu tối đa việc chôn lấp lượng rác thải nông thôn và tăng cường tỷ lệ tái chế, tái sử dụng, cần áp dụng các mô hình xử lý hiệu quả; dựa vào những nghiên cứu cụ thể về đặc trưng rác thải ở từng địa phương, để chọn lựa phương pháp xử lý phù hợp nhằm bảo vệ môi trường theo hướng bền
Trang 26vững Đồng thời, cũng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân trong việc thu gom, xử lý hiệu quả rác thải
1.4 Định hướng quản lý chất thải rắn tại Việt Nam
Ngày 17/12/2009, Chính phủ ban hành Quyết định số 2149/QĐ - TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 Theo đó, phấn đấu tới năm 2050, tất cả các loại CTR phát sinh đều được thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt để bằng những công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường và hạn chế khối lượng CTR chôn lấp đến mức thấp nhất
Quản lý tổng hợp CTR là một trong những ưu tiên của công tác bảo vệ môi trường, góp phấn kiểm soát ô nhiễm, hướng tới phát triển bền vững đất nước Đây
là điểm khác biệt quan trọng so với "Chiến lược quản lý CTR tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020" được ban hành năm 1999 Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đặt ra mục tiêu đến năm 2025: 100% các đô thị có công trình tái chế CTR thực hiện phân loại tại hộ gia đình; 100% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong
đó 90% được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng hoặc sản xuất phân hữu cơ; 90% lượng chất thải rắn phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn và 100% tại các làng nghề được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường; giảm 85% khối lượng túi nilon tại các siêu thị và các trung tâm thương mại so với năm 2010;
Để đạt được các mục tiêu trên, các giải pháp chiến lược bao gồm:
+ Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và cơ chế chính sách về quản lý CTR
+ Quy hoạch quản lý CTR gồm: lập và thực hiện quy hoạch xây dựng khu liên hợp xử lý CTR cho các vùng kinh tế của cả nước, các tỉnh, thành phố của cả nước; xây dựng và thực hiện quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải rắn tới tận phường, xã và có biện pháp huy động vốn giải quyết vấn đề
+ Thiết lập cơ sở dữ liệu và hệ thống quan trắc dữ liệu về CTR toàn quốc + Xây dựng nguồn lực thực hiện Chiến lược: Huy động mọi nguồn vốn đầu
tư cho công tác quản lý chất thải rắn: ngân sách nhà nước, quỹ bảo vệ môi trường,
Trang 27các tổ chức và doanh nghiệp trong nước, nước ngoài ; Đào tạo nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn cho cán bộ các cấp, từ trung ương đến cấp địa phương
+ Thúc đẩy các nghiên cứu khoa học có liên quan để phục vụ hiệu quả công tác quản lý tổng hợp CTR
+ Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức: Xây dựng và thực hiện các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng ở các trường học, cộng đồng dân cư và các cơ sở kinh doanh, khuyến khích tham gia vào các hoạt động phân loại tại nguồn, giảm thiểu, tái chế tái sử dụng chất thải rắn, hạn chế sử dụng túi ni lông, không đổ rác bừa bãi ; Đưa giáo dục môi trường vào các cấp học với nội dung và thời lượng phù hợp với nhận thức của từng lứa tuổi;
