1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014

70 707 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 853,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những vấn đề môi trường đã và đang ảnh hưởng đến hoạt động phát triển du lịch trên phạm vi cả nước nói chung và tại các trọng điểm phát triển du lịch, các khu, điểm du lịch nói riê

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Môi trường, sức khỏe của con người đang ngày càng trở nên quan trọng đối với tất cả quốc gia trên thế giới Môi trường, sức khỏe là một tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ văn minh của mỗi quốc gia, là điều kiện quan trọng cho mỗi quốc gia khi tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới

Đối với hoạt động của ngành Du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường trong phát triển Chính vì vậy mọi sự biến đổi về môi trường đều có những ảnh hưởng trực tiếp, ở những mức độ khác nhau đến hoạt động phát triển du lịch bền vững [13] Các cảnh đẹp của thiên nhiên như núi, sông, biển cả… hay những đặc điểm và tình trạng của môi trường xung quanh là những tiềm năng và điều kiện cho phát triển du lịch Ngược lại ở chừng mực nhất định, hoạt động du lịch tạo nên môi trường mới hay góp phần cải thiện môi trường như việc xây dựng các công viên vui chơi giải trí, các công viên cây xanh, hồ nước nhân tạo… Như vậy, rõ ràng rằng hoạt động du lịch và môi trường có tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau và nếu khai thác, phát triển hoạt động du lịch không hợp lý có thể sẽ là nguyên nhân làm suy giảm giá trị của các nguồn tài nguyên, suy giảm chất lượng môi trường và cũng có nghĩa làm giảm hiệu quả của chính hoạt động du lịch [2], [41] Trong những vấn đề môi trường đã và đang ảnh hưởng đến hoạt động phát triển du lịch trên phạm vi cả nước nói chung và tại các trọng điểm phát triển du lịch, các khu, điểm du lịch nói riêng là tình trạng ô nhiễm môi trường [1] Tình trạng ô nhiễm môi trường được thể hiện ở sự tăng quá mức cho phép nhiều chỉ tiêu môi trường cần đảm bảo cho hoạt động du lịch đã được quy định tại Quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ban hành kèm Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao

Trang 2

và Du lịch – Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch

Du lịch biển Đồ Sơn Hải Phòng là một trong những khu du lịch biển nổi tiếng ở khu vực miền Bắc Ngành du lịch biển này đã thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến với thành phố Hải Phòng Năm 2013, Đồ Sơn đón tổng lượng khách du lịch trong và ngoài nước là 2.000.100 lượt nên trong tương lai khu du lịch Đồ Sơn cũng sẽ là nơi phát triển mạnh về ngành du lịch kinh tế biển Do đó nguy cơ ô nhiễm môi trường khu du lịch sẽ ngày càng cao nếu chúng ta không biết cách khắc phục, khống chế các nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường Sự phát triển của khu du lịch luôn đi kèm với việc tăng thêm các dịch vụ, cơ sở hạ tầng tạo ra sức ép ngày càng tăng đối với môi trường khu du lịch biển Đồ Sơn Do vậy chúng ta cần đưa ra kế hoạch phát triển và bảo vệ môi trường bền vững khu du lịch này [9]

Tại Hải Phòng, cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào về đánh giá thực trạng vấn đề môi trường do hoạt động du lịch tại khu du lịch bãi biển Đồ

Sơn, Hải Phòng Vì vậy, nghiên cứu “Thực trạng và kiến thức, thực hành

của khách du lịch về môi trường khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng, năm 2014” là một việc làm hết sức cần thiết Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần khai

thác có hiệu quả tiềm năng du lịch, cải thiện môi trường, đảm bảo phát triển

du lịch bền vững

Đề tài nghiên cứu gồm 02 mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng môi trường tại khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng năm

2014

2 Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành của khách du lịch về môi trường

du lịch tại khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng năm 2014

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm chung về môi trường

Môi trường có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự phát triển và tiến hoá của nhân loại Môi trường được hiểu theo nghĩa rộng là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện nào đấy và cũng chịu tác động ngược lại của vật thể đó Như vậy môi trường là một tồn tại khách quan, có cấu trúc phức tạp và có quan hệ rất khác nhau, rất đa diện đối với sự phát triển của cộng đồng dân cư hay sự phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy chưa có một định nghĩa, quan niệm thống nhất về môi trường, tuy nhiên thuật ngữ môi trường thường được sử dụng một cách phổ biến để nói ý nghĩa là môi trường sống của con người [35]

Các học giả Liên Xô (cũ) đã định nghĩa: “Môi trường là tất cả những

gì bao quanh con người, bao gồm môi trường thiên nhiên, các thành phần vật chất được tạo nên bởi con người, các hiện tượng và các quá trình cũng như các thành phần kinh tế, xã hội trong lịch sử phát triển của chúng” [30]

Trong “Tuyên ngôn của UNESCO” (1981) coi: “Môi trường là toàn bộ

các hệ thống tự nhiên và các hoạt động do con người tạo ra trong đó con người sinh sống bằng lao động đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình’’ [27]

Ở Việt Nam đã có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm môi trường, theo định nghĩa mà giáo sư Lê Thạc Cán và các tác giả đưa ra trong cuốn “Cơ sở

khoa học môi trường” thì “Môi trường sống của con người là tổng hợp các

Trang 4

điều kiện vật lý, hoá học, sinh học, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của các cá nhân, cộng đồng con người”

Điều 3, Luật BVMT Việt Nam, 2014 giải thích từ ngữ: “Môi trường là

hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [11]

Như vậy theo nghĩa rộng, môi trường có thể hiểu bao gồm các nhân tố như không khí, nước, đất đai, âm thanh, cảnh quan, các nhân tố xã hội… ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của con người và sinh vật

Và theo nghĩa hẹp, môi trường được hiểu bao gồm các nhân tố tự nhiên, nhân tạo trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người

Tuỳ theo nội dung nghiên cứu, môi trường sống của con người được chia ra nhiều loại khác nhau Theo thuộc tính vốn có, môi trường gồm: môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường nhân tạo, theo phạm vi không gian sống và hoạt động kinh tế - xã hội có môi trường đô thị, môi trường nông thôn… và môi trường du lịch là một trong các thuộc tính đó [3]

1.1.2 Khái niệm môi trường du lịch

“Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (Pháp lệnh Du lịch, 2/1999) [31] Các hoạt động

du lịch liên quan một cách chặt chẽ với môi trường (bao gồm cả môi trường

tự nhiên và môi trường nhân văn)

Khái niệm môi trường du lịch (MTDL) theo nghĩa rộng là “các nhân tố

về tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn trong đó hoạt động du lịch tồn tại và phát triển” Hoạt động du lịch có mối quan hệ mật thiết với môi trường, khai

Trang 5

thác đặc tính của môi trường để phục vụ mục đích phát triển và tác động trở lại góp phần làm thay đổi các đặc tính của môi trường

Sự tồn tại và phát triển của du lịch với tư cách là một ngành kinh tế gắn liền với khả năng khai thác tài nguyên, khai thác đặc tính của môi trường xung quanh Chính vì vậy hoạt động du lịch liên quan một cách chặt chẽ với khái niệm môi trường hiểu theo nghĩa rộng Các cảnh đẹp của thiên nhiên như núi, sông, biển cả , các giá trị văn hoá như các di tích, công trình kiến trúc nghệ thuật hay những đặc điểm và tình trạng của môi trường xung quanh là những tiềm năng và điều kiện cho phát triển du lịch Ngược lại, ở chừng mực nhất định, hoạt động du lịch tạo nên môi trường mới hay góp phần cải thiện môi trường như việc xây dựng các công viên vui chơi giải trí, các công viên cây xanh, hồ nước nhân tạo, các làng văn hoá du lịch Như vậy, rõ ràng rằng hoạt động du lịch và môi trường có tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau và nếu khai thác, phát triển hoạt động du lịch không hợp lý sẽ là nguyên nhân làm suy giảm giá trị của các nguồn tài nguyên, suy giảm chất lượng môi trường và cũng có nghĩa là làm suy giảm hiệu quả của chính hoạt động du lịch [26], [44]

