BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH NGUYỄN HỮU HUẤN NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC NĂM 20
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HỮU HUẤN
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN
NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HỮU HUẤN
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN
NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC NĂM 2018
Chuyên ngành: KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ LĨNH VỰC SỨC KHỎE
Mã số: 8310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN LƯU BẢO ĐOAN
TP HỒ CHÍ MINH - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu sử dụng trong phân tích luận văn có nguồn gốc rõ ràng, và được hội đồng đạo đức chấp thuận Những kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự khảo sát, tìm hiểu và phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Việt Nam Tất cả các tài liệu tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy
đủ Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kì nghiên cứu nào
TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Người cam đoan
Nguyễn Hữu Huấn
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 4
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5
1.3.1 Mục tiêu tổng quát 5
1.3.2 Mục tiêu cụ thể 5
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 6
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM, TẦM QUAN TRỌNG VÀ MÔ HÌNH AN TOÀN NGƯỜI BỆNH 7
2.1.1 Một số khái niệm 7
2.1.1.1 Văn hóa 7
2.1.1.2 An toàn người bệnh 7
2.1.2 Tầm quan trọng của an toàn người bệnh 8
2.1.3 Mô hình an toàn người bệnh 10
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 12
2.2.1 Trên thế giới 12
2.2.2 Tại Việt Nam 16
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
Trang 53.1 CÁCH SỬ DỤNG THANG ĐO NGHIÊN CỨU, CHỈ SỐ VÀ BIẾN
SỐ 17
3.1.1 Cách sử dụng thang đo 17
3.1.1.1 Định nghĩa 17
3.1.1.2 Lược khảo các nghiên cứu về khảo sát văn hóa an toàn người bệnh sử dụng bộ câu hỏi HSOPSC 18
3.2 CHỈ SỐ VÀ BIẾN SỐ 19
3.3 MÔ HÌNH PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH 23
3.4 DỮ LIỆU 24
3.4.1 Các định nghĩa về dữ liệu 24
3.4.2 Số mẫu 25
3.5 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 25
3.6 MÔ HÌNH HỒI QUY TUYẾN TÍNH 27
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 28
4.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 28
4.2 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ THANG ĐO 32
4.2.1 Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha 32
4.2.2 Kiểm định thang đo của các khái niệm nghiên cứu bằng phương pháp phân tích EFA 35
4.3 XÁC ĐỊNH VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN 38
4.4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY 51
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 55
5.1 TÓM TẮT PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 55
5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 55
5.3 MỘT SỐ HẠN CHẾ TRONG NGHIÊN CỨU 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Danh mục tài liệu Tiếng Việt 55
Trang 6Danh mục tài liệu Tiếng Anh 55 PHỤ LỤC 1 Bảng câu hỏi khảo sát chính thức 61 PHỤ LỤC 2 Tổng quan về Văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện quận Thủ Đức 67 PHỤ LỤC 3 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 73 PHỤ LỤC 4 Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha 77 PHỤ LỤC 5 Kiểm định thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) 87 PHỤ LỤC 6 Xác định văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện 93 PHỤ LỤC 7 Kết quả phân tích hồi quy 111
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AHRQ : Cơ quan nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khỏe
AIDS : Hội chứng suy giảm miễn dịch ở người
APSEF : Khung giáo dục an toàn bệnh nhân Australia
ATNB : An toàn người bệnh
HSOPSC : Bộ câu hỏi khảo sát văn hóa an toàn người bệnh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.6 Làm việc bao nhiêu giờ trong một tuần 31
Bảng 4.7 Thu nhập trung bình hàng tháng 31
Bảng 4.8 Hệ số Cronbach’s Alpha của các khái niệm nghiên cứu 32
Bảng 4.8 Kết quả phân tích nhân tố khám phá của các khái niệm nghiên cứu 35
Bảng 4.10 Hoạt động nhóm trong khoa (Y1) 38
Bảng 4.11 Vai trò lãnh đạo (Y2) 39
Bảng 4.12 Sự cải thiện liên tục về ATNB (Y3) 40
Bảng 4.13 Chính sách của bệnh viện về ATNB (Y4) 41
Bảng 4.14 Nhận thức chung về ATNB (Y5) 42
Bảng 4.16 Giao tiếp và cởi mở (Y7) 44
Bảng 4.17 Tần suất báo cáo sự cố (Y8) 45
Bảng 4.18 Hoạt động nhóm liên khoa (Y9) 46
Bảng 4.19 Vai trò của nhân lực (Y10) 47
Bảng 4.20 Giao ca và chuyển bệnh (Y11) 48
Bảng 4.21 Phản ứng với các sai sót lỗi (Y12) 49
Bảng 4.22 Điểm trung bình 12 nhân tố 50
Bảng 4.23 Kết quả phân tích hồi quy 51
Bảng 1 Hoạt động khám bệnh 68
Bảng 2 Hoạt động Phẫu thuật Thủ thuật 69
Bảng 3 Hoạt động Cận lâm sàng 70
Bảng 4 Các chỉ số liên quan đến an toàn người bệnh 72
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ – ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Khung giáo dục an toàn bệnh nhân Australia (WHO, 2011) 10
Hình 2.2 Mô hình giáo dục an toàn bệnh nhân Canada (WHO 2011) 11
Hình 2.3 Mô hình lấy người bệnh làm trung tâm của Lương Ngọc Khuê và cộng sự 2014 12
Hình 3.1 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa người bệnh Phát triển dựa trên khung phân tích của Trần Nguyễn Như Anh (Trần Nguyễn Như Anh 2015) 23
Biểu đồ 4.1 Số lượng nhân viên theo khối 28
Biểu đồ 4.2 Vị trí công việc 29
Biểu đồ 4.3 Thời gian công tác tại bệnh viện 29
Biểu đồ 4.4 Thời gian công tác tại khoa phòng 30
Biểu đồ 4.5 Công việc trực tiếp tiếp xúc với người bệnh 30
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc sức khỏe toàn dân và giảm thiểu những tổn hại về tinh thần, vật chất trong quá trình chăm sóc cũng như điều trị tại bệnh viện là một vấn đề có tầm quan trọng trong hệ thống y tế hiện nay Với những nghiên cứu từ những quốc gia phát triển, đã giúp cho các chuyên gia quản lý bệnh viện hiểu rõ được những sai sót từ y
tế đã tạo ra gánh nặng cho con người và xã hội về tất cả mọi mặt trong cuộc sống (Aranaz-Andrés, Aibar-Remón et al 2011)