+ Tăng cường trao đổi và hợp tác kỹ thuật với các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ về quản lý CTR nhằm trao đổi, học hỏi kinh nghiệm; đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; nâng cao năng lực quản lý;
Ngoài Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025,
tầm nhìn đến năm 2050, Chính phủ còn ban hành một số Chiến lược, chương trình khác liên quan đến quản lý CTR như Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (ban hành năm 2012) và Chương trình đầu tư xử
lý CTR giai đoạn 2011 – 2020 (ban hành năm 2011)
Qua các Chiến lược và Chương trình mà Chính phủ đã ban hành có thể thấy được định hướng quản lý chất thải rắn trong thời gian tới ở Việt Nam
Việc quản lý chất thải rắn phải đảm bảo các yêu cầu:
+ Phải thu gom và vận chuyển hết chất thải
+ Phải đảm bảo việc thu gom, xử lý có hiệu quả theo nguồn kinh phí nhỏ nhất nhưng lại thu được kết quả cao
+ Đưa ra các công nghệ và kỹ thuật, các trang thiết bị xử lý CTR tiên tiến của các nước vào sử dụng ở trong nước, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và lao động
có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm và lòng yêu nghề, có trách nhiệm với vấn đề môi trường của đất nước
Trang 28CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Nam Đàn
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Nam Đàn là huyện nằm ở hạ lưu sông Lam, có tổng diện tích đất tự nhiên là 29.429,89 ha Kéo dài từ 18o 34’ đến 18o 47’ vĩ bắc và trải rộng từ 105o 24’ đến
105o 37’ kinh đông
Huyện có vị trí địa lý như sau:
Bắc giáp huyện Nghi Lộc và Đô Lương – Nghệ An
Nam giáp huyện Đức Thọ và Hương Sơn – Hà Tĩnh
Đông giáp huyện Hưng Nguyên – Nghệ An
Tây giáp huyện Thanh Chương – Nghệ An
Nam Đàn có 23 xã và Thị trấn; huyện lỵ là Thị trấn Nam Đàn cách Thành phố Vinh 20 km về phía Tây, có đường quốc lộ 46 Vinh – Đô Lương đi qua
Nam Đàn có nhiều tuyến giao thông quan trọng chạy qua địa bàn huyện như quốc lộ 46, quốc lộ 15A, ven sông Lam, cùng với hệ thống đường liên huyện, liên xã, liên thôn cơ bản đã được cứng hóa tạo thành mạng lưới giao thông của huyện khá hoàn chỉnh, thuận lợi cho việc lưu thông giữa huyện với Thành phố Vinh
và các huyện phụ cận
Là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhiều di tích lịch sử văn hóa và cách mạng, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, Nam Đàn được xác định là vùng trọng điểm phát triển du lịch cùng với Vinh – Cửa Lò tạo thành tam giác phát triển du lịch của Nghệ An
Trang 29Hình 2.1 Bản đồ huyện Nam Đàn
2.1.1.2 Địa hình
Nam Đàn nằm giữa hai dãy núi Đại Huệ ở phía Bắc và dãy núi Thiên Nhẫn ở phía Tây tạo ra thung lũng, đồng bằng hình tam giác, có sông Lam chảy dọc theo hướng Bắc Nam, chia huyện thành 2 vùng, đó là tả ngạn và hữu ngạn sông Lam Địa hình của huyện Nam Đàn có 2 loại chính là đồng bằng và đồi núi
2.1.1.3 Khí hậu
- Chế độ nhiệt và độ ẩm: Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9, nhiệt độ bình quân 23,90C, mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ bình quân 19,90C; tháng 7 nhiệt độ có thể lên tới 400C Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 1637 giờ
Trang 30Độ ẩm không khí bình quân năm 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 1,