Như vậy có thể thấy môi trường du lịch bao gồm tổng thể các nhân tố

về tự nhiên, kinh tế-xã hội và nhân văn mà trong đó hoạt động du lịch tồn tại

và phát triển

Thực tế khi phân tích và đánh giá hiện trạng môi trường du lịch, môi trường du lịch tự nhiên, cụ thể là các thành phần môi trường vật lý (không khí, tiếng ồn, nước,…) thường được quan tâm hơn bởi đó là một phần của môi trường chung hiện đang được xã hội quan tâm Nội dung của Luật Bảo vệ Môi trường ở Việt Nam hiện cũng mới chỉ đề cập đến khía cạnh môi trường

tự nhiên Những nội dung liên quan đến môi trường kinh tế - xã hội, môi

Trang 6

trường nhân văn thường là những vấn đề phức tạp và việc đánh giá hiện đang

ở mức định tính

1.1.3 Một số khái niệm về kiến thức, thực hành

* Khái niệm về kiến thức: Theo từ điển wikipedia, kiến thức là:

- Các thông tin, các tài liệu, các cơ sở lý luận, các kỹ năng khác nhau, đạt được bởi con người thông qua các trải nghiệm thực tế hay thông qua sự giáo dục đào tạo, là các hiểu biết về lý thuyết hay thực tế về một đối tượng, một vấn đề, có thế lý giải được về nó

- Những gì đã biết, đã được hiểu trong một lĩnh vực cụ thể hay tổng thể

- Các cơ sở, thông tin, tài liệu, các hiểu biết hoặc những thứ tương tự có được bằng kinh nghiệm thực tế hoặc do những tình huống, hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên, hiện nay không có một định nghĩa chính xác nào về tri thức hiện nay được mọi người chấp nhận, có thể bao quát được toàn bộ, vẫn còn nhiều học thuyết, các lý luận khác nhau về tri thức

Tri thức giành được thông qua các quá trình nhận thức phức tạp: quá trình tri giác, quá trình học tập, tiếp thu, quá trình giao tiếp, quá trình tranh luận, hay kết hợp các quá trình này

Kiến thức của mỗi người được tích lũy dần qua quá trình học tập và kinh nghiệm từ cuộc sống Mỗi người có thể tiếp thu và tự kiểm chứng kiến thức từ thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, những người xung quanh, sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng Kiến thức là một trong các yếu tố quan trọng giúp con người có các suy nghĩ và tình cảm đúng đắn, từ đó dẫn đến hành vi phù hợp trước mỗi sự việc, hiện tượng Kiến thức được tích lũy trong suốt cuộc đời [8]

Trang 7

* Khái niệm thực hành: Thực hành của con người là một hành động,

hay là tổ hợp của nhiều hành động, mà những hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, chủ quan cũng như khách quan Trước tiên nó phụ thuộc vào khả năng nhận thức hay kiến thức của mỗi người, vào thái độ của người đó cũng như các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết về vấn đề người đó sẽ làm Thực hành chính là việc vận dụng kiến thức vào một công việc thực tiễn cụ thể Nói cách khác, việc thực hành của một con người

là sự biểu hiện cụ thể của các yếu tố cấu thành nên nó, đó là kiến thức, niềm tin, thái độ và môi trường xã hội xunh quanh bản thân người đó [8]

1.2 Thực trạng môi trường du lịch Việt Nam

1.2.1 Thực trạng du lịch Việt Nam trong mối liên quan, tác động tới môi trường

Hoạt động kinh doanh du lịch khác với một số ngành kinh tế khác ở chỗ là du lịch có tính chất thời vụ; vào chính vụ số khách du lịch thường tập trung cao, hoạt động cung cấp các dịch vụ tấp nập trên một khu vực tại một thời điểm nhất định khiến cho những vấn đề môi trường như rác thải, vấn đề

vệ sinh môi trường, nước thải, sự tác động lên các hệ sinh thái, chất lượng môi trường không khí xung quanh, tiếng ồn, bụi… đều vượt ra ngoài khả năng kiểm soát [43], [49]

Các hoạt động đầu tư xây dựng của các thành phần kinh tế vào cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tại các khu, điểm du lịch tác động đối với môi trường đất, chất lượng nước ngầm, nước mặt, chất lượng không khí và cũng như đa dạng hệ sinh [40] Một số doanh nghiệp đầu tư xây dựng tại các khu du lịch cũng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do lượng chất thải quá lớn nhưng lại thiếu phương tiện thu gom và xử lý như việc xây dựng khu du lịch Tuần Châu (Quảng Ninh) áp lực đến môi trường nước mặt, nước biển ven bờ…[51], [52]

Trang 8

Trong mấy năm qua, nhiều loại hình kinh doanh du lịch đã ra đời, tham gia cung cấp dịch vụ cho khách du lịch cụ thể: Kinh doanh dịch vụ lưu trú, kinh doanh vận chuyển khách cũng thu hút hàng chục ngàn doanh nghiệp, các

hộ kinh doanh Sự tham gia của các chủ thể này là yếu tố không thể thiếu để phát triển các hoạt động dịch vụ đáp ứng nhu cầu của du khách Do nhiều thành phần tham gia, nhưng nhận thức, tiềm lực kinh tế và mục đích hoạt động của nhiều chủ thể kinh tế khác nhau; một số doanh nghiệp chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế mà coi nhẹ công tác bảo vệ môi trường, nhiều doanh nghiệp trong đầu tư và hoạt động không chú ý tới việc đánh giá tác động môi trường và chưa có những biện pháp hữu hiệu cần thiết giảm thiểu tác động môi trường nên chất thải, nước thải và rác thải đặc biệt chất thải rắn, chất thải độc hại thải ra môi trường một cách tự nhiên gây ra những hậu quả to lớn về môi trường tại một số điểm, khu du lịch đặc biệt là du lịch biển [24], [58]

1.2.2 Những vấn đề bất cập và bức xúc đối với môi trường trong phát triển du lịch

Trong những năm qua du lịch đã có ít nhiều tác động môi trường nhưng mức độ khác nhau, hiện nay các chỉ tiêu cơ bản về môi trường đo được hàng năm tại các khu, điểm du lịch chưa đến mức suy thoái và ô nhiễm trầm trọng, song đã có tiềm ẩn nguy cơ về mặt môi trường đã xuất hiện khá rõ nét trên các vấn đề: Gia tăng các chất thải, rác thải, nước thải ở các khu du lịch gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường cục bộ, một số điểm đã có hiện tượng suy thoái môi trường, nhiều nơi xuất hiện các sự cố môi trường và đã có dấu hiệu mất đa dạng sinh học tại các điểm tài nguyên tự nhiên dẫn đến nguy cơ tiềm tàng tác động đối với phát triển du lịch; hiện tượng vệ sinh môi trường nhiều nơi chưa được đảm bảo đang diễn ra phổ biến tại các điểm du lịch lễ hội và du lịch biển [34], [38], [45]

Trang 9

Những vấn đề bức xúc về môi trường trong quá trình phát triển du lịch những năm qua ở Việt Nam thể hiện trong những yếu tố cơ bản sau:

Thiếu kiểm soát đối với hệ thống cơ sở vật chất: Do những bức bách trong phát triển để đáp ứng nhu cầu của lượng khách du lịch ngày một tăng nhanh, hệ thống các khách sạn, nhà hàng, các điểm vui chơi, giải trí… tăng lên một cách nhanh chóng nhưng do sự phát triển đó theo quy luật cung cầu

và cơ chế thị trường; trong lúc đó hệ thống kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước và ngành du lịch chưa theo kịp nên nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ được xây dựng thiếu các hệ thống xử lý chất thải bảo vệ môi trường Điều này

đã góp phần vào quá trình suy thoái môi trường do chất thải, chất thải độc hại, chất thải rắn, nước thải và rác thải trong xây dựng, trong quá trình hoạt động kinh doanh [15], [32]

