1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát đánh giá hiện trạng ô nhiễm đề xuất phương pháp quy hoạch và quản lý nước thải thành phố vinh tỉnh nghệ an

126 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 13,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, nước thải không được phân luồng đã thoát chung với nước mưa, không được tách ra và xử lý đã gây ô nhiễm trong các mương thoát nước và làm suy thoái chất lượng môi trường nước m

Trang 1

********************************

Trang 2

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 3

Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo của tỉnh Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ, là đầu mối giao lưu kinh

tế văn hoá trong vùng, trong nước và quốc tế Thành phố Vinh được coi là thành phố có cơ sở hạ tầng khang trang và môi trường xanh, sạch, đẹp Trong tương lai, thành phố sẽ mở rộng và vươn theo các hướng Bắc, Đông Bắc và Đông Nam Thành phố Vinh nằm trong trục tam giác du lịch của tỉnh Nghệ An, là một trong bốn tỉnh trọng điểm du dịch của cả nước được Chính phủ phê duyệt Vinh có nhiều cảnh quan hấp dẫn, nhiều di tích lịch sử văn hoá có giá trị, là một vùng đất tiềm năng về du lịch Núi Quyết nằm bên bờ sông Lam, bên kia là dãy Hồng Lĩnh với phong cảnh sơn thuỷ hữu tình (thu hút khách du lịch) Dọc theo sông Lam xuống Hưng Hoà có rừng bần ngập mặn với diện tích hơn 68 ha, với hàng vạn con chim khác loại tạo nên một vườn chim tự nhiên hấp dẫn, nơi đây là một vùng du lịch sinh thái đầy tiềm năng Di tích lịch sử văn hoá có Phượng Hoàng Trung Đô, thành cổ Vinh, đền Hồng Sơn cùng một số di tích lịch sử cách mạng như cột cờ Bến Thuỷ, làng đỏ Hưng Dũng

Tuy nhiên do được xây dựng lại từ những năm 70 của thế kỷ 20, hạ tầng đô thị xuống cấp nghiêm trọng không đáp ứng được vấn đề gia tăng dân số và kinh tế phát triển, vấn đề nước sạch và xử lý nước thải vẫn đang là nỗi bức xúc, lo lắng của các cấp lãnh đạo tỉnh, đặc biệt là của người dân sống trong những vùng bị ô nhiễm nặng do nước thải gây nên Theo một báo cáo mới đây của UBND thành phố Vinh

về môi trường đô thị thì bình quân mỗi ngày, lượng nước thải nói chung (sinh hoạt, công nghiệp, bệnh viện ) của thành phố đổ vào mương thoát ước tính trên 10.000m3 Phần lớn lượng nước thải này đều chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt chuẩn cho phép và đều đổ chung vào hệ thống thoát nước mưa đô thị

Cho đến nay chưa có các số liệu tài liệu phân tích, đánh giá và thống kê tổng hợp về hiện trạng ô nhiễm do nước thải đô thị của thành phố Vinh Trong khi đó

Trang 3

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 4

thoát nước cần thiết phải có những số liệu điều tra, phân tích, đánh giá sát thực

về hiện trạng ô nhiễm do nước thải của thành phố Vinh làm căn cứ, cơ sở khoa học để có những kế hoạch, quy hoạch, chính sách phát triển đúng đắn và kịp thời nhằm ngăn ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường một cách có hiệu quả Thành phố Vinh hiện nay có dân số khoảng 230.000 người và dự kiến dân số đến năm 2030 khoảng 450.000 người, với nhiều cơ sở Công nghiệp, bệnh viện, trường học, dịch vụ Thành phố nằm ở cửa sông Lam, có cốt địa hình khoảng 3 – 6m trên mực nước biển Đặc biệt trong những ngày mưa lớn thành phố xảy ra ngập lụt cục bộ do nước mưa không thể thoát ra ngoài thành phố vì mực nước trong các con sông cao Cần có giải pháp để giảm sự thiệt hại về kinh tế

Ngoài ra, nước thải không được phân luồng đã thoát chung với nước mưa, không được tách ra và xử lý đã gây ô nhiễm trong các mương thoát nước và làm suy thoái chất lượng môi trường nước mặt, nước ngầm của thành phố, gây ảnh hưởng đáng quan tâm tới đời sống, sức khoẻ cộng đồng và đe doạ lây lan dịch bệnh cho nhân dân thành phố

Vì vậy, để phục vụ cho nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cũng như việc quy hoạch phát triển đô thị trong tương lai một cách bền vững, việc điều tra, đánh giá thực trạng ô nhiễm nước thải đô thị của thành phố Vinh là vấn đề rất bức xúc Đồng thời trên cơ sở các thông tin thu thập được, lựa chọn phương án

và xây dựng mô hình xử lý nước thải tại các khu vực có khối lượng nước thải

lớn, tải lượng ô nhiễm cao, nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng Đề tài “Khảo sát, đánh giá hiện trạng ô nhiễm, đề xuất phương án quy hoạch và quản lý nước

th ải thành phố Vinh – tỉnh Nghệ An” nhằm đưa ra các giải pháp thoát nước

mưa, nước thải, và xử lý nước thải, phù hợp với quy hoạch phát triển của thành phố đến năm 2030

Trang 4

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 5

Mục tiêu của đề tài

Trên cơ sở điều tra, khảo sát, phân tích và đánh giá hiện trạng nước thải, đề xuất giải pháp thu gom và xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi

trường cho thành phố Vinh

Phạm vi nghiên cứu và địa điểm thực hiện

Điều tra, khảo sát, phân tích và đánh giá hiện trạng nước thải sinh hoạt ở một số khu tập trung dân cư điển hình tại thành phố Vinh như: Khu kinh doanh buôn bán, trường học, khu nhà ở tập thể, khối dân cư nội thành, xóm dân cư ngoại thành

Nội dung thực hiện

1 Khảo sát, thu thập số liệu tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; hiện trạng hệ thống thoát nước thải tại thành phố Vinh

2 Điều tra, phân tích, đánh giá chất lượng nước thải thành phố Vinh

3 Nghiên cứu, cải tạo lại hệ thống thoát nước thải và nước mưa

4 Đánh giá tải lượng ô nhiễm, đề xuất công nghệ và thiết kế hệ thống xử lý nước thải tập trung cho thành phố Vinh

Trang 5

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 6

VÀ QUI HOẠCH THÀNH PHỐ VINH ĐẾN NĂM 2030

I.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, KT-XH thành phố Vinh

I.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý

Thành Phố Vinh nằm ở toạ độ địa lý 18040"Vĩđộ Bắc và 105040" Độ kinh Đông

- Phía Đông, Bắc giáp huyện Nghi Lộc

- Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh

- Phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên

Vinh là giao điểm của các tuyến giao thông Bắc Nam và Đông Tây Đường Quốc Lộ 1A và đường Sắt Bắc Nam chạy qua, là đầu mối giao thông của các đường Quốc Lộ 46, 48, 7, 8 đến các huyện trong tỉnh, ngoại tỉnh và đi nước bạn Lào, Thái Lan

Thành phố Vinh cách cảng Cửa Lò 17 km, là một cảng Quốc tế quan trọng không chỉ của Nghệ An, Bắc Trung Bộ mà còn cho nước bạn Lào và Đông Bắc Thái Lan trong quá trình hợp tác giao lưu Quốc tế với các nước trong khu vực và trên Thế giới

Sân bay Vinh có các tuyến bay trong nước, đang được nâng cấp để có các tuyến bay đường dài và Quốc tế

Thành Phố Vinh có 13 phường, 5 xã, diện tích đất tự nhiên 67,71 km2, được phân bổ như sau:

Bảng 1.1: Diện tích các phường, xã [1]

Tên ph ường xã Diện tích (ha)

Trang 6

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 7

- Địa hình, địa mạo

Địa hình Thành phố Vinh được kiến tạo bởi hai nguồn phù sa, đó là phù sa sông Lam và phù sa của biển Địa hình nằm trên một khu vực bằng phẳng, cao hơn

mực nước biển khoảng +4 m, nhưng không đơn điệu bởi có ngọn núi Quyết Núi Quyết nằm ở phía đông Thành phố, ven bờ sông Lam