2, đạt > 90%, tháng có độ ẩm không khí thấp nhất vào tháng 7, chỉ đạt 74%
- Chế độ mưa, bão: Lượng mưa trung bình năm 1.944,3 mm, phân bố không đồng đều, mưa từ trung tuần tháng 9 đến đầu tháng 10 gây úng ngập cục bộ ở các xã vùng thấp Vào mùa mưa bão, mưa to thường gây lũ lụt, ngập úng ở nhiều xã trong huyện nhất là các xã hữu ngạn sông Lam như Khánh Sơn, Nam Trung, Nam Phúc, Nam Cường, Nam Kim ảnh hưởng đến quy hoạch các điểm bãi tập kết, xử lý rác
2.1.1.4 Thủy văn
Chế độ thuỷ văn của huyện chịu ảnh hưởng chính của các sông: Sông Lam, sông Đào, đây là nguồn nước chính phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt của huyện Nam Đàn Ngoài ra huyện còn có trên 40 hồ đập chứa nước, với trữ lượng khoảng 10,5 triệu m3 có thể cung cấp nước tưới cho khoảng 71% diện tích đất canh tác
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Quy mô và tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng tưởng kinh tế tăng khá, năm sau cao hơn năm trước, bình quân dự ước đạt 8,20%/năm (mục tiêu Đại hội 10,85%) giảm 2,65%
Tổng giá trị sản xuất (giá 2010) năm 2005 đạt 2.121.078 triệu đồng Năm
2010 đạt 3.671.712 triệu đồng, so với mục tiêu quy hoạch KTXH đến năm 2020 đạt 128,5% Năm 2012 đạt 4.442.236 triệu đồng, so với mục tiêu Kế hoạch phát triển KTXH giai đoạn 2011 - 2015 đạt 113,7%
Bảng 2.1 Giá trị sản xuất phân theo các ngành [15]
Giá trị sản xuất (triệu đồng)
1 Nông nghiệp 918.070 1.449.357 1.529.778 1.564.929
2 Công nghiệp – xây dựng 760.620 1.470.302 1.818.080 1.990.660
Tổng: 2.121.078 3.671.712 4.141.633 4.442.236
Tổng giá trị gia tăng (giá 2010) năm 2005 đạt 1.162.585 triệu đồng Năm
2010 đạt 1.799.382 triệu đồng, so với mục tiêu quy hoạch KTXH đến năm 2020 đạt
Trang 31125% Năm 2012 đạt 2.115.240 triệu đồng, so với mục tiêu Kế hoạch phát triển KTXH giai đoạn 2011 - 2015 đạt 111,6%
Tốc độ tăng trưởng bình quân cả thời kỳ 2006 - 2012 đạt 8,93%/năm Trong
đó, ngành Nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,74%, Công nghiệp – Xây dựng tăng 13,85% và Ngành dịch vụ tăng 11,30%
2.1.2.2 Cơ cấu kinh tế
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong giai đoạn vừa qua phát triển đúng hướng, dịch chuyển theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm từ 51,9 năm 2005 xuống còn 41,6 năm 2012; Ngành Công nghiệp - xây dựng ngày càng tăng từ 22,3% năm 2005 lên 30,2% năm 2012; Các ngành dịch vụ từ
22% năm 2005 lên 28,1% năm 2012
2.1.2.3 Dân số
Dân số huyện Nam Đàn năm 2013 là 153.177 người; trong đó, dân số thành thị 6.715 người, chiếm tỷ lệ 4,4%; dân số nông thôn 146.462 người chiếm 95,6%
2.1.2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
Huyện Nam Đàn có một thị trấn với tổng diện tích đất đô thị là 196,75 ha, chiếm 0,67% diện tích tự nhiên, dân số đô thị 6.715 nhân khẩu, bình quân đất đô thị
là 293 m2/người Thị trấn Nam Đàn là trung tâm chính trị kinh tế, văn hoá - xã hội của huyện với hơn 40 cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn Thị trấn đã được quy hoạch và đầu tư xây dựng, đến nay các tuyến đường, các công trình phúc lợi xã hội, mạng lưới điện chiếu sáng đô thị, mạng lưới thông tin, bưu điện, phát thanh truyền hình, các dịch vụ ngân hàng, thương mại,…nhà ở đang được cải tạo, nâng cấp
