1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại trung tâm y tế huyện lai vung tỉnh đồng tháp, năm 2018

118 49 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 3,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế trên Thế giới Tại Mỹ, các dữ liệu nghiên cứu về VHATNB tại các bệnh viện được gửi về tổ chức AHRQ và lần đầu được tổng

Trang 1

- -

NGÔ THỊ NGỌC TRINH

VĂN HOÁ AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN LAI VUNG – TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

- -

NGÔ THỊ NGỌC TRINH

VĂN HOÁ AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN LAI VUNG – TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Trang 3

Trước tiên, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Hoàng Khánh Chi, người đã bỏ nhiều công sức để giúp tôi định hướng và có nhiều góp ý, chỉ dạy, luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô Trường Đại học Y tế công cộng và Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp, đã tận tình hướng dẫn chia sẽ nhiều kiến thức quý báu

về chuyên ngành Quản lý bệnh viện

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc và toàn thể nhân viên tại Trung tâm Y tế huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp đã tạo điều kiện thuận lợi và dành thời gian tham gia vào nghiên cứu giúp tôi hoàn thành luận văn này

Bên cạnh đó, tôi xin cảm ơn Gia đình, Anh chị em, Bạn bè, Đồng nghiệp đã khích

lệ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập

Tôi xin kính chúc Quý Thầy Cô luôn được dồi dào sức khỏe để tiếp tục sự nghiệp của mình

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !

Trang 4

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm về an toàn người bệnh và văn hóa an toàn người bệnh 4

1.1.1 An toàn người bệnh 4

1.1.2 Văn hóa an toàn người bệnh 7

1.2 Công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện 8

1.3 Một số nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế trên Thế giới và tại Việt Nam 11

1.3.1 Một số nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế trên Thế giới 11

1.3.2 Một số nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Việt Nam 14

1.4 Một số nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tới văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế 16

1.5 Khung lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 19

1.6 Giới thiệu về Trung tâm Y tế huyện Lai Vung 21

1.6.1 Giới thiệu sơ lược về Trung tâm Y tế huyện Lai Vung 21

1.6.2 Một vài điểm nổi bật về hoạt động ATNB tại TTYT huyện Lai Vung 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.2 Thời gian và địa điểm 23

2.3 Thiết kế nghiên cứu 23

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 23

2.5 Các biến sử dụng trong nghiên cứu 24

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 26

Trang 5

2.8 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 28

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 29

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế huyện Lai Vung năm 2018 31

3.2.1 Kết quả khảo sát theo 12 nhóm lĩnh vực ATNB 31

3.2.2 Số lượng báo cáo sự cố trong 12 tháng 39

3.2.3 Kết quả đánh giá của nhân viên về mức độ ATNB của trung tâm 40

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế huyện Lai Vung năm 2018 40

Chương 4 BÀN LUẬN 50

4.1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế huyện Lai Vung 50

4.1.1 07 lĩnh vực ở phạm vi khoa, phòng 50

4.1.2 03 lĩnh vực phạm vi toàn trung tâm 52

4.1.3 02 lĩnh vực về kết quả liên quan an toàn người bệnh 53

4.1.4 Số lượng báo cáo sự cố trong 12 tháng 53

4.1.5 Đánh giá mức độ an toàn người bệnh tại trung tâm 54

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Trung tâm y tế huyện Lai Vung 54

4.2.1 Các yếu tố đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 54

4.2.2 Yếu tố hệ thống và quản lý 55

4.2.3 Yếu tố nhân viên y tế 57

4.2.4 Yếu tố người bệnh 58

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 59

KẾT LUẬN 61

KHUYẾN NGHỊ 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 68

Phụ lục 1 Trang thông tin nghiên cứu 68

Trang 6

Phụ lục 3 Phiếu khảo sát ý kiến về an toàn người bệnh của nhân viên y tế 72

Phụ lục 4 77

Phụ lục 4.1 Phiếu phỏng vấn sâu lãnh đạo TTYT 77

Phụ lục 4.2 Phiếu phỏng vấn sâu lãnh đạo khoa/phòng 79

Phụ lục 4.3 Nội dung thảo luận nhóm với bác sĩ tại các khoa 81

Phụ lục 4.4 Nội dung thảo luận nhóm với điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên tại các khoa 83

Phụ lục 5 Kế hoạch nghiên cứu 85

Phụ lục 6 Công cụ nhập liệu và phân tích số liệu Hospital Survey Excel Tool 1.7 do Tổ chức AHRQ cung cấp 87

Phụ lục 7 Các biến số mô tả văn hóa an toàn người bệnh của NVYT 88

Phụ lục 8 Các biến số về mối quan hệ giữa các lĩnh vực của văn hóa an toàn người bệnh của NVYT và các yếu tố khác 97

Phụ lục 9 Bản giải trình chỉnh sửa sau bảo vệ luận văn 99

Phụ lục 10.Nhận xét của hai giáo viên phản biện 101

Trang 7

AHRQ Agency for Healthcare Research and Quality

Tổ chức Nghiên cứu chất lượng và sức khỏe Hoa Kỳ

ATNB An toàn người bệnh

HSOPSC Hospital Survey on Patient Safety Culture

Khảo sát văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện

NVYT

QLCL

PVS

Nhân viên y tế Quản lý chất lượng Phỏng vấn sâu TCYTTG

Văn hóa an toàn người bệnh

Trang 8

Bảng 2 1 Cấu trúc 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh 28

Bảng 3 1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 30

Bảng 3 2 Lĩnh vực làm việc nhóm trong khoa, phòng 32

Bảng 3 3 Lĩnh vực lãnh đạo khoa khuyến khích an toàn người bệnh 32

Bảng 3 4 Lĩnh vực học tập và cải tiến liên tục 33

Bảng 3 5 Lĩnh vực thông tin và phản hồi về sai sót 34

Bảng 3 6 Lĩnh vực cởi mở trong thông tin về sai sót 34

Bảng 3 7 Lĩnh vực nhân sự 35

Bảng 3 8 Lĩnh vực hành xử không buộc tội khi có sai sót 35

Bảng 3 9 Lĩnh vực hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về ATNB 36

Bảng 3 10 Lĩnh vực làm việc nhóm giữa các khoa 37

Bảng 3 11 Lĩnh vực bàn giao và chuyển bệnh 37

Bảng 3 12 Lĩnh vực nhận thức về ATNB 38

Bảng 3 13 Lĩnh vực tần suất báo cáo sự cố 39

Bảng 3 14 Mối liên quan giữa các chức danh của đối tượng nghiên cứu với 12 lĩnh vực VHATNB 41

Bảng 3 15 Mối liên quan giữa khoa/ phòng công tác với 12 lĩnh vực VHATNB 42

Bảng 3 16 Mối liên quan giữa vị trí công tác tiếp xúc với người bệnh với 12 lĩnh vực VHATNB 43

Bảng 3 17 Mối liên quan giữa thâm niên công tác tại trung tâm với 12 lĩnh vực VHATNB 44

Bảng 3 18 Mối liên quan giữa thời gian làm việc trong một tuần của NVYT với 12 lĩnh vực VHATNB 44

Bảng 3 19 Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với mức độ ATNB của trung tâm 45

Bảng 3 20 Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với số lượng báo cáo sự cố 46

Trang 9

Biểu đồ 3 1 Tỷ lệ trả lời tích cực theo 12 nhóm lĩnh vực ATNB 31 Biểu đồ 3 2 Số lƣợng báo cáo sự cố trong 12 tháng của nhân viên 39 Biểu đồ 3 3 Đánh giá của NVYT về mức độ ATNB 40

Trang 10

Theo các chuyên gia y tế thách thức hàng đầu trong lĩnh vực y tế hiện nay là bảo đảm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe an toàn cho người bệnh Để nâng cao ATNB, việc thiết lập VHATNB đóng vai trò quan trọng nhất bởi VHATNB là tập hợp những giá trị, thái độ, niềm tin, nhận thức về an toàn của mọi nhân viên trong một bệnh viện

Khảo sát về VHATNB được thực hiện lần đầu tại TTYT huyện Lai Vung nhằm đánh giá thực trạng về mức độ hiểu biết, nhận thức, thái độ, hành vi về ATNB của NVYT

Phương pháp nghiên cứu là thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Thời gian thực hiện từ tháng 3 – 9/2018 Bộ câu hỏi của tổ chức Nghiên cứu chất lượng và sức khỏe Hoa Kỳ (AHRQ) đo lường 12 lĩnh vực về VHATNB được sử dụng để thu thập số liệu định lượng từ 142 nhân viên y tế (NVYT); Các hướng dẫn bán cấu trúc được sử dụng để thu thập số liệu định tính từ 07 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) và 02 cuộc thảo luận nhóm (TLN)

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đáp ứng tích cực trung bình 12 lĩnh vực VHATNB của NVYT là 69%, trong đó lĩnh vực có tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp nhất là 41% với hành xử không buộc tội khi có sai sót và cao nhất là 95% với làm việc nhóm trong khoa Nghiên cứu cũng tìm ra một số yếu tố liên quan về chức danh, khoa phòng làm việc, thâm niên công tác của NVYT tác động đến VHATNB Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng mang tính thúc đẩy VHATNB như sự quan tâm, ủng hộ, khuyến khích của lãnh đạo Các yếu tố hạn chế xoay quanh hệ thống báo cáo sự cố chưa hiệu quả, hoạt động kiểm tra giám sát về ATNB còn hạn chế, thiếu một số hướng dẫn liên quan đến ATNB; vấn đề đào tạo, tập huấn về VHATNB còn bất cập

Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị như sau: VHATNB cần phải được nhấn mạnh trong mọi quy định và hoạt động của TTYT Phát huy hoạt động làm việc nhóm trong khoa, phòng Nội dung đào tạo về ATNB phải được đưa vào chương trình đào tạo hằng năm, chú trọng đào tạo về nhận diện, báo cáo sự cố y khoa, bàn giao và chuyển bệnh cho NVYT, đặc biệt là các nhân viên trẻ, mới về công tác và các NVYT làm việc ở các khoa không giường bệnh TTYT cần cân nhắc thực hiện cơ chế

Trang 11

cố tìm nguyên nhân, không quy kết lỗi cá nhân

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

An toàn là nền tảng của chất lượng trong chăm sóc sức khỏe An toàn người bệnh (ATNB) là làm giảm nguy cơ gây tổn hại không cần thiết liên quan đến chăm sóc y tế ở mức tối đa có thể Theo các chuyên gia y tế thách thức hàng đầu trong lĩnh vực y tế hiện nay là bảo đảm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe an toàn cho người bệnh[7]

Tháng 9 năm 2018, Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) ước tính ở các nước phát triển, có đến 1 trong 10 người bệnh gặp phải sự cố y khoa khi đến khám chữa bệnh tại bệnh viện, trong đó hơn 50% các sự cố là có thể ngăn ngừa được[25] Còn tại các nước đang phát triển, TCYTTG cũng dự báo rằng các nước này không thể tránh khỏi sự cố và thậm chí số sự cố y khoa có thể cao hơn các nước phát triển, do những khó khăn về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế, chất lượng thuốc, nguồn nhân lực và chi phí cho hoạt động y tế [2], [26], [6] Điển hình như kết quả nghiên cứu tại

8 quốc gia Trung Đông và Châu Phi bao gồm Ai Cập, Jordan, Kenya, Ma-rốc, Nam Phi, Sudan, Tunisia và Yemen vào năm 2012, theo đó số liệu tổng hợp 15.548 hồ sơ tại 26 bệnh viện, đã ghi nhận có ít nhất 8,2% người bệnh từng trải qua một sự cố (mỗi quốc gia có từ 2,5% đến 18,4%) Trong số các sự cố này, có tới 83% được đánh giá là các sự cố có thể phòng ngừa được, trong khi khoảng 30% có liên quan đến tình trạng tử vong của người bệnh [27]

Để nâng cao ATNB, việc thiết lập văn hóa an toàn trong bệnh viện đóng vai trò quan trọng nhất bởi văn hóa an toàn là tập hợp những giá trị, thái độ, niềm tin, nhận thức về an toàn của mọi nhân viên trong một bệnh viện [28] Xây dựng văn hoá an toàn người bệnh (VHATNB) là hoạt động giúp làm thay đổi suy nghĩ, thái

độ và hành vi của nhân viên bệnh viện theo chiều hướng tích cực [6] Khảo sát thực trạng VHATNB của bệnh viện là hoạt động khởi đầu không thể thiếu giúp bệnh viện nắm bắt những suy nghĩ, thái độ và hành vi của NVYT về ATNB[4],[10] Kết quả khảo sát sẽ giúp bệnh viện biết được những điểm mạnh về ATNB để phát huy, nhân rộng và những điểm còn yếu để có kế hoạch cải thiện Ngoài ra, tiến hành

Trang 13

khảo sát định kỳ, sẽ giúp cho bệnh viện biết những thay đổi về VHATNB của bệnh viện theo thời gian, từ đó đưa ra chương trình hành động tiếp theo [5],[10],[11]

Trung tâm Y tế huyện Lai Vung là cơ sở y tế thực hiện 2 chức năng dự phòng và khám chữa bệnh cho người dân trong huyện Lai Vung và các vùng lân cận Hoạt động QLCL – ATNB đã được lãnh đạo trung tâm quan tâm triển khai thực hiện nhằm mục tiêu cung cấp cho người bệnh dịch vụ y tế chất lượng cao Tuy nhiên, hoạt động ATNB tại trung tâm hiện nay vẫn chưa thiết thực và ít hiệu quả VHATNB vẫn là một khái niệm rất mới và ít được nhắc đến trong quá trình làm việc của NVYT, đồng thời NVYT chưa có thái độ tích cực quan tâm thực hiện vấn

đề này Điều này được thể hiện qua việc dù phòng Quản lý chất lượng đã triển khai

hệ thống báo cáo sự cố, tuy nhiên NVYT vẫn ít khi tự nguyện báo cáo sự cố y khoa, làm cho hoạt động thống kê, báo cáo, tìm giải pháp hạn chế sự cố gặp khó khăn dẫn đến tình trạng sai sót chuyên môn không được kiểm soát, phòng ngừa hiệu quả làm ảnh hưởng đến ATNB Trước thực tế, chưa có khảo sát nào được thực hiện để đánh giá về vấn đề VHATNB, trong bối cảnh các nguy cơ xảy ra sự cố luôn tồn tại, có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người bệnh và chất lượng khám chữa bệnh tại Trung tâm Khảo sát về VHATNB dựa trên bảng câu hỏi của Tổ chức Nghiên cứu chất lượng và sức khỏe Hoa Kỳ (AHRQ) được thực hiện lần đầu tiên tại TTYT huyện Lai Vung nhằm đánh giá thực trạng về mức độ hiểu biết, nhận thức cũng như thái độ, hành vi về ATNB của toàn thể nhân viên hiện nay như thế nào? Qua đó, tìm hiểu quan điểm của các bên liên quan đối với VHATNB của NVYT như thế nào? Quan điểm của các bên liên quan về một số yếu tố ảnh hưởng tới VHATNB của NVYT như thế nào? Kết quả nghiên cứu là căn cứ để cải tiến, xây dựng những khuyến nghị mang tính thực tiễn và khả thi giúp lãnh đạo trung tâm triển khai những hoạt động thiết thực về xây dựng VHATNB Xuất phát từ thực tế trên, học

viên thực hiện đề tài tốt nghiệp “Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế

và một số yếu tố ảnh hưởng tại Trung tâm Y tế huyện Lai Vung – tỉnh Đồng Tháp năm 2018”

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế huyện Lai Vung – tỉnh Đồng Tháp năm 2018

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế huyện Lai Vung – tỉnh Đồng Tháp năm 2018

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm về an toàn người bệnh và văn hóa an toàn người bệnh

1.1.1 An toàn người bệnh

Theo Tổ chức Y tế thế giới, an toàn người bệnh: là làm giảm nguy cơ gây tổn hại không cần thiết liên quan đến chăm sóc y tế ở mức tối đa có thể Tác hại liên quan đến chăm sóc sức khỏe là tác hại phát sinh từ hoặc liên quan đến các kế hoạch hoặc hành động được thực hiện trong khi cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, thay

vì bệnh hoặc thương tích tiềm ẩn[7], [12] An toàn người bệnh là thiết lập hệ thống

và quy trình quản lý sao cho giảm thiểu tối đa các sai sót và gia tăng khả năng ngăn chặn kịp thời các sự cố, làm tăng độ tin cậy trong chăm sóc người bệnh[13]

An toàn không chỉ là không có các lỗi/sai sót An toàn bao gồm nhiều thành phần như:

- Một bối cảnh chỉ ra rằng chăm sóc sức khỏe là hoạt động phức tạp và nguy hiểm và các giải pháp được tìm thấy trong bối cảnh hệ thống rộng lớn;

- Một tập hợp các quy trình xác định, đánh giá và giảm thiểu các mối nguy

cơ và liên tục cải thiện;

- Kết quả được biểu hiện bằng ít lỗi y tế và giảm thiểu nguy cơ hoặc nguy hiểm[13]

1.1.1.1 Tiếp cận hệ thống:

Nguyên lý tiếp cận hệ thống, hệ thống là một thuật ngữ rộng được dùng để

miêu tả bất kỳ tập hợp nào gồm hai hoặc nhiều thành phần tương tác với nhau, hoặc

“một nhóm sự vật/thành phần độc lập tạo thành một thể thống nhất”[7] Hoạt động cung ứng chăm sóc y tế là một hệ thống phức tạp, nhất là ở các cơ sở y tế lớn, nơi gồm nhiều bộ phận tương tác với nhau, trong đó có con người (bệnh nhân và y, bác

sĩ, cán bộ công nhân viên), cơ sở hạ tầng, công nghệ, thuốc và các hóa chất trị liệu Chăm sóc y tế là hoạt động phức tạp do:

- Sự đa dạng của các nhiệm vụ liên quan đến cung ứng chăm sóc cho bệnh nhân;

- Sự lệ thuộc lẫn nhau giữa NVYT;

- Sự đa dạng về bệnh nhân, nhân viên lâm sàng và các nhân viên khác;

Trang 16

- Vô số các mối quan hệ giữa bệnh nhân, người chăm sóc, nhân viên y tế, nhân viên hỗ trợ, cán bộ quản lý, gia đình và thành viên cộng đồng;

- Khả năng dễ bị tổn thương của bệnh nhân;

- Những khác biệt trong cách bố trí các môi trường chăm sóc và điều trị;

- Quy định không thống nhất hoặc không có quy định;

- Triển khai công nghệ mới;

- Sự đa dạng của các lộ trình điều trị và tham gia của nhiều tổ chức;

- Chuyên môn hóa ngày càng cao của cán bộ y tế – mặc dù chuyên môn hóa cho phép thực hiện nhiều cách điều trị bệnh nhân và dịch vụ khác nhau, điều đó cũng tạo nhiều nguy cơ mắc lỗi hơn và nhiều sai sót hơn[7]

Nội hàm chính của nguyên lý tiếp cận hệ thống là: khi phân tích nguyên nhân của tai biến điều trị đòi hỏi phải đi tìm các sai sót của cả một hệ thống chứ không chỉ dừng ở sai sót cá nhân hay nói cách khác phải tìm cho ra những lỗi tiềm ẩn trong hệ thống bên cạnh lỗi chủ động đã được phát hiện [5]

Tóm lại, cách tiếp cận hệ thống giúp chúng ta bỏ thói quen đổ lỗi để hướng tới nhận thức và nâng cao tính minh bạch của các quy trình chăm sóc thay vì chỉ chú ý tới hành động chăm sóc Do đó sử dụng cách tiếp cận hệ thống để đánh giá tình huống – khác với cách tiếp cận con người – sẽ có nhiều cơ hội dẫn đến kết quả xây dựng được các chiến lược giảm khả năng lặp lại biến cố bất lợi [7]

1.1.1.2 Văn hóa không buộc tội

Thuật ngữ “văn hóa buộc tội” được nhắc đến nhiều trong lĩnh vực an toàn người bệnh Xuất phát từ cách tiếp cận cũ, khi tai biến điều trị xảy ra, câu hỏi đầu tiên thường gặp là “Ai làm sai?” và thường có khuynh hướng qui trách nhiệm liên quan đến cá nhân – người trực tiếp chăm sóc người bệnh ở thời điểm gây ra tai biến Với cách tiếp cận này, thường sẽ tạo ra tâm lý che dấu sai sót và ngại báo cáo sai sót Hậu quả là các sai sót có thể lặp đi lặp lại ở các cá nhân khác hoặc ở khoa khác

do bệnh viện không biết và đương nhiên chưa có giải pháp chủ động phòng ngừa[5]

Theo nguyên lý tiếp cận hệ thống, ban lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phát huy ý thức an toàn tại nơi làm việc Bằng cách đồng hành cùng

Trang 17

nhân viên, các cấp lãnh đạo có thể tạo ra môi trường làm việc có thể hạn chế được yếu tố tìm ẩn sinh ra sai sót Khi có ý thức về an toàn nhà lãnh đạo sẽ có một cái nhìn xa hơn thay vì đổ lỗi cho một cá nhân, họ sẽ chọn cách giải quyết cho vấn đề ở

cơ sở mình[14]

1.1.1.3 Hệ thống khó mắc lỗi

Theo tài liệu hướng dẫn “Lý thuyết và thực hành về quản lý chất lượng trong

y tế” của Trường đại học về chất lượng y tế Mỹ (American College of Medical Quality), việc thiết kế hệ thống trong đó con người khó làm sai và dễ làm đúng được xem như điều cốt lỗi để giảm thiểu nguy cơ[14] Các phương pháp nhằm cải thiện mức độ an toàn bao gồm:

- Ứng dụng công nghệ thông tin: sử dụng chức năng cưỡng ép của các phần mềm, tức là muốn thực hiện bước này thì phải thực hiện bước ngay trước của qui trình Ví dụ: phần mềm kê đơn, phải nhập cân nặng bệnh nhân thì mới kê đơn thuốc được nhầm tránh cho nhầm liều thuốc (đối với nhi khoa)

- Chuẩn hoá các qui trình, ưu tiên các qui trình có nguy cơ cao về an toàn người bệnh như: qui trình an toàn phẫu thuật, qui trình truyền máu, qui trình cấp phát thuốc cho bệnh nhân

- Giảm dựa vào trí nhớ, tăng sử dụng hệ thống nhắc nhở: hạn chế nhược điểm của việc sử dụng trí nhớ, tận dụng những phương tiện thay thế trí nhớ như máy tính toán học, các phần mềm tính toán liều lượng, phần mềm qui đổi, máy vi tính tra cứu phác đồ,…

- Sử dụng bảng kiểm: công cụ đơn giản nhưng hiệu quả nếu được tuân thủ nghiêm túc, áp dụng trong những trường hợp chuẩn bị dụng cụ, chuẩn bị vận hành máy móc,…

- Đơn giản hóa các bước trong qui trình, nhưng giao quyền kiểm soát các bước thực hiện qui trình

- Kiểm tra lẫn nhau đối với những qui trình có nguy cơ cao: đây là nguyên tắc cơ bản trong khoa học an toàn, đối với những khâu quan trọng sự nhầm lẫn có thể gây sự cố thì khi thực hiện phải được người thứ hai chứng kiến và kiểm tra [5],[14]

Trang 18

1.1.2 Văn hóa an toàn người bệnh

1.1.2.1 Khái niệm

Theo tổ chức AHRQ, văn hoá an toàn của một tổ chức là sản phẩm từ những giá trị, thái độ, nhận thức, năng lực của cá nhân và nhóm và là sự cam kết về các hành vi, phong cách quản lý sức khoẻ và an toàn của một tổ chức[10],[11],[15]

Theo tác giả Cooper (2000), VHATNB trong một tổ chức gồm ba cấu phần bao gồm: (1) nhận thức về an toàn (Psychologital aspects) – liên quan đến kiến thức thái độ của nhân viên; (2) hành vi về an toàn (Behaviour aspects) – liên quan đến những hành động của nhân viên; (3) trạng thái an toàn của tổ chức (Situation aspects) - liên quan đến cách thức quản lý, các chính sách quy trình hoạt động trong một tổ chức[15]

Theo tác giả Cox và cộng sự, văn hóa an toàn người bệnh là tập hợp những giá trị, thái độ, niềm tin, nhận thức về an toàn của mọi nhân viên trong một bệnh viện[28]

Có khá nhiều định nghĩa về VHATNB được xây dựng như đã nêu, tuy nhiên trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng định nghĩa của tác giả Cox và cộng sự

Văn hóa an toàn người bệnh bao gồm năm thuộc tính sau:

(1) Một nền văn hóa trong đó mọi NVYT (cán bộ điều trị và cán bộ quản lý, điều hành) đứng ra chịu trách nhiệm về an toàn của bản thân, đồng nghiệp và khách hàng)

(2)Văn hóa ưu tiên đặt an toàn người bệnh lên trước mục tiêu về tài chính và

để duy trì hiệu quả các hệ thống đảm bảo an toàn[16]

Các tổ chức có nền văn hoá an toàn tích cực được đặc trưng bởi sự giao tiếp dựa trên lòng tin tưởng lẫn nhau, mọi người cùng nhận thức được tầm quan trọng của sự an toàn và tin tưởng vào tính hiệu quả của các biện pháp dự phòng[10], [11]

Trang 19

1.2 Công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện

Bộ câu hỏi văn hóa an toàn là bảng câu hỏi khảo sát/phỏng vấn để tìm ra thông tin liên quan đến thái độ, ý kiến và cảm xúc của nhân viên đối với an toàn và quản lý an toàn trong tổ chức[15]

Trên thế giới có nhiều bộ công cụ khảo sát VHATNB, các bộ công cụ phổ biến bao gồm:

- Bộ câu hỏi thái độ về an toàn (Safety Attitudes Questionnaire)

- Bộ công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh tại cơ sở y tế (Patient Safety Culture in Healthcare Organisations)

- Bộ công cụ điều tra bệnh viện về Văn hóa an toàn người bệnh (Hospital Survey on Patient Safety Culture)

- Bộ công cụ khảo sát khí hậu an toàn (Safety Climate Survey)

- Khung đánh giá an toàn người bệnh Manchester (Manchester Patient Safety Assessment Framework)

Các bộ câu hỏi đều được dùng để đánh giá các thông tin liên quan đến nhận thức, thái độ về ATNB, tuy nhiên ở mỗi công cụ lại có đặc điểm khác nhau về cấu trúc, đối tượng khảo sát, địa điểm và mục đích kết quả khảo sát cuối cùng Trong

đó, Bộ công cụ khảo sát VHATNB trong bệnh viện (Hospital Survey on Patient Safety Culture – HSOPSC) của tổ chức Nghiên cứu chất lượng và sức khỏe Hoa Kỳ (AHRQ) xây dựng và công bố chính thức vào tháng 11 năm 2004 được đánh giá là phù hợp và được sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới[17] Đến tháng 3 năm

2017, bộ công cụ này đã được sử dụng khảo sát bệnh viện tại 71 quốc gia trên thế giới, đã được dịch ra 32 ngôn ngữ khác nhau, trong đó có Việt Nam[18] Tại Việt Nam, từ năm 2016 bộ câu hỏi khảo sát này đã được Sở Y tế TP HCM chuyển đổi sang phiên bản tiếng Việt, được tổ chức AHRQ chính thức công nhận và cho phép

sử dụng tại Việt Nam Bộ câu hỏi đã được sử dụng trong nghiên cứu cấp thành phố

về VHATNB tại 43 bệnh viện trên địa bàn TP HCM, giúp các bệnh viện hiểu được nhận thức, thái độ và hành vi của nhân viên bệnh viện liên quan đến ATNB, qua đó góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại các bệnh viện[6]

Trang 20

- Chuẩn hóa bộ câu hỏi VHATNB trong bệnh viện: quá trình chuẩn hóa được

nhóm nghiên cứu của Sở Y tế TP HCM thực hiện qua 02 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Phiên ngữ sang tiếng Việt bộ câu hỏi khảo sát VHATNB (gọi tắt

là bộ câu hỏi) và Kiểm định nội dung (content validity) bộ câu hỏi thông qua quá trình phiên dịch thuận – nghịch và thảo luận nhóm chuyên gia Phiên dịch thuận – nghịch được nhóm nghiên cứu thực hiện bao gồm 7 bước theo như khuyến cáo của AHRQ (Agency for Healthcare Research and Quality), trong đó bao gồm cả bước phiên dịch ngược từ tiếng Việt sang tiếng Anh nhằm đảm bảm độ chính xác trong phiên dịch nội dung và đảm bảo tính khoa học của bản dịch

Giai đoạn 2: Kiểm định giá trị nội tại của bảng câu hỏi HSOPSC phiên bản tiếng Việt thông qua khảo sát ngẫu nhiên tại 100 nhân viên tại 02 khoa của Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi Đồng 1

Kết quả: với việc tuân thủ trình tự các bước thực hiện việc phiên dịch theo đúng hướng dẫn của AHRQ, nhóm nghiên cứu đã phiên dịch và chuẩn hóa phiên bản tiếng Việt đầu tiên của bảng câu hỏi HSOPSC của AHRQ, sau khi chuẩn hóa

bộ công cụ vẫn duy trì 12 lĩnh vực nghiên cứu về VHATNB bao gồm 42 câu hỏi như phiên bản gốc Phiên bản tiếng Việt này đã đáp ứng các tiêu chí cơ bản về giá trị nội dung, giá trị cấu trúc và giá trị nội tại với chỉ số Cronbach’s alpha ở mức từ khá cao đến chấp nhận được (>0.6) trong phần lớn các phạm trù khảo sát Kết quả khảo sát trên nhóm đối tượng chọn lọc cho thấy đây là Bộ câu hỏi có độ tin cậy, giá trị cao, tương đồng với phiên bản gốc của AHRQ có thể sử dụng tại các bệnh viện ở Việt Nam nhằm đánh giá thực trạng về VHATNB tại các bệnh viện, làm cơ sở thực hiện các khuyến cáo và biện pháp cải tiến hiệu quả về ATNB sau này Bộ câu hỏi phiên bản tiếng Việt này cũng đã được tổ chức AHRQ công nhận là bảng tiếng Việt đầu tiên và bản dịch ngôn ngữ thứ 31 trên toàn thế giới Bộ câu hỏi phiên bản tiếng Việt được đăng tải trên Tạp chí Y học TP HCM, Trang 239-246, tập 20, số 2 năm

2016, Đại học Y dược TP HCM[6]

Trang 21

- Cấu trúc của bộ câu hỏi khảo sát VHATNB:

Bộ câu hỏi khảo sát VHATNB bao gồm 42 câu hỏi, đánh giá 12 lĩnh vực sử dụng thang đo Likert 5 điểm để đánh giá (từ rất không đồng ý đến rất đồng ý) hoặc tần suất (không bao giờ đến luôn luôn) được phân chia cụ thể như sau:

1 Làm việc nhóm trong khoa: các nhân viên hỗ trợ lẫn nhau, đối xử với nhau một cách tôn trọng và cùng làm việc như một nhóm

2 Lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB: người lãnh đạo khoa xem xét các khuyến nghị của nhân viên để cải thiện sự an toàn của người bệnh, nhân viên được khen ngợi khi thực hiện theo các quy trình an toàn của bệnh nhân và không bỏ qua vấn đề an toàn của bệnh nhân

3 Học tập và cải tiến liên tục: sai lầm đã dẫn đến thay đổi tích cực và thay đổi được đánh giá cho hiệu quả của họ

4 Thông báo phản hồi sai sót: Nhân viên được thông báo về các lỗi xảy ra, được phản hồi về những thay đổi được đưa ra dựa trên báo cáo sự kiện và thảo luận cách để tránh sai sót

5 Cởi mở trong thông tin về sai sót: Nhân viên được tự do lên tiếng nếu họ thấy một điều gì đó có thể ảnh hưởng tiêu cực đến chăm sóc bệnh nhân và cảm thấy

tự do để đặt câu hỏi với những người có thẩm quyền nhiều hơn

6 Nhân lực: Có đủ nhân viên để xử lý khối lượng công việc và giờ làm việc

là thích hợp để cung cấp chăm sóc tốt nhất cho bệnh nhân

7 Hành xử không buột tội khi có sai sót: Nhân viên cảm thấy rằng những sai lầm của họ không chống lại họ, và những sai sót không được giữ trong hồ sơ nhân

sự

8 Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện: Lãnh đạo bệnh viện cung cấp một môi trường làm việc để thúc đẩy sự an toàn của bệnh nhân và cho thấy sự an toàn của bệnh nhân là ưu tiên hàng đầu

9 Làm việc nhóm giữa các khoa: Các khoa/phòng trong bệnh viện hợp tác

và phối hợp với nhau để chăm sóc tốt nhất cho người bệnh

10 Bàn giao và chuyển bệnh: Thông tin quan trọng trong chăm sóc người bệnh được truyền qua các đơn vị bệnh viện và trong những thay đổi ca trực

Trang 22

11 Nhận thức về ATNB: Thủ tục và hệ thống rất tốt để ngăn ngừa các sai sót

và thiếu các vấn đề an toàn của bệnh nhân

12 Tần suất báo cáo sự cố: Các sai sót của các loại sau được báo cáo:

(1) những sai lầm bị bắt và sửa chữa trước khi ảnh hưởng đến bệnh nhân, (2) những sai lầm không có khả năng gây hại cho bệnh nhân, và (3) sai lầm có thể gây hại cho bệnh nhân, nhưng không

Bộ công cụ cũng bao gồm hai câu hỏi trong đó người trả lời đánh giá mức độ

an toàn người bệnh trong khoa, phòng/đơn vị nơi họ đang làm việc và chỉ ra số lượng các sự cố họ đã báo cáo trong 12 tháng[6], [4], [11], [19]

1.3 Một số nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế trên Thế giới và tại Việt Nam

1.3.1 Một số nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế trên Thế giới

Tại Mỹ, các dữ liệu nghiên cứu về VHATNB tại các bệnh viện được gửi về

tổ chức AHRQ và lần đầu được tổng hợp, so sánh vào năm 2007 bao gồm 382 bệnh viện Đến năm 2016, báo cáo so sánh kết quả nghiên cứu của tổ chức AHRQ đã lên đến 680 bệnh viện, với tổng số nhân viên được khảo sát 447,584 người Kết quả, cho thấy NVYT là điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất 36% Hầu hết người trả lời (77%) cho biết họ có tiếp xúc trực tiếp với người bệnh Hơn một nửa số người được hỏi (56%) cho biết họ đã làm việc với bệnh viện hiện tại ít nhất 6 năm Tương tự, gần một nửa số người được hỏi (47%) cho biết họ đã làm việc trong khoa, phòng hiện tại ít nhất 6 năm Hầu hết người trả lời làm việc ít hơn 40 giờ trong một tuần (46%) hoặc 40 đến 59 giờ mỗi tuần (47%) Kết quả nghiên cứu về 12 lĩnh vực VHATNB cho thấy phần nội dung có tỷ lệ đáp ứng cao nhất là làm việc nhóm trong

01 đơn vị của tổ chức (82%), kế đến sự hỗ trợ của lãnh đạo đơn vị (78%), học tập

và cải tiến liên tục (73%), sự hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện (72%), thông tin và phản hồi về sai sót (68%), tần suất báo cáo sự cố (67%), nhận thức về an toàn người bệnh (66%), cởi mở thông tin về sai sót (64%), làm việc nhóm giữa các đơn vị (61%) Phần nội dung thấp điểm nhất thuộc về các nhóm văn hóa không trừng phạt

Trang 23

(45%), chuyển bệnh và bàn giao trong tổ chức (48%), nhân lực (54%), và làm việc nhóm giữa các đơn vị trong tổ chức (51%) Kết quả phân loại mức độ an toàn người bệnh của các tổ chức được khảo sát đa số trả lời kết quả tích cực 76%, trong đó

"Xuất sắc" (34%) hoặc "Rất tốt" (42%) Ngoài ra kết quả phân tích cũng nêu tỷ lệ người được khảo sát có báo cáo sự cố ít nhất 1 lần trong 12 tháng chỉ đạt 45%, việc báo cáo sự cố không đầy đủ cho thấy vấn đề an toàn người bệnh chưa thật sự được quan tâm[17]

Tại Đài Loan, kết quả khảo sát 788 NVYT tại 42 bệnh viện vào năm 2010 cho thấy, tỷ lệ đáp ứng tích cực trung bình cho 12 lĩnh vực của cuộc khảo sát HSOPSC là 64%, cao hơn một chút so với tỷ lệ đáp ứng tích cực trung bình cho dữ liệu AHRQ (61%) Kết quả cho thấy nhân viên bệnh viện ở Đài Loan cảm thấy tích cực đối với VHATNB trong tổ chức của họ Lĩnh vực có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao nhất là "Làm việc theo nhóm trong đơn vị" (94%), tương tự như kết quả được báo cáo ở Hoa Kỳ Lĩnh vực có tỷ lệ phản hồi tích cực thấp nhất là "Nhân sự" (39%) Phân tích thống kê cho thấy sự khác biệt giữa Đài Loan và Hoa Kỳ ở ba lĩnh vực bao gồm "Thông tin và phản hồi về sai sót", "Cởi mở thông tin về sai sót" và "Tần suất báo cáo sự cố"[20]

Tại Bỉ, kết quả khảo sát 3,940 NVYT được thực hiện tại 5 bệnh viện vào năm 2005, kết quả nghiên cứu cho thấy phần nội dung thấp điểm nhất thuộc về các nhóm sự hỗ trợ của lãnh đạo (35%), văn hóa không trừng phạt (36%), chuyển bệnh

và bàn giao trong tổ chức (36%) và làm việc nhóm giữa các đơn vị trong tổ chức (40%)[21]

Kết quả nghiên cứu tại 42 bệnh viện ở Đài Loan trong giai đoạn 2006-2008 cho thấy tỷ lệ phản hồi tích cực trung bình của 12 lĩnh vực an toàn bệnh nhân trong cuộc khảo sát VHATNB là 64% Kết quả cũng cho thấy phần nội dung thấp điểm nhất thuộc về các nhóm nhân lực (39%), văn hóa không trừng phạt (45%), chuyển bệnh và bàn giao trong tổ chức (48%) Tỷ lệ đáp ứng cao nhất là làm việc nhóm trong 01 đơn vị của tổ chức lên đến 94%[20]

Một nghiên cứu tại Trung Quốc được thực hiện tại 19 bệnh viện với 1,379 NVYT tham gia ghi nhận kết quả như sau: tỷ lệ đáp ứng tích cực của 12 lĩnh vực

Trang 24

VHATNB đạt từ 32.8% - 80.29% Trong đó, trong đó các lĩnh vực có tỷ lệ đáp ứng tích cực từ 75% trở lên được xem là lĩnh vực mạnh, và những lĩnh vực từ 50% trở xuống được xem là lĩnh vực yếu Kết quả nghiên cứu cho thấy lĩnh vực “làm việc theo nhóm trong các đơn vị” (80.29%) và “học tập tổ chức và cải tiến liên tục” (79.14%) là biểu thị điểm mạnh của VHATNB và các lĩnh vực “nhân sự” (36.73%)

và “phản ứng không trừng phạt đối với lỗi” (39.52%) là biểu thị điểm yếu trong VHATNB Kết quả nghiên cứu này cũng ghi nhận, các nhân viên của khoa phẫu thuật có thực hiện nhiều báo cáo sự cố (50%) hơn so với các khoa khác (41%), nhưng chỉ có một vài người làm việc trong khoa phẫu thuật đánh giá mức độ an toàn của bệnh nhân là tốt/xuất sắc (55%), trong khi các khoa khác có đánh giá mức

độ ATNB cao hơn (61%)[22]

Tại Riyadh, kết quả nghiên cứu năm 2014 với 2,572 NVYT tham gia cho thấy kết quả: các lĩnh vực có điểm số cao nhất và do đó được coi là lĩnh vực sức mạnh (≥ 75%) là Học tập tổ chức và cải thiện liên tục (79.6%) và Làm việc theo nhóm trong đơn vị (78.5%) Các lĩnh vực ghi điểm thấp nhất và như vậy có thể được coi là các vấn đề cần cải thiện (<50%) là Hành xử không buộc tội khi có sai sót (26.8%), Nhân sự (35.1%) và Cởi mở thông tin về sai sót (42.9%) Khoảng một nửa số người được hỏi đã đánh giá bệnh viện của họ ở mức độ an toàn bệnh nhân rất tốt (49%) Khoảng hơn một nửa số người được phỏng vấn đã không có báo cáo

sự cố (52.7%), khoảng một phần ba (28.7%) báo cáo 1 đến 2 sự cố và 13% báo cáo

3 đến 5 sự cố Điều đáng chú ý là chỉ có 1.4% số người được hỏi báo cáo trên 21sự

Trang 25

1.3.2 Một số nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Việt Nam

Năm 2012, Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP HCM khảo sát thực trạng VHATNB trong phạm vi toàn bệnh viện và tại các khoa phòng theo 12 lĩnh vực liên quan đến chăm sóc người bệnh, tỷ lệ trả lời tích cực cao tập trung ở các lĩnh vực làm việc nhóm trong khoa (90%), lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB (86%), hỗ trợ của bệnh viện về ATNB (82%), thông tin phản hồi về sai sót (82%) và học tập và cải tiến liên tục (88%) Trong khi đó, có nhiều phản hồi không tích cực như sự phối hợp giữa các khoa, phòng (61%), phối hợp giữa các khoa trong bàn giao chuyển bệnh (57%), nhân sự (52%), cởi mở trong thông tin về sai sót (55%), tần suất báo cáo sự

cố (64%), nhận thức về ATNB (67%) và nhất là “hành xử không buộc tội khi có sai sót” (51%) [4]

Cũng trong năm 2012, tại Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp đã tiến hành nghiên cứu VHATNB trên 400 nhân viên của bệnh viện, trong đó điều dưỡng, hộ sinh và

kỹ thuật viên và các đối tượng khác chiếm 86.5%, còn lại là bác sĩ chiếm 13.5% Kết quả nghiên cứu ghi nhận được như sau: 06 lĩnh vực có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao bao gồm hỗ trợ của lãnh đạo khoa trong ATNB (80%), nhận thức về ATNB (78.3%), hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về ATNB (78%), làm việc nhóm giữa các khoa (78%), học tập và cải tiến liên tục (75%), làm việc nhóm trong khoa (75%) Các lĩnh vực có tỷ lệ đáp ứng thấp như giao ca và chuyển bệnh (68%), thông tin và phản hồi về sai sót (57%), nhân lực (53%), phản ứng của nhân viên về sai sót (30%), giao tiếp cởi mở về ATNB (29%), tần suất báo cáo sự cố (4.1%) Đa số nhân viên xếp loại trung bình cho ATNB (84.8%), 11% cho mức độ tuyệt vời và rất tốt Tuy nhiên có tới 57.5% nhân viên không có báo cáo các sự kiện/sai sót trong 12 tháng [3]

Năm 2015, tại Bệnh viện Từ Dũ TP HCM thực hiện khảo sát 2,118 nhân viên, trong đó đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất là điều dưỡng (51%), gần 70% nhân viên có thâm niên công tác tại bệnh viện từ 6 năm trở lên, 80% nhân viên tiếp xúc trực tiếp với người bệnh Kết quả nghiên cứu cho thấy 70% nhân viên nhận định bệnh viện đã làm tốt công tác ATNB Trong số 12 lĩnh vực ATNB theo bộ công cụ

Trang 26

khảo sát của tổ chức AHRQ thì lĩnh vực có điểm đáp ứng tích cực nhất là làm việc theo nhóm trong khoa phòng (4.18 điểm), lĩnh vực có điểm đáp ứng thấp nhất là lĩnh vực bàn giao, chuyển bệnh và hành xử không buộc tội khi có sai sót (2.3 điểm)[1]

Cũng trong năm 2015, Sở Y tế TP HCM đã thực hiện công trình nghiên cứu cấp thành phố về chủ đề VHATNB Kết quả khảo sát thực trạng VHATNB tại 43 bệnh viện trên địa bàn Thành phố với tổng số nhân viên được khảo sát là 1,435 NVYT, trong đó điều dưỡng, kỹ thuật viên chiếm 62.9% 90.2% nhân viên làm việc tiếp xúc trực tiếp với người bệnh Tỷ lệ phản hồi tích cực chung ở 12 lĩnh vực là 78.5% Tỷ lệ trả lời tích cực chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực: làm việc nhóm trong khoa (96.3%), lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB (94.4%), học tập và cải tiến liên tục (93.9%), hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về ATNB (91%), làm việc nhóm giữa các khoa (85.1%) Trong khi đó, có nhiều phản hồi không tích cực ở các lĩnh vực như: cởi mở trong thông tin về sai sót (60%), thiếu nhân sự (62.1%), hành xử không buộc tội khi có sai sót (67.3%) và tần suất báo cáo sự cố (72.5%) Nhân viên tại các bệnh viện TP HCM trong cuộc khảo sát cũng đánh giá mức độ ATNB khá cao, tỷ

lệ trả lời ở mức xuất sắc/rất tốt 74.1%, trong đó rất tốt đạt 64% Nhưng khi xét về tần suất báo cáo sự cố, có 56.7% người được khảo sát không có báo cáo sự cố nào trong năm Sau khi thu được kết quả nghiên cứu, Sở Y tế TP HCM cũng xây dựng

và ban hành 13 khuyến cáo về VHATNB nhằm định hướng cho các bệnh viện trong nâng cao chất lượng điều trị và ATNB [6]

Tương tự, năm 2017, Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre cũng tiến hành khảo sát 389 nhân viên tại Bệnh viện Kết quả khảo sát: nhân viên là điều dưỡng chiếm 56.1%, còn bác sĩ chiếm 13.1% Phần lớn nhân viên làm việc có tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân 84.3% Kết quả khảo sát 12 lĩnh vực VHATNB cho thấy tỷ lệ đáp ứng tích cực trung bình là 72.5%, trong đó nhân viên có phản hồi tích cực cao tập trung ở các lĩnh vực: làm việc nhóm trong khoa (94.1%), làm việc nhóm giữa các khoa phòng (91.1%), lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB (90.5%), hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện (96.4%) Các lĩnh vực có ít ý kiến tích cực: sẵn sàng trao đổi thông tin về ATNB (34.7%), phản hồi thông tin về sai sót (72.7%), hành xử không

Trang 27

buộc tội khi có sai sót (61%), bàn giao và chuyển bệnh (56.9%), tần suất báo cáo sự

cố (63.3%) [9]

Năm 2017, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp đã thực hiện khảo sát tại

30 khoa, phòng với tổng số 580 NVYT thu được kết quả đáp ứng tích cực khá cao của nhân viên về các lĩnh vực của VHATNB Các lĩnh vực có tỷ lệ đáp ứng tích cực trên 90% như: làm việc nhóm trong khoa, phòng (95.3%), sự hỗ trợ về quản lý cho ATNB (94.8%), quan điểm và hành động về ATNB của người quản lý (90.7%), làm việc nhóm giũa các khoa (90.3%) Các lĩnh vực còn lại có tỷ lệ đáp ứng tích cực dưới 90% như: phản hồi và trao đổi về sai sót (71.6%), trao đổi cởi mở (59%), tần suất ghi nhận sự cố/sai sót (53.8%), bàn giao và chuyển tiếp (72.2%), không trừng phạt khi có sai sót (74.5%) Đa số nhân viên đánh giá mức độ ATNB tại bệnh viện

1.4.1 Yếu tố về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của Sở Y tế TP HCM cho thấy nhóm điều dưỡng/ kỹ thuật viên có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao hơn bác sĩ ở 7/12 lĩnh vực (làm việc nhóm trong khoa, lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB, học tập – cải tiến liên tục, hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về ATNB, nhân lực, bàn giao và chuyển bệnh, hành xử không buộc tội khi có sai sót) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05) Nhóm

Trang 28

bác sĩ và nhóm nhân viên làm việc lâu năm trong bệnh viện có vẻ “bi quan” hơn về mức độ ATNB của bệnh viện với những đối tượng khác Nhóm cán bộ quản lý có tần xuất báo cáo trên 2 sự cố/năm cao hơn hẳn các đối tượng là bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ, trong đó điều dưỡng là nhóm có tần xuất báo cáo thấp nhất Ngoài ra, SYT

TP HCM cũng tìm ra những vấn đề còn tồn tại gây ảnh hưởng đến VHATNB tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố cần cải thiện như: hiểu biết về VHATNB của NVYT tại các bệnh viện, tần suất ghi nhận, báo cáo sai sót còn rất thấp, hệ thống báo cáo sai sót chưa hiệu quả - nhân viên chưa biết được lợi ích và quy trình báo cáo sự cố, các sự cố thường xảy ra khi nhân viên không tuân thủ các quy trình chuyên môn, thiếu nhân sự, nhiều sai sót do không tuân thủ quy trình bàn giao và chuyển bệnh, lãnh đạo bệnh viện ít khi tổ chức giao ban với nhân viên về ATNB, giữa các khoa chưa có sự phối hợp tốt với nhau, nhân viên chưa có kiến thức đầy đủ

về ATNB nên chưa có thái độ, hành vi tích cực về ATNB [6]

Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp cũng ghi nhận các yếu tố ảnh hưởng như nơi làm việc chính của đối tượng nghiên cứu có liên quan với 6/10 lĩnh vực VHATNB bao gồm quan điểm và hành động về ATNB của người quản lý, phản hồi và trao đổi về sai sót, trao đổi cởi mở, làm việc theo nhóm giữa các khoa, phòng, bàn giao và chuyển bệnh, không trừng phạt khi có sai sót, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.1) Thâm niên công tác có ảnh hưởng đến lĩnh vực hỗ trợ về quản lý cho ATNB (OR = 1.8; χ2= 2.93; p = 0.06); chức danh chuyên môn tại bệnh viện cũng có mối liên quan với lĩnh vực này (OR = 1.7; χ2= 2.25; p = 0.09) Yếu tố thâm niên làm việc tại bệnh viện cũng ảnh hưởng tần suất ghi nhận sự cố/sai sót/lỗi (OR = 1.48; χ2= 3.57; p = 0.05); yếu tố tiếp xúc trực tiếp với người bệnh (OR = 2.37; χ2= 5.46; p = 0.01) Thời gian làm việc của đối tượng nghiên cứu ảnh hưởng đến lĩnh vực không trừng phạt khi có sai sót/ lỗi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (OR = 1.63; χ2= 5.42; p = 0.02)[8]

1.4.2 Yếu tố hệ thống và quản lý

Năm 2016, trong nghiên cứu đánh giá VHATNB và các yếu tố ảnh hưởng tại các bệnh viện khu vực Jimma phía Tây Nam Ethiopia, đã ghi nhận các yếu tố mang

Trang 29

tính hệ thống đã ảnh hưởng đến VHATNB theo các chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực khác nhau, cụ thể là:

- Hệ thống báo cáo sự cố ảnh hưởng tích cực đến VHATNB Báo cáo sự cố

đã được các nhân viên chăm sóc y tế nhắc đến như một thành phần thiết yếu để cải thiện văn hoá học tập và sau đó là VHATNB Tuy nhiên, những người được phỏng vấn nhấn mạnh rằng hệ thống báo cáo sự cố đã không được thành lập trong bệnh viện và hầu hết các nhân viên trong bệnh viện không bao giờ báo cáo sự cố

- Tình trạng thiếu hụt trang thiết bị là những yếu tố cản trở VHATNB Những người được phỏng vấn nhấn mạnh tình trạng thiếu nước, thiếu găng tay, ống tiêm, thuốc cấp cứu và kệ tủ mà dường như đơn giản nhưng ảnh hưởng mạnh đến VHATNB

- Tình trạng thiếu hụt nhân sự và khối lượng công việc cao ảnh hưởng tiêu cực đến VHATNB Những người được phỏng vấn tin rằng cơ sở hạ tầng của bệnh viện và những người được phục vụ nên cân bằng để cung cấp sự chăm sóc an toàn[24]

Năm 2017, Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp cũng ghi nhận các yếu tố ảnh hưởng tới VHATNB như: yếu tố quản lý trong đó hoạt động QLCL là một trong những hoạt động không thể thiếu trong các cơ sở y tế ngày nay; hoạt động kiểm tra giám sát về ATNB là hoạt động quan trọng vì nó cung cấp các dữ liệu cơ bản cho các kế hoạch phòng ngừa hay can thiệp về ATNB nhằm giảm thiểu các sai sót; tình trạng trang thiết bị quá tải, luôn hoạt động hết công suất, cơ sở hạ tầng xuống cấp gây ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ người bệnh; tình trạng nhân lực là một yếu tố hầu hết nhân viên đều không hài lòng [8]

1.4.3 Yếu tố nhân viên y tế

Nghiên cứu tại khu vực Jimma phía Tây Nam Ethiopia năm 2016 cũng ghi nhận các yếu tố ảnh hưởng từ nhân viên chăm sóc sức khỏe như sự hợp tác của các NVYT và tôn trọng lẫn nhau là một yếu tố quan trọng Kết quả nghiên cứu cho thấy

sự thiếu phối hợp giữa bác sĩ và điều dưỡng cũng như các nhân viên khác là một rào cản cho sự cải thiện VHATNB Bên cạnh đó, thái độ còn hạn chế của các NVYT đối với sự ATNB được báo cáo là ảnh hưởng đến VHATNB Những người trả lời

Trang 30

nhấn mạnh sự nhận thức của các nhân viên về sự an toàn của bệnh nhân là rất thấp[24]

Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp năm 2017 cũng ghi nhận mối quan hệ đồng nghiệp là một yếu tố quan trọng Thực tế tại bệnh viện ngày nay, sự phân biệt đối xử giữa các ngành nghề như bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh hoặc

những nhân viên khác hoặc giữa cấp trên và cấp dưới đã dần dần được cải thiện[8] 1.4.4 Yếu tố bệnh nhân

Trong nghiên cứu tại các bệnh viện khu vực Jimma phía Tây Nam Ethiopia năm 2016 cũng nêu ra yếu tố ảnh hưởng từ người bệnh: nhận thức của người bệnh

về dịch vụ y tế được cung cấp và sự tương tác của người bệnh cũng ảnh hưởng đến VHATNB theo suy nghĩ của họ, sự tham gia của người bệnh vào chăm sóc y tế là rất quan trọng để đạt được nền VHATNB Kết quả nghiên cứu cũng nhấn mạnh nâng cao nhận thức của người bệnh về dịch vụ, thái độ tích cực của NVYT về sự ATNB, cải thiện giao tiếp giữa các cán bộ y tế, tăng cường làm việc theo nhóm và chuỗi cung cấp đầy đủ là những yếu tố quan trọng để đạt được VHATNB tốt hơn[24]

Một nghiên cứu định tính được thực hiện ở Thụy Điển năm 2014 nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ATNB cũng ghi nhận: sự tương tác của bệnh nhân

có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc cản trở việc tăng cường ATNB Những người được phỏng vấn cho rằng, sự an toàn của bệnh nhân bị ảnh hưởng tích cực bởi có một cuộc đối thoại mở với bệnh nhân Thông tin được cấu trúc tốt khi được cung cấp cả bằng miệng và bằng văn bản tạo điều kiện an toàn cho bệnh nhân Mặt khác,

sự tương tác kém của bệnh nhân do vấn đề giao tiếp có thể cản trở sự an toàn của bệnh nhân Bên cạnh đó, sự an toàn của bệnh nhân có thể là ảnh hưởng tích cực bởi

sự tham gia của bệnh nhân vào quá trình chăm sóc sức khỏe của chính họ [30]

1.5 Khung lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng công cụ khảo sát VHATNB của tổ chức AHRQ xây dựng, được dịch sang tiếng Việt, chuẩn hóa bởi Sở Y tế TP HCM và được tổ chức AHRQ công nhận và cho phép sử dụng tại Việt Nam để bước đầu mô tả thực trạng VHATNB của NVYT tại TTYT huyện Lai Vung Sau khi tổng hợp, phân tích được

Trang 31

số liệu sơ lược về thực trạng, học viên phỏng vấn, thảo luận nhóm theo nội dung đã soạn sẵn, tập trung vào các nhóm lĩnh vực nổi trội (cao nhất, thấp nhất), kết quả khảo sát đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và những ý kiến liên quan khác từ NVYT và các cán bộ lãnh đạo của trung tâm để tìm ra các yếu tố thúc đẩy và hạn chế ảnh hưởng đến VHATNB

Khung lý thuyết thể hiện 2 nội dung chính được tập trung làm rõ trong nghiên cứu Nội dung thứ nhất là thực trạng VHATNB của NVYT tại TTYT huyện Lai Vung sẽ được mô tả qua kết quả nghiên cứu định lượng Nội dung thứ hai là một số yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB của NVYT cũng được xác định trong nghiên cứu bằng phương pháp nghiên cứu định tính và được phân tích theo 2 hướng thúc đẩy và hạn chế Phần nội dung này được tập trung tìm hiểu qua các nhóm yếu

tố như sau: yếu tố đặc điểm đối tượng nghiên cứu, yếu tố nhân viên y tế, yếu tố người bệnh và yếu tố hệ thống và quản lý

Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại TTYT huyện Lai

Vung

1 Làm việc nhóm trong khoa/phòng

2 Lãnh đạo khoa/phòng khuyến khích ATNB

3 Học tập và cải tiến liên tục

4 Thông báo, phản hồi sai sót

5 Cởi mở trong thông tin về sai sót

10 Bàn giao và chuyển bệnh

11 Nhận thức về ATNB

12 Tần suất báo cáo sự cố

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

nhân viên tuân thủ ATNB

- Điều kiện làm việc

- Khối lượng công việc

- Quá tải khám chữa bệnh

Yếu tố nhân viên y tế

Trang 32

1.6 Giới thiệu về Trung tâm Y tế huyện Lai Vung

1.6.1 Giới thiệu sơ lược về Trung tâm Y tế huyện Lai Vung

Bệnh viện đa khoa huyện Lai Vung thành lập năm 2005, tọa lạc tại Quốc lộ

80, khóm 1, thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Là bệnh viện tuyến huyện, hạng 3 trực thuộc Sở Y tế Đồng Tháp Bệnh viện có quy mô 140 giường kế hoạch, 11 khoa lâm sàng và cận lâm sàng, 05 phòng chức năng Tổng số cán bộ viên chức là 160 (147 biên chế, 09 hợp đồng theo nghị định 68 và 04 hợp đồng) Tháng 1 năm 2018, bênh viện đã sáp nhập với TTYT - Dân số huyện Lai Vung trở thành TTYT huyện Lai Vung, với vai trò là TTYT hai chức năng: khám, điều trị bệnh và dự phòng Hiện tại, trung tâm đã triển khai tốt các hoạt động để đáp ứng các nhu cầu chăm sóc sức khỏe, tiếp nhận cấp cứu và điều trị cho người dân huyện Lai Vung, nhân dân các huyện lân cận Trung bình hằng năm, TTYT huyện Lai Vung (trước tháng 01/2018 là bệnh viện đa khoa huyện Lai Vung) tiếp nhận gần 170.000 lượt người bệnh đến khám, chữa bệnh nội, ngoại trú

1.6.2 Một vài điểm nổi bật về hoạt động ATNB tại TTYT huyện Lai Vung

Năm 2016, Bệnh viện đã thành lập phòng Quản lý chất lượng, tuy nhiên hoạt động QLCL-ATNB chưa nổi bật, đặc biệt hoạt động về ATNB chủ yếu vẫn là phòng Điều dưỡng và khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn giám sát sự tuân thủ qui trình Đến năm 2017, khi hoạt động QLCL đã được quan tâm, hoạt động ATNB cũng được dần triển khai thực hiện, đặt biệt là báo cáo sự cố Bên cạnh đó, Bệnh viện cũng đã đưa cán bộ là các lãnh đạo khoa, phòng tham gia các lớp về ATNB và QLCL để nhân viên tăng cường kiến thức về QLCL-ATNB Hoạt động kiểm tra, giám sát hằng ngày, hàng tháng cũng được phòng Điều dưỡng tập trung nhiều hơn đến ATNB Tuy nhiên, những sự cố đã xảy ra thì các khoa, phòng vẫn chưa có văn hóa báo cáo, xem sự cố là bài học để mọi người học tập và tránh xảy ra lặp lại

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nhân viên y tế làm việc tại khối lâm sàng, cận lâm sàng và các phòng chức năng của TTYT huyện Lai Vung

2.1.1 Nghiên cứu định lượng

2.1.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Tất cả nhân viên y tế làm việc tại khối lâm sàng, cận lâm sàng và các phòng chức năng của TTYT huyện Lai Vung

- Nhân viên y tế đồng ý tham gia vào nghiên cứu

- Nhân viên y tế làm việc tại TTYT từ 12 tháng trở lên

2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Nhân viên y tế đi học, nghỉ hậu sản, ốm đau,… trong thời gian tiến hành nghiên cứu

2.1.2 Nghiên cứu định tính:

2.1.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Chọn chủ đích một số cán bộ lãnh đạo đơn vị/khoa/phòng đã đảm nhận vị trí công tác ít nhất là 12 tháng tính đến thời điểm tiến hành nghiên cứu (tháng 3 năm 2018) Cụ thể như sau:

+ Đại diện Ban Giám đốc (Giám đốc – Chủ tịch Hội đồng QLCL và 01 Phó Giám đốc – Phụ trách chuyên môn)

+ Đại diện lãnh đạo các phòng chức năng: Kế hoạch nghiệp vụ, Điều dưỡng,

2.1.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Lãnh đạo và đại diện đơn vị/khoa/phòng đi học, nghỉ hậu sản, ốm đau trong thời gian tiến hành nghiên cứu

Trang 34

- Lãnh đạo và đại diện đơn vị/khoa/phòng từ chối tham gia vào nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm

- Thời gian nghiên cứu: 01/3/2018 – 30/9/2018

- Địa điểm nghiên cứu: TTYT huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, phương pháp nghiên cứu được

áp dụng là phương pháp định lượng kết hợp với định tính Trong đó, phương pháp định lượng được thực hiện trước, phương pháp định tính được thực hiện sau

+ Nghiên cứu định lượng: nhằm mô tả thực trạng VHATNB của NVYT tại

TTYT huyện Lai Vung

+ Nghiên cứu định tính: để giải thích bổ sung cho kết quả nghiên cứu định

lượng, đồng thời tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB của NVYT tại TTYT huyện Lai Vung năm 2018

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu định lượng

Chọn tất cả nhân viên y tế đang làm việc tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng

và phòng chức năng thuộc khối Bệnh viện đa khoa huyện Lai Vung trước khi sáp nhập với TTYT - Dân số huyện Lai Vung năm 20181 Tổng số nhân viên tại các

khoa lâm sàng, cận lâm sàng và phòng chức năng: 142 nhân viên

Trang 35

chức – Hành chánh, 01 lãnh đạo đại diện khoa Cấp cứu, 01 lãnh đạo khoa Cận lâm sàng Tổng số cuộc phỏng vấn sâu là 07 cuộc

- Thảo luận nhóm chia 2 nhóm gồm:

+ 01 nhóm gồm 08 Bác sĩ đến từ các khoa Cấp cứu, Nội, Ngoại, Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Nhi, Cận lâm sàng – chẩn đoán hình ảnh, Truyền nhiễm, Y học

cổ truyền – phục hồi chức năng

+ 01 nhóm gồm 08 điều dưỡng, kỹ thuật viên đến từ các khoa Cấp cứu, Nội, Ngoại, Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Nhi, Cận lâm sàng – chẩn đoán hình ảnh, Truyền nhiễm, Y học cổ truyền – phục hồi chức năng

Tổng số cuộc thảo luận nhóm là 02 cuộc

2.5 Các biến sử dụng trong nghiên cứu

2.5.1 Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng VHATNB của NVYT tại TTYT huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp – năm 2018

Các nhóm biến số chính trong nghiên cứu (chi tiết trình bài tại phụ lục 7)

- 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh và định nghĩa từng lĩnh vực:

+ Làm việc nhóm trong khoa: các nhân viên hỗ trợ lẫn nhau, đối xử với nhau một cách tôn trọng và cùng làm việc như một nhóm

+ Lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB: người lãnh đạo khoa xem xét các khuyến nghị của nhân viên để cải thiện sự an toàn của người bệnh, nhân viên được khen ngợi khi thực hiện theo các quy trình an toàn của bệnh nhân và không bỏ qua vấn đề an toàn của bệnh nhân

+ Học tập và cải tiến liên tục: sai lầm đã dẫn đến thay đổi tích cực và thay đổi được đánh giá cho hiệu quả của họ

+ Thông báo phản hồi sai sót: Nhân viên được thông báo về các lỗi xảy ra, được phản hồi về những thay đổi được đưa ra dựa trên báo cáo sự kiện và thảo luận cách để tránh sai sót

+ Cởi mở trong thông tin về sai sót: Nhân viên được tự do lên tiếng nếu họ thấy một điều gì đó có thể ảnh hưởng tiêu cực đến chăm sóc bệnh nhân và cảm thấy

tự do để đặt câu hỏi với những người có thẩm quyền nhiều hơn

Trang 36

+ Nhân lực: Có đủ nhân viên để xử lý khối lượng công việc và giờ làm việc

là thích hợp để cung cấp chăm sóc tốt nhất cho bệnh nhân

+ Hành xử không buột tội khi có sai sót: Nhân viên cảm thấy rằng những sai lầm của họ không chống lại họ, và những sai sót không được giữ trong hồ sơ nhân

sự

+ Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện: Lãnh đạo bệnh viện cung cấp một môi trường làm việc để thúc đẩy sự an toàn của bệnh nhân và cho thấy sự an toàn của bệnh nhân là ưu tiên hàng đầu

+ Làm việc nhóm giữa các khoa: Các khoa/phòng trong bệnh viện hợp tác và phối hợp với nhau để chăm sóc tốt nhất cho người bệnh

+ Bàn giao và chuyển bệnh: Thông tin quan trọng trong chăm sóc người bệnh được truyền qua các đơn vị bệnh viện và trong những thay đổi ca trực

+ Nhận thức về ATNB: Thủ tục và hệ thống rất tốt để ngăn ngừa các sai sót

và thiếu các vấn đề an toàn của bệnh nhân

+ Tần suất báo cáo sự cố: Các sai sót của các loại sau được báo cáo: 1) những sai lầm bị bắt và sửa chữa trước khi ảnh hưởng đến bệnh nhân, 2) những sai lầm không

có khả năng gây hại cho bệnh nhân, và 3) sai lầm có thể gây hại cho bệnh nhân, nhưng không

- Đánh giá mức độ ATNB của khoa

- Số lượng sự cố được báo cáo trong 12 tháng

2.5.2 Mục tiêu 2: Xác định một số yếu tố ảnh hưởng tới VHATNB của NVYT tại TTYT huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp năm 2018

* Nghiên cứu định lượng: (chi tiết trình bày tại phụ lục 8)

- Biến độc lập: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

- Biến phụ thuộc:

+ 12 lĩnh vực VHATNB

+ Đánh giá mức độ ATNB của TTYT

+ Số lượng sự cố được báo cáo trong 12 tháng

Trang 37

* Nghiên cứu định tính

Quan điểm của các đối tượng được phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm về:

- Những yếu tố ảnh hưởng theo hướng thúc đẩy và hạn chế VHATNB của NVYT tại TTYT huyện Lai Vung

- Yếu tố hệ thống và quản lý

+ Hệ thống báo cáo sự cố

+ Cơ chế, chính sách, quy định để nhân viên tuân thủ ATNB

+ Điều kiện làm việc (cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế, điều kiện về bảo hộ lao động, )

+ Khối lượng công việc

+ Quá tải khám chữa bệnh

- Yếu tố nhân viên y tế

+ Sự hợp tác và tôn trọng lẫn nhau

+ Nhận thức về ATNB

+ Đào tạo, tập huấn về ATNB

- Yếu tố người bệnh

+ Nhận thức của người bệnh đối với dịch vụ y tế

+ Sự tham gia của người bệnh vào chăm sóc y tế

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

- Nghiên cứu định lượng: Thông tin thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền (phụ lục

3) Bộ câu hỏi được sử dụng là bộ công cụ khảo sát VHATNB của Tổ chức AHRQ,

Hoa Kỳ (Bảng dịch tiếng Việt đã được công nhận và cho phép sử dụng bởi Tổ chức AHRQ, Hoa Kỳ)

Trước khi phát vấn, nghiên cứu viên đọc trang thông tin nghiên cứu cho đối tượng nghiên cứu nhằm giới thiệu về nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, cách đọc và điền phiếu,…

Nghiên cứu viên tiến hành gửi phiếu khảo sát cho cho từng đối tượng thuộc 142 đối tượng nghiên cứu theo tiêu chuẩn chọn tự điền và thu lại ngay sau khi các đối tượng điền xong phiếu

Trang 38

- Nghiên cứu định tính:

Nội dung phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm dựa theo hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm bán cấu trúc, được thiết kế sẵn Thời gian trung bình của mỗi cuộc phỏng vấn sâu là khoảng 45 phút và 75 phút cho mỗi thảo luận nhóm Nội

dung cuộc phỏng vấn sâu được ghi âm lại và gỡ băng

Đảm bảo chất lượng số liệu trong nghiên cứu

Học viên là người trực tiếp thu thập số liệu và có thể giải thích bộ câu hỏi khi đối tượng nghiên cứu có thắc mắc Có giám sát viên của trường ĐHYTCC trong quá trình thu thập số liệu

2.7 Phân tích số liệu

Nghiên cứu định lượng

Số liệu được làm sạch, nhập và phân tích bằng công cụ Điều tra bệnh viện - Hospital Survey Excel Tool 1.7 năm 2010 của của Microsoft Excel do Tổ chức

AHRQ cung cấp (phụ lục 6) và phần mềm SPSS 18.0

Số liệu được nhập lại 15% nhằm kiểm tra và hạn chế sai số trong quá trình nhập số liệu

Kết quả phân tích số liệu bằng SPSS được chia thành 2 phần:

Phần mô tả: thể hiện tần số và tỷ lệ để mô tả các biến về VHATNB của NVYT

Phần phân tích: xác định những mối liên quan giữa các lĩnh vực VHATNB của NVYT với các yếu tố khác bằng kiểm định χ2, sử dụng OR và khoảng tin cậy để

Trang 39

2.8 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá

* Phân tích các lĩnh vực: Mỗi lĩnh vực gồm 3 – 4 câu hỏi Trong nghiên cứu này có 12 lĩnh vực như sau:

Bảng 2 1 Cấu trúc 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh

Số

thu thập số liệu

Số lượng câu hỏi

1 Làm việc nhóm trong khoa/ phòng A1, A3, A4, A11 04

2 Lãnh đạo khoa/phòng khuyến khích

ATNB

B1, B2, B3r, B4r 04

3 Học tập và cải tiến liên tục A6, A9, A13 03

5 Cởi mở trong thông tin về sai sót C2, C4, C6r 03

7 Hành xử không buột tội khi có sai sót A8r, A12r, A16r 03

8 Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện F1, F8, F9r 03

9 Làm việc nhóm giữa các khoa/phòng F4, F10, F2r, F6r 04

10 Bàn giao và chuyển bệnh F3r, F5r, F7r, F11r 04

11 Nhận thức về ATNB A15, A18, A10r, A17r 04

- Kết quả đánh giá được nhóm thành 3 mức độ như sau:

+ Đáp ứng tích cực: là tỷ lệ phần trăm nhân viên trả lời “đồng ý/rất đồng ý” hay “thường xuyên/luôn luôn” (4 hoặc 5 điểm) đối với tiểu mục diễn đạt xuôi, hoặc

Trang 40

“rất không đồng ý/ không đồng ý” hay “không bao giờ/hiếm khi” (1 hoặc 2 điểm) đối với mục diễn đạt ngược

+ Bình thường: là tỷ lệ phần trăm nhân viên trả lời “bình thường” hay đôi khi (3 điểm) đối với cả 2 diễn đạt ngược và xuôi

+ Đáp ứng chưa tích cực: là tỷ lệ phần trăm nhân viên trả lời “rất không đồng ý/ không đồng ý” hay “không bao giờ/hiếm khi” (1 hoặc 2) đối với tiểu mục diễn đạt xuôi, hoặc “đồng ý/rất đồng ý” hay “thường xuyên/luôn luôn” (4 hoặc 5) đối với mục diễn đạt ngược

- Tỷ lệ đáp ứng tích cực, bình thường và chưa tích cực của từng lĩnh vực được tổng hợp bằng cách lấy trung bình tỷ lệ phần trăm của đáp ứng tích cực, bình thường và chưa tích cực của các tiểu mục trong từng lĩnh vực bằng công cụ Hospital Survey Excel Tool 1.7 năm 2010 của Microsoft Excel do Tổ chức AHRQ cung cấp

(phụ lục 8) và phần mềm SPSS 18.0

* Tiêu chuẩn đánh giá:

- Xác định điểm mạnh của các lĩnh vực VHATNB tại TTYT huyện Lai Vung: trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực từ 75% trở lên

- Xác định điểm yếu cần cải thiện của các lĩnh vực VHATNB TTYT huyện Lai Vung: trung bình tỷ lệ đáp ứng thấp dưới 75%[3],[23]

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Ban Giám đốc, Hội đồng Khoa học Kỹ thuật TTYT huyện Lai Vung chấp thuận cho phép triển khai nghiên cứu tại Trung tâm

Các đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành khảo sát và được tiến hành sau khi đối tượng nghiên cứu tự nguyện đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Mọi thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập chính xác, trung thực chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

Nghiên cứu tuân thủ đúng các quy định về đạo đức trong nghiên cứu và đã được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học trường Đại học Y tế công cộng thông qua theo quyết định số 115/2018/YTCC-HD3

Ngày đăng: 31/01/2021, 12:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w