Về phía Nam và Đông nam, Thành phố được bao bởi hai dòng sông, đó là sông Lam và sông Rào Đừng Sông Rào Đừng là con sông nhỏ, bắt nguồn từ chân núi Đại Huệ, khi qua Vinh thì chảy qua các phường Cửa Nam, Vinh Tân, Hồng

Sơn,và Trung Đô sau đó hợp với sông Lam để đổ ra biển Sông Lam (sông Cả)

là dòng sông lớn nhất tỉnh Nghệ An Lưu vực sông Cả với diện tích lưu vực đạt

27500 km2, trong đó trên đất Lào chiếm 34,8% Toàn lưu vực có chiều dài sông

531 km, trong đó phần Việt Nam là 361 km Bắt nguồn từ vùng núi Pu Nam Pa -

Pu San – Lào có độ cao (1800-2000)m, sông chảy theo hướng Tây, khi qua Thành phố Vinh, dòng sông mở rộng ra, uốn khúc và chảy chậm ra biển

Bề mặt địa hình dốc thoải xuống phía biển 14 km về phía Đông và về phía Tây

bề mặt tương đối bằng phẳng với cùng một độ dốc Giữa Vinh và Cửa Lò có rất nhiều đụn cát trải dài hướng song song với bờ biển, cao hơn mực nước biển khoảng +5m,

Trang 7

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 8

trải dài hướng về phía đất liền bắt đầu từ một địa điểm cách Vinh 6 km về hướng tây Đá tại sườn đồi núi bị phong hoá một phần tới toàn bộ, và các vật liệu bị phong hoá tạo thành một phần của lớp đất đá trên cùng Lớp đất đã này được che

phủ bởi cỏ dại, cây cối và rừng

- Đặc điểm khí hậu

Thành phố Vinh có hai mùa rõ rệt, mùa khô bắt đầu giữa tháng 03 đến tháng 08, mùa mưa từ tháng 09 đến tháng 02 năm tới Lượng mưa hàng tháng trung bình (bằng mm) ở thành phố Vinh được thể hiện trong bảng 2 Các phạm vi nhiệt độ

từ nhiệt độ tối đa hàng ngày 37- 38oC trong tháng 05 tới tháng 08, nhiệt độ cao

nhất hàng ngày là 42.1o, nhiệt độ thấp nhất hàng ngày là 12-18oC trong tháng 01 đến tháng 03, thấp nhất tuyệt đối là 4oC Độ ẩm trung bình từ 85 đến 90%

B ảng 1.2 - Lượng mưa trung bình hàng tháng ở Vinh [2]

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII T ổng

c ộng

mm 52 44 46 61 136 116 122 188 490 427 191 68 1944

Thành phố Vinh nằm dọc Sông Lam và kéo dài đến biển Đông đặc biệt dễ bị ngập lụt khi kết hợp giữa thuỷ triều và mực nước sông cao Đặc biệt sự kết hợp này là vào năm 1978 một diện tích rộng lớn của thành phố bị ngập lụt Dự kiến

rằng tần suất của trận lũ năm 1978 đã có một khoảng thời gian xuất hiện trở lại

là 100 năm Lượng mưa được ghi lại ở Vinh thực tế là thấp hơn năm 1973 tuy nhiên lưu lượng sông Lam đươc ghi lại tại Trạm Yên Thượng, ở thượng nguồn cách cửa sông khoảng 35 km là gần gấp đôi, chi tiết trong bảng 1.2 Rõ ràng là

lượng mưa trong lưu vực rộng 27.500 km2 của Sông Cả không liên quan đến

lượng mưa được ghi lại ở Vinh

Trang 8

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 9

Hình 1.1 Thể hiện phạm vi ngập lụt xẩy ra năm 1978 Từ đó đã đưa ra nhiều giải pháp để đảm bảo rằng sự ngập lụt này sẽ không xẩy ra một lần nào nữa Quan trọng nhất là xây dựng một hệ thống đê bảo vệ dọc sông Đào và bara tại ngã ba sông Đào với sông Lam Một vấn đề nữa là cần xây dựng các trạm bơm tiêu để

bơm ra sông lượng nước mưa dư thừa trong thành phố khi mưa lớn Cuối cùng

là đưa ra những giải pháp an toàn trong quá trình lập thiết kế để làm giảm ngập lụt cục bộ xảy ra trong thành phố Vinh

Trang 9

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 10

hình nhìn chung cản trở đáng kể quá trình tiêu thoát nước khi có mưa lớn hoặc mưa cục bộ Hơn thế nữa do quy hoạch không chặt chẽ, một số tuyến đường bị đào bới gây ra lồi lõm.Mương thoát nước không được bảo dưỡng và vệ sinh

thường xuyên gây ứ đọng nhiều rác thải dẫn đến cản trở dòng chảy thoát nước

của mương

- Địa chất thuỷ văn [1]

Đặc điểm cá thành tạo địa chất

Vùng nghiên cứu chỉ có mặt các thành tào trầm tích, trầm tích biến chất, và việc nghiên cứu chúng được tiến hành thống nhất thông qua các phân vị địa tầng đại

diện cho từng thời đoạn địa chất thành tạo và cơ chế hình thành

Các phân vị địa chất trong khu vực TP Vinh nhìn chung không có sự phân dị nhiều chúng chủ yếu là các thành tạo cát kết, đá phiến chất nhẹ, đá ryolit thuộc

hệ tầng Sông Cả, Đồng Trầu và các thành tạo cuội sỏi, cát, bột, sét thuộc về trầm tích trong các thời kỳ Pleistocen và Holocen Các đặc điểm cơ bản của lớp phủ

rắn khu vực TP Vinh bao gồm:

A Giới Paleozoi

+ Hệ Ocdovic thống trên – Hệ Silua thống dưới

Khu vực TP Vinh chỉ bắt gặp một đối tượng đại diện cho giới Paleozoi, đó là hệ tầng Sông Cả Tuy vậy, trong 3 phụ hệ tần của hệ tầng Sông Cả thì khu vực nghiên cứu chỉ có các thành tạo thuộc phụ hệ tầng trên (03-S1sc3)

Thành tạo lộ ra bề mặt chính là khu Núi Quyết, ở phía nam TP Vinh với tổng diện tích xấp xỉ 1km2 và một chỏm nhỏ lở Hưng Dũng với diện tích khoảng 500 m2 Thành phần thạch học bao gồm đá phiến sét sericit, đá phiến thạch anh sericit,

đá phiến silic màu xám đen xen kẹp lớp mỏng phun trào axit bị phong hoá

mạnh

Trang 10

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 11

xúc kiến tạo với trầm tích lục nguyên Mezozoi hoặc là bị phủ bất chỉnh hợp bởi trầm tích bở rời Đệ tứ

B Giới Mezozoi

+ Hệ Triat thống giữa

Chỉ có Hệ tầng Đồng Trầu (T2ađt)- Phụ hệ tầng dưới (T2ađt1), phân bố chủ yếu

ở phía tây và tây bắc vùng, và bị khống chế bởi các đứt gãy F1 và F2 Chúng không xuất lộ trên mặt mà bị phủ bởi các trầm tích Đệ tứ

Thành phần thạch học của phụ hệ tầng cho thấy chúng có cấu tạo phân lớp không đều, và không có sự phân nhịp Chúng là các thành tạo lực nguyên gồm cát kết hạt nhỏ đến vừa, bột kết, sét kết màu xám xanh, tím nhạt phân lớp mỏng đến vừa, xen kẹp các lớp cuội, sạn kết màu xám hơi vàng và các thấu kính ryolit, tuff bị phong hoá mạnh có màu xám vàng, nâu đỏ

C Giới Kainozoi

+ Hệ Đệ tứ

Bao gồm cả hai thống Pleistocen và Holocen

Trong thống Peistocen gồm các hệ tầng Hoàng Hoá (aQ1hh), Hệ tầng Hà Nội

không lộ trên bề mặt mà bị phủ bởi các trầm tích trẻ hơn, độ sâu từ 45 – 80m Đặc điểm thạch học của hệ tầng Hoàng Hoá là các trầm tích nguồn gốc có độ hạt thô có độ gắn kết yếu, bao gồm cuội, sỏi sạn, cát lẫn ít sét Hệ tầng Hà Nội có thành phần học chỷ yếu là cuội, sỏi, sạn (chiếm 86-96%) và có rất ít cát (2 – 9%), bột sét (2 – 5%) Hệ tầng Vĩnh Phúc có thành tạo không lộ trên mặt, và độ dày của thành tạo không lớn Chúng có nguồn gốc thành tạo chính là trầm tích sông và sông – biển Thành phần thạch học chủ yếu là cát hạt trung đến mịn, lẫn