Khu dân cư nông thôn có diện tích đất 3.731,97ha, chiếm 12,68% tổng diện tích đất của toàn huyện Ở các xã vùng đồng bằng, dân cư bố trí chủ yếu theo các tuyến giao thông và khu vực có địa hình tương đối cao Đối với các xã vùng bán sơn địa dân cư bố trí chủ yếu ở các vùng đất tương đối bằng phẳng dưới chân núi và dọc theo các tuyến giao thông Một số cụm dân cư phát triển theo mô hình thị tứ như khu vực chợ Rồng - Nam Trung, đầu cầu Nam Tân, Ba Hàng - Nam Nghĩa, chợ Chùa - Nam Anh và khu vực chợ Sáo - Nam Giang
Trang 322.2 Hiện trạng quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện Nam Đàn
2.2.1 Thực trạng phát sinh CTR sinh hoạt
2.2.1.1 Nguồn phát sinh
Chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Nam Đàn phát sinh từ những nguồn chủ yếu sau:
- Từ hoạt động sinh hoạt của các hộ gia đình khu vực nông thôn và thị trấn
Thành phần rác thải này bao gồm: Thực phẩm, cây cỏ loại bỏ; giấy, carton; nilon; thủy tinh, thiếc, nhôm, đồ điện tử gia dụng; rơm rạ; thân, cành, lá cây, …
- Từ các khu chợ, tụ điểm mua bán hàng hóa, nhà hàng ăn uống; trên địa bàn huyện chủ yếu là chợ kinh doanh các mặt hàng thực phẩm thông thường, các hàng quán ăn uống nên rác thải chủ yếu là rác hữu cơ dễ phân hủy như: rau, củ, hoa quả
hư hỏng; thực phẩm thừa,… ngoài ra còn một có một lượng lớn các loại như: giấy báo, carton, bao nilon, đồ gia dụng,
- Từ các khu vui chơi giải trí, tham quan du lịch, bao gồm: các sản phẩm từ nhựa, giấy, thực phẩm, bao nilon…
- Từ các khu văn phòng, cơ quan, công sở, trường học: Bao gồm các loại rác thực phẩm, giấy báo, bao nilon, bìa carton,…thành phần có thể tái chế khá lớn như giấy báo, carton, nhựa,…
- Từ hoạt động quét dọn đường, cắt tỉa cây xanh: cành cây, lá cây, giấy vụn, bao nilon, xác chết động vật chết,…
Ngoài ra còn có một lượng CTR sinh hoạt được thải ra trong hoạt động giao thông đường thủy, đó là các loại bao túi nilon, rác thực phẩm, các loại hộp… được thải bỏ trên sông Lam, sông Đào do một bộ phận người dân sinh sống và hoạt động khai thác, vận chuyển cát sỏi trên sông
Trang 33Hình 2.2 Sơ đồ nguồn phát sinh CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện
2.2.1.2 Khối lượng và thành phần
Theo [10], lượng phát sinh rác thải sinh hoạt ở khu vực thị trấn Nam Đàn vào khoảng 0,5 - 0,6 kg/người/ngày và khu vực nông thôn khoảng 0,3 - 0,4 kg/người/ngày Như vậy, tại thị trấn Nam Đàn, mỗi ngày phát sinh khoảng 3,5 - 4,0 tấn rác thải sinh hoạt Khu vực nông thôn trên toàn huyện, mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 45 - 55 tấn rác thải sinh hoạt Bên cạnh đó lượng rác thải từ trường
học, cơ quan, chợ, nhà hàng khoảng 9 tấn/ngày [10]
Do sự phân bố dân cư và điều kiện phát triển KTXH của mỗi xã, mỗi vùng khác nhau nên lượng rác thải phát sinh trên địa bàn các xã không đồng đều Lượng rác thải phát sinh cao tại Thị trấn và các vùng phụ cận như Vân Diên, Xuân Hòa với khối lượng 3 - 4 tấn/ngày/xã; ngoài ra các xã Nam Giang, Kim Liên, Nam Trung, Nam Nghĩa cũng có lượng rác thải phát sinh lớn từ 3 - 3,5 tấn/ngày/xã Lượng rác thải phát sinh thấp tại một số xã vùng hữu ngạn sông Lam như Nam Phúc, Nam Kim, Nam Thượng, Nam Tân, Nam Lộc với khối lượng 1,5 - 2 tấn/ngày