Trong thực hành y khoa nguyên tắc hàng đầu đó là “Trước tiên là không gây tổn hại cho người bệnh – First Do No Harm to Patient” (Lương Ngọc Khuê and Phạm Đức Mục 2014), (Nightingale 1863) Tuy nhiên, đã có nhiều chứng cứ được thu thập từ nhiều thập kỷ qua hoặc lâu hơn, đã chỉ ra rằng một số lượng đáng kể các bệnh nhân bị thương tích là do điều trị trong khi ở bệnh viện (Schimmel 1964) Chính vì thế, an toàn người bệnh là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong ngành y
tế và là trọng tâm để cải tiến chất lượng khám bệnh và điều trị, quản lý chất lượng chăm sóc và cung cấp dịch vụ, quản lý các sai sót trong y khoa tại các cơ sở y tế Bên cạnh đó, xây dựng văn hoá an toàn người bệnh là hoạt động quan trọng sẽ làm thay đổi theo chiều hướng tích cực những suy nghĩ, thái độ và hành vi của nhân viên bệnh viện liên quan đến an toàn người bệnh
Đẩy mạnh văn hoá an toàn đã trở thành một trong những phong trào chủ đạo của an toàn người bệnh trong các cơ sở y tế Trong những năm gần đây sự hiểu biết
về văn hóa an toàn ngày càng tăng trong ngành chăm sóc sức khoẻ, có nhiều yếu tố được đề cập đến như là sản xuất thuốc, hiệu quả điều trị và kiểm soát chi phí về y tế (Gaba, Howard et al 1994), tổ chức và cá nhân không có khả năng xác định được sai sót (Leape 1994) và các tiêu chí đúng chuẩn về chuyên môn, về sự phối hợp giữa các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ (Krizek 2000) với yêu cầu về an toàn của bệnh nhân Ngày càng có nhiều văn hoá của ngành y tế được coi là một yếu tố nguy cơ tiềm ẩn gây đe dọa cho các bệnh nhân mà họ chăm sóc
Trang 11Các chuyên gia của Viện Y học (IOM) ước tính rằng có tới 98.000 người chết trong một năm bất kỳ do các lỗi y khoa xảy ra trong bệnh viện Cao hơn do chết vì tai nạn xe cơ giới, ung thư vú, hoặc AIDS - ba nguyên nhân được cộng đồng quan tâm Các nghiên cứu khác, ước tính gần 195.000 ca tử vong mỗi năm Thật vậy, nhiều người chết hàng năm từ các sai sót về thuốc hơn là từ thương tích ở nơi làm việc Gánh nặng về chi phí tài chính vào bi kịch của con người, và các sai sót về y tế ngày càng tăng lên, phổ biến rộng rãi trong cộng đồng (Donaldson 2008)
Nghiên cứu của James ước tính hàng năm có đến 210.000 – 400.000 ca tử vong nguyên nhân chủ yếu là do sai sót trong y khoa, tuy nhiên tại một số bệnh viện thì những sai sót này có thể ngăn chặn được bởi nhân viên y tế (James 2013)
Tại Hoa Kỳ, sai sót y khoa là nguyên nhân thứ ba gây tử vong Mỗi ngày có đến 700 người tử vong và phần lớn trong số họ có một nạn nhân thứ hai là các y tá, bác sĩ, nhân viên xã hội, các nhà quản lý, dược sĩ liên quan đến sự chăm sóc của họ (Makary and Daniel 2016)
Hầu như tất cả các bác sĩ đều mắc sai lầm nhưng họ thường không nói với bệnh nhân hoặc gia đình về điều đó Trong thực hành lâm sàng, lỗi của con người là phổ biến nhưng thông thường chúng không được báo cáo (Singh, Thomas et al 2007) Chính vì vậy rất ít báo cáo về nguyên nhân và hậu quả của các lỗi y khoa Hơn thế nữa, phải đối mặt với một lỗi y khoa là không bao giờ dễ dàng và đó cũng
là lý do nó không được tiết lộ (Wu, Folkman et al 2003) Thông thường khó có thể nhận ra sai lầm của mình, nhưng cần phải đối mặt với tình hình và cố gắng học hỏi
từ nó để tránh những lỗi tương lai Xác định các yếu tố nguy cơ cho các lỗi y khoa
là bước đầu tiên quan trọng hướng tới việc phòng ngừa và là mục tiêu quan trọng của đảm bảo chất lượng chăm sóc người bệnh (Brennan, Leape et al 2004)
Mặt khác, hậu quả của các sự cố y khoa không mong muốn làm cho người bệnh phải nằm viện kéo dài và tăng phí tổn điều trị như ở Anh tổn thất 800.000 bảng anh mỗi năm; Châu Âu từ 13 đến 24 tỷ Euro/năm (Westat, Sorra et al 2010)
Sử dụng dữ liệu về chi phí cho các lỗi y khoa tại Hoa Kỳ là 19,5 tỷ USD trong năm
2008 Trong số này, phần lớn (khoảng 87% hoặc 17 tỷ USD) là tăng trực tiếp chi phí y tế cho việc điều trị nội trú, bệnh nhân ngoại trú và kê thuốc theo toa cho
Trang 12những cá nhân bị ảnh hưởng bởi các lỗi y khoa Việc này làm cho chi phí gián tiếp tăng lên khoảng 1,4 tỷ USD liên quan đến tỷ lệ tử vong gia tăng giữa các cá nhân gặp phải các lỗi y khoa và khoảng 1,1 tỷ USD liên quan đến năng suất bị mất do các yêu cầu về tàn tật ngắn hạn liên quan (Chmieleski, Dekker et al 2010)
Báo cáo của tờ New York Times “Thay vì cải tiến khoa học kỹ thuật, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một vấn đề với tỷ lệ cao Khoảng 18% bệnh nhân bị tổn hại do chăm sóc y tế, nhiều hơn một lần và 63,1% các thương tích được đánh giá là
có thể ngăn ngừa được" (Grady 2010)
Trước tình hình đó, WHO (2001) đã đưa ra chiến lược “Tăng cường sự an toàn của bệnh nhân bao gồm ba hành động bổ sung cho nhau, thứ nhất ngăn ngừa các sự kiện bất lợi; thứ hai làm cho chúng nhìn thấy được; và cuối cùng là giảm thiểu tác động của chúng khi chúng xảy ra Điều này đòi hỏi (a) tăng khả năng học hỏi từ sai lầm, thông qua các hệ thống báo cáo sự cố tốt hơn, điều tra kỹ năng về sự
cố và chia sẻ trách nhiệm khi sự cố xảy ra; (b) khả năng đoán trước sai sót và khảo sát các điểm yếu hệ thống có thể gây ra một sự kiện bất lợi; (c) xác định các nguồn tri thức hiện có, trong và ngoài ngành y tế; (d) cải tiến hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, do đó thiết lập lại cấu trúc, động cơ và chất lượng là cốt lõi của
hệ thống (WHO 2001)
Ở Việt Nam, đã có một số ít các nghiên cứu về an toàn người bệnh như Nghiên cứu văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Từ Dũ của Trần Nguyễn Như Anh (Trần Nguyễn Như Anh 2015), khảo sát văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2012 của Tăng Chí Thượng (Tăng Chí Thượng và Cs 2014) Các nghiên cứu này bước đầu đã cho thấy được vấn đề cơ bản của văn hóa an toàn người bệnh là “Văn hóa không trừng phạt khi có sai sót” nhằm giúp cho nhân viên y
tế ý thức tìm được nguyên nhân gốc rễ cũng như cách khắc phục các sai sót y khoa với mục tiêu cuối cùng là an toàn người bệnh