Khối lượng chất thải sinh hoạt gia tăng cùng số khách trong điều kiện thiếu các biện pháp và giải pháp xử lý: Với số khách du lịch không ngừng tăng, lượng người ở một số khu vực, đặc biệt ở các đô thị và trung tâm dân cư tăng lên và kéo theo lượng chất thải sinh hoạt tăng đáng kể Hệ thống xử lý chất thải chưa được xây dựng hoặc nếu có cũng chỉ mang tính chất cục bộ Tại các khu du lịch biển phần lớn hệ thống cơ sở lưu trú khách sạn, nhà hàng chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung Hiện tượng các tàu, thuyền du lịch

và tàu thuyền vận chuyển đánh bắt hải sản tại các vùng biển đã đổ hoặc làm rơi vãi dầu nhớt, các chất thải, rác thải xuống mặt nước hồ, suối, biển tại các khu du lịch dịch vụ gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường nước biển và nước biển ven bờ và tại một số khu vực khác được tổ chức các loại hình du lịch trên cạn,… chưa chú trọng gom rác, chưa xử lý tốt nước thải từ khách du lịch nên gây ra hiện tượng ô nhiễm cục bộ, ô nhiễm môi trường [16], [56]

Trang 10

Theo đánh giá của cơ quan môi trường thì trong hoạt động của các ngành kinh tế thì hoạt động kinh doanh du lịch là một trong 15 ngành có hoạt động gây áp lực đối với môi trường và mặc dù mức độ gây áp lực đối với môi trường từ phát triển du lịch được đánh giá ở cấp độ nhẹ song áp lực đó lại có tác động tới hầu hết các yếu tố môi trường như môi trường biển, môi trường đất, môi trường nước và chất lượng cuộc sống [21] [46] Vấn đề nêu trên được thể hiện rõ nét trong sự tác động của môi trường đến hoạt động kinh doanh du lịch tại một vài điểm tham quan du lịch như: Vấn đề ô nhiễm môi trường là một trong những nguyên nhân rõ nhất làm giảm sức hấp dẫn du lịch, giảm chất lượng các dịch vụ du lịch, tạo ra cho khách du lịch những ấn tượng không tốt về hình ảnh du lịch Việt Nam [18], [19] Nhiều khách du lịch đã phàn nàn về tình trạng vệ sinh môi trường tại các khu, điểm du lịch và đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho khách du lịch đến Việt Nam

ít quay trở lại…[17], [50]

1.3 Thực trạng môi trường du lịch biển Đồ Sơn và kiến thức, thực hành của khách du lịch về môi trường khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng

1.3.1 Môi trường du lịch biển Đồ Sơn

1.3.1.1 Điều kiện về địa lý, địa chất

Hải Phòng được mệnh danh là thành phố “hoa phượng đỏ” là một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước

Đồ Sơn nằm ở phía Đông Nam của thành phố Hải Phòng, nối khu vực nội thành với quận Đồ Sơn là tuyến đường 353 với chiều dài 22km Đồ Sơn

có 3 mặt giáp biển đó là phía Đông, phía Tây và phía Tây Nam Phần đất liền của Đồ Sơn tiếp giáp với huyện Kiến Thụy, quận Dương Kinh Đồ Sơn nằm ở phía Tây Nam của đảo Cát Bà, phía Đông Nam của sông Lạch Tray và phía Đông Bắc của sông Văn Úc Tiếp đó, sát bãi biển Đồ Sơn là dải cát với

Trang 11

những bãi tắm ở phía Đông và phía Tây Tuy nhiên, do quá trình tương tác giữa biển và lục địa, đặc biệt là các quá trình sông, biển đã ảnh hưởng đến chất lượng nước biển ở các bãi tắm của vùng Nước biển của Đồ Sơn (bãi 1,2)

có màu đỏ, có thể nói là bẩn, do phù sa, rác thải đưa từ trong đất liền ra

Đồ Sơn có thể coi là một bán đảo nhỏ do dãy núi Rồng vươn dài ra biển tới 5km, với hàng chục mỏm đồi cao từ 25 đến 130m Địa hình của Đồ Sơn chủ yếu là đồi núi gồm nhiều ngọn núi nối tiếp nhau chạy dài tới tận biển, điểm cuối cùng là đảo Dáu cách đất liền 1km Ở trên những ngọn đồi là rừng thông được trồng cách đây hàng trăm năm

Bãi biển Đồ Sơn chia làm 3 khu mỗi khu đều có bãi tắm và đồi núi, rừng cây yên tĩnh Khu 1 chạy dài với bãi tắm và dịch vụ ven biển Khu 2 có tòa biệt thự từng là nơi nghỉ mát của vua Bảo Đại Khu 3 có công trình kiến trúc như ngôi chùa

1.3.1.2 Điều kiện thủy văn/hải văn

Bờ biển Đồ Sơn có độ ổn định tương đối yếu, khoảng 10 năm trở lại đây có xu hướng xói lở mạnh và nhiều Hoạt động xói mòn bờ và bãi biển tại khu vực Đồ Sơn là một quá trình diễn ra liên tục có liên quan đến vận động sụt chìm không đền bù bồi tích Do đó, gây khó khăn cho các hoạt động du lịch cũng như xây dựng các công trình ven biển tại xung quanh khu vực này Mực nước biển ở Đồ Sơn thuộc loại nhật triều đều, có biên độ lớn, điển hình Mỗi tháng có hai kỳ triều cường (mỗi kỳ 11 – 13 ngày) và hai kỳ triều kém (mỗi kỳ 3 – 4 ngày) Giá trị triều trung bình là 3,3 – 4m (so với 0m Hải Đồ ở Hòn Dấu)

Sóng biển ở Đồ Sơn không lớn Hai hướng sóng thịnh hành là hướng Đông (mùa đông) với độ cao dưới 1 m và hướng Nam với độ cao 0,5 – 1 m Sóng biển Đồ Sơn chủ yếu là sóng ngoài khơi truyền vào

Trang 12

1.3.1.3 Môi trường du lịch biển Đồ Sơn

Đồ Sơn là điểm du lịch vùng khí hậu phía Bắc nên mang tính chất nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh Khí hậu ở khu vực này mang những nét riêng biệt của khí hậu khu vực và miền Khí hậu Đồ Sơn chịu ảnh hưởng của biển

có hai mùa rõ rệt, mùa hè thì nóng ẩm, mưa nhiều, thường hay có bão vào tháng 5 và tháng 10, mùa đông khô hanh từ tháng 4 đến tháng 11 năm sau Nền nhiệt độ trung bình năm từ 22-23 độ, cao nhất vào tháng 6 và tháng 7, thấp nhất là vào tháng 12 và tháng 1 Lượng mưa trung bình năm từ 1500-2000mm, độ ẩm tương đối cao trung bình năm là 82-85%

Trong mấy năm gần đây, Việt Nam là điểm đến an toàn cho khách du lịch, lượng khách du lịch quốc tế ngày càng tăng cả số lượng và thành phần, làm gia tăng số lượng khách tham quan đến các khu du lịch trong nước trong

đó có Hải Phòng Đối với khách du lịch nội địa, do nhu cầu giải trí, nghỉ dưỡng, lưu lượng ngày nghỉ và mức sống của người dân không ngừng tăng lên, dẫn đến số lượng khách từ các địa phương đến điểm du lịch Đồ Sơn cũng không ngừng tăng lên [29]

Theo dự báo Quy hoạch Tổng thể phát triển Du lịch Hải Phòng, du lịch

Đồ Sơn phấn đấu năm 2014 tổng lượt khách sẽ là 2.250.000 lượt người Lượng khách tăng dẫn đến rác thải gia tăng, nếu chỉ sử dụng mức tính trung bình 01 khách du lịch thải ra 3,5 kg rác/ngày thì lượng rác thải do khách thải

ra vào năm 2014 là 7.875.000 kg Khối lượng nước thải cũng gia tăng tương ứng, nếu lượng nước thải được tính là 80% lượng nước cấp thì lượng nước thải trung bình cho 01 khách du lịch là 120 lít và nhân viên phục vụ là 60 lít, như vậy lượng nước thải phải xử lý cho một ngày đối với khách du lịch tại Hải Phòng vào năm 2014 là 270.000.000 lít Trong khi đó, hệ thống xây dựng khu xử lý tập trung nước thải khu du lịch Đồ Sơn đến nay chưa được hoàn