ít bột sét có màu xám vàng, xám nâu gắn kết yếu (trầm tích sông) và sét bộ có

Trang 11

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 12

sông – biển),

Trong Thống Holocen – phụ thống hạ trung gồm các hệ tầng Thiệu Hoá (QIV

1-2th) được chia thành 3 phụ hệ tầng tương ứng với 3 tướng thành tạo: biển - đầm

lầy (mbQIV1-2th), sông – biển (amQIV1-2th) và biển (mQIV1-2th)

Trong Holocen – phụ thống thượng có hệ tầng Thái Bình (QIV3tb) phân bố chủ yếu ở phía đông nam TP Vinh Dựa vào đặc điểm trầm tích, điều kiện và thời gian thành tạo có thể chia hệ tầng Thái Bình thành hai phụ hệ tầng: Hệ tầng Thái Bình – Phụ hệ tầng dưới (QIV3tb1) bao gồm các thành tạo trầm tích biển - đầm lấy và trầm tích biển; và Hệ tầng Thái Bình – phụ hệ tầng trên (QIV3tb2) là các thành tạo trầm tích hiện đại, có mối liên qua chặt chẽ với các hoạt động nhân sinh như quá trình đắp đê, tạo đầm, cải tạo đồng ruộng

Chế độ Địa động lực nội sinh

Chế độ địa động lực nội sinh hiện tại khu vực nghiên cứu được thể hiện thông qua các phức hệ cấu trúc đại diện cho những bối cảnh địa động lực trong quá khứ và những hoạt động tân kiến tạo hiện nay

TP Vinh nằm trong đới kiến tạo Thanh – Nghệ Tĩnh, thuộc phần yên ngựa của

phức hệ nếp lối lớn Paleozoi giữa (Phức hệ Sầm Nưa) Trong cấu trúc được chia thành các phức hệ thạch kiến tạo sau:

* Phức hệ Paleozoi hạ: Có cấu trúc dưới dạng thành hệ cận địa máng, và chỉ phân bố với diện nhỏ khoảng 1 km2 ở tại khu núi Quyết Diện tích của phức

hệ khá lớn và bị phủ bởi trầm tích Đệ tứ có chiều dày 30 – 50m

Các thành tạo này bị biến chất nhè, gồm các đá phiến thạch anh sericit, đá phiến sét, đá phiến silic chứa mangan, đá phiến epidot-actinonit, cát bột kết, quarzit

Trang 12

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 13

kiến tạo Mezozoi sớm, phân bố chủ yếu ở góc tây bắc thành phố nhưng không lộ

phần có sự chuyển đổi từ trầm tích hạt thô, cuội sỏi, sạn cát lên sét bột và thành

tạo này có chiều dày từ vài chục đến hơn 100 m

Đặc điểm tân kiến tạo quan trọng nhất ở khu vực TP Vinh là trạng thái ứng xuất kiến tạo hiện đại và các đứt gãy hiện đại

Theo Nguyễn Trọng Yêm và nnk (1985), Nguyễn Đình Hoè và nnk (1994), thì khu vực TP Vinh nằm trong trường ứng xuất kiến tạo trượt bằng có nguồn gốc

do tương tác của các mảng ấn - á, trong đó trục ứng suất δ1 năm ngang theo

phương á vĩ tuyến và trục δ2 lân cận thẳng đứng

Đáng chú ý nhất là đứt gãy hiện đại ở vùng Bến Thuỷ, có đường phương gần trùng với vùng hạ lưu sông Lam, và là đứt gãy thuật Đứt gãy này đã tạo nên đới

dập vỡ khu vực Bến Thuỷ dưới dạng một nút phá huỷ kiến tạo phức tạp, nhưng trong giai đoạn hiện tại thể hiện là đứt gãy thuận và khe nứt tách có phương á kinh tuyến và đông bắc – tây nam

Chế độ địa động lực ngoại sinh

Nhóm những quá trình địa động lực ngoại sinh đóng vai trò to lớn đối với các

hoạt động sản xuất và đời sống cư dân trong vùng Cường độ của các quá trình này một phần phụ thuộc và thành phần vật chất nền rắn đã nêu ở trên, một phần

bị chi phối mạnh bởi các thông số trắc lượng hình thái địa hình và diện mạo các

Trang 13

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 14

tự nhiên và các quá trình mang thuộc tính do con người tạo nên

- Các yếu tố ngoại sinh tự nhiên là nhóm các thông số trắc lượng hình thái địa hình do chính cá thực thể tự nhiên quy định, trong đó bao gồm độ phân cắt ngang, chia cắt sâu, năng lượng địa hình, và độ dốc của địa hình Độ chia cắt ngang của khu vực nghiên cứu chỉ ở mức độ trung bình (0.6 – 0.8 km/km2), độ phân cắt sâu rất nhỏ, chỉ đạt giá trị 2 – 5m/km2 (trừ đột biến ở khu vực núi Quyết lên đến 102m/km2 và như là hệ quả, giá trị độ dốc địa hình cũng rất thấp, trong khoảng 0 – 30/km2 Như vậy có thể thấy rằng nếu đánh giá đơn thuần thông qua những thông số trắc lượng hình thái địa hình, thì có thể thấy rằng mức

độ lan truyền, di chuyển vật chất theo diện (kể cả chây gây ô nhiễm) trong không khí là lớn, trong khi trong môi trường nền rắn là khá chậm chạp Do là một khu vực mang đặc tính đồng bằng ven biển, được hình thành do hoạt động

kết hợp sông, biển và đầm lầy, nên thành phần nền rắn chủ yếu là các thành tạo cát bột với diện phân bố rộng rãi Với hợp phần này thì tính chất thấm hút và di chuyển dòng vật chất là khá tốt, và chúng trở thành yếu tố cộng ứng trong lan truyền ô nhiễm

- Các yếu tố ngoại sinh nhân tác: Đối với khu vực đô thị Vinh, các hoạt động KT-XH đã làm biến đổi rất nhiều cơ chế và quá trình tự nhiên và hình thái địa hình của chúng Song quan trọng nhất đó là các công trình đê Sông Lam, hệ thống giao thông, thuỷlực và các nhà máy nước

Việc xây dựng đê sông Lam là tác nhân gây ngăn cản bồi đắp phù sa cho vùng đất nông nghiệp, và làm mất đi lượng dinh dưỡng tự nhiên cho vùng đất nông nghiệp ở đây Đồng thời gây cản trở quá trình rửa hạt tự nhiên cho vùng đất phía Đông - Đông Bắc, và gây nên hiện tượng ứ phèn ở đây

Hệ thống giao thông, đặc biệt là quốc lộ 1A đã hình thành nên mạng lưới đê nhân tạo, gây cản trở thậm chí ngăn chặn dòng di chuyển vật chất tự nhiên trong

lớp phủ nền rắn của vùng Và như vậy, nó cũng chi phối đến các quá trình di

Trang 14

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 15

xương sống nổi cao của địa hình khu vực mà ở đó tách thành hai nhóm dòng di chuyển vật chất theo diện có chiều gần như trái ngược nhau, một phần tập trung

về phía tây, một phần tập trung về phía đông và đông nam Ngoài ra hệ thống đường nhánh cũng được xem như là những đê nhân tạo mang tính chất phân nhánh từ trục xương sống

I.1.2 Đặc điểm kinh tế xó hội [4]