Bệnh viện Quận Thủ Đức là bệnh viện tuyến huyện đầu tiên được hạng I về chuyên môn trực thuộc Quận Thủ Đức với quy mô trên 800 giường bệnh, với chỉ hơn 1000 nhân viên cùng khối lượng bệnh nhân khám ngày càng nhiều như vậy thì vấn đề hạn chế những sai sót y khoa cũng như văn hóa an toàn người bệnh đã được
Trang 13tiến hành như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người
bệnh? Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu các yếu
tố tác động đến thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Quận Thủ Đức năm 2018”
1.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày 12 tháng 11 năm 2014 Bệnh viện quận Thủ Đức được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng I theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế và là Bệnh viện tuyến quận/huyện đầu tiên xếp hạng I trong cả nước Bệnh viện nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Thành phố trong hệ thống chăm sóc sức khỏe cụm y tế (Hóc môn, Bình chánh, Quận 7, Thủ Đức) Bệnh viện phục vụ khám chữa bệnh cho người dân trên địa bàn quận Thủ Đức và các tỉnh lân cận, giảm tải cho nhiều bệnh viện tuyến trên Do đó, số lượng bệnh nhân đến khám tại bệnh viện rất đông, ghi nhận từ 4000-4500 lượt khám trên một ngày Năm 2016, khi Thông tư 40 của Bộ Y
tế về đăng ký khám chữa bệnh BHYT đã giúp người bệnh ở cùng tuyến xã, huyện không bị giới hạn nơi khám chữa bệnh trên cùng địa bàn (thông tuyến Bảo hiểm y tế) thì số lượng bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Quận Thủ đức tăng thêm gần
1000 lượt/ngày Với số lượng người bệnh đến khám quá lớn như vậy vào tháng 06/2016 ban lãnh đạo bệnh viện đã quyết định khám bệnh, chữa bệnh cho cả người bệnh là đối tượng bảo hiểm y tế vào cả ngày nghỉ, lễ, tết với thời gian 24/7 Tuy nhiên do bệnh viện nằm ở tuyến huyện với diện tích đất 11.480 m2, diện tích sàn sử dụng 32.453m2, 800 giường kế hoạch và hơn 1000 nhân sự, hàng năm thực hiện gần 20.000 ca phẫu thuật, hơn 300.000 ca thủ thuật cùng hàng chục triệu ca xét nghiệm cận lâm sàng và cùng với đó số lượng ca nội trú tăng lên hàng năm thì vấn
đề kiểm soát sự cố và sai sót trong y khoa là vấn đề rất quan trọng Thực tế bệnh viện Quận Thủ đức đã thống kê, ghi nhận những sai sót về dùng thuốc cho người bệnh, sự cố trong phẫu thuật thủ thuật, sự cố trong vấn đề chăm sóc, trang thiết bị y
tế, vệ sinh tay hay xét nghiệm máu tăng dần qua các năm từ năm 2015 đến năm
2018
Trang 141.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.3.1 Mục tiêu tổng quát
Phân tích, đánh giá được văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Quận Thủ Đức năm 2018
1.3.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu thứ nhất là đánh giá văn hóa an toàn người bệnh bằng bộ
câu hỏi khảo sát văn hóa an toàn người bệnh với phiên bản dùng tại bệnh viện có tên là Hospital Survey on Patient Safety Culture (HSOPSC) của Cơ quan chất lượng
và nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ (AHRQ) tại bệnh viện Quận Thủ Đức
Mục tiêu thứ hai là kiểm định sự khác biệt về văn hóa an toàn người
bệnh tại Bệnh viện Quận Thủ Đức theo các yếu tố chức danh nghề nghiệp, thâm niên công tác tại Bệnh viện và mức thu nhập của nhân viên bệnh viện gồm Bác sĩ,
nữ hộ sinh/điều dưỡng, dược sĩ, kỹ thuật viên, hộ lý, hoặc nhân viên hành chính
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: tất cả những nhân viên làm việc tại bệnh viện Quận Thủ Đức từ 6 tháng trở lên vì khi đó họ đã hiểu được văn hóa tổ chức và đồng ý tham gia nghiên cứu Sử dụng bộ câu hỏi HSOPSC (Hospital Survey on Patient Safety Culture) phỏng vấn trực tiếp nhân viên bệnh viện
Phạm vi nghiên cứu: tại bệnh viện Quận Thủ Đức
Thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2017 đến 06 năm 2018
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang, thống kê mô
tả Sử dụng bộ câu hỏi HSOPSC đã được Sở Y tế Hồ Chí Minh tiến hành nghiên cứu và được công nhận về khảo sát văn hóa an toàn người bệnh (Tăng Chí Thượng, Nguyễn Thanh Hùng et al 2014)
Thống kê phân tích xác định mối liên quan giữa văn hóa an toàn người bệnh với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu bằng hàm hồi quy tuyến tính bội
Trang 151.6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu được trình bày gồm 5 chương Chương 1 Trình bày tổng quan về đề tài Chương 2 Trình bày cơ sở lý thuyết Chương 3 Trình bày về phương pháp nghiên cứu Chương 4 Trình bày về kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5 Trình bày kết luận nghiên cứu, đề xuất giải pháp, hướng mở rộng nghiên cứu và những hạn chế của đề tài
Trang 16CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trong chương này, tôi xin trình bày các khái niệm, tầm quan trọng, mô hình
an toàn người bệnh Lược khảo các nghiên cứu trong nước và trên thế giới
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM, TẦM QUAN TRỌNG VÀ MÔ HÌNH AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Văn hóa
Văn hóa là một thuật ngữ rất khó định nghĩa, nó mang nội hàm rộng Và theo dòng lịch sử những khái niệm về văn hóa như sau: Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội (Tylor 1871) Một khái niệm khác về văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu tượng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo (Kroeber and Kluckhohn 1952) Bên cạnh đó văn hóa bao gồm các dẫn xuất về kinh nghiệm của ít hay nhiều các tổ chức, được biết đến hoặc được tạo ra bởi các cá nhân của một cộng đồng, bao gồm cả những hình ảnh, sự cố và cách giải thích của
họ về ý nghĩa truyền từ thế hệ trước, từ những người đương thời, hoặc được hình thành bởi các cá nhân (Spencer-Oatey and Franklin 2012)
2.1.1.2 An toàn người bệnh
An toàn là một nguyên tắc cơ bản của chăm sóc sức khỏe bệnh nhân, là thành phần quan trọng trong công tác quản lý chất lượng bệnh viện Sự cải tiến của nó đòi hỏi một nỗ lực phức tạp trên toàn hệ thống, bao gồm hàng loạt các hành động cải tiến hiệu năng, an toàn môi trường và quản lý rủi ro, cả việc kiểm soát nhiễm khuẩn,
sử dụng thuốc an toàn, an toàn thiết bị, thực hành lâm sàng an toàn và môi trường chăm sóc an toàn Nó bao gồm tất cả các lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, do đó đòi hỏi một phương pháp tiếp cận toàn diện để xác định, quản lý các nguy cơ thực tế và