Trang 13

chỉnh và chưa được đầu tư Nước thải từ các nhà hàng, khách sạn hầu hết là thải trực tiếp ra ngoài môi trường mà không qua xử lý sơ bộ nào cả [28]

Đối với việc thu gom, vận chuyển và xử rác ở Đồ Sơn hiện nay là do Công ty TNHH MTV Công trình công cộng và dịch vụ du lịch Hải Phòng thực hiện Mỗi ngày, công ty huy động công nhân thu gom rác ở bãi tắm khu

1 và khu 2 hàng ngày và có thể làm tăng ca vào những ngày cao điểm hoặc khi rác thải trôi về sau bão Tuy nhiên, rất khó để bảo đảm các bãi tắm luôn sạch rác khi các hộ kinh doanh, người bán hàng rong, du khách vẫn hồn nhiên

xả rác, thiếu ý thức và trách nhiệm trước yêu cầu bảo đảm, giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp [22] Đối với nước thải của khu du lịch, trước đây đã

có một dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung cho khu du lịch và toàn quận Đồ Sơn Tuy nhiên hiện nay dự án này đang bị bỏ dở nhiều năm và chưa đi vào hoạt động chính thức Do vậy nước thải tại các nhà hàng, khách sạn sẽ xử lý sơ bộ hoặc không xử lý, sau đó được thải tự do ra biển trừ các khu vực bãi tắm Nước mưa, nước mặt của khu du lịch được thải trực tiếp qua

7 cửa xả và đổ trực tiếp ra biển Bên cạnh đó việc gia tăng khách du lịch vào mùa du lịch ở Đồ Sơn cũng dẫn đến việc gia tăng các loại phương tiện giao thông, là nguyên nhân gây ô nhiễm tiếng ồn và môi trường không khí

1.3.2 Một số vấn đề về kiến thức, thực hành của khách du lịch về môi trường khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng

Du lịch biển là thế mạnh của Đồ Sơn, nơi đây có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch này Là một bán đảo xinh đẹp với ba mặt giáp biển Đông, thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất này những bãi biển đẹp, rộng và dài, phong cảnh sơn thủy hữu tình có đầy đủ biển, đảo, rừng… hấp dẫn du khách Do vậy ngay từ đầu thế kỷ XX, người Pháp đã phát hiện ra tiềm năng du lịch Đồ Sơn và biến các bãi biển thành bãi tắm để Đồ Sơn trở

Trang 14

thành một trong những trung tâm du lịch tầm cỡ quốc tế, thu hút ngày càng đông đảo khách du lịch [9]

Với những điều kiện thuận lợi để phát triển tài nguyên du lịch tự nhiên thì để phát triển loại hình du lịch này không những phụ thuộc vào tài nguyên du lịch mà còn có cả yếu tố con người, cụ thể là ý thức bảo vệ môi trường của khách du lịch khi đến nghỉ dưỡng tại Đồ Sơn Việt Nam là một quốc gia đang phát triển do đó hoạt động du lịch cũng chỉ mới trở nên một hoạt động phổ biến trong những năm gần đây Một bộ phận người dân đã hình thành cho mình thói quen và ý thức khi tham gia du lịch Tuy nhiên, nhiều người cũng chỉ làm quen với việc đi du lịch, vì vậy chưa có ý thức bảo vệ môi trường và gìn giữ giá trị của điểm đến dẫn đến tình trạng nhiều điểm du lịch nổi tiếng bị ô nhiễm nghiêm trọng, rác thải bị vứt bừa bãi làm suy giảm giá trị tài nguyên [54]

Với du lịch biển Đồ Sơn, Hải Phòng hiện nay, chúng ta có thể thấy ngay trước mắt khi đến với khu du lịch này đó là lượng rác thải được vứt bừa bãi trong khu du lịch quá nhiều, nhất là các khu vực bãi tắm Vậy do đâu mà hiện tượng xả rác lại nhiều như vậy? Nguyên nhân đầu tiên là do thói quen xấu chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân của một số khách du lịch, họ cho rằng những nơi công cộng không phải là của họ, vậy thì họ không phải mất công giữ gìn Họ

cứ ném rác ra là xong, đã có đội vệ sinh lo dọn dẹp Điều này cho thấy ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường khu du lịch của khách du lịch khi đến nghỉ dưỡng tại Đồ Sơn chưa cao Mặc dù trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn có những chương trình kêu gọi ý thức bảo vệ môi trường xanh tại các khu vực công cộng của con người nhưng số lượng còn quá ít Bên cạnh đó các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến kiến thức, thực hành của người dân về lĩnh vực vệ sinh môi trường nơi ăn, ở, sinh hoạt hoặc nơi làm việc mà chưa đề cập đến kiến thức, thực hành của khách du lịch về vệ sinh môi trường du lịch tại các khu du lịch nghỉ dưỡng

Trang 15

1.4 Những tác động tiêu cực của hoạt động phát triển du lịch đến môi trường và ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe con người

1.4.1 Những tác động tiêu cực của hoạt động phát triển du lịch đến môi trường

Phát triển du lịch và các hoạt động có liên quan góp phần làm cho các tài nguyên thiên nhiên bị xuống cấp về mặt môi trường Đó là hậu quả của việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở dịch vụ du lịch và các hoạt động liên quan đến việc vận hành và bảo dưỡng các công trình du lịch cần thiết để duy trì các hoạt động giải trí cho du khách [12], [55]

Trong nhiều trường hợp, do tốc độ phát triển quá nhanh của hoạt động

du lịch vượt ngoài nhận thức và năng lực quản lý nên đã tạo sức ép lớn đến khả năng đáp ứng của tài nguyên và môi trường, gây ô nhiễm cục bộ và nguy

cơ suy thoái lâu dài [22], [23], [28] Cụ thể:

Ảnh hưởng tới nhu cầu và chất lượng nước: Du lịch là ngành công nghiệp tiêu thụ nước nhiều, thậm chí tiêu hao nguồn nước sinh hoạt để phục

vụ cho các hoạt động du lịch của ngành hơn cả nhu cầu nước sinh hoạt của địa phương

Nước thải: Nếu không có hệ thống thu gom nước thải cho khách sạn, nhà hàng thì nước thải sẽ ngấm xuống bồn nước ngầm hoặc các thuỷ vực lân cận làm lan truyền nhiều loại dịch bệnh như giun sán, đường ruột, bệnh ngoài da… hoặc làm ô nhiễm các thuỷ vực gây hại cho cảnh quan

Chất thải rắn: Vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch Đây là nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và nảy sinh xung đột xã hội Tăng áp lực về chất thải sinh hoạt tại các khu du lịch, góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường

Trang 16

Ô nhiễm không khí: Tuy được coi là ngành “Công nghiệp không khói” nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe máy và tàu thuyền, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính

Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách

có thể gây phiền hà cho cư dân địa phương và khách du lịch, đặc biệt trong mùa du lịch, ngày nghỉ cuối tuần

1.4.2 Ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe con người

Mọi người chúng ta điều biết rõ môi trường tự nhiên ô nhiễm ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người đặc biệt là sức khỏe, tuy nhiên chúng

ta không nghĩ đến mức độ nguy hại khi môi trường bị ô nhiễm [14], [48]

Theo số liệu của của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, mỗi năm thế giới có

13 triệu người tử vong liên quan đến vấn đề môi trường Tại nhiều quốc gia trên toàn cầu, trung bình cứ 100 người chết thì có hơn 10 người thiệt mạng vì các yếu tố môi trường, tiêu biểu như nguồn nước thiếu vệ sinh hay không khí