Thành phố Vinh có diện tích 6.694,51 ha Dân số năm 2006 là 240.270 người,

mật độ 3.589,06 người/km2, GDP bình quân/người/năm xấp xỉ 16,5 triệu đồng;

là trung tâm, kinh tế, văn hoá xã hội của Tỉnh Nghệ An

Hiện tại, thành phố Vinh đang trong quá trình nâng cấp kết cấu hạ tầng KT-XH

nhằm mục tiêu trở thành Trung tâm kinh tế, văn hoá khu vực Bắc Trung Bộ (theo Quyết định số 239/2005/QĐ.TTg ngày 30/9/2005 của Thủ tướng Chính

phủ) và phấn đấu trở thành đô thị loại I vào năm 2020

Hiện dân số làm việc trong các ngành kinh tế là 84.000 người, số lượng có trình

độ cao đẳng, đại học và trên đại học chiếm 12,4%

- V ề phát triển kinh tế:

Kinh tế thành phố tiếp tục có tốc độ tăng trưởng khá Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng

Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng 17,5% Một số sản phẩm có

sản lượng tăng khá như: Phân NPK, phân vi sinh: 18,5%, bia chai: 15,5%, dầu tinh luyện: 65,0%, gỗ mỹ nghệ : 60,0% ; ống thép mã kẽm 50,0% ; tấm lợp phirôximăng : 40,0% ; đá tinh khiết : 33,6% và một số sản phẩm mới được sản

xuất trên địa bàn : Lắp ráp đồng hồ, xốp cách nhiệt, rượu volka Nghệ An Năm

2006 có 371 doanh nghiệp mới được thành lập tăng 3,0% so với cùng kỳ Công tác quy hoạch và đầu tư xây dựng các khu công nghiệp nhỏ có nhiều chuyển

Trang 15

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 16

chuyển biến khá

Các ngành dịch vụ đạt được kết quả tích cực, giá trị sản xuất tăng 16% Hoàn thành kế hoạch triển khai đề án quy hoạch xây dựng phát triển hệ thống chợ, phố chuyên kinh doanh, chỉ đạo các phường, xã có điều kiện hình thành phố ăn đêm

Cấp được 1.027 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các hộ Các doanh nghiệp và doanh nhân trên địa bàn thành phố được quan tâm

Thu hút đầu tư có nhiều tiến bộ Đã phê duyệt dự án cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước thành phố Vinh giai đoạn 2, khởi công dự án khu liên hợp xử lý chất

thải rắn với quy mô 53 ha ở Nghi Yên Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2006 đạt 3.065 tỷ đồng tăng 32,6% so với cùng kỳ, chiếm 30,5% so với toàn tỉnh Nông nghiệp ngoại thành có chuyển đổi tích cực: Cơ cấu cây trồng hợp lý, hiệu quả hơn, năng suất và giá trị trên đơn vị diện tích đạt khá Một số sản phẩm nông nghiệp có sản lượng tăng khá : Rau các loại đạt 10.000 tấn tăng 7,5%, tôm đạt 124 tấn tăng 14,8%, cá thịt đạt 708 tấn tăng 11,3%

Thu ngân sách trong năm 2006 có mức tăng trưởng khá, hầu hết các khoản thu đều tăng so với cùng kỳ Tổng thu ngân sách nhà nước phân cấp thành phố thu: 274,5 tỷ đồng, đạt 74% kế hoạch năm 2006, tăng 15% so với cùng kỳ, trong đó

một số khoản thu khách có mức tăng cao so với cùng kỳ như : thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh tăng 21,4%, tiền thuế đất tăng 22%, thuế chuyển quyền sử dụng đất tăng 19% chi ngân sách năm 2006 của thành phố : 236,4 tỷ đồng, đạt 95% kế hoạch năm, tăng 4% so với cùng kỳ, trong đó chi trong cân đối của nguồn thu năm 2006 : 175,7 tỷ đồng, chi ngân sách thường xuyên cơ bản

ổn định, đảm bảo nguồn kinh phí phục vụ kịp thời cho các hoạt động của hệ

thống hành chính sự nghiệp

- V ăn hoá, giáo dục và y tế

Triển khai cuộc vận động “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” Có thêm 8 trường đạt chuẩn Quốc gia, đưa tổng số trường

Trang 16

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 17

trung tâm học tập cộng đồng đang dần phát huy được hiệu quả Công tác dạy nghề được quan tâm đúng mức

Hoạt động văn hoá - văn nghệ quần chúng, lễ hội diễn ra sôi nổi Thực hiện tốt phong trào: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá Đăng ký 123 đơn vị,

khối xóm, cơ quan, trường học phấn đấu xây dựng danh hiệu đơn vị văn hoá năm 2006 Xây dựng tiêu chí “Ngõ phố văn minh” Chỉ đạo các phường, xã xây dựng kế hoạch phát triển thể dục thể thao đến năm 2010 và tổ chức thành công các hoạt động thể dục thể thao trên địa bàn

Công tác y tế, dân số gia đình, trẻ em đạt nhiều kết quả tích cực Triển khai tốt công tác phòng dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm Chỉ đạo, kiểm tra và trình tỉnh thẩm định 6/7 phường xã đủ tiêu chuẩn đề nghị công nhận đạt chuẩn quốc gia y tế năm 2006, đưa tổng số phường xã đạt chuẩn quốc gia về y tế lên 15/20

phường xã

Khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, đạt 100% kế hoạch 100% trẻ em (122 em) có hoàn cảnh đặc biệt đều được chăm sóc tại gia đình và cộng đồng 98% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ ký cam kết sinh đẻ có kế hoạch Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn 5%, giảm so với cùng kỳ 0,7%

- H ạ tầng cơ sở (cấp thoát nước và điện)

Nước sạch và nước sinh hoạt:

Hiện nhà máy nước Vinh có công suất là 60.000 m3/ngày đêm Vì vậy nước sạch hiện đáp ứng đủ 100% tổng số hộ dân trong thành phố Vinh Hệ thống đường ống được trang bị tương đối hiện đại, đảm bảo vệ sinh phục vụ sản xuất và sinh hoạt

N ăng lượng điện:

Nguồn điện của thành phố được xây dựng nhiều tuyến cao thế với tổng công suất lắp ráp là 500.000 KW Hiện nay điện lưới được phủ 100% trên địa bàn thành phố, điện rất ổn định cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 17

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 18

Với địa hình của thành phố Vinh dốc thoải về hướng Đông Nam, có số lượng mương thoát nước lớn, hoạt động như những đường cắt quan trọng cho các lưu vực trong thành phố Những mương này là:

- Kênh Bắc phục vụ một lưu vực tổng cộng khoảng 1373 ha ở phía Bắc thành phố;

- Mương Đông Vĩnh phục vụ phía Tây bắc, phía Tây đường sắt;

- Mương số 1, mương hộp kín được nối với Hồ Thành và đổ ra trạm

bơm tại Hồ Cửa Nam với một mương nhỏ từ đường Quang Trung tới

Hồ Thành

- Mương Hồng Bàng phục vụ trực tiếp lưu vực Quang Trung và Bắc đường Hồng Bàng, hiện nay thiếu công suất Nước được thu gom chảy trong mương đất hở tới Sông Đào

- Mương số 2 phục vụ lưu vực giữa Kênh Bắc và khu phát triển phía Nam

hồ Vinh Tân Đây là mương hiện có và nước thải được đổ ra Sông Đào thông qua cửa phai Khu vực này nằm trong quy hoạch phát triển Vinh Tân và cần có những giải pháp để quản lý và kiểm soát dòng chảy

- Mương số 3 phục vụ lưu vực giữa Kênh Bắc và phía Đông của Mương

số 2 Mương xả ra sông Lam thông qua cống ngang trên đường Ven Sông Lam mới Cống này được xây dựng tại cửa kiểm soát ngăn nước

từ Sông Lam khi mực nước sông cao

Hệ thống nước thải sinh hoạt và sản xuất còn chung với hệ thống thoát nước

mưa đô thị Nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và nước thải y tế không được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để đổ thẳng vào mương thoát nước chung gây ảnh hưởng đến môi trường nước mặt, nước ngầm và đất của thành phố

Hiện toàn bộ hệ thống mương dẫn thải đều là kênh mương đất và hở Các kênh đào chủ yếu là chảy chỗ trũng và một số kênh đào theo kênh hướng dòng Về cơ

Trang 18

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 19

thiết diện không đủ, chiều dài chưa đủ mặt cắt đường thiết kế…) vì vậy không đáp ứng được yêu cầu thoát nước của thành phố