Theo số liệu của phòng TNMT, CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện Nam Đàn chủ yếu là chất thải hữu cơ, chiếm khoảng 64,5%, bao gồm: vỏ rau củ quả, thức ăn thừa, chất thải vườn, ; chất thải còn lại chiếm 35,5% bao gồm chất có thể tái chế và
CTR SINH HOẠT
Trang 34Bảng 2.2 Thành phần CTR sinh hoạt huyện Nam Đàn
Chất thải hữu cơ (vỏ rau củ, thức ăn thừa, hoa quả hư
Chất có thể tái chế, tái sử dụng (giấy bìa carton, dẻ
Chất không thể tái chế, tái sử dụng (sành sứ, xỉ than,
Với đặc điểm chất thải rắn sinh hoạt có tỷ lệ chất hữu cơ cao (64,5%) nên có thể tận dụng rác thải hữu cơ để sản xuất phân bón phục vụ nông nghiệp, làm vườn, cải tạo đất
2.2.2 Thực trạng quản lý CTR sinh hoạt
2.2.2.1 Thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR sinh hoạt
Cho đến nay CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện Nam Đàn chưa được phân loại tại nguồn mà thường đổ lẫn vào nhau
Hiện nay, toàn huyện có 8/24 xã (chiếm 33%) đã tổ chức thu gom CTR sinh hoạt tập trung như: thị trấn Nam Đàn, Kim Liên, Xuân Lâm, Nam Cát, Nam Lộc, Nam Trung, Nam Giang, Nam Thượng Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại 8
xã này đạt từ 65% - 85%, trong đó tỷ lệ thu gom cao nhất tại Thị trấn đạt 80% - 85%, tiếp đến là các xã Kim Liên, Nam Cát, Nam Giang, Xuân Lâm đạt 75%
Trong nhóm 8 xã nói trên, có 5 xã đã hình thành các tổ vệ sinh và tổ chức thu gom rác thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, khu dân cư, trường học, cơ quan, chợ, 3
xã còn lại là Nam Cát, Xuân Lâm, Nam Lộc các hộ dân tự mang rác thải tới điểm trung chuyển Tần suất thu gom rác thải tại các xã khác nhau do lượng rác thải phát sinh khác nhau và do tính chất đặc thù của một số xã (xã Kim Liên, Nam Giang là
xã du lịch), cụ thể: tần suất thu gom 5 - 8 lần/tháng (1 - 2 lần/tuần), gồm có 4 xã: Thị trấn, Nam Giang, Kim Liên, Nam Trung; 2 - 3 lần/tháng, gồm 4 xã: Nam Cát, Xuân Lâm, Nam Lộc, Nam Thượng CTR sinh hoạt sau khi được thu gom sẽ được các tổ vệ sinh chuyển về các điểm tập kết rác tạm thời hoặc bãi rác của xã
Trang 35Hiện nay, có 5 xã gồm Thị trấn, Kim Liên, Nam Cát, Xuân Lâm, Nam Lộc đang hợp đồng với Công ty TNHH một thành viên Môi trường đô thị Nghệ An để thu gom rác từ các điểm tập kết rác tạm thời và vận chuyển đến bãi rác thải của tỉnh
ở Nghi Yên (Nghi Lộc) để xử lý; rác thải tại 5 xã này được lưu giữ tại các điểm tập kết rác tạm thời từ 1 - 2 ngày Tại 3 xã còn lại, rác thải sinh hoạt sau khi thu gom được vận chuyển về bãi rác của xã để xử lý
Hình 2.3 Sơ đồ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt đến bãi rác xã
và bãi rác Nghi Yên (Nghi Lộc)
Một số xã khác như xã Nam Anh, Nam Xuân, Hồng Long, Nam Nghĩa, Xuân Hòa, đang phát huy mô hình xây dựng hố rác tại gia để xử lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình và UBND xã có sự hỗ trợ bằng tiền hoặc xi măng để xây dựng các hố rác Mỗi gia đình tự xây hố rác thải tại gia đình và được phổ biến kiến thức
về cách thức phân loại rác hữu cơ và vô cơ Rác hữu cơ được chôn ủ tạo phân bón, rác vô cơ đem chôn lấp hoặc đốt Mỗi hố rác khi nghiệm thu đạt yêu cầu sẽ được hỗ trợ 50kg/xi măng hoặc 100.000 đồng Bước đầu mô hình này đã đạt được hiệu quả trong thu gom, xử lý rác Điển hình trong trong phong trào xây dựng hố rác tại gia