Trang 17tiềm ẩn đối với an toàn người bệnh trong các dịch vụ chăm sóc cá nhân và tìm ra các giải pháp lâu dài cho toàn bộ hệ thống y tế hiện nay (WHO 2001)
Theo Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa về an toàn người bệnh (ATNB) là giảm các yếu tố gây hại cho người bệnh về mặt chăm sóc y tế đến mức tối thiểu nhất (Walton and Barraclough 2011)
Theo các nhà nghiên cứu định nghĩa An toàn người bệnh là một kỷ luật trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, áp dụng các phương pháp khoa học an toàn hướng tới mục tiêu đạt được một hệ thống chăm sóc sức khoẻ toàn diện An toàn người bệnh cũng là một thuộc tính của hệ thống chăm sóc sức khoẻ; làm giảm thiểu tỷ lệ nguy hại và tác động của các sự cố y khoa đồng thời tối đa hóa sự phục hồi từ các sự kiện bất lợi (Emanuel, Berwick et al 2008)
2.1.2 Tầm quan trọng của an toàn người bệnh
Với một thực tế là cán bộ y tế đang ngày càng bị đòi hỏi phải lồng ghép các nguyên tắc và khái niệm an toàn bệnh nhân vào thực hành hàng ngày của mình Năm 2002, các Quốc gia thành viên của WHO đã nhất trí thông qua nghị quyết của Hội đồng Y tế Thế giới về an toàn người bệnh, thừa nhận cần thiết phải làm giảm tổn hại, đau khổ của bệnh nhân và gia đình họ, dựa trên những bằng chứng thuyết phục về những lợi ích kinh tế có được của việc cải thiện sự an toàn của bệnh nhân (Walton and Barraclough 2011) Nhiều nghiên cứu cho thấy thời gian nằm viện kéo dài, chi phí kiện tụng, nhiễm khuẩn bệnh viện, thiệt hại đối với thu nhập, tàn tật và chi phí mua thuốc khiến một số quốc gia tốn từ 6 đến 29 tỉ USD mỗi năm (Health and Health 2000)
Ở các nước đang phát triển, có rất nhiều yếu tố không thuận lợi ảnh hưởng đến vấn đề chăm sóc sức khỏe chẳng hạn như số lượng nhân viên y tế không đủ, người bệnh thì quá đông dẫn đến chất lượng chăm sóc sức khỏe kém, bên cạnh đó nhiều
cơ sở y tế thiếu vật tư trang thiết bị y tế và những thiết bị y tế cơ bản, vấn đề vệ sinh
và môi trường kém, tất cả đều có thể do nguồn lực hạn chế, góp phần dẫn đến không đảm bảo an toàn cho chăm sóc bệnh nhân
Trang 18Theo các nhà nghiên cứu y học Mỹ, lĩnh vực y khoa là lĩnh vực có nhiều rủi ro nhất đối với khách hàng Các chuyên gia y tế đã nhận định rằng các lỗi chăm sóc sức khoẻ là phổ biến trong hệ thống y tế của bệnh viện và các chi phí liên quan là đáng kể Tại Úc, các sai sót đã làm cho 18.000 trường hợp tử vong không cần thiết
và hơn 50.000 bệnh nhân khuyết tật Tại Hoa Kỳ, các lỗi chăm sóc sức khoẻ gây ra
ít nhất 44.000 (và có lẽ là 98.000) ca tử vong không cần thiết mỗi năm, cũng như hàng triệu thương tích không đáng có (Walton and Barraclough 2011) Ngay cả khi Donaldson sử dụng ước tính thấp nhất thì tử vong do lỗi y khoa tại Mỹ vẫn vượt quá con số gây tử do tai nạn giao thông (43.458), ung thư vú (42.297), hoặc AIDS (16.516) (Donaldson, Corrigan et al 2000)
Hậu quả của các sự cố y khoa mà nhân viên y tế có thể phòng ngừa được đã làm tăng gánh nặng bệnh tật, tăng ngày nằm viện trung bình, tăng chi phí điều trị, làm giảm chất lượng chăm sóc y tế và ảnh hưởng đến uy tín, niềm tin đối với cán bộ y tế
và cơ sở cung cấp dịch vụ.Tại Mỹ (Utah - Colorado) các sự cố y khoa có thể phòng ngừa được đã làm tăng chi phí điều trị bình quân của một người bệnh là 2.262 USD
và tăng 1,9 ngày điều trị/người bệnh (Walton and Barraclough 2011) Theo một nghiên cứu khác của Viện Y học Mỹ, các sự số y khoa có thể phòng ngừa được cũng
đã làm chi phí tăng lên 2.595 USD và thời gian nằm viện kéo dài hơn 2,2 ngày/người bệnh (Walton and Barraclough 2011) Ở Australia, hàng năm có đến 470.000 người bệnh nhập viện do sự cố y khoa, làm tăng 8% ngày điều trị (thêm 3,3 triệu ngày điều trị), gây ra 18.000 ca tử vong, 17.000 ca tàn tật vĩnh viễn và 280.000 người bệnh mất
khả năng sinh hoạt tạm thời (Hughes 2008), (Wilson, Runciman et al 1995)
Theo Bộ Y tế Anh ước tính hàng năm có đến 850.000 sự cố y khoa xảy ra tại các bệnh viện Các sự cố y khoa này đã làm tăng chi phí trực tiếp về ngày điều trị lên tới 2 tỷ bảng Anh Bộ Y tế ước tính phải chi 400 triệu bảng để giải quyết các khiếu kiện lâm sàng năm 1998/1999 về các sự cố có thể phòng ngừa được và 2,4 tỷ bảng Anh để giải quyết những đơn kiện còn tồn đọng Chi phí cho điều trị nhiễm khuẩn bệnh viện lên tới 1 tỷ bảng Anh hàng năm Có tới 38.000 đơn kiện đối với lĩnh vực chăm sóc y tế gia đình và 28.000 đơn kiện đối với lĩnh vực bệnh viện (Health and Health 2000)
Trang 192.1.3 Mô hình an toàn người bệnh
Nhằm nâng cao an toàn người bệnh trong mọi lĩnh vực y tế Thực hiện theo mục tiêu chương trình của WHO nhằm giảm số ca nhiễm khuẩn thông qua các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát Được sự hỗ trợ các tổ chức và chuyên gia chăm sóc sức khỏe xây dựng các mô hình an toàn người bệnh dựa theo nhu cầu của từng quốc gia trên thế giới Sau đây là một số mô hình nhằm hỗ trợ xây dựng giáo dục về an toàn bệnh nhân trong chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam (WHO 2011)
Hình 2.1 Khung giáo dục an toàn bệnh nhân Australia (WHO, 2011)
APSEF – Khung giáo dục an toàn bệnh nhân Australia được xây dựng theo cách tiếp cận 4 giai đoạn: nghiên cứu tổng quan lý thuyết; xây dựng các lĩnh vực và chủ đề học; phân loại thành các phạm vi học; và chuyển đổi sang định dạng theo hoạt động Khung APSEF đã được đưa ra lấy ý kiến góp ý và đánh giá rộng rãi ở Australia và thế giới Khung APSEF được xuất bản năm 2005 và là một mô hình đơn giản, linh hoạt và dễ tiếp cận, mô tả kiến thức, kỹ năng và hành vi mà mọi cán
bộ y tế cần có để đảm bảo chăm sóc người bệnh an toàn Khung APSEF được chia thành bốn mức kiến thức, kỹ năng và hành vi tùy thuộc vào vị trí công tác và trách nhiệm lâm sàng của mỗi cá nhân trong dịch vụ hoặc tổ chức y tế Khung APSEF được thiết kế để hỗ trợ các tổ chức và chuyên gia chăm sóc sức khỏe xây dựng các
Trang 20chương trình giảng dạy và đào tạo Khung APSEF đã được sử dụng để xây dựng Tài liệu Hướng dẫn Chương trình giảng dạy này