Mạng lưới đường phố và đường xóm trong thành phố thường xây kèm mương thoát nước với kết cấu khác nhau Các mương nhỏ hai bên đường đi qua trước các ngôi nhà được xây dựng là mương hở Những mương này chuyển tải không chỉ lượng nước mưa dư thừa mà còn cả nước thải từ các hộ gia đình Các chủ hộ thường làm nắp cho đoạn mương qua nhà để hạn chế ô nhiễm và an toàn, dẫn đến

giảm hiệu quả của mương trong việc chuyển tải nước mưa khi lượng mưa lớn

Để đảm bảo thoát nước cân mở rộng dần đều các mương này và sử dụng cống tròn, mương hộp Các mương thoát nước chính còn nhiều do nền đường không đúng cao độ và thiếu tuyến mương thoát nước phụ

Trang 19

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 20

I.2 Định hướng phát triển kinh tế - xó hội đến năm 2020 và năm 2030

Theo Quyết định số 49/2000/QĐ-TTg, ngày 21/04/2000, Thủ tướng chính phủ

đã phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch tổng thể thành phố Vinh đến năm 2020, theo Quyết định số 35/1999/QĐ-TTg, ngày 05/03/1999 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống thoát nước đô thị Việt Nam đến 2020 Quyết định số 49 đã được bổ sung vào tháng 09/2005 bằng Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg, ngày 30/09/2005, của Thủ tướng chính phủ “Phê duyệt dự

án phát triển thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thành trung tâm văn hoá và kinh tế Bắc miền trung Việt Nam”

Những Quyết định này là cơ sở cho định hướng phát triển lâu dài thành phố Vinh và để UBND tỉnh ra quyết định lập các quy hoạch chi tiết: phía Nam thành phố Vinh, khu vực phía Bắc Vinh – Nghi Lộc và Cửa Lò; công viên Thành cổ; Khu công nghiệp Bắc Vinh; quy hoạch chi tiết công viên xanh; thoát nước và vệ sinh môi trường đến năm 2020; và cho 12 phường (Những bản đồ liên quan được đính kèm trong Phụ lục)

I.2.1 Định hướng phát triển dân số.[5]

Theo quy hoạch tổng thể thành phố Vinh, dự báo tỷ lệ tăng trưởng hàng năm đến năm 2030 là 3.2%, trong đó tăng trưởng tự nhiên 1.0 % và tăng trưởng cơ học 2.2%

Dự báo tăng trưởng dân số thành phố Vinh và các khu vực xung quanh so sánh với số liệu thực tế năm 2005 cho thấy không sai khác lớn so với thực tế Năm

2010 dân số tăng thêm 20% và 63,3% (2030) so với năm 2005

B ảng 1.5:Dự kiến dân số Trung tâm thành phố Vinh (dữ liệu năm 1997,

2005)

STT Yếu tố Đơn vị Thnăm 1997 ực tế 2005 Dự đoán Thực tế

T ổng dân số Người 207,000 275,000 234,185

1 Khu vực nội thành Người 156,000 227,000 179,843

Trang 20

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 21

có xu thế giảm dân số ở vùng ngoại thành

B ảng 1.6 - Phân bổ dân số trong khu vực[5]

Đánh giá số liệu dân số như trong hình 1.2 Đã chỉ ra dự báo dân số của quy

hoạch tổng thể và tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của thành phố Vinh từ 1980

Trang 21

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 22

Tính toán sự di trú ở nông thôn và tăng trưởng từ dịch vụ/công nghiệp, dự báo dân số tương lai, dựa vào tỷ lệ tăng trưởng trung bình 2.5%, đã được thể hiện trong hình 1.2 Dự báo thành phố Vinh là 450,000 người vào năm 2030, năm

2015 sẽ là 300,000 người là con số để chúng ta xác định qui mô quy hoạch, quản

lý nước thải

B ảng 1.7 - Dự báo tăng trưởng dân sốvà thực tế [5]

Năm Dân số Tỷ lệ tăng dân số Tỷ lệ đề xuất 2.5%

Dõn s ố _

growth rate Masterplan 2020 2.5 % annual growth

Trang 22

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 23

Số liệu in nghiêng là thực tế thu thập

Cột dân số hiện có và dân số năm 2030 theo quy hoạch

Tỷ lệ tăng dân số trung bình lấy năm 1980 làm gốc tính

toán

Dự án lấy tỷ lệ tăng 2.5 % từ năm 2005

I.2.2 Định hướng phát triển không gian đô thị

Mục đích chính của quy hoạch là phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp với sự phát triển của thành phố trong tương lai và bảo vệ môi trường, sinh thái các khu vực

có liên quan Cụ thể là:

- Trùng tu Thành c ổ để bảo tồn giá trị lịch sử và cảnh quan;

Xây dựng các khu vực đô thị phát triển mới hai bên Sông Đào, giữa đường quốc

lộ 1A và đường tránh ở Nam sông Đào;

Xây dựng mương thoát nước chính Kênh Bắc với các mương kết nối, cửa xả và

hồ điều hoà

Trang 23

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 24

- Xây d ựng công viên Thành Cổ

Mục đích cơ bản của việc xây dựng khu vực Thành cổ là tạo ra một di tích lịch

sử và dự kiến tạo thành một khu vực giải trí Thành cổ được xây dựng lại vào

năm 1831 bằng đá ong và dưới thời Tự Đức nó đã được sửa lại và được nâng

cấp

Trong quy hoạch phát triển công viên Thành cổ tập trung vào xây dựng các khu vực nhà cửa chiều cao không vượt quá hai tầng, mật độ xây dựng 10 – 15 % Hào xung quanh Thành cổ được nạo vét, tường được xây lại và khu vực chung được trồng cây cảnh

Nước mưa sẽ được xả vào Hồ Thành và hồ Cửa Nam Nước thải được xử lý tại chỗ trước khi xả ra mương thoát

Quy hoạch lâu dài cải tạo Thành cổ tới các đường biên giới sẽ bao gồm cả việc tái định cư một số lượng lớn dân cư như được thể hiện trong bản đồ ở Phụ lục

- Phát tri ển đô thị khu vực thành phố Vinh

Định hướng tổ chức không gian đô thị: Tổ chức hệ thống trung tâm và đường phố: Trung tâm thành phố là trục đường Trường Thi, bắt đầu từ ngã ba Trường Thi đến hết trục đường Quy hoạch mở rộng các khu đô thị mới chủ yếu là đô thị Nam thành phố Vinh và dọc hai bên tuyến đường V-Lê nin với các công trình kiến trúc cao tầng, hiện đại hình thành các khu đô thị mới, định hướng phát triển bao gồm:

- Quy hoạch phát triển các 05 khu đô thị mới dọc trục đường V.Lê nin và đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh, với tổng cộng diện tích phát triển là 1000 ha

Với cơ sở hạ tầng đã được xây dựng hoàn thiện phục vụ khoảng 41.900 người

- Quy hoạch cho khu vực giữa đường quốc lộ 1A và đường tránh phía nam Sông Đào được phê duyệt bởi UBND tỉnh vào năm 2005 Bao gồm tổng

Trang 24

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 25

tất cả các lĩnh vực về con người, môi trường, sinh thái, công nghệ và tài chính

Quy hoạch tổng thể dự đoán phát triển khu vực các này có hai giai đoạn, mỗi khu vực được mô tả là:

Phát triển khu vực được giới hạn bởi phía bắc là đường quốc lộ, phía đông là Sông Lam, phía nam và tây là sông Đào bao gồm cả xây dựng đường tránh thay cho đường quốc lộ đi trong thành phố San lấp mặt bằng khu vực này đã được

bắt đầu khi Dự án đầu tư cho khu vực Vinh Tân đã được tiến hành và báo cáo lên UBND tỉnh vào tháng 12 năm 2005 Quy hoạch được dự báo cho thời kỳ

2005 – 2010 phục vụ 37.100 người

Giai đoạn hai bao gồm phát triển phía Nam Sông Đào tới đường tránh, phía đông đường sắt là khu vực cây xanh và công viên, xây dựng cơ sở hạ tầng và cao ốc Khu vực cung cấp mặt bằng cho 15.700 người, với một một quy hoạch cho thời kỳ 2010 – 2030