là xã Nam Xuân đã hỗ trợ xây mới 1.532 hố rác cho các hộ dân (chiếm 95% số hộ) Nhờ vậy, tình hình vệ sinh môi trường trên địa bàn xã Nam Xuân đã được cải thiện
rõ rệt, bộ mặt nông thôn ngày thêm sạch đẹp Ưu điểm của phương pháp xử lý rác tại gia là đơn giản, rẻ tiền, dễ sử dụng; mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân
Tổ thu gom
Bãi rác Nghi Yên
Nguồn
phát sinh
Điểm tập kết rác tạm thời
Công ty MTĐT Nghệ An
Trang 36khu vực nông thôn; đặc biệt là vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường được thực hiện ngay tại từng hộ gia đình Tuy nhiên, phương pháp này cũng có hạn chế là chỉ thực hiện được ở các hộ gia đình có diện tích đất vườn rộng và những khu vực cao ráo ít ngập úng vào mùa mưa lũ
Bên cạnh một số xã đã có tổ vệ sinh và tổ chức thu gom chất thải rắn sinh trên địa bàn toàn xã thì vẫn còn hơn 50% số xã trên địa bàn huyện chưa tổ chức thu gom rác tập trung như xã Nam Cường, Khánh Sơn, Nam Hưng, Hùng Tiến, Theo báo cáo của các xã, từ trước đến nay hầu hết rác thải sinh hoạt tại nhóm xã này được thải bỏ tự do tại các khu đất trống với tỷ lệ 35% - 55% lượng rác thải phát sinh
Hàng tháng các xã, thị trấn đều tổ chức ngày ra quân làm sạch môi trường, thu gom xử lý rác thải khu vực công cộng, đường làng ngõ xóm (1 - 2 lần/tháng) Hàng năm, huyện đoàn cùng đoàn xã và các trường học tổ chức các phong trào ra quân làm vệ sinh môi trường, thu gom rác thải Tuy nhiên, tình trạng rác thải đang
bị vứt bừa bãi ra môi trường trên địa bàn nhiều xã còn rất phổ biến, đặc biệt là tại một số xã có đường Quốc lộ 46, Tỉnh lộ 15 đi qua
Qua khảo sát, hiện nay tại một số xã có sử dụng xe đẩy tay thu gom rác, tuy nhiên số lượng còn ít và các xe hầu hết đã xuống cấp Với 4 xã gồm Thị trấn, Kim Liên, Nam Giang, Nam Trung có tổng số xe đẩy tay hiện đang sử dụng để thu gom rác là 42 xe, trong khi tổng số xóm của 4 xã là 61 xóm Do đó ngoài xe đẩy tay, tại các xã Kim Liên, Nam Giang, Nam Trung đang phải sử dụng thêm các phương tiện như xe kéo, xe bò lốp để thu gom rác từ các hộ dân Tại một số trường học, cơ quan, chợ, khu di tích lịch sử, đã bố trí một số phương tiện thu gom rác như xe đẩy tay, thùng rác các loại, tuy nhiên số lượng vẫn còn hạn chế Các khu vực công cộng và trục đường chính của Thị trấn chưa lắp đặt được các thùng rác công cộng nên tình trạng đổ rác bừa bãi ra các khu đất trống vẫn còn diễn ra trên địa bàn Thị trấn
Tại các xã hầu hết sử dụng phương tiện thu gom, vận chuyển rác là các xe kéo, xe bò lốp, xe công nông Riêng 5 xã hợp đồng với Công ty môi trường đô thị Nghệ An để thu gom rác từ điểm tập kết thì việc vận chuyển rác từ các xã đến bãi rác Nghi Yên sử dụng các xe ép rác chuyên dụng loại 6m3, 10 m3, 14 m3 Bên cạnh
Trang 37đó, các vệ sinh viên trực tiếp thu gom rác hầu hết chưa được trang bị đầy đủ đồ bảo
hộ lao động như quần áo, ủng, khẩu trang, găng tay,
Tổng hợp kết quả báo cáo của các xã, thị trấn và khảo sát thực tế tại các địa phương đã khái quát được hiện trạng thu gom rác thải tại 24 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn thể hiện qua Bảng 2.3
Với thực trạng như trên có thể thấy công tác thu gom, lưu giữ, vận chuyển CTR sinh hoạt ở Nam Đàn còn nhiều hạn chế; đồng thời một lượng lớn CTR sinh hoạt chưa được thu gom trên địa bàn huyện đã và đang gây nên ô nhiễm môi trường, mất cảnh quan khu vực và tạo áp lực lớn cho công tác quản lý môi trường nói chung, CTR sinh hoạt nói riêng
Trang 38Bảng 2.3 Hiện trạng thu gom rác thải tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn
Xe đẩy tay
8 lần/tháng
2 điểm tập kết tại Yên Khánh và Sa Nam
- Xe đẩy tay
- Xe kéo 4-5lần/tháng
điểm tập kết tại các xóm
Các hộ dân tự tập kết tại nơi quy định
2-3lần/tháng điểm tập kết tại 12
xóm
- Thu gom từ các hộ gia đình, cá nhân
- Công ty TNHH 1TV môi trường đô thị Nghệ An
Các hộ dân tự tập kết tại nơi quy định
2-3lần/tháng điểm tập kết tại các
xóm
- Thu gom từ các hộ gia đình, cá nhân,
- Công ty TNHH 1TV môi trường đô thị Nghệ An
các hộ dân tự tập kết tại nơi quy định
4lần/tháng Bãi chôn lấp rác của xã tại Cồn Ngói
- Tỷ lệ rác được thu gom 75%
- Thu gom từ các hộ gia đình, cá nhân, chợ, ốt quán
- Tổ vệ sinh các xóm
- Xe đẩy tay
- Xe công nông, bò lốp
4lần/tháng Bãi chôn lấp rác của xã tại rú Hốc
- Tỷ lệ thu gom 70%
- Thu gom từ các khu vực công cộng, - Tổ vệ sinh các xóm xe kiên an, bò lốp 2 lần/tháng Bãi rác tại xóm 2 và 5
Trang 399 Nam Xuân Các hộ gia đình thực hiện xây dựng hố rác tại gia, phân loại và tự xử lý Rác thải trên các trục đường
và khu vực công cộng định kỳ 1 lần/tháng tổ chức thu gom vận chuyển về bãi rác của xã để xử lý
Bãi rác của xã tại Lùm Băng
và khu vực công cộng định kỳ 1 lần/tháng tổ chức thu gom vận chuyển về bãi rác của xã để xử lý
Bãi rác của xã tại Sơn Đôi
Chưa có tổ vệ sinh thu gom Rác chợ và rác thải tại một số xóm các hộ dân tự mang rác đổ tại bãi rác xã
Hộ gia đình, cá nhân đang thực hiện xây dựng hố rác tại
Trang 402.2.2.2 Xử lý CTR sinh hoạt
Cũng như nhiều huyện khác trên địa bàn tỉnh Nghệ An, tại Nam Đàn việc tái chế các loại CTR như kim loại, nhựa, giấy bìa carton, được thực hiện bằng biện pháp thu gom và đem bán cho các cơ sở thu mua phế liệu
Chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện hầu hết chưa được thu gom, xử lý triệt để đảm bảo vệ sinh môi trường (VSMT) Từ trước đến nay CTR sinh hoạt được
xử lý bằng các hình thức như chôn lấp không hợp vệ sinh, đốt lộ thiên, chôn ủ làm phân hữu cơ tại các hộ gia đình, hợp đồng Công ty môi trường đô thị thu gom vận chuyển đi xử lý tại bãi rác Nghi Yên (Nghi Lộc), tái chế và thải bỏ tự do vào các bãi
đất trống, hồ ao, kênh mương (Hình 2.4)
Thải bỏ tự do
Hình 2.4 Các hình thức xử lý CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện
Hiện nay, 5/24 xã gồm: Thị trấn, Kim Liên, Nam Cát, Nam Lộc, Xuân Lâm
đã hợp đồng với Công ty TNHH một thành viên MTĐT Nghệ An để thu gom, xử lý CTR sinh hoạt trên địa bàn xã Tại 19/24 xã còn lại xử lý CTR sinh hoạt bằng các hình thức chôn lấp, thải bỏ ra bãi đất trống, đốt lộ thiên và các hộ gia đình tự xử lý Rác các khu vực công cộng, chợ, được xử lý chủ yếu bằng đốt lộ thiên nên gây ô nhiễm môi trường không khí Qua các số liệu báo cáo của các xã, thị trấn và phòng TNMT huyện, tổng hợp được các hình thức xử lý CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện thể hiện tại Bảng 2.4
CTR sinh hoạt
Hộ gia đình phân loại và tự xử lý
Công ty môi
trường đô thị