Hình 2.2 Mô hình giáo dục an toàn bệnh nhân Canada (WHO 2011)
Hệ thống chăm sóc y tế của Canada được đánh giá là một trong những hệ thống y tế tốt nhất thế giới hiện nay, với mô hình chăm sóc đặc biệt đáp ứng nhu cầu của từng bệnh nhân riêng lẻ Từng cá nhân sẽ tham gia vào việc đóng góp xây dựng văn hóa an toàn người bệnh, xây dựng tinh thần làm việc nhóm cao giúp cho việc hỗ trợ phát hiện sai sót được tốt hơn Điều này đòi hỏi bác sĩ của họ phải biết
rõ lịch sử y khoa của họ, cho họ tham gia vào các quyết định và giải thích các vấn
đề theo cách dễ hiểu tạo tương tác hiệu quả giữa người bệnh và nhân viên y tế từ đó hạn chế tối đa nguy cơ đe dọa đến an toàn người bệnh Ngoài ra, yếu tố môi trường làm việc cũng rất được chú trọng, nhằm tạo điều kiện thích nghi tốt nhất cho nhân viên y tế, từ đó tạo tâm lý thoải mái trong công việc Bộ y tế Canada thường xuyên
tổ chức các khóa tập huấn để nâng cao chuyên môn của đội ngủ cán bộ y tế nhằm tạo khả năng ứng phó nhạy bén và kịp thời trong mọi tình huống
Trang 21Hình 2.3 Mô hình lấy người bệnh làm trung tâm của Lương Ngọc Khuê và cộng
sự 2014
Quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được xem là một yếu tố quan trọng, nhằm cải tiến chất lượng bệnh viện, đem đến cho người bệnh một dịch
vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng nhất, an toàn nhất và hài lòng nhất Theo Bộ Y và
Tổ chức Y tế thế giới đã xác định, chiều hướng chất lượng trong Y tế bao gồm An toàn, Người bệnh làm trung tâm, Chăm sóc lâm sàng hiệu quả, Hiệu suất, Hướng về nhân viên, Điều hành hiệu quả, và mô hình hiện nay được áp dụng tại Việt Nam là lấy người bệnh làm trung tâm (Lương Ngọc Khuê and Nguyễn Trọng 2014)
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
2.2.1 Trên thế giới
Năm 1964, tại bệnh viện trường đại học Y khoa Yale – Hoa Kỳ, báo cáo cho thấy có 20% bệnh nhân bị thương tổn về mặt tinh thần do mất thẩm mỹ và 20% thương tích đó có thể nghiêm trọng hoặc gây tử vong (Schimmel 1964)
Steel và cộng sự nghiên cứu trên 815 bệnh nhân tại Trường đại học Y Boston năm 1981, cho thấy có 36% người bệnh bị tổn thương do bác sĩ gây ra trong quá trình điều trị Trong đó 9% người bệnh bị ảnh hưởng đến cuộc sống hoặc gây ra tình trạng tàn tật đáng kể Việc sử dụng thuốc là yếu tố đặc biệt quan trọng trong việc xác định những bệnh nhân nào có biến chứng Với số lượng bệnh nhân ngày càng tăng và sự phức tạp của các thủ tục chẩn đoán và các thuốc điều trị, việc theo dõi
Trang 22các sai sót y khoa là điều cần thiết và cần chú ý tới các nỗ lực giáo dục để giảm nguy cơ mắc bệnh do thầy thuốc (Steel, Gertman et al 1981)
Nghiên cứu trên số lượng lớn bệnh nhân nhập viện, một là ở New York sử dụng dữ liệu năm 1984 và một ở Colorado và Utah sử dụng dữ liệu năm 1992, cho thấy tỷ lệ nhập viện ở bệnh viện gặp phải một sự cố, được xác định là tổn thương do quản lý y tế lần lượt là 2,9% và 3,7% (Brennan, Leape et al 2004) Tỷ lệ các phản ứng bất lợi do lỗi (tức là các sự kiện bất lợi có thể ngăn ngừa) là 58% ở New York,
và 53% ở Colorado và Utah (Thomas, Studdert et al 1999)
Các tác dụng ngoài ý muốn có thể phòng ngừa là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Hoa Kỳ Khi khảo sát trên 33,6 triệu phụ nữ đến các bệnh viện Hoa Kỳ năm 1997, kết quả của hai nghiên cứu này cho thấy có ít nhất 44.000 và có khoảng 98.000 người Mỹ chết trong các bệnh viện mỗi năm do lỗi y khoa (Donaldson 2008) Ngay cả khi sử dụng ước tính thấp hơn, tử vong ở bệnh viện do các tác dụng ngoài ý muốn có thể ngăn ngừa vượt quá con số do nguyên nhân tử vong đứng thứ 8 gây ra (Hoyert, Kochanek et al 1999) Tử vong do các tác dụng bất lợi có thể ngăn ngừa được vượt quá số người chết do tai nạn xe cơ giới (43.458), ung thư vú
(42.297) hoặc AIDS (16.516) (Martin, Smith et al 1999)
Tổng chi phí quốc gia (thu nhập bị mất, sản xuất gia đình bị mất, tàn tật, chi phí chăm sóc sức khoẻ) ước tính từ 37,6 tỷ USD đến 50 tỷ USD cho các sự kiện bất lợi và từ 17 đến 29 tỷ USD cho các sự kiện bất lợi có thể ngăn ngừa được Chi phí chăm sóc sức khoẻ chiếm hơn một nữa tổng chi phí Ngay cả khi sử dụng các ước tính thấp hơn, tổng chi phí quốc gia liên quan đến các tác dụng bất lợi và các tác dụng ngoài ý muốn có thể phòng ngừa tương ứng là 4% và 2% chi phí y tế quốc gia vào năm 1996 Năm 1992 chi phí trực tiếp và gián tiếp của các sự kiện bất lợi là khá cao cao hơn chi phí trực tiếp và gián tiếp của chăm sóc người nhiễm HIV và AIDS (Kohn, Corrigan et al 2000)
Năm 2006, Viện Y học (IOM) ước tính rằng các phản ứng thuốc không mong muốn có thể ngăn ngừa được (tức là lỗi do thuốc) xảy ra ít nhất 1,5 triệu lần mỗi năm ở Hoa Kỳ Nghiên cứu này cũng nhận thấy rằng các lỗi y khoa xảy ra trong
Trang 23môi trường điều trị nội trú dẫn đến hơn 8.000 USD chi phí của bệnh viện tăng lên cho mỗi sự cố IOM ghi nhận một nghiên cứu khác đã kiểm tra sai sót về thuốc trong số 65 bệnh nhân, nhận thấy rằng những sai sót này ước tính gần 900 triệu USD mỗi năm để điều trị (Milliman 2010)
Bên cạnh đó, chi phí rất lớn của các lỗi y khoa đã được ghi nhận trong các
nghiên cứu quốc gia lớn Bảng dưới đây tóm tắt chi phí y tế của New York về chăm sóc sức khoẻ vì các lỗi y khoa, theo các nghiên cứu này
Ba nghiên cứu đầu tiên được thảo luận dưới đây nghiên cứu về chi phí y tế trực tiếp về chăm sóc cho các sai sót trong bệnh viện Những nghiên cứu này đồng ý rằng chi phí hàng năm của các lỗi y khoa ở Hoa Kỳ ít nhất là 17 tỷ USD Theo báo cáo của Kaiser Foundation về Tình trạng Sức khoẻ Tiểu bang, chi phí cho các lỗi bệnh viện ở New York ít nhất là 1 tỷ USD/năm Nghiên cứu thứ tư đánh giá chi phí của 14 tác dụng phụ có thể ngăn ngừa được trong phẫu thuật Nghiên cứu thứ năm tính toán chi phí cho các thương tích liên quan đến thuốc có thể phòng ngừa được tại các bệnh viện; Thị phần tương ứng của New York là 280 triệu USD
Lỗi có thể phòng ngừa được 1 – 1,7 tỷ USD
Jha, Chan, Ridgway, Franz
and Bates, Health Affairs,
2009
Các tác dụng phụ “dễ dàng phòng ngừa được” trong bệnh viện
Ít nhất là 1,3 tỷ USD
Agency for Healthcare
Research and Quality, 2008
14 yếu tố có thể phòng ngừa được trong phẫu thuật ở người lớn
120 triệu USD
Institute of Medicine, 2006 Các lỗi liên quan đến thuốc
có thể phòng ngừa được tại bệnh viện
280 triệu USD
Trang 24Theo Milliman, công ty tư vấn nổi tiếng điều tra có 6.300.000 trường hợp thương tích do y học ở Hoa Kỳ trong năm 2008 Đối với người bệnh điều trị nội trú, 7% số lần nhập viện có liên quan đến một số loại hình thương tích y tế Trong số 6.300.000 thương tích, ước tính rằng 1,5 triệu người có liên quan đến một lỗi y khoa Milliman xác định lỗi y tế là "thương tích do chăm sóc y tế không thích hợp" Chi phí
y tế của các lỗi này là 17 tỷ USD năm 2008 bao gồm chi phí trực tiếp về y tế trong việc cung cấp dịch vụ điều trị nội trú, ngoại trú và thuốc theo toa Ngoài ra, các lỗi này dẫn đến hơn 2.500 trường hợp tử vong và 1,1 tỷ USD hoặc hơn 10 triệu ngày mất năng suất do bị khuyết tật trong thời gian ngắn (Chmieleski, Dekker et al 2010) Năm 1999, báo cáo của Viện Y học Hoa Kỳ, kết luận rằng các lỗi y khoa gây
ra thương tích và 98.000 bệnh nhân tử vong mỗi năm trên toàn quốc Nghiên cứu ước tính rằng các yếu tố bất lợi có thể ngăn ngừa được trong các bệnh viện với chi phí trung bình từ 17 đến 29 tỷ USD một năm, trong đó "trên một nửa" là chi phí cho
hệ thống y tế (Donaldson 2008)
Theo Báo cáo Sức khoẻ năm 2009, Cải thiện An toàn và loại bỏ các kiểm tra
dư thừa giảm chi phí tại các Bệnh viện Hoa Kỳ, nhận thấy rằng việc loại bỏ các tác dụng phụ bất lợi trong các bệnh viện "có thể ngăn ngừa được" sẽ giúp tiết kiệm trực tiếp hơn 16,6 tỷ USD, tổng số chi phí nội trú trong năm 2004 Tỷ lệ tương ứng của New York hơn 1,3 tỷ USD vào năm 2004 Các tác giả cũng nhận thấy rằng việc loại
bỏ các xét nghiệm trùng lặp sẽ tiết kiệm thêm 8 tỷ USD trong năm 2004 (Jha, Chan
et al 2009)
Năm 2006, Viện Y học Hoa Kỳ báo cáo rằng có khoảng 400.000 tổn thương liên quan đến sử dụng thuốc có thể phòng ngừa được tại các bệnh viện trong một năm Chi phí y tế bổ sung để điều trị cho những sai sót này được ước tính lên tới 3,5
tỷ USD, không tính đến năng suất bị mất hoặc chi phí chăm sóc sức khoẻ bổ sung
Ở New York là 280 triệu USD (Aspden, Wolcott et al 2007)
Cơ quan nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ của Bộ Y tế và Dịch vụ Hoa Kỳ, ảnh hưởng của các lỗi y khoa đối với chi phí và kết quả của 90 ngày thăm khám các bệnh nhân phẫu thuật, 8 nhà nghiên cứu đã khảo sát 14 sự kiện y tế bất lợi
Trang 25có thể ngăn ngừa được trong các cuộc phẫu thuật cho người lớn và tính chi phí vượt quá hàng năm ở mức 1,5 tỷ USD trên toàn quốc Trong suốt giai đoạn nghiên cứu, 2,6% số ca phẫu thuật có ít nhất một trong số các tác dụng phụ có thể ngăn ngừa được (Encinosa and Hellinger 2008)
2.2.2 Tại Việt Nam
Các nghiên cứu tại bệnh viện Nhi đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện
Từ Dũ, bệnh viện Đồng Tháp về khảo sát thực trạng và văn hóa an toàn người bệnh trong phạm vi toàn bệnh viện và tại các khoa theo 12 lĩnh vực liên quan đến chăm sóc người bệnh, tỉ lệ trả lời tích cực cao tập trung ở các lĩnh vực làm việc nhóm trong khoa, hỗ trợ của bệnh viện trong việc khuyến khích an toàn người bệnh, thông tin phản hồi và học tập cải tiến liên quan đến an toàn người bệnh Trong khi đó, có nhiều phản hồi không tích cực ở các lĩnh vực như sự phối hợp giữa các khoa/phòng, phối hợp giữa các khoa trong bàn giao chuyển bệnh, thiếu nhân sự, cởi mở trong thông tin
về sai sót, tần suất báo cáo sự cố và nhất là “hành xử không buộc tội khi có sai sót” (Trần Nguyễn Như Anh 2015), (Tăng Chí Thượng, Nguyễn Thanh Hùng et al 2014)
Trang 26CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày cách sử dụng thang đo nghiên cứu, giới thiệu mô hình phân tích các yếu tố tác động đến văn hóa An toàn người bệnh và trình bày về cách thức thu thập bộ dữ liệu
3.1 CÁCH SỬ DỤNG THANG ĐO NGHIÊN CỨU, CHỈ SỐ VÀ BIẾN SỐ
3.1.1 Cách sử dụng thang đo
3.1.1.1 Định nghĩa
Theo WHO văn hóa an toàn người bệnh được thể trên năm đặc điểm sau đây
mà các chuyên gia chăm sóc sức khỏe cố gắng hoạt động thông qua việc thực hiện các hệ thống quản lý an toàn (Walton and Barraclough 2011), (Trần Nguyễn Như Anh 2015)
(1) Nền văn hoá thể hiện ở tất cả các nhân viên chăm sóc sức khoẻ (bao gồm nhân viên tuyến đầu, bác sĩ và chuyên viên) chịu trách nhiệm về sự an toàn của bản thân, đồng nghiệp, bệnh nhân và người khỏe;
(2) Một nền văn hoá an toàn ưu tiên cho mục đích tài chính và hoạt động; (3) Một nền văn hóa khuyến khích và khen thưởng cho việc xác định, truyền thông và giải quyết các vấn đề an toàn;
(4) Một nền văn hóa cung cấp cho việc học tập tổ chức từ các sự cố;
(5) Một nền văn hoá cung cấp các nguồn lực, tổ chức và trách nhiệm giải trình phù hợp để duy trì các hệ thống an toàn hiệu quả
Cơ quan nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ (AHRQ) cộng tác với
Tổ công tác Điều phối liên ngành (QUIC) về việc phát triển Khảo sát bệnh viện về văn hoá an toàn người bệnh Cuộc điều tra bệnh viện được thiết kế đặc biệt cho nhân viên bệnh viện và hỏi ý kiến của họ về văn hoá an toàn người bệnh tại các cơ
sở y tế Cuộc khảo sát có thể được sử dụng để (AHRQ 2016)
Nâng cao nhận thức của nhân viên về sự an toàn của bệnh nhân,
Đánh giá hiện trạng của văn hoá an toàn bệnh nhân,
Trang 27 Xác định những điểm mạnh và các lĩnh vực để cải tiến văn hoá an toàn bệnh nhân,
Kiểm tra xu hướng thay đổi văn hoá an toàn bệnh nhân theo thời gian,
Đánh giá tác động văn hoá của các sáng kiến và can thiệp an toàn của bệnh nhân,
Tiến hành so sánh trong và giữa các tổ chức
3.1.1.2 Lược khảo các nghiên cứu về khảo sát văn hóa an toàn người bệnh sử dụng bộ câu hỏi HSOPSC
Để có được bộ công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh (HSOPSC) phù hợp với từng quốc gia, Cơ quan nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khoẻ (AHRQ) đã tiến hành khảo sát trước với nhân viên bệnh viện để đảm bảo các mục trong bộ công cụ được hiểu dễ dàng và có liên quan đến sự an toàn người bệnh trong bối cảnh bệnh viện Cuối cùng, cuộc khảo sát đã được thí điểm với hơn 1.400 nhân viên từ 21 bệnh viện trên khắp nước Mỹ Các dữ liệu thí điểm được phân tích, thống kê về độ tin cậy và tính hợp lệ của các mô hình văn hoá an toàn, cũng như cấu trúc nhân tố của cuộc điều tra thông qua các phân tích nhân tố khám phá và xác nhận Dựa trên phân tích dữ liệu thí điểm, cuộc khảo sát được điều chỉnh bằng cách duy trì các hạng mục và thang đo tốt nhất của bộ công cụ Và hiện nay "Khảo sát bệnh viện về Văn hoá an toàn người bệnh" (HSOPSC) là bộ công cụ thường được
sử dụng ở Hoa Kỳ và ngày càng được sử dụng trên phạm vi quốc tế, có và không có sửa đổi (AHRQ 2004)
Theo một nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh tại Đài Loan Kết quả cho thấy, văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện có chiều hướng tích cực Sự khác biệt giữa dữ liệu của Hoa Kỳ và dữ liệu của Đài Loan cho thấy cần phải chú ý đến nền văn hóa của mỗi quốc gia khi áp dụng bộ công cụ trong các môi trường văn hoá khác nhau Hơn nữa, các phép đo về văn hoá an toàn người bệnh cần xem xét
sự tương tác giữa các yếu tố tổ chức và cá nhân, giúp hiểu rõ hơn về động lực nhóm
và thái độ cá nhân của văn hoá an toàn người bệnh (Chen and Li 2010)
Một đánh giá tổng thể về văn hóa an toàn người bệnh ở Malaysia Kết quả cho thấy trong số các nhân viên bệnh viện được điều tra tại Malaysia, có một thái độ tích
Trang 28cực đối với văn hoá an toàn bệnh nhân tại nơi làm việc của họ Mặc dù vậy, kết quả cũng cho thấy có một số lĩnh vực cần cải thiện bao gồm nhận thức tổng thể về an toàn, học tập - cải tiến liên tục, mở rộng giao tiếp, hỗ trợ quản lý bệnh viện cho sự an toàn của bệnh nhân và làm việc theo nhóm trên các đơn vị bệnh viện (Ismail and Yunusb) HSOPSC là một công cụ hợp lý và đáng tin cậy, với các tính chất tâm lý phù hợp để đánh giá văn hoá an toàn người bệnh tại các bệnh viện của Brazil Về tính khả thi của cuộc khảo sát, nghiên cứu đề xuất nên thu thập dữ liệu bằng e-mail sẽ đạt được nhiều phản hồi hơn Điều quan trọng cần nhấn mạnh là bộ công cụ cần kết hợp với công nghệ thông tin để thu thập dữ liệu dễ dàng hơn và giúp các nhà quản
lý bệnh viện xây dựng các báo cáo, nâng cao ý kiến phản hồi cho nhân viên và giám đốc về các hành động liên quan đến văn hoá an toàn bệnh nhân tại bệnh viện (De Andrade, de Melo et al 2017)
3.2 CHỈ SỐ VÀ BIẾN SỐ
Phương pháp thu thập
A) Các biến số thông tin về đối tượng nghiên cứu
1 Thâm niên
Là thời gian được tính theo năm dương lịch được tổ chức quyết định phân công về công tác tại bệnhviện
Là tổng số giờ làm việc trong
Liên tục Câu H6
Trang 29Stt Biến số Định nghĩa biến Phân loại
Phương pháp thu thập
ngành phục vụ theo ngành
5 Thu nhập Thu nhập bình quân hàng
B) Xác định tỷ lệ đáp ứng tích cực của nhân viên về 7 lĩnh vực ATNB trong
Thứ bậc
Các câu hỏi B1, B2, B3r ,B4r
Thứ bậc Câu hỏi A6,
Thứ bậc Câu hỏi C2,
C4, C6r
Trang 30Stt Biến số Định nghĩa biến Phân loại
Phương pháp thu thập
Thứ bậc
Bảng hỏi có cấu trúc trả
lời câu hỏi C1, C3, C5
Thứ bậc
A8r, A12r, A16r
Nhận xét của nhân viên về nhân
sự, đủ nhân viên và thời gian làm việc của nhân viên có phù hợp để có thể chăm sóc tốt nhất cho bệnh nhân
Thứ bậc
Câu hỏi A2,
A5r, A7r, A14r
C) Xác định tỉ lệ đáp ứng tích cực của Nhân viên y tế về 4 lĩnh vực ATNB ở
Thứ bậc
F2r, F4, F6r, F10
Trang 31Stt Biến số Định nghĩa biến Phân loại
Phương pháp thu thập
nhân viên về sự hợp tác và phối hợp liên khoa của bệnh viện trong chăm sóc bệnh nhân
Nguy cơ về ATNB khi người bệnh không được theo dõi liên tục trong quá trình giao
ca và chuyển khoa
Thứ bậc
F3r, F5r, F7r, F11r
D) Xác định mức độ nhận thức chung của nhân viên về VHATNB
Thứ bậc
Câu hỏi
A15, A18, A10, A17
2 Xếp hạng
về ATNB
Nhân viên tự xếp hạng mức độ thực hiện ATNB của khoa, phòng theo 5 mức độ
Nhân viên tự đánh giá bản thân
có báo cáo các sự kiện (lỗi, sai sót, sự cố, tai nạn, thương tổn
có hay không có kết quả ảnh hưởng đến bệnh nhân)
Thứ bậc Câu hỏi G
Ghi chú “r” chỉ ra mục ngược lại diễn đạt
Trang 323.3 MÔ HÌNH PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
Hình 3.1 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa người bệnh Phát triển dựa trên khung phân tích của Trần Nguyễn Như Anh (Trần Nguyễn Như
Anh 2015)
Làm việc theo êkíp trong khoa/phòng
Văn hóa an toàn người bệnh
Quan điểm và hành vi ATNB
Cải tiến liên tục-Học tập một cách hệ
thống
Quan điểm tổng quát về ATNB
Trao đổi cởi mở
Tần suất ghi nhận sai sót/sự cố
Chức danh nghề
nghiệp
Thời gian công tác
Hỗ trợ của quản lý cho ATNB Phản hồi và trao đổi về sai sót/lỗi
Làm việc theo êkíp giữa các khoa/phòng
Nhân sự
Bàn giao và chuyển bệnh Không trừng phạt khi có sai sót/lỗi Thu nhập
Trang 33(A)7 lĩnh vực về văn hóa an toàn trong phạm vi từng khoa
2 quan điểm và hành động về ATNB của người quản lý 4
3 tính cải tiến liên tục và học tập một cách hệ thống 3
(B) 3 lĩnh vực về văn hóa an toàn phạm vi toàn bệnh viện
(C) 2 lĩnh vực về kết quả liên quan đến ATNB
Tất cả các lĩnh vực được đo lường bởi thang đo Likert 5 giá trị rất không đồng ý, không đồng ý, không biết, rất đồng ý, và đồng ý; hoặc không bao giờ, hiếm khi, đôi khi, thường xuyên và luôn luôn
Các yếu tố tác động như chức danh nghề nghiệp là bác sĩ, nữ hộ sinh, điều dưỡng, dược sĩ, kỹ thuật viên, hộ lý, hoặc nhân viên hành chính; thời gian công tác
là số năm làm việc tại bệnh viện với thang đo dưới 1 năm, từ 1 đến 5 năm, 6 đến 10 năm, 11 đến 15 năm, 16 đến 20 năm và trên 20 năm; và thu nhập là thu nhập bình quân hàng tháng của cá nhân từ 3 đến dưới 5 triệu, 5 đến dưới 8 triệu, 8 đến 12 triệu, và trên 12 triệu
Trang 343.4.2 Số mẫu
Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi HSOPSC dùng để đánh giá văn hóa an toàn người bệnh của các nhân viên y tế có tham gia chăm sóc trực tiếp và gián tiếp bệnh nhân, trong đó có nhân viên y tế chăm sóc trực tiếp người bệnh như bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, hộ lý Nhân viên y tế không trực tiếp chăm sóc người bệnh nhưng công việc của họ có ảnh hưởng đến việc chăm sóc người bệnh như dược sĩ,
kỹ thuật viên xét nghiệm, kỹ thuật viên trang thiết bị, nhân viên hành chính và người quản lý Với đối tượng nghiên cứu là tất cả nhân viên bệnh viện có thời gian công tác tại bệnh viện ít nhất là sáu tháng vì khi đó họ đã hiểu được văn hóa tổ chức, do vậy số mẫu mà đề tài thực hiện nghiên cứu thỏa mãn tiêu chí nêu trên là 881/1000 nhân viên bệnh viện
3.5 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
Khảo sát được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2018 tại các khối phòng ban của bệnh viện Quận Thủ Đức Trước tiên tác giả tuyển chọn nhóm 10 điều tra viên chuyên trách mạng lưới quản lý chất lượng trực thuộc các Khoa/phòng Trong
đó, tác giả xây dựng một nhóm bao gồm hai nhân viên thuộc đơn vị nghiên cứu khoa học, một bác sĩ lâm sàng, một bác sĩ cận lâm sàng, một dược sĩ, một nữ hộ sinh và một nhân viên hành chính dịch bộ câu hỏi HSOPSC từ tiếng Anh sang tiếng Việt Sau khi thống nhất về bản dịch, tác giả gởi bản dịch Anh – Việt đến hai nhân viên chuyên trách khác thuộc nhóm nghiên cứu để dịch ngược từ tiếng việt sang tiếng anh nhằm xác định sự việt hóa trong bộ câu hỏi vẫn tuân theo nội dung nguyên tác Tiếp đến, tiến hành nghiên cứu pilot trên 50 đối tượng bất kì để đánh giá sơ khảo bộ câu hỏi về lỗi chính tả, ngữ nghĩa các câu có dễ hiểu, có nội dung gây hiểu lầm không, và các câu có phản ánh trung thực ý muốn chuyển tải về khảo sát văn hóa an toàn người bệnh hay không
Kết quả thử nghiệm cho thấy 90% số nhân viên tham gia thử nghiệm hiểu
bộ câu hỏi nghiên cứu, tuy nhiên có một vài ý kiến từ nhân viên hành chính cho rằng cần làm rõ khái niệm không trừng phạt khi có sai sót Thời gian việt hóa bộ câu hỏi, bản dịch bộ câu hỏi HSOPSC hoàn thành sau khoảng 4 tuần
Trang 35Tác giả cùng nhóm nghiên cứu tiến hành lập danh sách, số lượng nhân viên
mỗi khoa/phòng, tập huấn điền phiếu câu hỏi, xây dựng kế hoạch hành động khảo sát từng khoa/phòng, mỗi thành viên nhóm nghiên cứu có trách nhiệm triển khai việc khảo sát bộ câu hỏi đến khoa/phòng mình phụ trách và chỉ tiến hành khảo sát sau khi đối tượng khảo sát ký kết đồng ý tham gia vào nghiên cứu Đối tượng được phỏng vấn trong khoảng 30 phút để hoàn thành bộ công thu thập số liệu Thời gian triển khai và thu thập bản câu hỏi hoàn thiện gởi về tác giả 8 tuần sau đó Tiếp đến, tác giả sử dụng kiểm định độ tin cậy của các câu hỏi bằng phép kiểm Cronbach’s Alpha, sau đó sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analyses - EFA) để đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo nhằm xác định các câu hỏi được phân bổ vào từng lĩnh vực thuộc một khái niệm; Dữ liệu nghiên cứu sẽ được nhập liệu với phần mềm Epi-data 3.1 với tiêu chuẩn chọn như sau, phiếu câu hỏi được tham gia phân tích số liệu phải trả lời đầy đủ 12 chuyên mục, trong mỗi chuyên mục phải trả lời tất cả số câu hỏi và không có hiện tượng trả lời đồng loạt 1 đáp án Và để xử lý số liệu, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 16.0, và kết quả của mục tiêu 1 về khảo sát thực trạng văn hóa an toàn người bệnh sẽ được trình bày theo hướng dẫn của Cơ quan nghiên cứu chất lượng y tế - AHRQ để có thể so sánh cùng các nghiên cứu tương tự trên thế giới, hơn nữa điều quan trọng là cá nhân tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện và không tiết lộ danh tính
Trang 363.6 MÔ HÌNH HỒI QUY TUYẾN TÍNH
Mô hình hồi qui tuyến tính được sử dụng nhằm phân tích các yếu tố tác động đến văn hóa an toàn người bệnh; văn hóa an toàn người bệnh được định nghĩa là một biến
và được gọi là biến phụ thuộc với tên biến là Y Các yếu tố tác động đến văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện bao gồm chức danh nghề nghiệp, chức vụ, thời gian công tác tại bệnh viện và thu nhập được gọi là các biến độc lập
Trong nghiên cứu này, chúng ta sẽ xét mô hình hồi quy bội Mô hình hồi quy tuyến tính bội trong nghiên cứu:
Yi = β1 + β2X2,i + β3X3,i +….+ βkXk,i + εi Với X 2,i , X 3,i ,…,X k,i là giá trị các biến độc lập (chức danh nghề nghiệp, thời
gian công tác tại bệnh viện và thu nhập) ứng với quan sát i
β1, β2, β3﹐…, βk là các tham số của hồi quy
εi là sai số của hồi quy
Trang 37CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Chương này sẽ trình bày về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu, tiếp đến đánh giá thang đo văn hóa an toàn người bệnh, thực trạng an toàn người bệnh, cuối cùng trình bày kết quả kiểm định sự khác biệt của các thành phần văn hóa an toàn người bệnh theo các đặc điểm chức danh nghề nghiệp, thời gian công tác tại bệnh viện và thu nhập được thể hiện qua mô hình hồi qui
4.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu của tôi gồm 881 đối tượng tương ứng với bộ câu hỏi được thiết
kế sẵn Sử dụng lệnh thống kê mô tả về số lượng nhân viên theo khối, vị trí công việc, thời gian công tác tại bệnh viện cũng như tại khoa/phòng, đặc điểm có tiếp xúc bệnh nhân và mức thu nhập trung bình hàng tháng của đối tượng được trình bày như sau
Biểu đồ 4.1 cho thấy khối lâm sàng chiếm tỷ lệ cao nhất với 78%, tiếp đến là khối cận lâm sàng và khối phòng chức năng theo thứ tự tương ứng như sau 13% và 9%
Biểu đồ 4.1 Số lượng nhân viên theo khối
Trang 38Biểu đồ 4.2 cho thấy trong 881 đối tượng khảo sát, có đến 445 điều dưỡng/hộ
lý chiếm 50,5%, tiếp đến là 206 bác sĩ (23,4%), nhân viên văn phòng, kế toán, bảo
vệ là 151 với 17,1%, kỹ thuật viên là thấp nhất 79 người chiếm 9,0%
Biểu đồ 4.2 Vị trí công việc
Biểu đồ 4.3 cho thấy nhân viên có thời gian làm việc chủ yếu 1-5 năm với tỷ
lệ là 43%, tiếp đến là 6-10 năm với 33%, và thấp nhất là trên 10 năm chiếm 4%
Biểu đồ 4.3 Thời gian công tác tại bệnh viện
Trang 39Bảng 4.4 thể hiện thời gian công tác tại khoa/ phòng và thời gian công tác tại bệnh viện có tỷ lệ gần xấp xỉ nhau
Biểu đồ 4.4 Thời gian công tác tại khoa phòng
Biểu đồ 4.5 cho thấy có 756 nhân viên tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân chiếm
tỷ lệ 86%, 125 nhân viên không tiếp xúc với bệnh nhân với 14%
Biểu đồ 4.5 Công việc trực tiếp tiếp xúc với người bệnh
Trang 40Bảng 4.6 cho thấy đa số thời gian làm trong tuần là 40-59 giờ chiếm tỷ lệ 67,7%, và 1,2% làm việc từ 100 giờ trở lên
Bảng 4.6 Làm việc bao nhiêu giờ trong một tuần
Thời gian làm việc / tuần (giờ) Số lượng (n) Tỷ lệ (%)