Hình 1.3 - Phát tri ển khu vực Nam Vinh

Hiện tại giai đoạn 1 đang tiến hành Phía nam đường tránh và cầu bắc qua Sông Đào hạ lưu ba ra Bến Thuỷ đã được hoàn tất khi san lấp khu vực dân cư đã được

Trang 25

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 26

Hồng Bàng, dự án sẽ chuyển hướng đầu ra mương số 2 cạnh hồ đã được quy hoạch như được thể hiện trong hình 1.4

Hình 1.4 - Phát tri ển khu vực Vinh Tân I.2.3 Định hướng phát triển KTế (công, nông nghiệp và dịch vụ) [1]

Xây dựng TP Vinh từng bước trở thành đô thị hiện đại, văn minh và giàu đẹp

với cơ cấu kinh tế của thành phố là Công nghiệp TTCN – Dịch vụ – Nông nghiệp, xứng đáng là một đô thị trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ

và giáo dục đào tạo, là hạt nhân chủ yếu quyết định sự tăng trưởng của tỉnh và

có tác dụng chi phối vùng Bắc Trung Bộ

- Phấn đấu đến năm 2010, giá trị sản xuất tăng lên 10.004,3 tỷ đồng, trong đó dịch vụ: 3.197,7 tỷ, công nghiệp: 6.709,8 tỷ và nông nghiệp: 96,8 tỷ đồng Như

Trang 26

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 27

Nếu tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế giai đoạn 2010 – 2020 vẫn duy trì như những năm 2001 – 2010thì dự kiến giá trị sản xuất của thành phố sẽ tăng vào khoảng 16.500 – 18.000 tỷ đồng vào năm 2010

- Nhịp độ tăng trưởng giai đoạn 2001 – 2005 là 17,8%, giai đoạn 2006 – 2010 duy trì ở 14,1% Dự kiến giai đoạn 2010 – 2020 có thể ở mức 13,0%

Cải tạo, sửa chữa và xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, trồng cây xanh công cộng, nhà ở…để thành phố đạt được các chỉ tiêu của đô thị cấp II

Ngành công nghi ệp – tiểu thủ công nghiệp

Nhịp độ giá trị sản xuất của ngành công nghiệp giai đoạn 2006 – 2010 giảm

xuống 16% trong giai đoạn 2010 - 2030 các KCN cơ bản đã được hình thành

về vị trí, qui mô, cơ cấu và nếu mức tăng trưởng của một số ngành nghề tương đối đồng đều, nhịp độ giá trị sản xuất của ngành sẽ đi vào thế ổn định hơn, khoảng 14,0 -15,5%/năm

Từng bước hình thành các KCN tập trung có quy mô lớn trên địa bàn thành phố

2 KCN phía Tây đường

3 KCN cơ khí Bắc Vinh P Lê Lợi CN cơ

Trang 27

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 28

quy mô

nhỏ

(Ngu ồn: Báo cáo điều chỉnh quy hoạch TP Vinh)

Dự kiến mức tăng trưởng một số ngành nghề CN - TTCN chủ yếu của TP Vinh như sau:

+ Nghề may: đạt 2,7 triệu sản phẩm - Tăng bình quân 35%/ năm + Nghề da: 100.000 sản phẩm - Tăng bình quân 32% / năm + Nghề mộc: đóng tàu thuyền - Tăng bình quân 16%/ năm + Giấy, bao bì: 4.000 T sản phẩm - Tăng bình quân 15%/ năm + Vật liệu xây dựng: 20.000.000viên - Tăng bình quân 15%/ năm + Cơ khí: 50.000 tấn, cán thép 800.000 tấn – Tăng 15%/năm

+ Chế biến nông sản thực phẩm, - Tăng bình quân 14,8%/năm Trong CN – TTCN thì TTCN được coi là mũi nhọn vì nó nằm trong tầm tay tổ chức, chỉ đạo của thành phố và có nhiều lợi thế để phát huy Thành phố đã quy

hoạch xây dựng khu TTCN ở phường Đông Vịnh Tổng diện tích sử dụng là 59.096 m2 Các loại hình sản xuất được bố trí trong khu TTCN chủ yếu là các xí nghiệp vừa và nhỏ, tính chất sản xuất không độc hại, ít khói bụi, sạch, không hôi thối, thu hút khoảng 700 nhân lực phía đông khu vực là các xí nghiệp dệt, may, thủ công mỹ nghệ, điện tử, điện lạnh Phía tây là các xí nghiệp chế biến, sản xuất

đồ da, cơ khí Phía nam là các xí nghiệp gia công đồ mộc

Nông nghi ệp

Mục tiêu phát triển của ngành nông nghiệp TP Vinh là giảm dần tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ lệ các ngành nghề và dịch vụ, ổn định đời sống người dân Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá dịch

vụ, phát triển TTCN và dịch vụ ở nông thôn Phát triển công nghiệp trồng rau

Trang 28

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 29

phẩm, cây công nghiệp và hoa cây cảnh

Chính vì vậy, thành phố định hướng phấn đấu có tốc độ hàng năm của ngành nông nghiệp khoảng 4 -6% Duy trì tỷ trọng sản xuất 2-3% trong cơ cấu kinh tế thành phố và thu hút 1,5-2 vạn lao động Đối với ngành trồng trọt, mở rộng diện tích rau thực phẩm ( 400 – 600 ha) ở các xã Vĩnh Tân, Hưng Đông và phường Đông Vĩnh Về cây ăn quả và các vật nuôi chủ yếu nuôi, trồng ở các xã ngoại thành và một số phường như Bến Thuỷ, Trung Đô, Đông Vĩnh, Hà Huy Tập Ngành lâm nghiệp trú trọng tích cực tới công tác bảo vệ rừng phòng hộ, trồng

rừng ngập mặn Hưng Hoà Bên cạnh đó là trồng cây xanh trên các đường phố, công viên

Ngành thuỷ sản, trong những năm qua chưa tận dụng và sử dụng được hết diện tích ao, hồ, mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản Định hướng những năm

sắp tới, các vật nuôi như tôm, cua, cá nước ngọt, cá nuôi trong lồng bè sẽ được nuôi trồng trên những diện tích ao, hồ, mặt nước đó

Các ngành d ịch vụ

Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ, coi trọng đúng mức vai trò ngành dịch

vụ của thành phố đối với tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ là mục tiêu được đặt ra trong giai đoạn tới Ngành dịch vụ sẽ có những bước phát triển, định hướng có nhịp độ tăng trưởng ở mức 10,5% trong giai đoạn 2010 – 2020

Trang 29

Đinh Sỹ Khánh Vinh Trang 30

hướng đến năm 2010, số lượng các chợ sẽ giảm xuống còn 14 chợ (giảm 3 chợ

so với hiện trạng) Các chợ có quy mô lớn tăng lên (tăng 01 chợ), chợ có quy mô nhỏ sẽ giảm (giảm 02 chợ)

• Ngành du l ịch

Sự phát triển mạnh mẽ nền kinh tế của nước ta nói chung, TP Vinh nói riêng tạo nhiều cơ hội cho ngành du lịch thành phố phát triển Để xứng đáng là một trung tâm du lịch, có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế thành phố, ngành du lịch cần được đầu tư nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như hệ thống các khách sạn, nhà nghỉ…Trong đó đặc biệt trú trọng đến các khách sạn tiêu chuẩn 2 sao, 3 sao Đồng thời, xây dựng các khu vui chơi, giải trí có quy mô và độc đáo hấp

dẫn như Công viên Trung tâm, lâm viên Núi Quyết…Qua đó, tổ chức các tuyến

du lịch gắn với các tuyến du lịch trong tỉnh, trong nước và quốc tế

Trang 30

Đinh Sỹ Khỏnh Vinh Trang 30

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG THOÁT NƯỚC VÀ Ô NHIỄM

NƯỚC THẢI CỦA THÀNH PHỐ VINH

II.1 Đánh giá hiện trạng cấp thoát nước và xử lý nước thải

II.1.1 Hi ện trạng hạ tầng cấp nước

Trong nửa đầu của năm 2004, Công ty cấp nước Nghệ An (NAWSC) đó cung cấp cho 47% khỏch hàng trong tổng số hộ dõn, tiờu chuẩn 130 l/người/ngày Thực tế lượng nước ghi thu được chỉ là 52%, thất thoỏt 48% Trong tổng số 17,000 m3 được cung cấp trong một ngày có 13,250 m3 dựng cho sinh hoạt Sẽ

yờu cầu bổ sung 19,000 m3/ngày để cung cấp cho toàn bộ các hộ gia đỡnh, từ cụng suất của trạm xử lý nước cấp mới 60,000 m3/ngày, tương đương với % thất thoỏt cao.[6]

