Câu hỏi đặt ra là thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi về văn hóa an toàn người bệnh của của nhân viên y tế tại Bệnh viện Nhi tỉnh Thái Bình như thế nào, có những yếu tố nào liên qua
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HÀ
THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI BỆNH VIỆN NHI THÁI BÌNH NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
THÁI BÌNH - 2020
Trang 2NGUYỄN THỊ THU HÀ
THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI BỆNH VIỆN NHI THÁI BÌNH NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các cơ quan, đơn vị và cá nhân, đến nay bản luận văn của tôi đã được hoàn thành Nhân dịp này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng cùng các quý Thày/ Cô thuộc Trường Đại học Y Dược Thái Bình
đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và luận văn tốt nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc cùng các đồng nghiệp Bệnh viện Nhi Thái Bình đã cho phép, động viên và hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi xin đặc biệt cảm ơn Nhà giáo nhân dân, PGS.TS Phạm Văn Trọng
và Nhà giáo nhân dân, GS.TS Lương Xuân Hiến đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu cũng như bản luận văn này
Tôi xin cảm ơn các bạn bè thuộc lớp Cao học YTCC Khóa 16, Trường Đại học Y Dược Thái Bình cùng người thân trong gia đình đã luôn chia sẻ, động viên, khích lệ để tôi hoàn thành việc học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn./
Thái Bình, ngày 29 tháng 06 năm 2020
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là: Nguyễn Thị Thu Hà, học viên khóa đào tạo trình độ Thạc sĩ, chuyên ngành Y tế Công cộng của Trường Đại học Y Dược Thái Bình
Tôi xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của: PGS.TS Phạm Văn Trọng và GS.TS Lương Xuân Hiến
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của nơi nghiên cứu Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều cam đoan trên
Thái Bình, ngày 29 tháng 06 năm 2020
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AHRQ Agency for Healthcare reseach and Quality
(Cơ quan Chất lượng và Nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ)
HSOPSC Hospital Survey on Patient Safety Culture
(Bộ câu hỏi khảo sát văn hóa an toàn người bệnh) JCI Joint Commission International
(Tổ chức giám định chất lượng bệnh viện Hoa Kỳ)
QLCL Quản lý chất lượng
VHATNB Văn hóa an toàn người bệnh
WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục chữ viết tắt
Mục lục
Danh mục bảng số liệu
Danh mục biểu đồ
Danh mục hộp
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm và thang đo sử dụng trong nghiên cứu 4
1.1.1 Sự cố y khoa 4
1.1.2 An toàn người bệnh 6
1.1.3 Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế 8
1.1.4 Thang đo nghiên cứu Văn hóa An toàn người bệnh 9
1.2 Thực trạng về văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế trên thế giới và Việt Nam 13
1.2.1 Trên thế giới 13
1.2.2 Tại Việt Nam 15
1.3 Yếu tố liên quan tới văn hóa an toàn người bệnh 19
1.3.1 Yếu tố về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 19
1.3.2 Yếu tố hệ thống và quản lý 20
1.3.3 Yếu tố nhân viên y tế 21
1.3.4 Yếu tố môi trường làm việc 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Địa bàn, đối tượng, thời gian nghiên cứu 24
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 24
Trang 72.1.2 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 26
2.2.3 Các biến số nghiên cứu 27
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.3 Khung lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 30
2.4 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 32
2.4.1 Thước đo 33
2.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá 33
2.5 Phương pháp phân tích số liệu 34
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 37
3.2 Thực trạng VHATNB của NVYT tại Bệnh viện Nhi Thái Bình 39
3.2.1 Kết quả khảo sát theo 12 nhóm lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh 39
3.2.2 7 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh trong phạm vi khoa, phòng 40 3.2.3 3 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh trong phạm vi bệnh viện 44
3.2.4 2 lĩnh vực về kết quả liên quan đến an toàn người bệnh 46
3.2.5 Số lượng báo cáo sự cố trong 12 tháng của nhân viên 47
3.2.6 Kết quả đánh giá của nhân viên về mức độ ATNB của Bệnh viện 48
3.3 Một số yếu tố liên quan đến VHATNB của nhân viên y tế 49
3.3.1 Các yếu tố về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 49
3.3.2 Các yếu tố về hệ thống và quản lý 56
3.3.3 Yếu tố nhân viên y tế 59
3.3.4 Yếu tố môi trường làm việc 62
Trang 8Chương 4: BÀN LUẬN 63
4.1 Thực trạng VHATNB của NVYT tại Bệnh viện Nhi Thái Bình 63
4.1.1 07 lĩnh vực ở phạm vi khoa, phòng 64
4.1.2 03 lĩnh vực ở phạm vi toàn bệnh viện 69
4.1.3 02 lĩnh vực về kết quả liên quan đến an toàn người bệnh 71
4.1.4 Số lượng báo cáo sự cố trong 12 tháng 73
4.1.5 Đánh giá mức độ an toàn người bệnh tại bệnh viện 73
4.2 Một số yếu tố liên quan đến VHATNB của nhân viên y tế 74
4.2.1 Các yếu tố đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 74
4.2.2 Yếu tố hệ thống và quản lý 76
4.2.3 Yếu tố nhân viên y tế 79
4.2.4 Yếu tố về môi trường làm việc 81
4.3 Một số hạn chế của nghiên cứu 82
KẾT LUẬN 84
KHUYẾN NGHỊ 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Cấu trúc 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh 32
Bảng 2.2 Mức điểm giới hạn của từng nhóm lĩnh vực VHATNB 35
Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 37
Bảng 3.2 Lĩnh vực làm việc nhóm trong khoa, phòng 40
Bảng 3.3 Lãnh đạo khoa khuyến khích an toàn người bệnh 40
Bảng 3.4 Lĩnh vực học tập và cải tiến liên tục 41
Bảng 3.5 Lĩnh vực thông tin và phản hồi về sai sót 41
Bảng 3.6 Lĩnh vực cởi mở trong thông tin về sai sót 42
Bảng 3.7 Lĩnh vực nhân lực 43
Bảng 3.8 Lĩnh vực hành xử không buộc tội khi có sai sót 43
Bảng 3.9 Lĩnh vực hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về ATNB 44
Bảng 3.10 Lĩnh vực làm việc nhóm giữa các khoa 45
Bảng 3.11 Lĩnh vực bàn giao và chuyển bệnh 45
Bảng 3.12 Lĩnh vực nhận thức về an toàn người bệnh 46
Bảng 3.13 Lĩnh vực tần suất báo cáo sự cố 47
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa các chức danh của đối tượng nghiên cứu với 12 lĩnh vực VHATNB 49
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa vị trí tiếp xúc với người bệnh với 12 lĩnh vực VHATNB 50
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thâm niên công tác trong bệnh viện với 12 lĩnh vực VHATNB 51
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa thời gian làm việc trong tuần với 12 lĩnh vực VHATNB 52
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa khoa làm việc với 12 lĩnh vực VHATNB 53
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với mức độ ATNB của bệnh viện 54
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với số lượng báo cáo sự cố 55
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Thâm niên làm việc tại bệnh viện 38
Biểu đồ 3.2 Thâm niên làm việc tại khoa 38
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ trả lời tích cực theo 12 nhóm lĩnh vực VHATNB 39
Biểu đồ 3.4 Số lượng báo cáo sự cố trong 12 tháng của nhân viên 47 Biểu đồ 3.5 Kết quả đánh giá của NVYT về mức độ ATNB của bệnh viện 48
Trang 11DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1 Quan điểm của lãnh đạo ủng hộ VHATNB 56
Hộp 3.2 Sự quan tâm khích lệ của lãnh đạo bệnh viện ảnh hưởng tới VHATNB 56 Hộp 3.3 Sự quan tâm khích lệ của lãnh đạo khoa ảnh hưởng tới VHATNB 57 Hộp 3.4 Thiếu các hướng dẫn, quy định chi tiết về ATNB 57
Hộp 3.5 Ý nghĩa của việc giám sát thông qua đo lường chỉ số chất lượng 57
Hộp 3.6 Điểm yếu trong hoạt động kiểm tra giám sát 58
Hộp 3.7 Rào cản của hoạt động quản lý sự cố y khoa 58
Hộp 3.8 Hoạt động của hệ thống quản lý sự cố hiện tại 59
Hộp 3.9 Vai trò phòng Quản lý chất lượng trong thúc đẩy báo cáo SCYK 59
Hộp 3.10 Thái độ của NVYT liên quan tới VHATNB 59
Hộp 3.11 Xây dựng chuẩn mực giúp tạo dựng VHATNB 60
Hộp 3.12 Làm việc nhóm là yếu tố thúc đẩy VHATNB 60
Hộp 3.13 Rào cản trong làm việc nhóm tại bệnh viện 61
Hộp 3.14 Hoạt động tập huấn giúp nâng cao kiến thức, kỹ năng cho NVYT61 Hộp 3.15 Nhu cầu đào tạo liên tục 61
Hộp 3.16 Đào tạo kỹ năng mềm hỗ trợ 62
Hộp 3.17 Tình trạng thiếu nhân lực 62
Hộp 3.18 Tình trạng thiếu trang thiết bị 62
Trang 12An toàn người bệnh ngày nay đã trở thành một trong những thách thức lớn nhất trong lĩnh vực y tế [59] Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính ở các nước có thu nhập cao, cứ 10 bệnh nhân nhập viện thì có 1 bệnh nhân gặp phải sự cố y khoa (SCYK), trong đó 50% là các sự cố có thể phòng tránh được Khoảng 2/3 số sự cố y khoa xảy ra ở các nước có thu nhập trung bình và thấp [61] Gánh nặng về kinh tế của việc chăm sóc y khoa không an toàn cũng rất đáng báo động Các nghiên cứu cho thấy chi phí phụ trội gây ra do các tai biến y khoa bao gồm chi phí nằm viện lâu hơn, mất thu nhập, mất sức lao động…vào khoảng 6 đến 29 tỷ đô la Mỹ mỗi năm [59] Nguyên nhân của các sự cố y khoa chủ yếu do lỗi hệ thống (70%) và chỉ có 30% do cá nhân người hành nghề [2]
Các nghiên cứu về an toàn người bệnh cho rằng để bảo đảm về an toàn người bệnh cần phải tiếp cận một cách có hệ thống và nâng cao tính tích cực của văn hóa tổ chức vào an toàn người bệnh (hay còn gọi là văn hóa an toàn người bệnh - VHATNB) Khảo sát thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của bệnh viện là hoạt động khởi đầu không thể thiếu giúp bệnh viện nắm bắt những suy nghĩ, thái độ và hành vi của nhân viên bệnh viện liên quan đến an toàn người bệnh Kết quả khảo sát thực trạng văn hóa an toàn người bệnh là
Trang 13một trong những căn cứ quan trọng cho mọi hoạt động cải tiến chất lượng liên tục của bệnh viện hướng đến an toàn người bệnh [5]
Bộ Y tế đã ban hành Thông tư hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám, chữa bệnh [3], Theo đó, các bệnh viện cần xây dựng hệ thống quản lý sự cố y khoa tại đơn vị và khuyến khích nhân viên y tế tự nguyện báo cáo sự cố để từ đó có các biện pháp mang tính hệ thống trong phòng ngừa chủ động, nâng cao an toàn người bệnh
Bệnh viện Nhi Thái Bình là bệnh viện chuyên khoa Nhi tuyến tỉnh hạng
I, trực thuộc Sở Y tế Thái Bình Bệnh viện hiện đang triển khai các hoạt động đảm bảo an toàn người bệnh theo hướng dẫn của Bộ Y tế [1] Tuy nhiên, một
số hoạt động triển khai đến nay vẫn còn nhiều lúng túng trong quá trình thực hiện Văn hóa an toàn người bệnh vẫn là một khái niệm rất mới và ít được nhắc đến trong quá trình làm việc của nhân viên y tế (NVYT), đồng thời nhân viên y tế chưa có thái độ tích cực quan tâm đến vấn đề này Trên thực tế, chưa
có khảo sát nào tại Bệnh viện Nhi Thái Bình để đánh giá về vấn đề văn hóa an toàn người bệnh trong bối cảnh các nguy cơ xảy ra sự cố luôn tồn tại, có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người bệnh và chất lượng khám, chữa bệnh Câu hỏi đặt ra là thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi về văn hóa an toàn người bệnh của của nhân viên y tế tại Bệnh viện Nhi tỉnh Thái Bình như thế nào, có những yếu tố nào liên quan đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế trong bệnh viện Trả lời được những câu hỏi này sẽ là căn cứ để Bệnh viện triển khai những hoạt động cải tiến phù hợp về xây dựng văn hóa
an toàn người bệnh tại đơn vị Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã thực
hiện đề tài “Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Nhi Thái Bình năm 2019”
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh
viện Nhi Thái Bình năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến văn hóa an toàn người bệnh của
nhân viên y tế Bệnh viện Nhi Thái Bình năm 2019
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm và thang đo sử dụng trong nghiên cứu
1.1.1 Sự cố y khoa
1.1.1.1 Khái niệm sự cố y khoa
Sự cố y khoa (Adverse Event) là các tình huống không mong muốn xảy
ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan, chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, tác động sức khỏe, tính mạng của người bệnh [3]
Tình huống có nguy cơ gây ra sự cố (near-miss) là tình huống đã xảy ra nhưng chưa gây hậu quả hoặc gần như xảy ra nhưng được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, chưa gây tổn thương đến sức khỏe của người bệnh [3]
1.1.1.2 Nguyên tắc phòng ngừa sự cố y khoa
Việc phòng ngừa sự cố y khoa trên cơ sở nhận diện, báo cáo, phân tích tìm nguyên nhân, đưa ra các khuyến cáo phòng ngừa, tránh tái diễn sự cố y khoa để nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, an toàn cho người bệnh và không nhằm mục đích khác Việc phòng ngừa sự cố y khoa được khuyến khích, động viên và được bảo vệ Hồ sơ phòng ngừa sự cố y khoa được quản lý theo quy chế bảo mật thông tin [3]
1.1.1.3 Phân loại sự cố y khoa
Tùy theo mục đích sử dụng mà có các cách phân loại sự cố y khoa khác nhau Các cách phân loại hiện tại theo hướng dẫn của thông tư 43/2018/TT-BYT của Bộ Y tế bao gồm: Theo mức độ tổn thương đến sức khỏe, tính mạng người bệnh; Theo loại báo cáo; Theo nhóm sự cố; Theo danh mục sự cố y khoa nghiêm trọng
Trang 161.1.1.4 Tình hình sự cố y khoa trên thế giới và tại Việt Nam
Sự cố y khoa không phải là một vấn đề mới trong y tế Từ những năm
1950, trên thế giới đã bắt đầu có những nghiên cứu báo cáo về vấn đề này, tuy nhiên, tới những năm 1990, báo cáo của Viện Y khoa Hoa Kỳ [44] và của chính phủ Vương quốc Anh [34] mới đưa ra nhiều bằng chứng về chủ đề này
Cả hai báo cáo đều thừa nhận sự cố y khoa là chuyện thường gặp trong quá trình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và xảy ra đối với khoảng 10% trường hợp nhập viện điều trị Trong một số trường hợp, tác hại của sự cố y khoa rất nghiêm trọng, thậm chí gây nên tử vong
Các nghiên cứu về SCYK tại bệnh viện thuộc các nước đã phát triển cho thấy tỷ lệ SCYK tính trên tổng số bệnh nhân nhập viện dao động từ 3,2% đến 16,6% [62] Hiện nhiều nước đang phát triển chưa có số liệu công bố chính thức về sự cố y khoa như các nước đã phát triển do chưa thiết lập hệ thống báo cáo tự nguyện như các nước đã phát triển Tuy nhiên, theo WHO,
tỷ lệ sự cố y khoa ở các nước này chắc chắn sẽ cao hơn nhiều do những khó khăn về hạ tầng, về trang thiết bị, nhân lực, chất lượng thuốc…Riêng tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện, WHO ước tính tại các nước đang phát triển cao gấp
20 lần so với các nước đã phát triển [59] Năm 2015, một nghiên cứu Tổng quan về an toàn người bệnh và chất lượng chăm sóc trên 33 báo cáo đã công
bố từ các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á từ năm 1990 đến
2014 cho thấy các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào lĩnh vực kiểm soát nhiễm khuẩn và an toàn trong sử dụng thuốc [41]
Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu cấp quốc gia để tìm hiểu sâu rộng hơn về tình hình sự cố y khoa tại Việt Nam, nhưng vấn đề sự cố y khoa hiện nay đã trở thành một trong những áp lực xã hội với bệnh viện, là một thách thức lớn đối với những nhà quản lý bệnh viện, đòi hỏi phải có những giải pháp hữu hiệu nhằm hạn chế sự cố y khoa xảy ra ở mức thấp nhất
Trang 171.1.2 An toàn người bệnh
1.1.2.1 Khái niệm
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), an toàn người bệnh là làm giảm nguy cơ gây hại không cần thiết liên quan đến chăm sóc y tế ở mức tối đa có thể Tác hại liên quan đến chăm sóc là tác hại phát sinh từ hoặc liên quan đến các kế hoạch hoặc hành động được thực hiện trong khi cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, thay vì bệnh hoặc thương tích tiềm ẩn [23],[26] An toàn người bệnh là thiết lập hệ thống và quy trình quản lý sao cho giảm thiểu tối đa các sai sót và gia tăng khả năng ngăn chặn kịp thời các sự cố, làm tăng độ tin cậy trong chăm sóc người bệnh [44]
Báo cáo Nhân vô thập toàn của Viện Y khoa Hoa Kỳ đã chỉ ra sai sót là một phần bản chất của con người, nhưng sai sót có thể ngăn chặn được Đảm bảo an toàn là bước đi quan trọng và đầu tiên để cải thiện chất lượng chăm sóc y tế [44]
1.1.2.2 Tiếp cận hệ thống
Nguyên lý tiếp cận hệ thống: Hệ thống là một thuật ngữ được dùng để miêu tả bất kỳ tập hợp nào gồm hai hoặc nhiều thành phần tương tác với nhau, hoặc “một nhóm sự vật/thành phần độc lập tạo thành một thể thống nhất” [23] Hoạt động cung ứng chăm sóc y tế là một hệ thống phức tạp, nhất là ở các cơ
sở y tế lớn, nơi gồm nhiều bộ phận tương tác với nhau, trong đó con người (bệnh nhân và y bác sỹ, cán bộ công nhân viên), cơ sở hạ tầng, công nghệ, thuốc và các hóa chất trị liệu [23]
Nội hàm chính của nguyên lý tiếp cận hệ thống là: khi phân tích nguyên nhân của tai biến điều trị đòi hỏi phải đi tìm các sai sót của cả một hệ thống chứ không chỉ dừng ở sai sót cá nhân hay nói cách khác phải tìm cho ra những lỗi tiềm ẩn trong hệ thống bên cạnh lỗi chủ động đã được phát hiện [16] Cách tiếp cận hệ thống giúp chúng ta bỏ thói quen đổ lỗi để hướng tới nhận thức và
Trang 18nâng cao tính minh bạch của các quy trình chăm sóc thay vì chỉ chú ý tới hành động chăm sóc Do đó sử dụng cách tiếp cận hệ thống để đánh giá tình huống – khác với cách tiếp cận con người – sẽ có nhiều cơ hội dẫn đến kết quả xây dựng được các chiến lược giảm khả năng lặp lại sự cố y khoa [23]
1.1.2.3 Văn hóa không buộc tội
Thuật ngữ “văn hóa buộc tội” được nhắc đến nhiều trong lĩnh vực an toàn người bệnh Xuất phát từ cách tiếp cận cũ, khi tai biến điều trị xảy ra, câu hỏi đầu tiên thường gặp là “Ai làm sai?” và thường có khuynh hướng quy trách nhiệm liên quan đến cá nhân – người trưc tiếp chăm sóc người bệnh ở thời điểm gây ra sự cố Với cách tiếp cận này, thường sẽ tạo ra tâm lý che dấu sai sót và ngại báo cáo sai sót Hậu quả là các sai sót có thể lặp đi lặp lại ở các
cá nhân khác hoặc ở khoa khác do bệnh viện không biết và đương nhiên chưa
có giải pháp chủ động phòng ngừa [16] Vì vậy, phải chuyển trọng tâm từ việc
đỗ lỗi cho các cá nhân về những sai sót trong hệ thống sang việc tập trung ngăn chặn các sai sót trong tương lai bằng cách thiết kế bổ sung sự an toàn vào hệ thống Điều này không có nghĩa là mỗi người có thể bất cẩn Con người vẫn phải cẩn trọng và chịu trách nhiệm cho các hành động của mình Nhưng khi xảy ra một sai sót, đổ lỗi cá nhân ít giúp cho hệ thống an toàn hơn
và ít giúp ngăn chặn một cá nhân khác lặp lại sai sót đó [44]
Theo nguyên lý tiếp cận hệ thống, ban lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phát huy ý thức an toàn tại nơi làm việc Bằng cách đồng hành cùng nhân viên, các cấp lãnh đạo có thể tạo ra môi trường làm việc có thể hạn chế được yếu tố tiềm ẩn sinh ra sai sót [50]
1.1.2.4 Hệ thống khó mắc lỗi
Việc thiết kế hệ thống trong đó con người khó làm sai và dễ làm đúng được xem như điều cốt lõi để giảm thiểu nguy cơ [50] Các phương pháp nhằm cải thiện mức độ an toàn bao gồm:
Trang 19- Ứng dụng công nghệ thông tin: sử dụng chức năng cưỡng ép của các phần mềm, tức là muốn thực hiện bước này thì phải thực hiện bước ngay trước của quy trình
- Chuẩn hóa các quy trình, ưu tiên các quy trình có nguy cơ cao về an toàn người bệnh như: quy trình an toàn phẫu thuật, quy trình truyền máu, quy trình cấp phát thuốc cho bệnh nhân
- Giảm dựa vào trí nhớ, tăng sử dụng hệ thống nhắc nhở: hạn chế nhược điểm của việc sử dụng trí nhớ, tận dụng những phương tiện thay thế trí nhớ như máy tính toán học, các phần mềm tính toán liều lượng, phần mềm quy đổi, phần mềm tra cứu phác đồ,…
- Sử dụng bảng kiểm: công cụ đơn giản nhưng hiệu quả nếu được tuân thủ nghiên túc, áp dụng trong những trường hợp chuẩn bị dụng cụ, chuẩn bị vận hành máy móc…
- Đơn giản hóa các bước trong quy trình
- Kiểm tra lẫn nhau đối với những quy trình có nguy cơ cao: đây là nguyên tắc cơ bản trong khoa học an toàn, đối với những khâu quan trọng sự nhầm lẫn có thể gây sự cố thì khi thực hiện phải được người thứ hai chứng kiến và kiểm tra [16],[50]
1.1.3 Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế
1.1.3.1 Khái niệm Văn hóa an toàn người bệnh
Theo Cơ quan Chất lượng và Nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ (Agency for Healthcare Research and Quality - AHRQ), văn hóa an toàn của một tổ chức là sản phẩm của những giá trị, thái độ, nhận thức, năng lực, đặc điểm hành vi từ các cá nhân và nhóm – những yếu tố đã quyết định tới sự cam kết, phong cách
và khả năng đối với việc quản lý an toàn và tình hình phát triển của tổ chức Các tổ chức có văn hóa an toàn tích cực được đặc trưng bởi hoạt động giao tiếp
Trang 20dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, có chung nhận thức về tầm quan trọng của an toàn và tin tưởng vào hiệu quả của các biện pháp dự phòng [26]
Theo AHRQ, văn hóa an toàn người bệnh bao gồm 12 lĩnh vực:
(1) Làm việc nhóm trong khoa
(2) Lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB
(3) Học tập và cải tiến liên tục
(4) Thông báo phản hồi sai sót
(5) Cởi mở trong thông tin về sai sót
(6) Nhân lực
(7) Hành xử không buộc tội khi có sai sót
(8) Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện
(9) Làm việc nhóm giữa các khoa
(10) Bàn giao và chuyển bệnh nhân
(11) Nhận thức về an toàn người bệnh của nhân viên y tế
(12) Tần suất báo cáo sự cố [26]
1.1.3.2 Khái niệm Nhân viên y tế
Theo Bộ Y tế, nhân viên y tế là toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong bệnh viện [4]
Trong nghiên cứu này, khái niệm nhân viên y tế bao gồm các chức danh: bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, dược sỹ, hộ lý, cử nhân … thuộc đối tượng biên chế hoặc hợp đồng trực tiếp đang công tác tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng tại bệnh viện
1.1.4 Thang đo nghiên cứu Văn hóa An toàn người bệnh
Trên thế giới có nhiều bộ công cụ khảo sát VHATNB [40], [51], [60], mỗi bộ công cụ lại có đặc điểm khác nhau về cấu trúc, đối tượng khảo sát, địa điểm và mục đích khảo sát Trong môi trường bệnh viện, bộ công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh của tổ chức AHRQ xây dựng (HSOPSC) và công
Trang 21bố chính thức vào tháng 11 năm 2004 được đánh giá là phù hợp và được sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới [27] Bộ công cụ này được sử dụng để tìm hiểu các quan điểm của nhân viên y tế về văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện nơi họ đang làm việc [26] Bộ công cụ này tập trung nhấn mạnh vấn đề an toàn người bệnh, việc báo cáo các sai sót và các sự cố liên quan đến an toàn người bệnh của nhân viên y tế Đến năm 2019, bộ công
cụ này đã được sử dụng tại 93 quốc gia trên thế giới và được dịch ra 40 ngôn ngữ khác nhau, trong đó có Việt Nam [24] Tại Việt Nam, từ năm
2016, bộ câu hỏi khảo sát này đã được Sở Y tế TP HCM chuyển đổi sang phiên bản tiếng Việt và được tổ chức AHRQ chính thức công nhận và cho phép sử dụng tại Việt Nam [17] Bộ câu hỏi đã được sử dụng trong nghiên cứu cấp thành phố về VHATNB tại 43 bệnh viện trên địa bàn TP HCM, giúp các bệnh viện hiểu được nhận thức, thái độ và hành vi của nhân viên bệnh viện liên quan đến ATNB, qua đó góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại các bệnh viện [17]
Chuẩn hóa bộ câu hỏi VHATNB trong bệnh viện: Quá trình chuẩn hóa
được nhóm nghiên cứu của Sở Y tế TP HCM thực hiện qua 02 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phiên ngữ sang tiếng Việt bộ câu hỏi khảo sát VHATNB (gọi tắt là bộ câu hỏi) và kiểm định nội dung (content validity) bộ câu hỏi thông qua quá trình phiên dịch thuận – nghịch và thảo luận nhóm chuyên gia Phiên dịch thuận – nghịch được nhóm nghiên cứu thực hiện bao gồm 7 bước theo như khuyến cáo của AHRQ, trong đó bao gồm cả bước phiên dịch ngược
từ tiếng Việt sang tiếng Anh nhằm đảm bảo độ chính xác trong phiên dịch nội dung và đảm bảo tính khoa học của bản dịch
Giai đoạn 2: Kiểm định giá trị nội tại của bảng câu hỏi HSOPSC phiên bản tiếng Việt thông qua khảo sát ngẫu nhiên tại 100 nhân viên tại 02 khoa của Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi Đồng 1
Trang 22Kết quả: với việc tuân thủ trình tự các bước thực hiện việc phiên dịch theo đúng hướng dẫn của AHRQ, nhóm nghiên cứu đã phiên dịch và chuẩn hóa phiên bản tiếng Việt đầu tiên của bảng câu hỏi HSOPSC của AHRQ, sau khi chuẩn hóa bộ công cụ vẫn duy trì 12 lĩnh vực nghiên cứu về VHATNB bao gồm 42 câu hỏi như phiên bản gốc Phiên bản tiếng Việt này đã đáp ứng các tiêu chí cơ bản về giá trị nội dung, giá trị cấu trúc và giá trị nội tại với chỉ
số Cronbach’s alpha ở mức từ khá cao đến chấp nhận được (>0.6) trong phần lớn các phạm trù khảo sát Kết quả khảo sát trên nhóm đối tượng chọn lọc cho thấy đây là bộ câu hỏi có độ tin cậy, giá trị cao, tương đồng với phiên bản gốc của AHRQ có thể sử dụng tại các bệnh viện ở Việt Nam nhằm đánh giá thực trạng về VHATNB tại các bệnh viện, làm cơ sở thực hiện các khuyến cáo và biện pháp cải tiến hiệu quả về ATNB sau này
- Cấu trúc của bộ câu hỏi khảo sát VHATNB với 12 lĩnh vực được định nghĩa như sau:
1 Làm việc nhóm trong khoa: các nhân viên hỗ trợ lẫn nhau, đối xử với nhau một cách tôn trọng và cùng làm việc như một nhóm
2 Lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB: người lãnh đạo khoa xem xét các khuyến nghị của nhân viên để cải thiện sự an toàn của người bệnh, nhân viên được khen ngợi khi thực hiện theo các quy trình an toàn của bệnh nhân
và không bỏ qua vấn đề an toàn của bệnh nhân
3 Học tập và cải tiến liên tục: sai lầm đã dẫn đến thay đổi tích cực và thay đổi được đánh giá là hiệu quả
4 Thông báo phản hồi sai sót: Nhân viên được thông báo về các lỗi xảy
ra, được phản hồi về những thay đổi được đưa ra dựa trên báo cáo sự cố và thảo luận cách để tránh sai sót
Trang 235 Cởi mở trong thông tin về sai sót: Nhân viên được tự do lên tiếng nếu
họ thấy một điều gì đó có thể ảnh hưởng tiêu cực đến chăm sóc bệnh nhân và
cảm thấy tự do để đặt câu hỏi với những người có thẩm quyền nhiều hơn
6 Nhân lực: Có đủ nhân viên để xử lý khối lượng công việc và giờ làm việc là thích hợp để cung cấp dịch vụ chăm sóc tốt nhất cho bệnh nhân
7 Hành xử không buộc tội khi có sai sót: Nhân viên cảm thấy rằng những sai lầm của họ không chống lại họ, và những sai sót không được giữ
trong hồ sơ nhân sự
8 Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện: Lãnh đạo bệnh viện cung cấp một môi trường làm việc để thúc đẩy sự an toàn của bệnh nhân và cho thấy sự an toàn của bệnh nhân là ưu tiên hàng đầu
9 Làm việc nhóm giữa các khoa: Các khoa/phòng trong bệnh viện hợp tác và phối hợp với nhau để chăm sóc tốt nhất cho người bệnh
10 Bàn giao và chuyển bệnh: Thông tin quan trọng trong chăm sóc người bệnh được truyền đạt giữa các khoa trong bệnh viện và trong khi đổi
ca trực
11 Nhận thức về ATNB: Các quy trình và hệ thống rất tốt để ngăn
ngừa các sai sót và ít có các vấn đề liên quan đến an toàn của bệnh nhân
12 Tần suất báo cáo sự cố: Các sai sót của các loại sau được báo cáo:
sai sót xảy ra nhưng được phát hiện và ngăn chặn trước khi ảnh hưởng tới người bệnh; sai sót xảy ra nhưng không có khả năng gây hại cho người bệnh; sai sót xảy ra, đáng lẽ gây hại cho người bệnh nhưng (may mắn) chưa gây hại
Bộ công cụ cũng bao gồm hai câu hỏi trong đó người trả lời đánh giá mức độ
an toàn người bệnh trong khoa, phòng nơi họ đang làm việc và chỉ ra số lượng các sự cố họ đã báo cáo trong 12 tháng [15],[17],[26]
Trang 241.2 Thực trạng về văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Tại Mỹ, các dữ liệu nghiên cứu về VHATNB tại các bệnh viện được gửi về tổ chức AHRQ và lần đầu được tổng hợp, so sánh vào năm 2007 bao gồm 382 bệnh viện Đến năm 2018, báo cáo so sánh kết quả nghiên cứu của
tổ chức AHRQ đã lên đến 630 bệnh viện, với tổng số 382.834 nhân viên được khảo sát Kết quả cho thấy NVYT là điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất (37%)
Có 78% số người trả lời cho biết họ có tiếp xúc trực tiếp với người bệnh Hơn một nửa số người được hỏi (52%) cho biết họ đã làm việc với bệnh viện hiện tại ít nhất 6 năm Tương tự, 52% đối tượng cho biết họ đã làm việc trong khoa, phòng hiện tại ít nhất 6 năm Hầu hết người trả lời làm việc ít hơn 40 giờ trong một tuần (45%) hoặc 40 đến 59 giờ mỗi tuần (48%) Kết quả nghiên cứu về 12 lĩnh vực VHATNB cho thấy phần nội dung có tỷ lệ trả lời tích cực cao nhất là làm việc nhóm trong một đơn vị của tổ chức (82%), tiếp đến là lãnh đạo đơn vị khuyến khích các hoạt động thúc đẩy an toàn người bệnh (80%), học tập và cải tiến liên tục (72%) Phần nội dung thấp điểm nhất – căn
cứ để thực hiện các hoạt động cải tiến thuộc về các nhóm hành xử không buộc tội khi có sai sót (47%), bàn giao và chuyển bệnh trong tổ chức (48%), nhân lực (53%) Kết quả phân loại mức độ an toàn người bệnh của các tổ chức được khảo sát đa số trả lời kết quả tích cực (78%), trong đó “Xuất sắc” (35%) hoặc “Rất tốt” (43%) Ngoài ra kết quả phân tích cũng nêu tỷ lệ người được khảo sát có báo cáo sự cố ít nhất 1 lần trong 12 tháng chỉ đạt 45%, việc báo cáo sự cố không đầy đủ cho thấy vấn đề an toàn người bệnh chưa thật sự được nhiều NVYT quan tâm [27]
Tại Đài Loan, kết quả khảo sát 788 NVYT tại 42 bệnh viện vào năm
2010 cho thấy, tỷ lệ trả lời tích cực trung bình cho 12 lĩnh vực của cuộc khảo
Trang 25sát HSOPSC là 64%, cao hơn so với tỷ lệ trả lời tích cực trung bình cho dữ liệu AHRQ (61%) Kết quả cho thấy nhân viên bệnh viện ở Đài Loan cảm thấy tích cực đối với VHATNB trong tổ chức của họ Lĩnh vực có tỷ lệ trả lời tích cực cao nhất là “Làm việc theo nhóm trong khoa” (94%), tương tự như các kết quả được báo cáo ở Hoa Kỳ Lĩnh vực có tỷ lệ trả lời tích cực thấp nhất là “Nhân lực” (39%) Phân tích thống kê cho thấy sự khác biệt giữa Đài Loan và Hoa Kỳ ở ba lĩnh vực bao gồm “Thông báo và trả lời về sai sót”,
“Cởi mở trong thông tin về sai sót” và “Tần suất báo cáo sự cố” [32]
Một nghiên cứu tại Trung Quốc được thực hiện tại 19 bệnh viện với
1379 NVYT tham gia ghi nhận kết quả như sau: tỷ lệ trả lời tích cực của 12 lĩnh vực VHATNB đạt từ 32,8% - 80,29% Trong đó, trong đó các lĩnh vực có
tỷ lệ trả lời tích cực từ 75% trở lên được xem là lĩnh vực mạnh, và những lĩnh vực từ 50% trở xuống được xem là lĩnh vực yếu Kết quả nghiên cứu cho thấy lĩnh vực “làm việc theo nhóm trong các đơn vị” (80,29%) và “học tập tổ chức
và cải tiến liên tục” (79,14%) là biểu thị điểm mạnh của VHATNB và các lĩnh vực nhân sự (36,73%) và “phản ứng không trừng phạt đối với lỗi” (39,52%)
là biểu thị điểm yếu trong VHATNB Kết quả nghiên cứu này cũng ghi nhận, các nhân viên của khoa phẫu thuật có thực hiện nhiều báo cáo sự cố (50%) hơn so với các khoa khác (41%), nhưng chỉ có một vài người làm việc trong khoa phẫu thuật đánh giá mức độ an toàn của bệnh nhân là tốt/xuất sắc (55%), trong khi các khoa khác có đánh giá mức độ ATNB cao hơn (61%) [58]
Tại Riyadh, kết quả nghiên cứu năm 2014 với 2572 NVYT tham gia cho thấy kết quả: các lĩnh vực có điểm số cao nhất là Tính cải tiến liên tục và học tập một cách có hệ thống (79,6%) và Làm việc theo nhóm trong đơn vị (78,5%) Các lĩnh vực ghi điểm thấp nhất và là cơ hội để thực hiện các hoạt động cải tiến (<50%) bao gồm: Hành xử không buộc tội khi có sai sót (26.8%), Nhân sự (35,1%) và Cởi mở thông tin về sai sót (42,9%) Khoảng
Trang 26một nửa số người được hỏi đã đánh giá bệnh viện của họ ở mức độ an toàn bệnh nhân rất tốt (49%) Khoảng hơn một nửa số người được phỏng vấn đã không có báo cáo sự cố (52,7%), khoảng một phần ba (28,7%) báo cáo từ 01 đến 02 sự cố và 13% báo cáo từ 3 đến 5 sự cố Điều đáng chú ý là chỉ có 1,4%
số người được hỏi báo cáo trên 21 sự cố trong vòng 12 tháng [37]
Năm 2016, nghiên cứu tại các bệnh viện trong khu vực Tây Nam Ethiopia về VHATNB ghi nhận tỷ lệ trả lời tích cực cho 12 lĩnh vực là 46,7%, lĩnh vực có tỷ lệ trả lời tích cực cao nhất là làm việc nhóm trong khoa (82%), lĩnh vực cần ưu tiên nhất để cải thiện với tỷ lệ trả lời tích cực thấp nhất là phản ứng không trừng phạt khi có sai sót (23,7%) Trong số những người được phỏng vấn có 34% đối tượng đánh giá mức độ ATNB tại đơn vị làm việc ở mức rất tốt và xuất sắc Có đến 69% số người được trả lời không bao giờ báo cáo bất kỳ sự cố nào trong 12 tháng [57]
1.2.2 Tại Việt Nam
Năm 2012, Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP HCM khảo sát thực trạng VHATNB trên đối tượng bác sỹ, điều dưỡng của toàn bộ các khoa lâm sàng theo 12 lĩnh vực liên quan đến chăm sóc người bệnh với tỷ lệ trả lời phiếu là 92% Tỷ lệ trả lời tích cực cao tập trung ở các lĩnh vực làm việc nhóm trong khoa (90%), lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB (86%), hỗ trợ của bệnh viện
về ATNB (82%) thông tin phản hồi về sai sót (82%) và học tập và cải tiến liên tục (88%) Trong khi đó, có nhiều trả lời chưa tích cực như sự phối hợp giữa các khoa, phòng (61%), phối hợp giữa các khoa trong bàn giao chuyển bệnh (57%), nhân sự (52%), cởi mở trong thông tin về sai sót (55%), tần suất báo cáo sự cố (64%), nhận thức về ATNB (67%) và nhất là “hành xử không buộc tội khi có sai sót” (51%) [15]
Cũng trong năm 2012, tại Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp đã tiến hành nghiên cứu VHATNB trên 400 nhân viên của bệnh viện với tỷ lệ trả lời
Trang 27phiếu là 100%, trong đó điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên và các đối tượng khác chiếm 86,5%, còn lại là bác sỹ chiếm 13,5% Kết quả nghiên cứu ghi nhận được như sau: 06 lĩnh vực có tỷ lệ trả lời tích cực cao bao gồm hỗ trợ của lãnh đạo khoa trong ATNB (78%), làm việc nhóm giữa các khoa (78%), học tập và cải tiến liên tục (75%), làm việc nhóm trong khoa (75%) Các lĩnh vực có tỷ lệ trả lời thấp như bàn giao và chuyển bệnh (68%), thông tin và trả lời về sai sót (57%), nhân lực (53%), phản ứng của nhân viên về sai sót (30%), giao tiếp cởi mở về ATNB (29%), tần suất báo cáo sự cố (4,1%) Đa số nhân viên xếp loại trung bình cho ATNB (84.8%), 11% cho mức độ tuyệt vời và rất tốt Tuy nhiên có tới 57,5% nhân viên không có báo cáo các sự cố trong 12 tháng qua [9]
Năm 2015, tại bệnh viện Từ Dũ TP HCM thực hiện khảo sát 2118 nhân viên sử dụng bộ công cụ VHATNB tự chuẩn hóa trên đối tượng NVYT bệnh viện Từ Dũ theo hướng dẫn của AHRQ Tỷ lệ trả lời phiếu là 100%, trong đó đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất là điều dưỡng (51%), gần 70% nhân viên có thâm niên công tác tại bệnh viện từ 6 năm trở lên, 80% nhân viên tiếp xúc trực tiếp với người bệnh Kết quả nghiên cứu cho thấy 70% nhân viên nhận định bệnh viện đã làm tốt công tác ATNB Trong số 12 lĩnh vực ATNB theo
bộ công cụ khảo sát của tổ chức AHRQ thì lĩnh vực có điểm trả lời tích cực cao nhất là làm việc theo nhóm trong khoa phòng (4.18 điểm), lĩnh vực có điểm trả lời thấp nhất là lĩnh vực bàn giao, chuyển bệnh và hành xử không buộc tội khi có sai sót (2.3 điểm) [7]
Cũng trong năm 2015, Sở Y tế TP HCM đã thực hiện công trình nghiên cứu cấp thành phố về chủ đề VHATNB và công bố kết quả vào năm 2016 Bản dịch Bộ câu hỏi khảo sát VHATNB của AHRQ sau khi chuẩn hóa đã được áp dụng vào khảo sát thực trạng VHATNB tại 43 bệnh viện trên địa bàn Thành phố với tổng số nhân viên được khảo sát là 1435 NVYT, trong đó điều dưỡng,
Trang 28kỹ thuật viên chiếm 62,9% và có 90,2% nhân viên làm việc tiếp xúc trực tiếp với người bệnh Tỷ lệ trả lời tích cực chung ở 12 lĩnh vực là 78,5% Tỷ lệ trả lời tích cực chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực: làm việc nhóm trong khoa (96,3%), lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB (94,4%), học tập và cải tiến liên tục (93,9%), hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về ATNB (91%), làm việc nhóm giữa các khoa (85,1%) Trong khi đó, có nhiều trả lời chưa tích cực ở các lĩnh vực như: cởi mở trong thông tin về sai sót (60%), thiếu nhân sự (62,1%), hành
xử không buộc tội khi có sai sót (67,3%) và tần suất báo cáo sự cố (72,5%) Nhân viên tại các bệnh viện TP HCM trong cuộc khảo sát cũng đánh giá mức
độ ATNB khá cao, tỷ lệ trả lời ở mức xuất sắc/rất tốt 74,1%, trong đó rất tốt đạt 64% Nhưng khi xét về tần suất báo cáo sự cố, có 56,7% người được khảo sát không có báo cáo sự cố nào trong năm Năm 2016, Sở Y tế TP HCM công bố kết quả nghiên cứu, bao gồm bản dịch tiếng Việt bộ câu hỏi khảo sát đã được công nhận và cho phép sử dụng bởi AHRQ, đồng thời xây dựng và ban hành
13 khuyến cáo về VHATNB nhằm định hướng cho các bệnh viện trong nâng cao ATNB trong điều trị và chăm sóc người bệnh [5],[17]
Năm 2017, Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre cũng tiến hành khảo sát 389 nhân viên tại Bệnh viện, sử dụng bộ câu hỏi VHATNB tham khảo bản dịch của Bệnh viện Nhi đồng 1 năm 2012 Tỷ lệ trả lời phiếu khảo sát là 92,6% Kết quả khảo sát: nhân viên là điều dưỡng chiếm 56,1%, còn bác sĩ chiếm 13,1% Phần lớn nhân viên làm việc có tiếp xúc với bệnh nhân 84,3% Kết quả khảo sát 12 lĩnh vực VHATNB cho thấy tỷ lệ trả lời tích cực trung bình là 72,5%, trong đó nhân viên có trả lời tích cực cao tập trung ở các lĩnh vực: làm việc nhóm trong khoa (94,1%), làm việc nhóm giữa các khoa phòng (91,1%), lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB 90,5%, hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện (96,4%) Các lĩnh vực có ít ý kiến tích cực: sẵn sàng trao đổi thông tin về ATNB (34,7%), phản hồi thông tin về sai sót (72,7%), hành xử
Trang 29không buộc tội khi có sai sót (61%), bàn giao và chuyển bệnh (56,9%), tần suất báo cáo sự cố (63,3%) [22]
Năm 2017, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp đã thực hiện khảo sát tại 30 khoa, phòng với bộ câu hỏi VHATNB được chuẩn hóa bởi bệnh viện
Từ Dũ trên tổng số 580 NVYT trực tiếp chăm sóc người bệnh (bác sỹ, điều dưỡng, nữ hộ sinh) thu được kết quả trả lời tích cực khá cao của nhân viên
về các lĩnh vực của VHATNB Tỷ lệ trả lời phiếu khảo sát là 100% Các lĩnh vực có tỷ lệ trả lời tích cực trên 90% như: làm việc nhóm trong khoa, phòng (95,3%), sự hỗ trợ về quản lý cho ATNB (94,8%), quan điểm và hành động về ATNB của người quản lý (90,7%), làm việc nhóm giữa các khoa (90,3%) Các lĩnh vực còn lại có tỷ lệ trả lời tích cực dưới 90% như: phản hồi và trao đổi về sai sót (71,6%), trao đổi cởi mở (59%), tần suất ghi nhận sự cố/sai sót (53,8%), bàn giao và chuyển bệnh (72,2%), hành xử không buộc tội khi có sai sót (74,5%) Đa số nhân viên đánh giá mức độ ATNB là rất tốt/xuất sắc (73,1%) [20]
Năm 2018, bệnh viện Trưng Vương cũng thực hiện khảo sát trên 386 nhân viên tại bệnh viện, sử dụng bộ câu hỏi VHATNB đã được chuẩn hóa và công nhận tại Việt Nam [5] Tỷ lệ trả lời phiếu là 100%, trong đó nhân viên là điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất (49,48%), nhóm bác sỹ chiếm 16,49%, có 11,86% là kỹ thuật viên và các đối tượng còn lại chiếm 22,7% Trong số nhân viên được khảo sát, có 81,96% nhân viên trực tiếp tiếp xúc với người bệnh Các lĩnh vực có tỷ lệ trả lời tích cực cao là: làm việc theo ekip trong cùng một khoa, phòng và hành động của người quản lý, lãnh đạo về ATNB (95,3%), hỗ trợ của lãnh đạo cho ATNB ở bệnh viện (94,8%), làm việc theo ekip giữa các khoa, phòng (90,3%) Các lĩnh vực là cơ hội cho các hoạt động cải tiến bao gồm: tần suất báo cáo sự cố (67,7%), sẵn sàng trao đổi thông tin về ATNB (78,7%), hành xử không buộc tội khi có sai sót (83,2%) [18]
Trang 301.3 Yếu tố liên quan tới văn hóa an toàn người bệnh
Việc thiết lập văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện đóng vai trò quan trọng nhằm nâng cao ATNB Xây dựng VHATNB là hoạt động có thể góp phần làm thay đổi suy nghĩ, thái độ và hành vi liên quan đến ATNB của nhân viên bệnh viện theo chiều hướng tích cực [15],[17],[48] Theo kết quả nghiên cứu tại Anh năm 2011, VHATNB có ảnh hưởng tích cực đến người bệnh như VHATNB giúp làm giảm sự cố y khoa, giảm tỷ lệ sai sót khi sử dụng thuốc, giảm tỷ lệ tái nhập viện, giảm thời gian nằm viện và các biến chứng do phẫu thuật Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng khẳng định VHATNB cũng ảnh hưởng tích cực đến nhân viên y tế như giúp cải thiện thái
độ của nhân viên, tăng tỷ lệ báo cáo sự cố, giảm tỷ lệ chấn thương cho điều dưỡng và giảm tỷ lệ nghỉ việc của nhân viên [42]
1.3.1 Yếu tố về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của sở Y tế TP Hồ Chí Minh cho thấy nhóm điều dưỡng/kỹ thuật viên có tỷ lệ trả lời tích cực cao hơn bác sỹ ở 7/12 lĩnh vực (làm việc nhóm trong khoa, lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB, học tập – cải tiến liên tục, hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về ATNB, nhân lực, bàn giao
và chuyển bệnh, hành xử không buộc tội khi có sai sót) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05) Nhóm bác sỹ và nhóm nhân viên làm việc lâu năm trong bệnh viện có vẻ “bi quan” hơn về mức độ ATNB của bệnh viện so với những đối tượng khác Nhóm cán bộ quản lý có tần suất báo cáo trên 2 sự cố/năm cao hơn hẳn các đối tượng bác sỹ, điều dưỡng, dược sỹ, trong đó điều dưỡng là nhóm có tần suất báo cáo thấp nhất Ngoài ra, SYT TP.HCM cũng tìm ra những vấn đề còn tồn tại gây ảnh hưởng đến VHATNB tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố cần cải thiện như: hiểu biết về VHATNB của NVYT tại các bệnh viện, tần suất ghi nhận, báo cáo sai sót còn rất thấp,
hệ thống báo cáo sai sót chưa hiệu quả - nhân viên chưa biết được lợi ích và
Trang 31quy trình báo cáo sự cố, các sự cố thường xảy ra khi nhân viên không tuân thủ các quy trình chuyên môn, thiếu nhân sự, thiếu sai sót do không tuân thủ quy trình bàn giao và chuyển bệnh, lãnh đạo bệnh viện ít khi tổ chức giao ban với nhân viên về ATNB, giữa các khoa chưa có sự phối hợp tốt với nhau, nhân viên chưa có kiến thức đầy đủ về ATNB nên chưa có thái độ, hành vi tích cực về ATNB [17]
Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp cũng ghi nhận các yếu tố ảnh hưởng như nơi làm việc chính của đối tượng nghiên cứu có liên quan với 6/10 lĩnh vực VHATNB bao gồm quan điểm và hành động về ATNB của người quản lý, phản hồi và trao đổi về sai sót, trao đổi cởi mở, làm việc theo nhóm giữa các khoa, phòng, bàn giao và chuyển bệnh, không trừng phạt khi có sai sót, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Thâm niên công tác có ảnh hưởng đến lĩnh vực hỗ trợ về quản lý cho ATNB; yếu tố tiếp xúc trực tiếp với người bệnh [20]
1.3.2 Yếu tố hệ thống và quản lý
Nhận thức và quan điểm của người quản lý về văn hóa an toàn người bệnh quyết định kết quả triển khai chương trình an toàn người bệnh Trước hết, người quản lý cần quan tâm khắc phục lỗi hệ thống Theo các nhà nghiên cứu, 70% các sự cố y khoa không mong muốn có nguồn gốc từ các yếu tố của
hệ thống và chỉ có 30% là do cá nhân người hành nghề Trong thực tế vấn đề
sự cố y khoa hiện nay đã trở thành vấn đề y tế công cộng, không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào sự khắc phục của các cá nhân người hành nghề
mà toàn bộ hệ thống y tế, tất cả các nghề trong lĩnh vực y tế cần vào cuộc Các nhà nghiên cứu nhận định, cứ có một lỗi hoạt động xảy ra thường liên quan tới 3 - 4 lỗi hệ thống [2]
Một số chính sách, cơ chế vận hành bệnh viện đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ có thể làm gia tăng sự cố y khoa liên quan tới BHYT, tự chủ làm
Trang 32tăng lạm dụng dịch vụ y tế Tổ chức cung cấp dịch vụ: Dây chuyền khám chữa bệnh khá phức tạp, ngắt quãng, nhiều đầu mối, nhiều cá nhân tham gia trong khi hợp tác chưa tốt Thiếu nhân lực nên bố trí nhân lực không
đủ để bảo đảm chăm sóc người bệnh 24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần Các ngày cuối tuần, ngày lễ việc chăm sóc, theo dõi người bệnh chưa bảo đảm liên tục Đào tạo liên tục chưa tiến hành thường xuyên, kiểm tra giám sát chưa hiệu quả, thiếu khách quan [2]
Năm 2016, trong nghiên cứu đánh giá VHATNB và các yếu tố ảnh hưởng tại các bệnh viện khu vực Jimma phía Tây Nam Ethiopia đã ghi nhận các yếu tố mang tính hệ thống ảnh hưởng đến VHATNB theo các chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực khác nhau, cụ thể là: Hệ thống báo cáo sự cố ảnh hưởng tích cực đến VHATNB Báo cáo sự cố đã được các nhân viên chăm sóc y tế nhắc đến như một thành phần thiết yếu để cải thiên văn hóa học tập và sau đó là VHATNB Tuy nhiên, những người được phỏng vấn nhấn mạnh rằng hệ thống báo cáo sự cố đã không được thành lập trong bệnh viện
và hầu hết các nhân viên trong bệnh viện không bao giờ báo cáo sự cố [57] Năm 2017, nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp cũng ghi nhận các yếu tố ảnh hưởng tới VHATNB như: yếu tố quản lý trong đó hoạt động QLCL là một trong những hoạt động không thể thiếu trong các cơ sở y tế ngày nay; hoạt động kiểm tra giám sát về ATNB là hoạt động quan trọng vì
nó cung cấp các dữ liệu cơ bản cho các kế hoạch phòng ngừa hay can thiệp về ATNB nhằm giảm thiểu các sai sót
1.3.3 Yếu tố nhân viên y tế
Nghiên cứu tại khu vực Jimma phía Tây Nam Ethiopia năm 2016 cũng ghi nhận các yếu tố ảnh hưởng từ nhân viên chăm sóc sức khỏe như sự hợp tác của các NVYT và tôn trọng lẫn nhau là một yếu tố quan trọng Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thiếu phối hợp giữa bác sỹ và điều dưỡng cũng như
Trang 33các nhân viên khác là một rào cản cho sự cải thiện VHATNB Bên cạnh đó, thái độ còn hạn chế của các NVYT đối với ATNB được báo cáo là ảnh hưởng đến VHATNB Những người trả lời nhấn mạnh sự nhận thức của các nhân viên về sự an toàn của bệnh nhân là rất thấp [57]
Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp năm 2017 cũng ghi nhận mối quan hệ đồng nghiệp là một yếu tố quan trọng Thực tế tại bệnh viện ngày nay, sự phân biệt đối xử giữa các ngành nghề như bác sỹ, điều dưỡng,
nữ hộ sinh hoặc những nhân viên khác hoặc giữa cấp trên và cấp dưới đã dần dần được cải thiện [20]
1.3.4 Yếu tố môi trường làm việc
Môi trường y tế trong đó các bác sĩ, điều dưỡng cung cấp dịch vụ đang phải đối mặt với nhiều yếu tố rủi ro liên quan tới hệ thống như: (1) người bệnh quá tải; (2) nhân lực thiếu dẫn đến thời gian khám và tiếp xúc với người bệnh ngắn; (3) thiếu phương tiện để chăm sóc đáp ứng nhu cầu người bệnh; (4) áp lực tâm lý do pháp lý bảo vệ người hành nghề còn bất cập [2]
Đội ngũ điều dưỡng, hộ sinh có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giảm thiểu sự cố y khoa bởi các lý do sau: (1) Dịch vụ do điều dưỡng, hộ sinh cung cấp được WHO đánh giá là một trong những trụ cột của hệ thống cung cấp dịch vụ y tế (số lượng đông nhất, tiếp xúc với người bệnh nhiều nhất và
số lượng dịch vụ cung cấp nhiều nhất); (2) Hầu hết các chỉ định của bác sĩ điều trị đều thông qua người điều dưỡng để thực hiện trên người bệnh; (3) Công việc chuyên môn của điều dưỡng luôn diễn ra trước và sau công tác điều trị và bảo đảm cho công tác điều trị an toàn [2]
Hiện nay, môi trường công việc của điều dưỡng, hộ sinh còn nhiều khó khăn bất cập Gần 50% điều dưỡng, hộ sinh chưa hài lòng với công việc Nguyên nhân do: (1) nghề nghiệp chưa được đánh giá và tôn trọng đúng mức; (2) chưa được tạo điều kiện để hành nghề chủ động trong lĩnh vực chăm sóc;
Trang 34(3) nhân lực thiếu - công việc nhiều; (4) ca kíp kéo dài Đã có nhiều bằng chứng nghiên cứu khẳng định tỷ lệ điều dưỡng thấp so với người bệnh sẽ dẫn đến hậu quả tăng sai sót, tăng nhiễm trùng bệnh viện [2]
Nghiên cứu tại các bệnh viện khu vực Jimma phía Tây Nam Ethiopia cũng chỉ ra rằng tình trạng thiếu hụt nguồn cung và trang thiết bị là những yếu
tố cản trở VHATNB Những người được phỏng vấn nhấn mạnh tình trạng thiếu nước, thiếu găng tay, ống tiêm, thuốc cấp cứu và kệ tủ có vẻ đơn giản nhưng ảnh hưởng mạnh đến VHATNB [57] Tình trạng thiếu hụt nhân sự và khối lượng công việc cao ảnh hưởng tiêu cực đến VHATNB Những người được phỏng vấn tin rằng cơ sở hạ tầng của bệnh viện và những người được phục vụ nên cân bằng để cung cấp sự chăm sóc an toàn [57]
Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa Đồng Tháp cũng cho thấy tình trạng thiết bị quá tải, luôn hoạt động hết công suất, cơ sở hạ tầng xuống cấp gây ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ người bệnh; tình trạng nhân lực là một yếu tố hầu hết nhân viên không hài lòng [20]
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa bàn, đối tượng, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
2.1.1.1 Giới thiệu Bệnh viện Nhi Thái Bình
Bệnh viện Nhi Thái Bình là bệnh viện chuyên khoa Nhi tuyến tỉnh hạng
I, trực thuộc Sở Y tế Thái Bình, thực hiện chức năng khám, chữa bệnh và hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên khoa Nhi cho các cơ sở khám chữa bệnh tuyến huyện Bệnh viện hiện có 28 khoa, phòng với cơ cấu 9 phòng chức năng, 4 khoa cận lâm sàng và 15 khoa lâm sàng Tổng số cán bộ viên chức gồm 392 cán bộ, trong đó: 92 bác sỹ (23%); 184 điều dưỡng/hộ sinh (47%); 13 Dược sỹ; 26 kỹ thuật viên (7%), 77 cán bộ khác (20%) Hàng năm, Bệnh viện tiếp nhận khám và điều trị cho khoảng 120.000 lượt bệnh nhân ngoại trú và 24.000 lượt bệnh nhân nội trú [6] Năm 2017, Bệnh viện thành lập phòng Quản lý chất lượng, là đơn vị đầu mối triển khai và tham mưu cho Hội đồng Quản lý chất lượng về công tác quản lý chất lượng bệnh viện theo hướng dẫn của thông tư 19/2013/TT-BYT về Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tại bệnh viện và bộ tiêu chí Chất lượng bệnh viện Việt Nam
2.1.1.2 Hoạt động quản lý sự cố y khoa tại Bệnh viện Nhi Thái Bình
Bệnh viện đã cập nhật quy trình Báo cáo và xử lý sự cố y khoa tại bệnh viện theo hướng dẫn của thông tư 43/2018/TT-BYT năm 2018 của Bộ Y tế và
là đơn vị đầu tiên trong tỉnh Thái Bình xây dựng thành công phần mềm Quản
lý sự cố y khoa Đây là hoạt động quan trọng để tăng tính thuận lợi và bảo mật, nhằm khuyến khích NVYT tự nguyện báo cáo các sự cố xảy ra trong bệnh viện Các báo cáo gửi về được Bệnh viện tổng hợp và tổ chức phân tích
Trang 36nguyên nhân gốc rễ, kịp thời đưa ra cảnh báo và biện pháp can thiệp phù hợp, nhằm liên tục nâng cao tính an toàn trong các hoạt động của Bệnh viện
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
2.1.2.1 Nghiên cứu định lượng
Là nhân viên y tế (NVYT) đang công tác ở các khoa lâm sàng, cận lâm sàng Bệnh viện Nhi Thái Bình
Tiêu chuẩn lựa chọn
NVYT có thời gian công tác tại bệnh viện từ 06 tháng trở lên tính từ thời điểm tiến hành nghiên cứu, hiện đang làm việc trực tiếp tại các đơn vị trên và đồng ý chấp nhận tham gia cuộc khảo sát
Tiêu chuẩn loại trừ
Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu, nhân viên mới tuyển dụng hoặc hợp đồng lao động có thời gian làm việc dưới 6 tháng, nhân viên đi học, nghỉ thai sản, nghỉ ốm,… trong thời gian tiến hành nghiên cứu
2.1.2.2 Nghiên cứu định tính
Chọn chủ đích 7 cán bộ lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa, phòng và nhân viên y tế đã đảm nhận vị trí công tác ít nhất 12 tháng tính đến thời điểm tiến hành nghiên cứu (tháng 12 năm 2019) Cụ thể như sau:
- Đại diện Ban lãnh đạo Bệnh viện: 01 cán bộ
- Đại diện quản lý các phòng chức năng, khoa lâm sàng, cận lâm sàng:
4 cán bộ
- Đại diện nhân viên một số khoa: 02 cán bộ
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ 01/11/2019 đến 30/3/2020
Trong đó thời gian thu thập số liệu là tháng 12 năm 2019
Trang 372.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu mô tả với cuộc điều tra cắt ngang, có kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng với định tính [10]
Nghiên cứu định lượng nhằm mô tả thực trạng VHATNB của nhân viên
y tế tại Bệnh viện Nhi Thái Bình, từ đó kết hợp với nghiên cứu định tính để làm rõ hơn một số yếu tố liên quan đến VHATNB của nhân viên y tế
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng
Cỡ mẫu cho nghiên cứu được tính theo công thức sau:
2
2 ) 2 / 1 (
) 1 (
.
d
p p
- d: Sai số dự kiến 5%, d = 0,05
Áp dụng công thức trên, tính được n = 259 nhân viên y tế Thực tế, đề tài nghiên cứu đã điều tra được 279 NVYT
Phương pháp chọn mẫu: Tổng hợp danh sách số lượng tất cả nhân
viên thuộc khối lâm sàng và cân lâm sàng đang làm việc tại bệnh viện Thực
tế bệnh viện có 320 nhân viên thuộc nhóm đối tượng này Sau khi loại trừ các đối tượng không đủ tiêu chuẩn lựa chọn tham gia nghiên cứu, tiến hành phát
Trang 38vấn trên 303 nhân viên y tế Thực tế, đề tài đã khảo sát được 279 đối tượng nghiên cứu (tỷ lệ trả lời phiếu là 92%)
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính
Thực hiện 07 cuộc phỏng vấn sâu, với việc chọn mẫu có chủ đích để chọn ra những đối tượng có thể cung cấp nhiều thông tin nhất
- 01 Phó giám đốc bệnh viện
- 01 quản lý phòng Quản lý chất lượng
- 01 điều dưỡng trưởng bệnh viện
- 01 quản lý khoa Hô hấp
- 01 quản lý khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
- 02 nhân viên y tế (01 bác sỹ điều trị khoa Cấp cứu, 01 điều dưỡng khoa Gây mê hồi sức)
2.2.3 Các biến số nghiên cứu
Các biến số phục vụ cho mục tiêu 1 (Mô tả thực trạng VHATNB của
NVYT tại Bệnh viện Nhi Thái Bình năm 2019)
Các nhóm biến số chính trong nghiên cứu:
- Nhóm biến số thông tin chung của NVYT
- 12 lĩnh vực VHATNB:
+ Làm việc nhóm trong khoa, phòng (A1, A3, A4, A11)
+ Lãnh đạo khoa, phòng khuyến khích ATNB (B1, B2, B3, B4R)
+ Học tập và cải tiến liên tục (A6, A9, A13)
+ Thông báo và phản hồi sai sót (C1, C3, C5)
+ Cởi mở trong thông tin về sai sót (C2, C4, C6R)
+ Nhân lực (A2, A5R, A7R, A14R)
+ Hành xử không buộc tội khi có sai sót (A8R, A12R, A16R)
+ Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về ATNB (F1, F8, F9R)
+ Làm việc nhóm giữa các khoa, phòng (F4, F10, F2R, F6R)
Trang 39+ Bàn giao và chuyển bệnh (F3R, F5R, F7R, F11R)
+ Nhận thức về ATNB (A15, A18, A10R, A17R)
+ Tần suất báo cáo sự cố (D1, D2, D3)
- Đánh giá mức độ an toàn của khoa, phòng
- Số lượng sự cố được báo cáo trong 12 tháng
Các biến số cho mục tiêu 2 (Xác định một số yếu tố liên quan tới
VHATNB của NVYT tại Bệnh viện Nhi Thái Bình năm 2019)
Nghiên cứu định lượng (chi tiết trình bày tại phụ lục 5)
- Biến độc lập: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
+ Nơi làm việc
+ Thâm niên công tác tại bệnh viện
+ Thời gian làm việc trong tuần
+ Vị trí công tác
+ Tiếp xúc trực tiếp người bệnh
- Biến phụ thuộc:
+ 12 lĩnh vực VHATNB
+ Đánh giá mức độ ATNB của bệnh viện
+ Số lượng sự cố được báo cáo trong 12 tháng
Các chủ đề nghiên cứu định tính
Thực trạng VHATNB của NVYT tại bệnh viện hiện nay như thế nào?
Các yếu tố liên quan đến VHATNB tại bệnh viện
- Nhân viên y tế (người hành nghề)
- Yếu tố quản lý
- Cơ sở vật chất, phương tiện
- Môi trường làm việc
- Các đề xuất cải thiện nâng cao VHATNB tại bệnh viện
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu định lượng:
Trang 402.2.4.1 Bộ câu hỏi thu thập số liệu
Thông tin thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền (phụ lục 1) Bộ câu hỏi được
sử dụng là bộ câu hỏi khảo sát VHATNB của Tổ chức AHRQ Hoa Kỳ (Bản dịch tiếng Việt đã Sở Y tế TP Hồ Chí Minh chuẩn hóa theo quy trình phiên dịch của AHRQ và đã được tổ chức này công nhận và cho phép sử dụng tại Việt Nam) [5] Tuy bộ câu hỏi chưa được Bộ Y tế Việt Nam chính thức ban hành, nhưng bản dịch tiếng Việt của bộ công cụ này đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu tại Việt Nam từ năm 2012 đến nay [12],[15] Đây là bộ câu hỏi tự điền ẩn danh, tức là các đối tượng không cần ghi rõ họ tên vào phiếu
để đảm bảo tính khách quan của các thông tin thu được
Bộ câu hỏi gồm 50 câu hỏi đóng và 01 câu hỏi mở, gồm 03 phần:
1 Phần thông tin cá nhân có 06 câu hỏi (phần H)
2 Phần nội dung về VHATNB gồm 42 câu hỏi trên 12 lĩnh vực (Phần
- Bộ câu hỏi sẽ được nghiên cứu viên điều tra thử trên 10 đối tượng trước khi tiến hành điều tra trên đối tượng nghiên cứu, để xác định những vấn đề thường gặp, từ đó sẽ có những hướng dẫn phù hợp cho đối tượng nghiên cứu
2.2.4.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
- Phòng Quản lý chất lượng xây dựng kế hoạch thu thập số liệu tại các khoa và phát kế hoạch này cho các khoa có liên quan trong cuộc họp giao ban của Bệnh viện trước thời điểm điều tra 01 tuần