ô nhiễm

Tình trạng môi trường ở Việt Nam đang ô nhiễm ngày càng trở nên nghiêm trọng, đe dọa đến sức khoẻ con người và lan rộng trong nhiều khía cạnh từ nguồn nước, khói bụi, không khí, rác thải, tiếng ồn,…cụ thể như:

Bụi: Dựa vào kích thước hạt bụi, người ta chia bụi thành bụi toàn phần

(TSP) có đường kính khí động học dưới 50 µm và bụi PM10 có đường kính khí động học dưới 10µm là loại bụi nhỏ có thể dễ dàng xuyên qua khẩu trang, thâm nhập vào đường hô hấp của con người Hầu hết các hạt bụi có đường kính từ 5-10µm xâm nhập và lắng đọng ở đường hô hấp giữa Bụi hô hấp là những hạt bụi có đường kính khí động học dưới 5µm, có thể xâm nhập sâu đến tận các phế nang của phổi là vùng trao đổi của hệ hô hấp Ảnh hưởng của

Trang 17

bụi vào sức khỏe phụ thuộc vào tính chất, nồng độ và kích thước hạt Bụi có thể gây các bệnh đường hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, mắt, da, ung thư,

Tiếng ồn: Sinh ra từ hoạt động của máy móc, động cơ xe, tiếng còi xe, loa phát thanh, Thông số tiếng ồn có tiêu chuẩn khác nhau theo khu vực và thời gian cụ thể Khi thông số tiếng ồn vượt quá TCCP sẽ gây mệt mỏi thính giác, giảm thính lực, gây ù tai, điếc nghề nghiệp, làm nhiễu loạn chức năng não, tăng nhịp thở, giảm thị lực và khả năng phân biệt màu sắc, gây viêm dạ dày, rối loạn tuần hoàn, rối loạn thần kinh thực vật

Nước thải sinh hoạt: Nước thải thông thường trước khi thải ra ngoài môi trường mà không được xử lý qua hệ thống xử lý nước thải tập trung thì nguồn nước thải này sẽ gây ô nhiễm nguồn nước Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người mắc các bệnh cấp và mạn tính liên quan đến

ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng Người dân sinh sống quanh khu vực ô nhiễm ngày càng mắc nhiều loại bệnh tình nghi là do dùng nước bẩn trong mọi sinh hoạt Ngoài ra ô nhiễm nguồn nước còn gây tổn thất lớn cho các ngành sản xuất kinh doanh, các hộ nuôi trồng thủy sản

Chất thải rắn: Việc thải rác bừa bãi không đúng nơi quy định là nguyên nhân có thể gây ô nhiễm cả nguồn nước và ô nhiễm không khí Việc thu gom,

xử lý rác thải đang là một trong những vấn đề nghiêm trọng của môi trường Người dân sống ở khu vực bị ô nhiễm rác thải có thể có các bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy, dịch tả, thương hàn…

1.5 Các nghiên cứu trong và ngoài nước

1.5.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Theo đánh giá hiện trạng môi trường biển của nhóm GESAMP,

1990, tỷ lệ các hoạt động của con người gây ô nhiễm môi trường biển như

Trang 18

sau: Các chất dầu khí ngoài khơi chiếm 1%, giao thông biển 12%, đổ chất thải xuống biển 10%, phù sa và ô nhiễm từ đất liền 44%, ô nhiễm từ khí quyển 33%

Theo nghiên cứu về ảnh hưởng môi trường đến ngành du lịch của

Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng: Hoạt động du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, cụ thể: Ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm không khí, chất lượng nước… trong đó vấn đề đặc biệt nghiêm trọng là chất thải rắn Việc xả thải rác bừa bãi có thể là kẻ cướp đoạt môi trường tự nhiên Chất thải rắn trên biển có thể làm ô nhiễm bờ biển nghiêm trọng và gây ra cái chết của động vật biển [47], [57]

1.5.2 Các nghiên cứu trong nước

Phùng Thị Thanh Tú, khi nghiên cứu “Đánh giá tình trạng vệ sinh môi trường và các dịch vụ chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho khách du lịch ở tỉnh Khánh Hòa (2002-2004), hay trong báo cáo “Công trình nghiên cứu khoa học hội thảo quốc gia về phát triển y tế biển – đảo lần thứ 2 năm 2007” đã điều tra về chất thải lỏng khu du lịch cho thấy hiện nay chất thải lỏng ở các khu du lịch chưa được quản lý và xử lý triệt để, kiểm tra Coliform/100ml và Coliform chịu nhiệt/100ml thấy rằng tất cả các mẫu nước sinh hoạt tại khu

du lịch biển không đạt tiêu chuẩn vệ sinh về vi sinh (chiếm 89%), về mặt hóa học (kiểm tra 15 chỉ tiêu) tất cả các mẫu đạt tiêu chuẩn vệ sinh, ngoại trừ chỉ tiêu chất hữu cơ trong môi trường axit cũng đạt đến 93,3% [33]

Viện nghiên cứu phát triển du lịch đã làm nghiên cứu “Khảo sát, xây dựng dự án bảo vệ môi trường du lịch biển Hạ Long” cho thấy môi trường không khí các khu du lịch đảm bảo cho phát triển du lịch, tuy nhiên tại một

số điểm có nguy cơ ô nhiễm cục bộ về nồng độ bụi lơ lửng, khí SO, CO Vấn đề áp lực chính đối với môi trường du lịch biển do nhiều lĩnh vực khác

Trang 19

nhau trong đó chủ yếu các đối tượng tham gia trực tiếp hoạt động tại khu vực Vịnh như hoạt động tàu thuyền, cộng đồng tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ trên Vịnh Nguyên nhân khách quan là trình độ nhận thức và

ý thức bảo vệ môi trường du lịch biển của cộng đồng chưa được đầy đủ, công tác tổ chức và quản lý môi trường còn bất cập [37]

Võ Quế khi “Điều tra, khảo sát hiện trạng và đánh giá tác động môi trường du lịch đảo Phú Quốc để điều chỉnh quy hoạch phát triển du lịch đảo Phú Quốc trong khuôn khổ đề án bảo vệ môi trường đảo Phú Quốc đến năm

2010 và định hướng đến năm 2020” cho thấy đánh giá chung về chất lượng môi trường trên đảo vẫn đảm bảo để phát triển kinh tế và xã hội trong đó có phát triển du lịch sinh thái chất lượng cao Tuy nhiên chất lượng môi trường tại một số khu vực đang bị ô nhiễm cục bộ, các chỉ tiêu vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có xu hướng tăng lên dẫn đến chất lượng môi trường tại một số khu vực giảm xuống, có chiều hướng phức tạp và ảnh hưởng đến chất lượng môi trường du lịch [39]

Trong báo cáo tổng hợp “Điều tra, khảo sát, xây dựng chương trình tăng cường năng lực kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động du lịch” cho thấy việc quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật thu gom, xử lý chất thải trong hoạt động phát triển du lịch còn chưa được quan tâm triển khai trên phạm vi cả nước, thậm chí ở các trọng điểm phát triển du lịch [36]

Trang 20

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

* Điều kiện môi trường du lịch tại khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng bao gồm các chỉ tiêu sau:

- Một số chỉ tiêu chất lượng nước biển ven bờ;

- Nước thải;

- Chất thải rắn;

- Chất lượng không khí và tiếng ồn

* Khách du lịch:

Tiêu chuẩn lựa chọn: Khách du lịch từ 15 tuổi trở lên

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ 09/2013 đến 09/2014 Tương ứng với 02 mùa du lịch như sau:

+ Mùa du lịch (Hè – Thu): Từ 30/4/2014 đến 2/9/2014;

+ Mùa không du lịch (Đông – Xuân): Từ 03/9/2013 đến 30/4/2014

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

Khu 1 và khu 2 thuộc khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Trang 21

2.2.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu

2.2.2.1 Cỡ mẫu và chọn mẫu cho nghiên cứu thực trạng môi trường du lịch tại khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng

* Nước biển ven bờ:

Địa điểm lấy mẫu: Lấy cách bề mặt nước 50 cm theo quy chuẩn Việt Nam về lấy mẫu nước biển tại bãi biển 1 và bãi biển 2 của khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng

Thời điểm lấy mẫu: Mùa du lịch và mùa không du lịch theo chu kỳ triều vào lúc nước lớn (thời gian nước triều lên cao nhất) và lúc nước ròng (lúc triều xuống thấp nhất)

* Chất lượng không khí xung quanh và tiếng ồn:

Địa điểm lấy mẫu: Theo 4 hướng Bắc (Điểm KK1) - Nam (Điểm KK2) - Đông (Điểm KK3) - Tây (Điểm KK4) và vị trí trung tâm của bãi biển 1 và bãi biển 2 (Điểm KK5)

Thời điểm lấy mẫu: Mùa du lịch và mùa không du lịch

Trang 22

Tổng số mẫu: 20 mẫu

2.2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu cho nghiên cứu thực trạng kiến thức, thực hành của khách du lịch về môi trường du lịch tại khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng

* Cỡ mẫu: Do là nghiên cứu mới nên chúng tôi áp dụng cách tính mẫu chung

nhất (tỉ lệ 50%) theo công thức sau:

2

d

p 1 p 2

Z

Trong đó:

n: Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu (khách du lịch cần điều tra)

p: Tỷ lệ ước lượng khách du lịch có kiến thức, thực hành về các vấn đề được điều tra, p = 0,5

là 768 người, lấy tròn n = 800

* Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên, gặp ai hỏi người đấy Đối

tượng nghiên cứu là khách du lịch người Việt Nam

2.3 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1 Công cụ nghiên cứu

* Dụng cụ thu mẫu:

Lấy mẫu nước biển ven bờ bằng Batomet: Van Dorn Sampler thể tích 2 lít Lấy mẫu nước thải bằng chai nhựa sấy khô

Trang 23

Phiếu điều tra

* Thiết bị đo đạc các thông số ngoài hiện trường bao gồm:

Máy đo nhanh tiếng ồn: Máy đo hãng Testo, sản xuất tại Đức

Máy đo bụi: Máy đo bụi hiện số, hãng Digital Dust indicator LD-3B Sibata, sản xuất tại Nhật

Máy đo chất lượng không khí xung quanh: Máy đo hãng GFG – G460, sản xuất tại Đức

Máy đo chất lượng nước bao gồm:

+ Nhiệt độ nước được đo bằng nhiệt kế thuỷ ngân chuyên dụng hoặc máy đo nhiệt độ, chính xác đến 0,10

C

+ pH của nước được đo bằng máy đo pH, chính xác đạt 0,01 đơn vị + Ôxy hòa tan trong nước được đo bằng máy đo ôxy hoặc chuẩn độ theo phương pháp Winkler, chính xác đến 0,01 mg/l

* Phân tích trong phòng thí nghiệm

Nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD5) được xác định bằng phương pháp trực tiếp, không pha loãng, ủ ở nhiệt độ 200C, chính xác đến 0,01 mg/l

Nhu cầu ôxy hóa học (COD) được xác định bằng phương pháp ôxy hóa Kali Permanganat (KMnO4) trong môi trường kiềm, chính xác đến 0,01 mg/l

Nồng độ dầu trong nước được chiết bằng n-hexan, sau đó làm khan bằng

Na2SO4 khan, xác định bằng phương pháp trọng lượng hoặc phương pháp so màu, sai số 0,025mg/l

Nồng độ các chất dinh dưỡng: Phosphat (PO4

3-), (NH4

+) được xác định bằng phương pháp so mầu tiêu chuẩn hoặc đo bằng máy đo quang phổ kế DR/2000 HACH, USA Sai số của các phép đo PO4

là 0,1g/l, của NO3

là 0,5g/l

Trang 24

Coliform trong nước: Mẫu nước được lấy vào chai sạch đã khử trùng và đậy kín nút Được bảo quản trong khoang lạnh Xác định Coliform bằng phương pháp màng lọc với môi trường Lauryl sunfate ở nhiệt độ 370C trong thời gian 12-16 giờ, sai số 5%

2.3.2 Kỹ thuật thu thập số liệu

2.3.2.1 Chất lượng nước biển ven bờ

Nước biển ven bờ được lấy mẫu và xét nghiệm bởi các cán bộ nghiên cứu phòng Hoá Môi trường Biển theo chương trình quan trắc của Trạm Quan trắc và phân tích môi trường biển ven bờ phía Bắc, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam Các chỉ tiêu đo nhanh ngoài hiện trường bao gồm: pH, nhiệt độ, ôxy hoà tan trong nước Phân tích trong phòng thí nghiệm các chỉ tiêu còn lại

Giá trị giới hạn của các thông số trong nước biển ven bờ được so với QCVN 10:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ ở khu vực vùng bãi tắm, thể thao dưới nước

Bảng 2.1 Giá trị giới hạn của các thông số trong nước biển ven bờ

Trang 25

2.3.2.2 Chất thải rắn

Quan sát trực tiếp quá trình thu gom của đối tượng nghiên cứu tại nguồn phát sinh và đo lượng rác thải trên xe chở rác chuyên dụng theo lịch thu gom của Công ty TNHH MTV Công trình công cộng và dịch vụ du lịch Hải Phòng tính theo m3/ngày

2.3.2.3 Chất lượng không khí xung quanh

Đo nhanh ngoài hiện trường các chỉ tiêu không khí xung quanh bởi thiết bị đo nhanh do các kỹ sư môi trường khoa Y học môi trường biển, Viện

Y học biển Việt Nam thực hiện Giá trị giới hạn của các thông số trong không khí xung quanh được so với QCVN 05:2013/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh

Bảng 2.2 Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh

chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn

Bảng 2.3 Giới hạn tối đa cho phép về tiếng ồn

(theo mức âm tương đương – dBA)

TT Khu vực Từ 6 giờ đến 21 giờ Từ 21 giờ đến 6 giờ

Trang 26

2.3.2.5 Chất lượng nước thải sinh hoạt

Nước thải sinh hoạt được lấy mẫu và xét nghiệm bởi cán bộ nghiên cứu phòng Hoá Môi trường Biển, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam Đo nhanh ngoài hiện trường chỉ tiêu pH và phân tích trong phòng thí nghiệm các giá trị còn lại Giá trị giới hạn của các thông số trong nước thải sinh hoạt được so với QCVN 14:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt

Bảng 2.4 Giá trị giới hạn của các thông số trong nước thải sinh hoạt

Trang 27

Cột B quy định giá trị C của các thông số ô nhiễm làm cơ sở tính toán giá trị tối đa cho phép trong nước thải sinh hoạt khi thải vào các nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt [4]

2.3.2.6 Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu

Điền thông tin vào mẫu phiếu in sẵn thống nhất

Nhóm nghiên cứu phát phiếu điều tra về môi trường khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng cho từng đối tượng nghiên cứu, hướng dẫn ghi đầy đủ các thông tin trong phiếu Mỗi người đọc kỹ câu hỏi, lựa chọn câu trả lời vào ô thích hợp

2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

2.4.1 Nhóm biến mô tả thực trạng môi trường tại khu du lịch Đồ Sơn

* Một số chỉ tiêu nước biển ven bờ: Nhiệt độ, pH, Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Ôxy hoà tan (DO), Nhu cầu ôxy hoá học (COD), Amôni (N-

NH+4), Dầu mỡ khoáng tổng số, Tổng Coliforms

* Chỉ tiêu nước thải sinh hoạt: pH, BOD5 (200C) (Nhu cầu ôxy sinh hoá), Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Tổng chất rắn hòa tan, Tổng các chất hoạt động bề mặt, Sunfua (tính theo H2S), Amôni, Nitrat (NO3-), Dầu mỡ động - thực vật, Phosphat (PO43-), Tổng Coliforms

* Chất thải rắn: Lượng chất thải rắn phát sinh (m3/ngày), số lần thu gom chất thải rắn (lần/ngày), số lượng thùng rác (chiếc)

* Chỉ tiêu chất lượng không khí xung quanh: SO2, CO, NO2, Bụi

* Tiếng ồn

2.4.2 Nhóm biến mô tả thực trạng kiến thức, thực hành của khách du lịch

về môi trường du lịch tại khu du lịch Đồ Sơn

* Giới: Chia theo giới tính Nam/ Nữ

Trang 28

* Tuổi: Chia thành nhóm tuổi: Dưới 20 tuổi, 20 đến 29 tuổi, 30 đến 39 tuổi, 40 đến 49 tuổi và từ 50 tuổi trở lên

* Nghề nghiệp: Chia thành các nhóm nghề: Làm việc văn phòng, Công nhân/Tự do, Học sinh/Sinh viên, Hưu trí, Làm ruộng

* Trình độ học vấn: Chia thành các nhóm có trình độ CĐ/ĐH, THPT, THCS, Tiểu học và mù chữ

2.5 Phương pháp xử lý số liệu

2.5.1 Thu thập số liệu

Thông tin điều tra được ghi nhận vào các phiếu phỏng vấn

Kết quả đo và phân tích các chỉ tiêu môi trường được ghi trong các bảng kết quả nghiên cứu dựng sẵn

2.5.2 Xử lý số liệu nghiên cứu

Trong nghiên cứu đánh giá thực trạng môi trường sử dụng các phương

pháp xử lý số liệu, tính toán và biểu diễn kết quả như sau:

+ Toàn bộ số liệu thu thập được kiểm tra, xử lý, tính toán trên các phần mềm thống kê thông dụng

+ Thể hiện đồ thị trên các phần mềm SPSS 16.0

Trình bày kết quả dưới dạng tỷ lệ cho các biến định tính

2.6 Hạn chế sai số

Tập huấn cho các cán bộ điều tra về nội dung nghiên cứu

Nội dung của các mẫu phiếu điều tra được đánh giá về tính hợp lý và

độ tin cậy qua điều tra thử và chỉnh sửa

Làm sạch số liệu tại thực địa trước khi nhập số liệu để xử lý

Trang 29

2.7 Đạo đức trong vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu theo đúng đề cương của Hội đồng khoa học trường Đại học

Y Dược Hải Phòng thông qua và được sự đồng ý của Ban lãnh đạo Viện Y học biển, khoa Y học môi trường biển, Trạm Quan trắc và phân tích môi trường biển ven bờ phía Bắc thuộc Viện Tài nguyên và Môi trường Biển và Công ty TNHH MTV Công trình công cộng và dịch vụ du lịch Hải Phòng

Các quan sát và điều tra chỉ tiến hành trên khách du lịch tình nguyện tham gia nghiên cứu sau khi được giải thích trước về mục đích nghiên cứu

Mọi thông tin mà đối tượng nghiên cứu cung cấp được đảm bảo bí mật, không sử dụng vào mục đích nào khác ngoài mục đích nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch, cải thiện môi trường khu du lịch cho du khách khi đến nghỉ dưỡng không nhằm một mục đích nào khác

Trang 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng môi trường du lịch tại khu du lịch Đồ Sơn, Hải Phòng

Bảng 3.1 Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu chất lượng nước biển ven bờ

bãi tắm 1 (Nước lớn)

10:2008/ BTNMT Mùa DL không DL Mùa

Nhận xét: Nước biển ven bờ bãi tắm 1 lúc nước lớn ở cả 02 mùa du

lịch và không du lịch có các thông số quan trắc hầu hết đều có giá trị nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước biển ven bờ QCVN 10:2008/BTNMT Giá trị đo được về nhiệt độ nước biển ven bờ trong

mùa du lịch cao hơn 1,023 lần so với quy chuẩn cho phép

Trang 31

Bảng 3.2 Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu chất lượng nước biển ven bờ

bãi tắm 2 (Nước lớn)

10:2008/ BTNMT Mùa DL không DL Mùa

Nhận xét: Nước biển ven bờ bãi tắm 2 lúc nước lớn ở cả 02 mùa du

lịch và không du lịch có các thông số quan trắc hầu hết đều có giá trị nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước biển ven bờ QCVN 10:2008/BTNMT Giá trị đo được về nhiệt độ nước biển ven bờ trong

mùa du lịch cao hơn 1,02 lần so với quy chuẩn cho phép

Trang 32

Bảng 3.3 Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu chất lượng nước biển ven bờ

bãi tắm 1 (Nước ròng)

10:2008/ BTNMT Mùa DL không DL Mùa

Nhận xét: Hầu hết các thông số quan trắc trong nước biển ven bờ tại

bãi tắm 1 lúc nước ròng ở cả 02 mùa du lịch và không du lịch đều có giá trị nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 10:2008/BTNMT Riêng thông số dầu mỡ khoáng mùa du lịch cao hơn quy chuẩn cho phép là 2,4 lần và mùa không du lịch cao hơn quy chuẩn cho phép là 1,8 lần

Trang 33

Bảng 3.4 Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu chất lượng nước biển ven bờ

bãi tắm 2 (Nước ròng)

10:2008/ BTNMT Mùa DL không DL Mùa

Nhận xét: Tất cả các thông số quan trắc trong nước biển ven bờ tại bãi

tắm 2 lúc nước ròng ở cả 02 mùa du lịch và không du lịch đều có giá trị nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 10:2008/BTNMT

Trang 34

Bảng 3.5 Kết quả quan trắc các chỉ tiêu chất lượng nước thải sinh hoạt (Khu 1)

14:2008/ BTNMT

Nhận xét: Nước thải sinh hoạt tại hố ga khách sạn Công Đoàn thuộc

khu 1 ở cả 02 mùa du lịch và không du lịch có 7/11 chỉ tiêu vượt giới hạn cho phép của QCVN 14:2008/BTNMT

Trang 35

Bảng 3.6 Mức độ vượt giới hạn cho phép (lần) của các chỉ tiêu chất lượng nước

thải sinh hoạt (Khu 1)

Nhận xét: Kết quả bảng 3.6 cho thấy chỉ tiêu coliform vượt GHCP

nhiều lần (mùa du lịch vượt 22 lần, mùa không du lịch vượt 20 lần) Các chỉ tiêu khác vượt GHCP từ 1,03 đến 2,35 lần

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (2001), ”Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam”
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Năm: 2001
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), ”Chất thải rắn - Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất thải rắn - Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), ”Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và Môi trường”, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và Môi trường”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Niên
Năm: 2009
5. Dương Thanh Nghị (2014), ”Hiện trạng chất lượng môi trường nước vùng ven bờ từ Quảng Ninh đến Quảng Bình năm 2013”, Tạp chí khoa học và công nghệ Biển, tập 14, số 3A, 9/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Hiện trạng chất lượng môi trường nước vùng ven bờ từ Quảng Ninh đến Quảng Bình năm 2013”
Tác giả: Dương Thanh Nghị
Năm: 2014
6. Dương Xuân Hùng (2008), ”Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân ở 2 xã vùng sâu huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”, Trường Đại học Y khoa – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân ở 2 xã vùng sâu huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”
Tác giả: Dương Xuân Hùng
Năm: 2008
7. Đàm Khải Hoàn (2004), ”Thực trạng và KAP về vệ sinh môi trường của người dân ở 2 xã vùng cao huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí Y dược học, số 64/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Thực trạng và KAP về vệ sinh môi trường của người dân ở 2 xã vùng cao huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”
Tác giả: Đàm Khải Hoàn
Năm: 2004
8. Hoàng Thái Sơn (2009), ”Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”, Trường Đại học Y dược – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”
Tác giả: Hoàng Thái Sơn
Năm: 2009
9. Lê Thị Thúy (2010), “Hoạt động xúc tiến du lịch ở Đồ Sơn”, Đại học Dân lập Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoạt động xúc tiến du lịch ở Đồ Sơn”
Tác giả: Lê Thị Thúy
Năm: 2010
10. Đào Mạnh Tiến (2007), ”Điều tra đánh giá hiện trạng môi trường Phú Quốc”, Liên đoàn Địa chất Biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Điều tra đánh giá hiện trạng môi trường Phú Quốc”
Tác giả: Đào Mạnh Tiến
Năm: 2007
12. Nguyễn Hồng Thao (1997), “Những điều cần biết về Luật Biển”, NXB CAND, Hà Nội, trang 7 – 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những điều cần biết về Luật Biển”
Tác giả: Nguyễn Hồng Thao
Nhà XB: NXB CAND
Năm: 1997
13. Nguyễn Hồng Thao (2001),“Bảo vệ môi trường biển Việt Nam”, “Tổng quan Tài nguyên và môi trường biển thế giới”, Trung tâm thông tin và công nghệ quốc gia, trang 1 – 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bảo vệ môi trường biển Việt Nam”, "“Tổng quan Tài nguyên và môi trường biển thế giới”
Tác giả: Nguyễn Hồng Thao
Năm: 2001
14. Nguyễn Hữu Cử (2006), Báo cáo tổng kết đề tài: ”Nghiên cứu xây dựng giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển bền vững huyện đảo Bạch Long Vỹ”, Đề tài cấp HP, 2005-2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Nghiên cứu xây dựng giải pháp bảo vệ môi trường phục vụ phát triển bền vững huyện đảo Bạch Long Vỹ”
Tác giả: Nguyễn Hữu Cử
Năm: 2006
15. Nguyễn Hữu Huân và cộng sự (2003), ”Hiện trạng nhiễm bẩn môi trường vùng ven bờ tỉnh Bình Định và những định hướng khắc phục”, thuộc Dự án Nghiên cứu xây dựng phương án quản lý tổng hợp ven bờ biển tỉnh Bình Định, 60 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Hiện trạng nhiễm bẩn môi trường vùng ven bờ tỉnh Bình Định và những định hướng khắc phục”
Tác giả: Nguyễn Hữu Huân và cộng sự
Năm: 2003
16. Nguyễn Hữu Huân và cộng sự (2005), ”Đánh giá hiện trạng nhiễm bẩn môi trường do sông thải ra biển tại vùng cửa sông, thuộc Dự án đánh giá tình trạng ô nhiễm bờ biển tỉnh Nam Trung Bộ”, Báo cáo khoa học, Viện Hải dương học Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Đánh giá hiện trạng nhiễm bẩn môi trường do sông thải ra biển tại vùng cửa sông, thuộc Dự án đánh giá tình trạng ô nhiễm bờ biển tỉnh Nam Trung Bộ”
Tác giả: Nguyễn Hữu Huân và cộng sự
Năm: 2005
17. Nguyễn Tác An và cộng sự (1998), ”Điều tra hiện trạng môi trường ven biển thành phố Nha Trang, đề xuất các giải pháp cải thiện và phát triển môi trường”, Báo cáo khoa học Viện Hải dương học Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Điều tra hiện trạng môi trường ven biển thành phố Nha Trang, đề xuất các giải pháp cải thiện và phát triển môi trường”
Tác giả: Nguyễn Tác An và cộng sự
Năm: 1998
18. Nguyễn Tác An (2002), ”Tiếp cận quản lý tổng hợp vùng biển ven bờ Việt Nam để phát triển bền vững”, Báo cáo tại Hội nghị khoa học Biển Đông – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Tiếp cận quản lý tổng hợp vùng biển ven bờ Việt Nam để phát triển bền vững”
Tác giả: Nguyễn Tác An
Năm: 2002
19. Nguyễn Tác An (2007), ”Mô hình quản lý tổng hợp vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam”, Hội nghị khoa học Biển Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Mô hình quản lý tổng hợp vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam”
Tác giả: Nguyễn Tác An
Năm: 2007
20. Nguyễn Thị Tuyết (2009), ”Tìm hiểu về nhận thức, thái độ và hành vi của người dân về ô nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom, và xử lý rác thải sinh hoạt”, Khoa Xã hội học – Trường Đại học Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Tìm hiểu về nhận thức, thái độ và hành vi của người dân về ô nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom, và xử lý rác thải sinh hoạt”
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết
Năm: 2009
21. Nguyễn Văn Tạc (2002), ”Ô nhiễm bờ biển, ô nhiễm biển”, Các báo cáo tại Hội nghị khoa học Biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Ô nhiễm bờ biển, ô nhiễm biển”
Tác giả: Nguyễn Văn Tạc
Năm: 2002
22. Phạm Quốc Ka (2006), ”Đánh giá hiện trạng công tác quản lí chất thải rắn trên địa bàn thành phố Hải Phòng, đề xuất giải pháp trong công tác quản lý chất thải rắn của TP Hải Phòng đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, Luận văn thạc sỹ khoa học, Thư viện trường Đại học Bách khoa – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Đánh giá hiện trạng công tác quản lí chất thải rắn trên địa bàn thành phố Hải Phòng, đề xuất giải pháp trong công tác quản lý chất thải rắn của TP Hải Phòng đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”
Tác giả: Phạm Quốc Ka
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu chất lượng nước biển ven bờ - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Bảng 3.1. Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu chất lượng nước biển ven bờ (Trang 30)
Bảng 3.2. Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu chất lượng nước biển ven bờ - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Bảng 3.2. Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu chất lượng nước biển ven bờ (Trang 31)
Bảng 3.5. Kết quả quan trắc các chỉ tiêu chất lượng nước thải sinh hoạt (Khu 1) - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Bảng 3.5. Kết quả quan trắc các chỉ tiêu chất lượng nước thải sinh hoạt (Khu 1) (Trang 34)
Bảng 3.8. Mức độ vượt giới hạn cho phép (lần) của các chỉ tiêu chất lượng nước - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Bảng 3.8. Mức độ vượt giới hạn cho phép (lần) của các chỉ tiêu chất lượng nước (Trang 37)
Bảng 3.9. Kết quả khảo sát về dụng cụ và lượng rác thải phát sinh - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Bảng 3.9. Kết quả khảo sát về dụng cụ và lượng rác thải phát sinh (Trang 38)
Bảng 3.10.  Kết quả quan trắc các chỉ tiêu  không khí xung quanh khu 1    vào mùa du lịch - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Bảng 3.10. Kết quả quan trắc các chỉ tiêu không khí xung quanh khu 1 vào mùa du lịch (Trang 39)
Bảng 3.12. Kết quả quan trắc các chỉ tiêu không khí xung quanh khu 2 vào - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Bảng 3.12. Kết quả quan trắc các chỉ tiêu không khí xung quanh khu 2 vào (Trang 40)
Bảng 3.14. Kết quả quan trắc chỉ tiêu tiếng ồn - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Bảng 3.14. Kết quả quan trắc chỉ tiêu tiếng ồn (Trang 41)
Bảng 3.13. Kết quả quan trắc các chỉ tiêu không khí xung quanh khu 2 vào - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Bảng 3.13. Kết quả quan trắc các chỉ tiêu không khí xung quanh khu 2 vào (Trang 41)
Hình 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Hình 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính (Trang 42)
Hình 3.2.  Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Hình 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn (Trang 43)
Hình 3.3. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Hình 3.3. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp (Trang 43)
Hình 3.4. Kiến thức của khách du lịch về một số yếu tố ảnh hưởng tiêu cực - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Hình 3.4. Kiến thức của khách du lịch về một số yếu tố ảnh hưởng tiêu cực (Trang 44)
Hình 3.5. Nguyên nhân gây mất vệ sinh môi trường khu du lịch (n = 800) - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
Hình 3.5. Nguyên nhân gây mất vệ sinh môi trường khu du lịch (n = 800) (Trang 45)
Bảng  3.19.  Kết  quả  đánh  giá  việc  thực  hành  để  rác  thải  sinh  hoạt  của  khách du lịch (n = 800) - Nghiên cứu thực trạng rối loạn dung nạp glucose máu, đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của thuyền viên đến khám sức khỏe tại viện y học biển việt nam năm 2014
ng 3.19. Kết quả đánh giá việc thực hành để rác thải sinh hoạt của khách du lịch (n = 800) (Trang 46)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w