Công ty cấp nước Nghệ An đó cú kế hoạch làm giảm % lượng nước thất thoát,

bằng cách này cho phép cung cấp nước tới được nhiều khách hàng hơn Đồng thời tăng mức độ tiêu thụ nước trên đầu người cao hơn cũng như tăng số hộ dân

sử dụng nước máy thay cho việc sử dụng nước giếng hiện nay Kế hoạch tương lai vào năm 2020, sẽ đạt mức độ tiêu thụ nước là 150 l/người/ngày (tiêu chuẩn

c ấp nước đô thị loại II –TCVN33) phù hợp với định hướng của Chính phủ là

phát triển, nâng cấp thành phố là Trung tõm của Vựng Bắc Trung Bộ

II.1.2 Hiện trạng hạ tầng thoát nước

- Tổ chức thoát nước [7]

Hệ thống thoát nước của thành phố Vinh là hệ thống thoát nước chung (trừ các khu công nghiệp và khu đô thị mới là dùng hệ thống thoát nước riêng: nước thải được xử lý cục bộ rồi thoát ra hệ thống thoát nước Thành phố) Cấu tạo hệ thống thoát nước thành phố Vinh hiện nay bao gồm:

- Hệ thống kênh, mương thoát nước cấp I dài 20,2 km

- Hệ thống cống thoát nước cấp II dài 73,9 km

- Hệ thống thoát nước cấp III dài 53,5 km

Trang 31

Đinh Sỹ Khỏnh Vinh Trang 31

- Các hồ điều hoà và trạm bơm tiêu úng

Hệ thống thoát tập trung theo ba hướng chính :

- Hướng 1 : Thoát nước cho khu vực phía Bắc qua cầu Bàu, kênh Bắc đổ ra sông Rào Đừng

- Hướng 2 : Thoát nước cho khu vực phía Nam qua mương số 2, số

3 và kênh Hồng Bàng để ra sông Vinh và sông Lam

- Hướng 3 : Thoát nước cho khu vực phía Tây qua kênh số 1 đổ ra sông Vinh và kênh số 4 để ra sông Kẻ Gai

- Mạng lưới thoát nước, mương tiêu và hồ điều hoà [7]

gồm các xã Nghi Phú, Hưng Đông, Hưng Lộc và các phường Hà Huy Tập,

Hưng Bình, Lê Lợi, Hưng Dũng với tổng diện tích 1372 ha Được xây dựng từ

năm 1965 với nhiệm vụ chủ yếu là tưới tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp

Hệ thống mương thoát được xây dựng chưa đồng bộ, quá trình đô thị hoá phát triển nhanh, hơn nữa lại trải qua thời gian dài khai thác cùng với sự khắc nghiệt

của khí hậu vùng làm cho công trình xuống cấp, không thoả mãn nhu cầu thoát

nước trong giai đoạn hiện nay

Để khắc phục tình trạng ngập úng của khu vực phía Bắc hiện nay Thành phố đã

có Dự án xây dựng lại Kênh tiêu Bắc Vinh (đã tiến hành xong ở bước lập báo cáo dự án đầu tư xây dựng) Tuy nhiên, đoạn ở thượng lưu từ đường sắt đến cầu

Bầu sẽ nằm trong mục tiêu nghiên cứu của đề án này

Trang 32

Đinh Sỹ Khỏnh Vinh Trang 32

-Mương Đông Vĩnh xuất phát từ đường Trường Chinh, chảy qua đường sắt rồi

đổ vào cánh đồng phía tây Thành phố, từ đó chảy theo cánh đồng trũng ra kênh Gai, diện tích phục vụ của mương hiện có là 259 ha Trong giai đoạn I của Dự

án Thoát nước Thành phố Vinh, mương Đông Vĩnh được đầu tư xây dựng từ hồ nước gần đường sắt ra đến cánh đồng phía tây, kích thước mương là B=4,5m-L=530m Đến giai đoạn IB được đầu tư xây dựng tiếp đoạn mương thượng lưu

hồ gần đường sắt ra đến đường Trường Chinh với kích thước B=4,0m-L=396m Tuyến mương xây dựng trong giai đoạn I và IB đều là mương hở, mặt cắt hình chữ nhật, đáy bằng BTCT, ở giữa đặt rãnh thoát nước thải bằng BTCT, thành mương xây đá hộc, trát vữa xi măng Hiện trạng, tuyến mương đi qua khu dân

cư không được đậy nắp, ở một số đoạn dân địa phuơng tự làm các tấm đan nắp đậy kín mương song không đảm bảo và đồng bộ Phần hạ lưu tuyến mương nước trực tiếp đổ ra cánh đồng Do là tuyến nước mưa và nước thải chảy chung nên trong một thời gian dài đã gây ô nhiễm môi trường ở khu vực hạ lưu Khi có

mưa, rác thải cuốn theo dòng nước tràn ra khắp cánh đồng ảnh hưởng đến sản

xuất nông nghiệp Cốt đáy mương hiện trạng ở điểm đầu (đường Trường Chinh)

là +1.44m và ở cuối mương xây là +0.77m (theo hệ cốt quốc gia)

- Mương số 1 bắt đầu từ đường Phan Bội Châu đảm nhiệm việc thoát nước cho lưu vực khoảng hơn 262ha nằm trên địa phận hai phường Lê Lợi và Đội Cung

đổ vào Hồ Thành Tiết diện mương thay đổi theo chiều dài Mương số 1 được xây dựng trong giai đoạn I và IB của Dự án Thoát nước Thành phố Vinh Đoạn đầu từ đường Phan Bội Châu đến Nguyễn Thái Học chưa có nắp đậy gây ô nhiễm cho người dân sinh sống dọc hai bên mương, đoạn từ Nguyễn Thái Học đến cửa xả vào Hồ Thành đã xây dựng hoàn chỉnh có nắp dậy Cốt đáy mương

hiện trạng ở điểm đầu (đường Phan Bội Châu) là +1.4m và ở cửa xả vào Hồ Thành là +0.6m (theo hệ cốt quốc gia)

Trang 33

Đinh Sỹ Khỏnh Vinh Trang 33

- Mương số 2 có diện tích thoát nước lưu vực là 475ha Hiện tại là mương đất tự nhiên, tiết diện mương nhỏ hẹp không đáp ứng việc thoát nước cho khu vực Đoạn từ hạ lưu cầu Lê Hồng Phong tới cầu Nại trên đường Hồ Tùng Mậu để xả

ra hồ Công viên đã được xây dựng Mương có tiết diện hở hình chữ nhật kích thước B=5m, dài 720m Cấu tạo mương có thành xây đá hộc, đáy bê tông cốt thép, ở giữa có máng chữ U nhằm chứa nước thải Hiện nay, hai bên bờ mương đều có nhà dân nên việc không có nắp đã gây ô nhiễm cho dân cư hai bên

mương.Tuy nhiên, trong phạm vi của Dự án sẽ không đề cập tới đoạn này, các thông số của tuyến hiện trạng này được lấy để phục vụ tính toán thuỷ lực nhằm đánh giá lại năng lực thoát nước của mương số 2 Trên cơ sở đó tiến hành đề

xuất thiết kế các đoạn còn lại

Hình 2.1: Mương số 1 mùa khô

Trang 34

Đinh Sỹ Khỏnh Vinh Trang 34

Hình 2.2: M ương số 2 mùa khô

Hình 2.3: M ương số 2 mùa mưa

-Mương số 3 nằm ở phía đông Thành phố, nối tiếp từ hồ Goong qua đường Phan Đăng Lưu và là tuyến mương duy nhất đổ trực tiếp vào sông Lam Lưu vực của

mương số 3 là 345.6ha Kết cấu mương xây đá đáy bê tông cốt thép lắp ghép, bề

Trang 35

Đinh Sỹ Khỏnh Vinh Trang 35

rộng mương từ B=2,0m ~ 4,5m; L=1800m Đoạn hạ lưu từ cầu đường Nguyễn

Văn Trỗi qua đường Hồ Quý Ly đến sông Lam dài gần 1km chưa được đầu tư xây dựng Hiện trạng chỉ là mương đất qua các khu dân cư và ruộng

Hình 2.4: M ương số 3 (hạ lưu Cầu Phan Văn Trị)

-Mương Hồng Bàng bắt đầu từ đường Minh Khai đổ vào cánh đồng Đen thoát vào sông Vinh với diện tích lưu vực 306.8ha(bao gồm cả mương Đệ Tam) Mương này xây dựng

từ những năm 1993-1994 Có những hạn chế là không giải phóng được dân cư dọc hai bên mương do đó tiết diện mương không được mở rộng, không đáp ứng được yêu cầu thoát nước Phần mương đã xây dựng dọc hè bên trái đường Hồng Bàng tới đường Trần Phú có khẩu độ B=2m-3m Mương xây gạch, đan nắp bê tông cốt thép chịu tải trọng

người đi bộ và xe máy Hiện nay, có nhiều nhà dân đã xây dựng công trình đè lên

mương, nhiều chỗ đan nắp bị vỡ, bị bồi lắng Hơn nữa, Thành phố chưa đầu tư kinh phí thoả đáng tu sửa hàng năm nên đến nay công trình đã xuống cấp, trong khi đó lòng

mương do không được nạo vét thường xuyên nên bị bồi lắng làm giảm tiết diện thoát

mương Đoạn mương hạ lưu cầu qua đường Trần Phú đã được cải tạo và mới Mương

có tiết diện hình chữ bề rộng B=4.0m, cao H=1.8~2.0m ở phần hạ lưu mương đi trên cánh đồng, có cấu tạo không đan nắp Tại điểm cuối, nông dân xã Vinh Tân xây dựng

Trang 36

Đinh Sỹ Khỏnh Vinh Trang 36

một đập tràn lấy nước trồng rau, việc này cũng làm giảm khả năng thoát nước và làm cho mực nước lòng mương hạ lưu luôn luôn cao hơn đáy mương là 0.4-0.6m

Hình 2.5: Đoạn cuối mương Hồng Bàng

-Mương phía Đông núi Quyết thuộc địa bàn phường Trung Đô là vùng thường xuyên bị ngập úng Khu vực này hầu như chưa có các công trình kỹ thuật hạ tầng

Trang 37

Đinh Sỹ Khỏnh Vinh Trang 37

Hình 2.6: M ương số 3 bị ngập lụt trong đợt mưa vào tháng 09/2005

b H ồ điều hoà

Hồ trong Thành phố Vinh vừa có nhiệm vụ điều hoà lưu lượng nước mưa vừa

tạo cảnh quan sinh thái (ví dụ các công trình đã được xây dựng như hồ Công viên trung tâm, hồ Goong) và có nhiều ý nghĩa về lịch sử (hồ Thành) Do đó, các

hồ trong Thành phố có ý nghĩa quan trọng về thực tiễn thoát nước và văn hoá trong đời sống xã hội của Thành phố Hiện nay, tại cuối mỗi mương lại chưa có

hồ để điều hoà nước mưa (trừ hồ cửa Nam cuối mương số 1 từ Hồ Thành đổ ra)

B ảng 2.1 Hồ chứa nước hiện có của Thành phố Vinh [7]

Tên h ồ Di ện tích

(ha)

Độ sâu TB bình (m)

Độ sâu

c ực tiểu (m)

Độ sâu cực đại (m)

Dung l ượng nước

Trang 38

Đinh Sỹ Khỏnh Vinh Trang 38

Hình 2.7: Thành ph ố Vinh, Hồ Thành bị ngập lụt trong đợt mưa tháng 09/2005

Trang 39

Đinh Sỹ Khỏnh Vinh Trang 39

nước thành phố Vinh đã xây dựng được cơ bản cống thoát nước cấp II Toàn thành phố hiện có 35km cống ngầm chữ nhật và tròn có đường kính Φ600-Φ1500mm;

e H ệ thống cống thoát nước cấp III

Bao gồm các mương thoát nước từ các khu dân cư, khu xây dựng thoát vào hệ

thống cống cấp II chạy dọc các trục đường Hệ thống thoát nước này phần lớn

chưa được nhà nước hay tổ chức nào đứng ra đầu tư xây dựng Vì vậy, trong các khu dân cư nhất là các khu có mật độ cao tình trạng ngập úng cục bộ rất nặng dẫn tới tình trạng ô nhiễm rất trầm trọng Giai đoạn I và II cũng đã xây dựng tại

những khu vực cấp bách như: phường Trường Thi, hạ nguồn đường Ngư Hải, đường Đốc Thiết, khối Yên Phúc,

- Tỡnh hỡnh ngập ỳng

Các điểm ngập úng tập trung:

• Khu vực phía Bắc (lưu vực của kênh Bắc), có địa hình phức tạp Hệ thống tiêu quá kém đã không đáp ứng yêu cầu tiêu thoát của khu vực, làm cho vần đề ngập úng ở đây trở nên phức tạp Hàng năm về mùa mưa thoát nước kém làm cho nhiều vùng ngập kể cả các đường phố chính Lúc đó ở thượng lưu cầu Bầu

đi dần ra phía Bắc là biển nước, vùng Nghi Phú, Hà Huy Tập, một phần xã Hưng Đông, phường Lê Lợi bị ngập trên diện rộng kéo dài hàng tuần lễ

• Ngoài ra còn một số khu vực ngập úng do hệ thống thoát nước mưa chưa hoàn chỉnh: Hạ lưu mương thoát nước số 3, mương Hồng Bàng và mương Đông Vĩnh trong mùa khô hoặc mưa có cường độ nhỏ, cao độ mức nước trong mương thoát nước số 3 cao hơn mức nước sông nên nước tự chảy ra sông được Khi có

lũ, cao độ mức nước sông cao hơn cao độ mức nước của mương do đó nước

Trang 40

Đinh Sỹ Khỏnh Vinh Trang 40

không thoát được gây ngập úng trên diện rộng Nguyên nhân là chưa có trạm

bơm tiêu úng cho các lưu vực này

Khu vực trung tâm thành phố tình trạng ngập úng trên diện rộng không sảy ra, nhưng tình trạng ngập úng cục bộ lại xảy ra thường xuyên:

− Đinh Công Tráng-Hồng Bàng: Thời gian ngập: 1,0 - 2,0 giờ, chiều sâu

ngập đến 0,5m Nguyên nhân ngập do thiết kế tiết diện mương Hồng Bàng

hẹp và giếng thu nước mưa mặt đường thưa và đã quá cũ không đảm bảo được việc thu nước

− Ngư Hải-Quang Trung: Thời gian ngập: 30 phút, chiều sâu ngập 0,2m đến 0,3m Nguyên nhân ngập do mương thoát nước dọc đường quá cũ nát và

giếng thu nước mưa mặt đường thưa và bị hư hỏng nên không đảm bảo được việc thu nước

− Minh Khai-Lê Hồng Phong: Thời gian ngập: 30 phút, chiều sâu ngập 0,3m đến 0,4m Đây là điểm đầu mương Hồng Bàng nên nguyên nhân ngập do thiết kế tiết diện mương Hồng Bàng hẹp, không đủ để tiêu thoát nước

− Khách sạn Kim Liên: Thời gian ngập: 30 phút, chiều sâu ngập 0,15m đến 0,2m Nguyên nhân ngập do hệ thống mương cấp II dọc đường đã quá cũ nát nên không đảm bảo tiêu thoát nước

− Đại lộ 3/2: Thời gian ngập: 60 phút, chiều sâu ngập 0,3m đến 0,5m Nguyên nhân ngập do mương trên đường Phong Định Cảng chưa thi công xong Như vậy khi cống dọc đường Phong Định Cảng xong thì giải quyết được điểm ngập úng này

− Đường Lê Hồng Phong: Trong cơn mưa đường bị ngập vì một bên đường

cống thoát nước không được bảo trì đã bị dân làm sụt, đất cát vùi lấp, nước

thải chảy thành dòng trên đường

Ngày đăng: 28/02/2021, 12:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm