Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng văn hóa an toàn nguời bệnh và các yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học, thành phố Hồ Chí Minh năm 2019” nhằm đánh giá đư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TÔ THỊ MY PHƯƠNG
THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
HÀ NỘI, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TÔ THỊ MY PHƯƠNG
THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC,
Trang 3Đặc biệt xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Bình Hòa
và PGS.TS Bùi Thị Tú Quyên đã nhiệt tình hướng dẫn, hỗ trợ, truyền đạt những kinh nghiệm vô cùng quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.2 Văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện 5
1.3 Sự cố y khoa và an toàn người bệnh 8
1.4 Nguyên nhân xảy ra sự cố y khoa 10
1.5 Các công cụ khảo sát văn hóa an toàn 12
1.6 Các nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh 16
1.7 Giới thiệu Bệnh viện Truyền máu Huyết học 23
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
2.3 Thiết kế nghiên cứu 26
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 27
2.5 Công cụ thu thập số liệu 29
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.7 Các biến số, chủ đề của nghiên cứu 32
2.8 Tiêu chuẩn thang đo đánh giá và cách tính điểm 32
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 34
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Đặc tính mẫu nghiên cứu 36
3.2 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu huyết học 38
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu huyết học 58
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 68
4.1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học năm 2019 68
Trang 5iii
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học 74
KẾT LUẬN 83 KHUYẾN NGHỊ 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACSQHC Australian Commission on
Safety and Quality in Health Care
Ủy ban An toàn và Chất lượng
Úc
AHRQ Agency for Healthcare Research
and Quality
Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng
HSOPSC Hospital Survey on Patient
NHS National Health Service Tổ chức Dịch vụ y tế quốc gia
NPSA National Patient Safety Agency Cơ quan an toàn người bệnh
quốc gia
Trang 7v
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu định tính 28
Bảng 3.1: Đặc điểm dân số xã hội và nghề nghiệp của mẫu nghiên cứu (n=289) 36
Bảng 3.2: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Làm việc nhóm trong khoa (n=289) 38
Bảng 3.3: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Học tập, cải tiến liên tục (n=289) 39
Bảng 3.4: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Quan điểm và hành động của Ban phụ trách khoa về ATNB (n=289) 41
Bảng 3.5: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Phản hồi, trao đổi về sai sót (n=289) 43
Bảng 3.6: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Cởi mở trong thông tin về sai sót (n=289) 44
Bảng 3.7: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Hành xử không buộc tội khi sai sót (n=289) 45
Bảng 3.8: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện (n=289) 47
Bảng 3.9: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Làm việc theo nhóm giữa các khoa/phòng (n=289) 48
Bảng 3.10: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Bàn giao và chuyển bệnh (n=289) 49
Bảng 3.11: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Nhận thức về ATNB (n=289) 51
Bảng 3.12: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Tần suất báo cáo sự cố (n=289) 52
Bảng 3.13: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Nhân lực (n=289) 53
Bảng 3.14: Điểm trung bình 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh (n=289) 54
Bảng 3.15: Số sự cố báo cáo của NVYT (n=289) 56
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa điểm số VHATNB với đặc điểm dân số xã hội và nghề nghiệp của ĐTNC (n=289) 58
Trang 9vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Thời gian làm việc của nhân viên y tế (n=289) 37Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Làm việc theo nhóm trong khoa (n=289) 38Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Học tập, cải tiến liên tục
(n=289) 40Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Quan điểm và hành động của Ban phụ trách khoa về ATNB (n=289) 42Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Phản hồi, trao đổi về sai sót (n=289) 43Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Cởi mở trong thông tin về sai sót (n=289) 45Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Hành xử không buộc tội khi sai sót (n=289) 46Biểu đồ 3.8: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện (n=289) 47Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Làm việc theo nhóm giữa các khoa/phòng (n=289) 49Biểu đồ 3.10: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Bàn giao và chuyển bệnh (n=289) 50Biểu đồ 3.11: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Nhận thức về ATNB (n=289) 51Biểu đồ 3.12: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Tần suất báo cáo sự cố
(n=289) 53Biểu đồ 3.13: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Nhân lực (n=289) 54Biểu đồ 3.14: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực trung bình 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh năm 2019 so sánh với năm 2017 (n=289) 55Biểu đồ 3.15: Tỷ lệ ĐTNC đánh giá mức độ ATNB tại khoa (n=289) 57
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Nền tảng của văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện [79] 6
Hình 1.2: Vòng tròn niềm tin - báo cáo- cải thiện 7
Hình 1.3: Khung lý thuyết nghiên cứu 25
Hình 2.1: Quy trình thu thập số liệu 31
Hình 3.1: Tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học 67
Trang 11ix
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Văn hóa an toàn người bệnh (VHATNB) tích cực được xem là điều kiện cần thiết để đảm bảo an toàn người bệnh (ATNB) trong môi trường chăm sóc sức khỏe (CSSK) Đo lường VHATNB sẽ giúp lãnh đạo bệnh viện biết được những suy nghĩ, nhận thức và đánh giá của nhân viên y tế về hoạt động ATNB tại bệnh viện Đồng thời, với mong muốn hỗ trợ xác định các rào cản và thách thức chính phải giải quyết
để cải thiện văn hóa và thực hiện can thiệp các hoạt động ATNB một cách hiệu quả, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với hai mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng văn hóa
an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học năm 2019, (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học năm 2019
Nghiên cứu được thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, thực hiện từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2019 tại cả hai cơ sở của Bệnh viện Truyền máu Huyết học Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ khảo sát VHATNB của tổ chức Nghiên cứu y tế và chất lượng (AHRQ) đã được chuẩn hóa tại Việt Nam gồm 42 câu đánh giá trên 12 lĩnh vực Sau khi phát vấn toàn bộ nhân viên y tế làm việc tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng thỏa tiêu chuẩn lựa chọn, nghiên cứu đã thu thập được số liệu từ 289 nhân viên y tế 5 cuộc phỏng vấn sâu và 02 cuộc thảo luận nhóm cũng đã được tổ chức để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB tại bệnh viện
Kết quả nghiên cứu ghi nhận, tỷ lệ trả lời tích cực trung bình 12 lĩnh vực VHATNB là 68,1% Tỷ lệ trả lời tích cực của từng lĩnh vực lần lượt là: Làm việc nhóm trong khoa (88,5%); Học tập, cải tiến liên tục (87,9%); Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện (82,3%); Quan điểm và hành động của BPT khoa (82%); Thông tin phản hồi về sai sót (76,4%); Nhận thức về ATNB (73,4%); Tần suất báo cáo sự cố (69,3%); Làm việc nhóm giữa các khoa (67,4%); Cởi mở trong thông tin về sai sót (60,5%); Bàn giao – chuyển bệnh (50,4%), Hành xử không buộc tội khi sai sót (44,6%); Nhân lực (34,3%) Mức độ an toàn người bệnh tại bệnh viện có tỷ lệ trả lời tích cực trên 80% Các yếu tố đặc điểm dân số xã hội – công việc có mối liên
Trang 12quan đến VHATNB tại bệnh viện (p<0,05) Một số các yếu tố liên quan đến VHATNB tại bệnh viện được tìm thấy là: Giới tính, chức danh nghề nghiệp, khối công tác, vị trí công việc tiếp xúc với người bệnh Một số yếu tố thúc đẩy VHATNB tại bệnh viện bao gồm: Làm việc nhóm trong cùng một khoa, sự hỗ trợ của Lãnh đạo bệnh viện, công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ, sự tham gia của người bệnh và người nhà trong quá trình điều trị Các yếu tố rào cản ảnh hưởng tiêu cực đến VHATNB bao gồm: Làm việc nhóm liên khoa, sự thiếu hụt nhân sự và quá tải công việc, cơ sở vật chất chật hẹp, sự quá tải người bệnh Các yếu tố được xem là vừa thúc đẩy vừa thách thức đối với VHATNB tại bệnh viện bao gồm: Nhận thức của NVYT về ATNB, công tác đào tạo tập huấn liên tục, sự sẵn có của quy trình, hướng dẫn ATNB, hệ thống báo cáo sự cố y khoa
Văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học được đánh giá ở mức độ trung bình Có 5 lĩnh vực thế mạnh được đánh giá ở mức độ tốt có tỷ
lệ trả lời tích cực từ 75% trở lên đó là: Làm việc nhóm trong khoa, Quan điểm và hành động của Ban phụ trách khoa về ATNB, Học tập - cải tiến liên tục, Hỗ trợ của lãnh đạo BV về ATNB và Thông tin, phản hồi về sai sót Lĩnh vực Nhân lực, Hành
xử không buộc tội khi sai sót và lĩnh vực Bàn giao – chuyển bệnh được tìm thấy là các lĩnh vực có tỷ lệ trả lời tích cực thấp cần cải thiện
Thực hiện các giải pháp can thiệp cải thiện các lĩnh vực có tỷ lệ trả lời tích cực thấp như: Nghiên cứu đánh giá khối lượng công việc; triển khai các hình thức linh động, khuyến khích gia tăng báo cáo sự cố y khoa tự nguyện và cải thiện công tác bàn giao – chuyển bệnh là việc làm cần thiết để nâng cao VHATNB tại bệnh viện
Trang 131
ĐẶT VẤN ĐỀ
An toàn người bệnh (ATNB) được xem là một trong những vấn đề y tế công cộng quan trọng trên toàn cầu [60, 89] Mặc dù đã có nhiều sự tiến bộ trong hơn một thập niên qua, những tai biến có thể ngăn ngừa được trong quá trình điều trị người bệnh vẫn còn ở một tỷ lệ chưa thể chấp nhận, ở tất cả các cơ sở y tế và trên mọi quốc gia [60] Sai sót y khoa trở thành một trong mười nguyên nhân tử vong hàng đầu tại Mỹ, cao hơn tử vong do tai nạn giao thông, ung thư vú, tử vong do HIV/AIDS [64, 67]
Việc thiết lập văn hóa an toàn người bệnh (VHATNB) trong bệnh viện đóng vai trò nền tảng quan trọng [28, 60, 91] VHATNB tích cực được xem là điều kiện cần thiết để đảm bảo an toàn cho người bệnh trong chăm sóc sức khỏe (CSSK)
Bằng chứng cho thấy, một bệnh viện có VHATNB tốt giúp giảm chi phí điều trị,
giảm các sự cố lâm sàng, nhiễm khuẩn bệnh viện, tỉ lệ sai sót trong sử dụng thuốc, tỉ
lệ tái nhập viện, thời gian nằm viện, biến chứng do phẫu thuật và đặc biệt là giảm tỷ
lệ tử vong [24, 29, 63, 76] Trong khi đó đối với nhân viên y tế, VHATNB tích cực giúp cải thiện thái độ phục vụ của nhân viên, gia tăng tỉ lệ báo cáo sự cố tự nguyện, cũng như giảm sự cố cho bác sĩ và điều dưỡng [2, 3, 9, 29] Cải thiện văn hóa an toàn trong CSSK đã trở thành một chìa khóa chiến lược đang được thực hiện để cải thiện ATNB ở các quốc gia trên thế giới [30]
Đo lường VHATNB sẽ giúp lãnh đạo bệnh viện biết được những suy nghĩ, nhận thức và đánh giá của nhân viên y tế về hoạt động ATNB tại bệnh viện [20] Năm 2017, Bệnh viện Truyền máu Huyết học đã thực hiện một cuộc khảo sát về thực trạng VHATNB trên toàn bệnh viện và ghi nhận được 03 lĩnh vực cần cải thiện: Cởi mở trong thông tin về sai sót; Nhân lực; Hành xử không buộc tội khi sai sót Tuy nhiên, khảo sát trên chỉ mới cung cấp một bức tranh tổng quan chung mà
chưa đi sâu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB Như vậy, việc sử dụng
khảo sát văn hóa an toàn một cách riêng lẻ là một cách tiếp cận hơi hạn chế và được các nhà nghiên cứu tìm thấy chỉ cung cấp một sự hiểu biết khá hời hợt về các khía cạnh của văn hóa an toàn tổ chức [73] Sự kết hợp của nghiên cứu định lượng và dữ
Trang 14liệu định tính được thu thập sẽ giúp cung cấp một bức tranh đầy đủ hơn, hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa an toàn tại bệnh viện Việc thu thập thêm các dữ liệu định tính này không chỉ giúp tăng thêm sự hiểu biết mà còn cũng có thể thúc đẩy mối quan hệ, uy tín và sự tham gia của nhân viên y tế trong môi trường lâm sàng Điều này, sẽ giúp Ban lãnh đạo bệnh viện có nhiều thông tin hơn để xác định những khía cạnh có khả năng mang lại lợi ích từ cải tiến Những dữ liệu được thu thập cũng sẽ
hỗ trợ xác định các rào cản và thách thức chính phải giải quyết để cải thiện văn hóa
và thực hiện can thiệp các hoạt động ATNB một cách hiệu quả
Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng văn hóa an toàn nguời bệnh và các yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học, thành phố Hồ Chí Minh năm 2019” nhằm đánh giá được tình hình VHATNB tại bệnh viện ở thời điểm hiện tại, đồng thời so sánh sự cải thiện các lĩnh vực VHATNB có tỷ lệ trả lời tích cực thấp qua các năm, biết được các yếu tố ảnh hưởng để từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục toàn diện hơn nhằm cải tiến VHATNB hướng đến một môi trường bệnh viện an toàn cho cả người bệnh và nhân viên y tế
Trang 153
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học, thành phố Hồ Chí Minh năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học, thành phố Hồ Chí Minh năm 2019
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
An toàn người bệnh (Patient safety)
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO): “An toàn người bệnh (ATNB) là sự phòng ngừa các nguy hại cho NB trong quá trình chăm sóc y tế (CSYT) và giảm các nguy
cơ tổn hại không cần thiết liên quan đến CSYT ở mức tổi thiểu chấp nhận được” [21, 88]
Theo Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng (AHRQ): “ATNB là việc ngăn ngừa các sai sót và sự cố, có liên quan đến CSYT, xảy ra cho NB” [54]
An toàn người bệnh là một chương trình có sự khởi đầu nhưng không có điểm kết thúc, bởi vì nguy cơ của các sự cố y khoa (SCYK) luôn thường trực và có thể xảy ra bất cứ khi nào Các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế phải triển khai chương trình quản lý ATNB càng sớm càng tốt và luôn duy trì, cải tiến liên tục [26]
Văn hóa an toàn (safety culture)
Văn hóa an toàn (VHAT) là một phần của văn hóa tổng thể của một tổ chức Trong nhiều thập niên qua, VHAT được coi là không thể thiếu để đảm bảo an toàn trong các tổ chức có rủi ro cao Khái niệm VHAT không phải là duy nhất trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe mà đã được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp dầu khí và năng lượng, ngành giao thông vận tải, hàng không, quân sự và trong số những ngành khác [25] Kinh nghiệm từ ngành hàng không cho thấy rằng việc đánh giá và hiểu thái độ, niềm tin, nhận thức của công nhân hướng tới tinh thần đồng đội
và văn hóa an toàn là chiến lược mạnh mẽ để xác định và sau đó cải thiện sự an toàn trong môi trường đó [30]
Có nhiều định nghĩa về văn hóa an toàn đã được công bố, một trong những định nghĩa thường được sử dụng phổ biến nhất đến từ AHRQ đó là “Văn hóa an toàn của một tổ chức là thái độ, nhận thức, năng lực, hành vi của từng người và một nhóm người, qua đó cho biết mức độ của sự cam kết, phong cách và trình độ quản
lý an toàn của một tổ chức Một tổ chức có VHAT tích cực đặc trưng bởi truyền thông của tổ chức đó được thiết lập dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, sự chia sẻ về
Trang 175
nhận thức tầm quan trọng của an toàn, và niềm tin về hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa VHAT đòi hỏi sự hiểu biết về những giá trị, niềm tin và những qui tắc qui phạm về những điều quan trọng trong một số tổ chức và những thái độ, hành vi nào liên quan đến ATNB được khuyến khích, mong đợi và tưởng thưởng” [34, 54] Một khái niệm khác về văn hóa an toàn, từ Ủy ban An toàn và Chất lượng Úc (ACSQHC) đã phác thảo các khía cạnh của VHAT tích cực trong chăm sóc sức khỏe bao gồm: Lãnh đạo luôn thúc đẩy văn hóa an toàn; cam kết mạnh mẽ của nhà quản lý với văn hóa an toàn là ưu tiên hàng đầu của tổ chức; nhân viên luôn nhận thức được rằng mọi việc có thể sai sót; chấp nhận sai sót có thể xảy ra ở tất cả các cấp độ; phản hồi không đổ lỗi, không trừng phạt khi sai sót; khả năng nhận biết, phản hồi, đưa ra phản hồi và học hỏi từ các sai sót [30]
Sự cố y khoa (Adverse event)
Theo Thông tư 43/2018/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 26 tháng 12 năm
2018 về việc “Hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”, sự cố y khoa được định nghĩa “ là các tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan, chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, tác động sức khỏe, tính mạng của người bệnh” [12]
Tình huống có nguy cơ gây ra sự cố (near-miss) là tình huống đã xảy ra
nhưng chưa gây hậu quả hoặc gần như xảy ra nhưng được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, chưa gây tổn thương đến sức khỏe của người bệnh.[12]
Nguyên nhân gốc là nguyên nhân ban đầu có mối quan hệ nhân quả trực tiếp
dẫn đến việc xảy ra sự cố y khoa, nguyên nhân gốc có thể khắc phục được để phòng ngừa sự cố y khoa.[12]
1.2 Văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện
Một tổ chức được xem là có VHAT khi mỗi thành viên của tổ chức đó dù ở cương vị nào đều phải thể hiện vai trò chủ động trong phòng ngừa sai sót và vai trò của cá nhân được sự hỗ trợ của tổ chức [18]
Trang 18Hình 1.1: Nền tảng của văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện [78]
Các yếu tố cấu thành một VHATNB tại các cơ sở y tế bao gồm [18, 82]: Lãnh đạo bệnh viện xem ATNB là ưu tiên hàng đầu trong mọi hoạt động tại bệnh viện; các hoạt động trong bệnh viện được tổ chức làm việc theo đội hoặc nhóm một cách
có hiệu quả; thực hành chăm sóc và điều trị người bệnh dựa trên y học chứng cớ và tuân theo phác đồ điều trị; mọi người đều có quyền nói và chỉ ra những nguy cơ, sai sót trong khoa, được tham gia sáng kiến cải tiến về ATNB và góp ý nâng cao chất lượng điều trị; bệnh viện tổ chức hiệu quả các cách thức học hỏi và rút kinh nghiệm
từ các sai sót, cũng như cải tiến để khắc phục sai sót; đảm bảo công bằng, xem xét lỗi hệ thống trước khi kết luận lỗi cá nhân; đặc biệt từ cấp lãnh đạo đến cấp quản lý
và nhân viên luôn lấy người bệnh làm trung tâm trong mọi hoạt động tại bệnh viện Xây dựng VHATNB là hoạt động quan trọng sẽ làm thay đổi theo chiều hướng tích cực những suy nghĩ, thái độ, hành vi của nhân viên bệnh viện liên quan đến ATNB [13] Văn hóa an toàn tích cực là một thành phần thiết yếu của hệ thống
an toàn người bệnh thành công và là điểm khởi đầu quan trọng cho các bệnh viện phấn đấu trở thành tổ chức học tập Trong một nền tảng VHAT tốt, bệnh viện có cam kết không ngừng về an toàn và không gây tổn hại Trong số các trách nhiệm
AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
Môi trường làm việc/
trang thiết bị Mỗi nhân viên y tế Nhóm nhân viên y tế
Tổ chức và quản lý
VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA BỆNH VIỆN
Trang 19Văn hóa an toàn hoạt động hiệu quả khi bệnh viện thúc đẩy tạo ra chu kỳ niềm tin, báo cáo và cải thiện Ở các bệnh viện có VHAT tốt, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tin tưởng đồng nghiệp và lãnh đạo của họ hỗ trợ họ khi họ xác định và báo cáo sự cố ATNB Khi niềm tin được thiết lập, nhân viên có nhiều khả năng báo cáo các sự kiện liên quan đến ATNB và bệnh viện có thể sử dụng các báo cáo này để thông báo cho những nỗ lực cải tiến của họ Trong chu trình cải thiện niềm tin-báo cáo, các nhà lãnh đạo thúc đẩy niềm tin, cho phép nhân viên báo cáo, trong đó cho phép bệnh viện cải thiện Nhân viên thấy rằng báo cáo của họ góp phần vào cải thiện thực tế, mà củng cố niềm tin của họ Do đó, chu trình tin cậy-báo cáo-cải thiện củng cố chính nó [41, 77]
Hình 1.2: Vòng tròn niềm tin - báo cáo- cải thiện
Trang 20Văn hóa công bằng và an toàn là cần thiết để nhân viên tin tưởng rằng họ có thể báo cáo các sự cố liên quan ATNB mà không bị trừng phạt Để thực hiện điều này, các bệnh viện nên cung cấp và khuyến khích sử dụng quy trình báo cáo được chuẩn hóa để nhân viên báo cáo sự cố y khoa Các nhà lãnh đạo cần khuyến khích
sử dụng hệ thống báo cáo không buộc tội về quá trình sai sót Báo cáo cho phép chủ động phòng ngừa rủi ro và giải quyết các vấn đề trước khi người bệnh bị tổn hại để giảm nguy cơ tái diễn của các vấn đề đã gây hại cho người bệnh Một nền văn hóa công bằng có tính đến việc các cá nhân là con người, dễ sai lầm và có khả năng mắc lỗi, đồng thời hoạt động trong các hệ thống thường bị lỗi Một nền văn hóa công bằng khiến các cá nhân phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình nhưng không trừng phạt các cá nhân đối với các vấn đề được quy cho các hệ thống hoặc quy trình thiếu sót [41]
Văn hóa an toàn tốt được chứng minh bằng hệ thống báo cáo SCYK hiệu quả
và sử dụng các biện pháp đo lường để cải thiện Khi các bệnh viện áp dụng một cách tiếp cận minh bạch, không trừng phạt đối với báo cáo về các sự cố liên quan đến ATNB hoặc các mối quan tâm khác, bệnh viện bắt đầu báo cáo tìm hiểu và học hỏi từ các sự kiện bất lợi, các điều kiện nguy hiểm [41]
1.3 Sự cố y khoa và an toàn người bệnh
Theo ước tính của WHO, mỗi năm có khoảng hàng chục triệu người bệnh trên toàn thế giới gánh chịu những tổn thương hoặc tử vong không mong muốn do SCYK Số liệu mới nhất cho thấy sự tổn hại người bệnh đứng hàng thứ 14 nguyên nhân gây tử vong và thương tật trên toàn thế giới Hàng năm chi phí ước tính cho các sai sót y khoa là 42 tỷ USD Ở các nước có thu nhập cao, cứ 10 người thì có 01 người bị tổn hại trong khi nhận dịch vụ chăm sóc sức khỏe Sự tổn hại gây ra bởi các loại SCYK, với gần 50% sự cố có thể phòng ngừa được Tỷ lệ SCYK xảy ra ở các nước đang phát triển là 8%, trong đó có 83% sự cố là có thể phòng ngừa được
và 30% trong số đó dẫn đến tử vong Phơi nhiễm với tia phóng xạ là một vấn đề quan tâm của sức khỏe cộng đồng và an toàn người bệnh; nhiễm khuẩn bệnh viện ảnh hưởng tới 10% số người bệnh nhập viện; và chẩn đoán chậm và không chính
Trang 219
xác là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây tổn hại cho người bệnh và ảnh hưởng tới hàng triệu người bệnh Đầu tư cho an toàn người bệnh mang lại lợi ích tài chính đáng kể [21]
Bộ Y tế Việt Nam cũng đã nhận thấy tầm quan trọng trong công tác đảm bảo ATNB và tập trung chỉ đạo quyết liệt trong suốt 10 năm qua như: BYT đã tham mưu cho Quốc hội ban hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 Bộ Luật này đã quy định các điều kiện bảo đảm ATNB như: “Các quy định chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh (quy định về Cấp cứu; Chẩn đoán bệnh, chỉ định phương pháp điều trị và kê đơn thuốc; Hội chẩn; Điều trị ngoại trú; Điều trị nội trú;
Hồ sơ bệnh án; Sử dụng thuốc trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có điều trị nội trú; Thực hiện phẫu thuật, can thiệp ngoại khoa; Kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Xử lý chất thải y tế; Giải quyết đối với người bệnh không có người nhận; Giải quyết đối với người bệnh tử vong; Bắt buộc chữa bệnh; Trực khám bệnh, chữa bệnh); Quy định về áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh; Quy định về sai sót chuyên môn kỹ thuật và các điều kiện bảo đảm công tác khám bệnh, chữa bệnh”
Nhiều văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách, hướng dẫn và quy định đã được xây dựng và yêu cầu các bệnh viện cần nghiêm túc triển khai thực hiện: Thông tư số 19/2013/TT-BYT về hướng dẫn quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện; Thông tư số 07/2011/TT-BYT hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện; Thông tư số 23/2011/TT-BYT hướng dẫn sử dụng thuốc trong bệnh viện; Thông tư số 18/2009/TT-BYT về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; Tăng cường hệ thống chính sách, văn bản pháp quy về ATNB; Bảo đảm thiết lập chương trình và xây dựng các quy định cụ thể bảo đảm an toàn người bệnh và nhân viên y tế; Thiết lập hệ thống thu thập, báo cáo, phòng ngừa SCYK với sự ra đời của Thông tư số 43/2018/TT-BYT về việc hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Bên cạnh đó, Bộ Y tế cũng tập trung chỉ đạo theo 6 mục tiêu toàn cầu về ATNB theo khuyến cáo của Tổ chức
Y tế thế giới bao gồm:
Trang 221 Xác định chính xác người bệnh
2 Bảo đảm giao tiếp hiệu quả
3 Bảo đảm an toàn sử dụng thuốc
4 Bảo đảm an toàn phẫu thuật
5 Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện
6 Giảm nguy cơ và hậu quả do ngã
Những sự cố y khoa được biết chỉ là phần nổi của tảng băng Việc xây dựng
hệ thống báo cáo sự cố y khoa và khuyến khích BCSCYK tự nguyện là một việc làm cần thiết để nâng cao VHATNB tại bệnh viện Việc phân tích số lượng lớn các báo cáo có thể phát hiện được các xu hướng tiềm ẩn hoặc các nguy hại cần quan tâm Mục tiêu của hệ thống báo cáo này là để thu thập những sự cố y khoa một cách
hệ thống mà không phán xét hay đưa ra các hình phạt xử lý để tăng cường khuyến khích BCSCYK một cách tự nguyện Đây được coi là một công cụ hữu hiệu để quản lý rủi ro tại các cơ sở y tế WHO công khai SCYK là thành tố quan trọng của Chương trình ATNB nhằm giảm áp lực cho bệnh viện [1]
1.4 Nguyên nhân xảy ra sự cố y khoa
Các yếu tố thuận lợi để xảy ra sự cố y khoa được nhận dạng, bao gồm: [18]
1.4.1 Bệnh viện là môi trường có nhiều yếu tố thuận lợi để sự cố y khoa xảy ra
- Áp lực ra quyết định nhanh, thậm chí chỉ định miệng;
- Quá tải người bệnh;
- Thiếu nhân viên;
- Rào cản thông tin giữa người bệnh, nhân viên y tế và nhà quản lý;
- Môi trường làm việc gây xao lãng, thiếu tập trung;
- Trang thiết bị không đồng bộ;
- Còn sử dụng những phương pháp chẩn đoán và điều trị có mức an toàn hẹp
- Đặc điểm của người bệnh: Cơ địa, sức đề kháng khác nhau;
- Đặc điểm của can thiệp điều trị: Luôn tiềm ẩn hai mặt lợi và mặt hại;
- Đặc điểm về kỹ năng của nhân viên y tế: Không thể hoàn toàn như nhau;
Trang 2311
- Đặc điểm của môi trường bệnh viện
1.4.2 Những yếu tố về cấu trúc quản lý của bệnh viện làm cho hoạt động chăm sóc người bệnh không an toàn
Có 8 yếu tố về cấu trúc quản lý của một bệnh viện làm cho hoạt động chăm sóc người bệnh trở nên không an toàn, bao gồm:
- Lỗi tiềm ẩn trong chăm sóc người bệnh không được phát hiện hoặc được phát hiện nhưng không được cải tiến, thay đổi để không lặp lại;
- Lãnh đạo bệnh viện quá tin vào kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện, nghĩ rằng điểm kiểm tra chất lượng của bệnh viện cao đồng nghĩa với việc các hoạt động an toàn người bệnh đã được triển khai hiệu quả;
- Bệnh viện không quan tâm, không khảo sát những ý kiến, suy nghĩ, hành động của nhân viên về an toàn người bệnh, chưa xem hoạt động khảo sát văn hóa an toàn người bệnh là thật sự cần thiết;
- Huấn luyện, đào tạo và nguồn nhân lực chưa được chú trọng và đầu tư hiệu quả:
Huấn luyện vào đào tạo nguồn nhân lực chưa được quan tâm và triển khai hiệu quả
Phân bổ nguồn nhân lực của bệnh viện chưa hợp lý, nhất là tỷ lệ bác
sĩ và điều dưỡng, tình trạng thiếu bác sĩ cục bộ ở một số khoa/ phòng trong bệnh viện
Số lượng bác sĩ có trình độ chuyên khoa là yếu tố quan trọng trong làm giảm tử vong ở nhiều bệnh viện
- Môi trường, điều kiện làm việc, quá tải công việc làm nhân viên bị stress và mệt mỏi;
- Áp lực phải tăng hiệu suất làm việc, nhất là hoạt động chăm sóc người bệnh của điều dưỡng Tỷ lệ điều dưỡng/ người bệnh không hợp lý chắc chắn nguy cơ chăm sóc người bệnh không an toàn sẽ tăng cao;
Trang 24- Chậm nắm bắt tri thức, hạn chế trong tiếp cận tri thức y tế đến thầy thuốc, chuyển giao tri thức giữa các thầy thuốc và chuyển giao tri thức giữa thầy thuốc với người bệnh;
- Còn sử dụng các trang thiết bị được thiết kế thiếu yếu tố tương tác giữa người sử dụng và trang thiết bị
1.4.3 Các lỗi hệ thống
Lãnh đạo bệnh viện chưa đặt an toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu trong chương trình cải tiến chất lượng bệnh viện, thiếu chương trình hành động cụ thể, thiếu phân bố nguồn lực thích hợp cho hoạt động ATNB như:
- Thiếu hoạt động huấn luyện về ATNB cho nhân viên;
- Thiếu đầu tư trang thiết bị cho hoạt động ATNB;
- Thiếu hoạt động giám sát về ATNB;
- Thiếu xây dựng các quy trình bảo đảm ATNB
Tồn tại “văn hóa buộc tội” trong hoạt động quản lý bệnh viện, xem nguyên nhân của sự cố y khoa là do lỗi cá nhân, không xem xét lỗi hệ thống
- Thiếu tính kỷ luật: Đã được huấn luyện, có kỹ năng thực hành tốt nhưng không tuân thủ những quy trình, quy định về ATNB tại bệnh viện
1.5 Các công cụ khảo sát văn hóa an toàn
Một số bộ công cụ để khảo sát văn hóa an toàn tại các cơ sở y tế được kiểm tra nghiêm ngặt và nổi tiếng nhất là [25, 32]:
Trang 2513
1.5.1 Bộ câu hỏi về thái độ an toàn (SAQ)
The Safety Attitudes Questionnaire (SAQ) là bộ câu hỏi về thái độ an toàn tập trung vào môi trường an toàn và yêu cầu các nhóm chăm sóc sức khỏe mô tả thái độ của họ đối với sáu lĩnh vực, sử dụng thang đo Likert để ghi điểm bao gồm: Môi trường làm việc nhóm; môi trường an toàn; sự hài lòng trong công việc; nhận thức của nhà quản lý; điều kiện làm việc và tình trạng căng thẳng Bảng câu hỏi gồm 60 câu đo lường các lĩnh vực bao gồm làm việc nhóm, quản lý và điều kiện làm việc [46]
Công cụ này đã được điều chỉnh để sử dụng trong đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU), các cơ sở điều trị nội trú nói chung như phẫu thuật, dịch vụ cấp cứu y tế, phòng khám cấp cứu/ chăm sóc ban đầu, nhà dưỡng lão và các cơ sở chăm sóc dài hạn Thời gian hoàn thành khảo sát mất khoảng 10-15 phút
SAQ là một trong những công cụ được sử dụng rộng rãi và được đánh giá nghiêm ngặt để đo lường an toàn văn hóa trong chăm sóc sức khỏe Nó cũng được
sử dụng để so sánh thái độ của các nhân viên khác nhau trong CSSK Một thế mạnh khác của công cụ là nó tương đối ngắn, nhanh chóng để hoàn thành và có thể được
sử dụng để theo dõi các thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, một số kết quả nghiên cứu sau đó cho thấy rằng lĩnh vực tình trạng căng thẳng trong SAQ không phù hợp
và đóng góp tích cực vào việc xây dựng môi trường an toàn SAQ đã được sử dụng làm cơ sở cho một số công cụ khác đo lường văn hóa an toàn [46]
1.5.2 Công cụ đánh giá văn hóa an toàn người bệnh Manchester (MaPSaF)
Manchester Patient Safety Framework (MaPSaF) là bộ công cụ được thúc đẩy
bởi Cơ quan an toàn người bệnh quốc gia (NPSA) Công cụ này được phát triển từ các nghiên cứu đánh giá y văn và đầu vào của chuyên gia Khung an toàn người bệnh Manchester đánh giá nhận thức của nhân viên về văn hóa an toàn trong các tổ chức chăm sóc sức khỏe thông qua một quá trình phản ánh thuận lợi và thảo luận Đây là một công cụ để giúp các tổ chức Dịch vụ y tế quốc gia (NHS) và các nhóm chăm sóc sức khỏe đánh giá tiến bộ của họ trong việc phát triển văn hóa an toàn Công cụ liệt kê năm cấp độ ngày càng tăng văn hóa an toàn của tổ chức trên 10 lĩnh
Trang 26vực bao gồm: Cải tiến liên tục; ưu tiên an toàn; lỗi hệ thống và trách nhiệm cá nhân; ghi nhận sự cố; đánh giá sự cố; học tập và thay đổi hiệu quả; giao tiếp; quản lý nhân sự; giáo dục nhân viên; làm việc theo nhóm Các hội thảo được tiến hành trong vòng 10 -12 người và mất khoảng hai giờ để tiến hành
Công cụ này có thể dùng cho các hiệu thuốc, cơ sở chăm sóc ban đầu, sức khỏe tâm thần, dịch vụ xe cứu thương và có thể được áp dụng ở cấp độ tổ chức hoặc nhóm
Công cụ có thể được sử dụng để giúp phản ánh về văn hóa an toàn, tiết lộ sự khác biệt trong nhận thức giữa các nhóm nhân viên, giúp hiểu VHAT hơn và giúp theo dõi những thay đổi theo thời gian và lợi ích của các can thiệp cụ thể Một thế mạnh khác, nó là một trong số ít các công cụ tập trung về văn hóa an toàn ở dạng rộng của nó và nó cũng kiểm tra sự trưởng thành của tổ chức, do đó chỉ ra các khu vực để cải thiện
Điểm yếu của bộ công cụ này là mặc dù được sử dụng rộng rãi, nhưng rất ít được công bố Việc đánh giá đòi hỏi cần nhiều thời gian, điều đó sẽ làm cho nó không thực tế để sử dụng trong việc đánh giá kiểm định chất lượng Tuy nhiên, kết quả đánh giá được thực hiện trước đây có thể mô tả toàn diện văn hóa an toàn của tổ chức tại thời điểm đó và tiết lộ vấn đề cần được giải quyết trong chu kỳ kiểm định chất lượng tiếp theo Phần lớn các tổ chức sử dụng nó đã không công bố các kết quả [25, 32, 46]
1.5.3 Bộ công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh (HSOPSC)
Năm 2004, Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ (AHRQ) đã xây dựng bộ câu hỏi khảo sát về VHATNB (HSOPSC) để đánh giá VHATNB trong bệnh viện với độ tin cậy, tính giá trị cao và được nhiều nước trên thế giới sử dụng
để đánh giá VHATNB như Mỹ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Trung Quốc, Bỉ, Đài Loan Đây là bộ câu hỏi phổ biến nhất để khảo sát VHATNB Số liệu mới nhất đến tháng 2/2019, có 93 quốc gia thực hiện khảo sát VHATNB và đã được dịch ra 40 ngôn ngữ trong đó có Việt Nam [56]
Trang 2715
Khảo sát ban đầu được phát triển để sử dụng trong bệnh viện, nhưng đã được điều chỉnh, với một loạt các phiên bản hiện có sẵn để đo lường văn hóa an toàn của người bệnh trong nhà thuốc cộng đồng, phẫu thuật cấp cứu, viện dưỡng lão và phòng khám ngoại trú [46]
Năm 2016 tại Việt Nam, Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu và chính thức được công nhận về khảo sát văn hoá an toàn người bệnh nhằm giúp bệnh viện nắm bắt những suy nghĩ, thái độ, hành vi của nhân viên bệnh viện liên quan đến ATNB Nhóm nghiên cứu đã thực hiện kiểm định tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi HSOPSC Kết quả nghiên cứu cho thấy bộ câu hỏi có tính giá trị
và độ tin cậy khá cao với tất cả các lĩnh vực có chỉ số Cronbach’s alpha >0,6 Bộ câu hỏi phiên bản tiếng Việt đã được AHRQ cho phép sử dụng chính thức như bản tiếng Việt đầu tiên trên thế giới [19]
Bộ câu hỏi bao gồm 42 câu đánh giá trên 12 lĩnh vực, bao gồm: Làm việc nhóm trong khoa; Quan điểm và hành động của ban phụ trách khoa về ATNB; Học tập – cải tiến liên tục; Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về ATNB; Nhận thức về ATNB; Thông tin phản hồi về sai sót; Tần suất báo cáo sự cố; Cởi mở trong thông tin về sai sót; Làm việc nhóm giữa các khoa; Nhân lực, Bàn giao và chuyển bệnh, Hành xử không buộc tội khi sai sót Bộ công cụ sử dụng thang đo Likert 5 điểm tương đương từ 1 đến 5 điểm để đánh giá (từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý) hoặc tần suất (không bao giờ đến luôn luôn) Trong đó, những câu hỏi thuận (tích cực) rất đồng ý được tính 5 điểm và rất không đồng ý được 1 điểm, ngược lại với các câu hỏi nghịch (tiêu cực) rất đồng ý được tính 1 điểm và rất không đồng ý được tính 5 điểm [54] Thời gian thực hiện khảo sát mất khoảng 10-15 phút
Do vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ sử dụng bộ công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh (HSOPSC) của AHRQ để đánh giá thực trạng VHATNB tại BV.TMHH vì những lý do sau đây: Bộ câu hỏi HOSPSC được nhiều bệnh viện trên thế giới lựa chọn; có tính khả thi; có thể sử dụng chuyên cho các bệnh viện; có thể
so sánh giữa các bệnh viện với nhau; giữa các quốc gia với nhau; được phép sử dụng công cụ khảo sát đã được chuẩn hóa bảng dịch sang tiếng địa phương [18]
Trang 281.6 Các nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh
1.6.1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh
1.5.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Theo nghiên cứu VHATNB năm 2018 tại Mỹ với dữ liệu 630 bệnh viện tham gia khảo sát, tỷ lệ trả lời tích cực trung bình của 12 lĩnh vực ATNB là 65% Điểm mạnh của hầu hết các bệnh viện thực hiện khảo sát về các lĩnh vực: 82% người trả lời báo cáo là họ làm việc tốt trong đội nhóm; 80% người trả lời cho rằng lãnh đạo bệnh viện tạo môi trường làm việc thúc đẩy ATNB; 72% người trả lời cho rằng văn hóa học tập của tổ chức về những sai sót đã dẫn đến những thay đổi tích cực Ngoài
ra, báo cáo còn chỉ ra các lĩnh vực cần cải thiện ở hầu hết các bệnh viện như: lĩnh vực không phạt khi sai sót, có 47% người trả lời chỉ ra rằng những báo cáo sự cố được biết chống lại họ và không được giữ bí mật; lĩnh vực bàn giao và chuyển bệnh, 48% người trả lời cho rằng những thông tin bị mất trong quá trình chuyển bệnh hay giao ca; lĩnh vực nhân sự, 53% người trả lời cho rằng luôn thiếu người để giải quyết công việc quá tải Những phát hiện quan trọng khác: những bệnh viện có quy mô nhỏ (6-24 giường) có tỷ lệ trả lời tích cực cao hơn những bệnh viện có quy mô lớn hơn (> 500 giường), với tỷ lệ lần lượt là 71% và 61% Những lĩnh vực công việc có
tỷ lệ trả lời tích cực cao nhất và thấp nhất là khoa phục hồi chức năng và khoa cấp cứu, với tỷ lệ lần lượt là 71% và 60% Vị trí công việc có tỷ lệ trả lời tích cực cao nhất và thấp nhất là nhà quản lý/ ban phụ trách khoa và điều dưỡng So sánh kết quả của 306 bệnh viện tham gia vào cơ sở dữ liệu năm 2016 và 2018 là : 13% các bệnh viện tăng 5% điểm hay tăng ít nhất 7 lĩnh vực, 35% các bệnh viện tăng 5% điểm lĩnh vực không phạt khi sai sót, 21% các bệnh viện giảm 5% điểm của lĩnh vực nhân sự [55]
Các nghiên cứu từ Đài Loan (2010), Trung Quốc (2013), Iran (2015), các nước Ả Rập (2017) đều cho thấy, những đặc điểm chung ở những nghiên cứu này là
có tỷ lệ trả lời tích cực cao ở một số lĩnh vực như làm việc theo nhóm trong khoa, quan điểm và hành động của ban phụ trách khoa về ATNB, học tập - cải tiến liên tục, hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về ATNB, thông tin, phản hồi về sai sót, và các
Trang 2917
lĩnh vực nhìn chung có tỷ lệ trả lời tích cực thấp như nhân lực, bàn giao và chuyển bệnh, không phạt khi có sai sót Đặc biệt lĩnh vực không phạt khi sai sót được coi là một vấn đề nghiêm trọng cần được cải thiện ở hầu hết các nghiên cứu [27, 36, 52]
1.5.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Các nghiên cứu về VHATNB được thực hiện tại các bệnh viện như Nhi Đồng 1 (2012), Từ Dũ (2015), Nguyễn Đình Chiểu (2017), Trung tâm Y tế huyện Lai Vung (2018), Bệnh viện Đống Đa (2019) có tỷ lệ trả lời tích cực 12 lĩnh vực ATNB dao động từ 34,7% - 96,4% Trong đó các lĩnh vực có tỷ lệ trả lời tích cực cao nhất ở hầu hết các bệnh viện là lĩnh vực làm việc nhóm trong khoa (dao động từ 90% - 96,3%), sự hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện (dao động từ 82% - 96,4%), quan điểm và hành động của ban phụ trách khoa về ATNB ( dao động từ 80,5% - 90%), học tập – cải tiến liên tục (dao động từ 85% - 93,9%) Các lĩnh vực có tỷ lệ trả lời tích cực thấp, cần cải thiện ở hầu hết các bệnh viện là cởi mở các thông tin về sai sót (dao động từ 34,7% - 60%), nhân lực (51% - 64%), bàn giao và chuyển bệnh (56,9% - 63%), hành xử không buộc tội khi sai sót (41% - 61%) [2, 5, 10, 11, 17] Năm 2016, nghiên cứu khảo sát về VHATNB được thực hiện bởi tác giả Tăng Chí Thượng trên 43 bệnh viện trên địa bàn thành phố với 1379 nhân viên y tế Trong đó, điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất (62,9%), sau đó là bác sĩ (25,6%) và các đổi tượng khác Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trả lời tích cực trung bình là 78,5% Các lĩnh vực có tỷ lệ trả lời tích cực cao nhất là làm việc theo nhóm trong khoa (96,3%), lãnh đạo khuyến khích ATNB (94,4%), học tập – cải tiến liên tục (93,9%), hỗ trợ lãnh đạo bệnh viện về ATNB (91%), nhận thức về ATNB (79%), thông tin, phản hồi về sai sót (83,7%), làm việc nhóm giữa các khoa (85,1%) Không có lĩnh vực nào có tỷ lệ trả lời tích cực dưới 50% [19]
Nghiên cứu cấp cơ sở tại BV.TMHH năm 2017 của tác giả Nguyễn Phương Liên, Bao Minh Hiền và cộng sự với sự tham gia của 275 NVYT sử dụng bộ công
cụ HSOPSC đã được chuẩn hóa sang tiếng Việt Mỗi nội dung đều được đo lường bởi thang đo Likert gồm 5 mức độ tăng dần từ 1 điểm đến 5 điểm, trong đó 1 điểm
là thấp nhất và hàm ý tiêu cực, ngược lại 5 điểm là cao nhất với hàm ý tích cực
Trang 30Điểm trung bình và tỷ lệ trả lời tích cực trên 12 lĩnh vực VHATNB lần lượt là 3,63 điểm và 65,2% Kết quả cụ thể tỷ lệ trả lời tích cực từng lĩnh vực như sau: Lĩnh vực làm việc nhóm trong khoa (90,5%), quan điểm và hành động của BPT khoa về ATNB (82,5%), học tập – cải tiến liên tục (83,9%), hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện
về ATNB (74,9%), nhận thức về ATNB (72,5%), thông tin phản hồi về sai sót (74,3%), tần suất báo cáo sự cố (67,4%), cởi mở trong thông tin về các sai sót (48%), làm việc nhóm giữa các khoa (64,4%), nhân lực (34,2%), bàn giao và chuyển bệnh (50,8%) và hành xử không buộc tội khi sai sót (38,9%) Trong đó, có 3 lĩnh vực VHATNB có tỷ lệ trả lời tích cực thấp cần cải thiện: Lĩnh vực cởi mở trong thông tin về sai sót (48%); Lĩnh vực nhân lực (34,2%); Lĩnh vực hành xử không buộc tội khi có sai sót (38,9%) Tác giả đã đưa ra hai khuyến cáo dựa trên kết quả nghiên cứu: “Rà soát định kỳ các bộ phận/khoa/phòng thường xuyên bị quá tải
để xây dựng kế hoạch bổ sung nhân sự hoặc điều phối công việc, tăng cường giữa các bộ phận/khoa/phòng trong Bệnh viện”; “Khi có sai sót xảy ra trước tiên là cần xét toàn diện về quy trình hệ thống, các yếu tố nguy cơ, các yếu cá nhân hoặc đơn vị liên quan Lỗi cá nhân sẽ được xem xét và phân tích rõ ràng về các yếu tố ảnh hưởng (kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn và tính kỷ luật trong việc tuân thủ quy trình, quy định của cá nhân viên phạm)” [9]
1.6.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh
1.6.2.1 Đặc điểm dân số xã hội và nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
Giới tính
Một số nghiên cứu cho thấy giới tính có mối liên quan đến VHATNB Cụ thể, nghiên cứu tại Bệnh viện Trưng Vương cho thấy nữ giới có điểm số VHATNB cao hơn nam giới (p<0,05) [6]
Tuổi
Một số nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa tuổi tác và VHATNB [68, 72]
Nghiên cứu của Fadi El-Jardali và cộng sự năm 2014 tại Ả Rập Xê Út cho thấy
điểm tổng VHATNB cao hơn ở độ tuổi từ 46 trở lên (p<0,05) [68]
Chức danh nghề nghiệp
Trang 3119
Kết quả nghiên cứu tại các bệnh viện trong nước và trên thế giới cũng cho thấy rằng chức danh nghề nghiệp có mối liên quan đến VHATNB [4, 11, 19, 68, 79, 80] Cụ thể đối tượng điều dưỡng có tỷ lệ trả lời tích cực cao hơn bác sĩ [5, 11] Tỷ
lệ tích cực cao hơn thu được có thể là do tính chất công việc của họ có nhiều thời gian làm việc trực tiếp và trao đổi với người bệnh đồng thời liên quan trực tiếp đến
sự an toàn của người bệnh (tất cả các thủ thuật xâm lấn và sai sót thuốc có thể xảy
ra trong quá trình chăm sóc và phân phối thuốc) và liên quan chặt chẽ hơn đến công việc của họ với các khoa khác trong ngày [68, 79, 80]
Khối công tác
Nhân viên công tác tại các khoa thuộc khối lâm sàng có tỷ lệ trả lời tích cực cao hơn các khoa cận lâm sàng [7, 11]
Kinh nghiệm làm việc
Các nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa số năm làm việc với VHATNB [68, 72] Kinh nghiệm làm việc lâu hơn có tổng điểm VHATNB cao hơn [68] Những người có trải nghiệm làm việc trong khoảng từ 6 đến 15-20 năm có liên quan đến tỷ lệ báo cáo số lượng sự cố nhiều hơn, đánh giá mức độ ATNB cao hơn [65, 68]
Số giờ làm việc mỗi tuần
Những phát hiện được tìm thấy trong các nghiên cứu tại các bệnh viện trên thế giới chỉ ra rằng số giờ làm việc mỗi tuần có ảnh hưởng đến VHATNB [81, 86, 90] Khả năng mắc lỗi tăng lên đáng kể khi thời gian làm việc dài hơn [81] Những NVYT có thời gian làm việc dài hơn đánh giá mức độ ATNB thấp hơn và có số lượng báo cáo sai sót sự cố cao hơn Số giờ làm việc mỗi tuần càng tăng, điểm số VHATNB càng giảm (p<0,05) Kết quả này được củng cố bởi những phát hiện định tính khi người được hỏi tin rằng khi các chuyên gia chăm sóc sức khỏe làm việc nhiều giờ hơn, họ cố gắng làm việc nhanh hơn để chăm sóc người bệnh tốt nhất Điều này có thể được giải thích là khi nhân viên bệnh viện làm việc nhiều giờ hơn, làm việc bằng cách cố gắng làm quá nhanh có thể có tác động tiêu cực đến hiệu suất
và do đó có VHATNB kém hơn [86]
Trang 32Công việc tiếp xúc với người bệnh
Một số nghiên cứu cho thấy rằng nhân viên công tác tại các khoa lâm sàng, các khoa có tiếp xúc trực tiếp với người bệnh có tỷ lệ trả lời tích cực cao hơn các khoa cận lâm sàng, các khoa không trực tiếp tiếp xúc với người bệnh [7, 11]
1.6.2.2 Yếu tố liên quan đến nhân viên y tế
Các yếu tố liên quan đến NVYT có ảnh hưởng đến VHATNB như tinh thần đồng đội, sự hợp tác giữa nhân viên y tế, vấn đề trao đổi thông tin giữa các NVYT, công tác bàn giao, sự tham gia đào tạo tập huấn, nhận thức về ATNB Vấn đề trao đổi thông tin của NVYT có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến VHATNB chung tại bệnh viện Ngoài ra, việc quan tâm đến các vấn đề ATNB có tác động tích cực đến VHAT Một số kỹ năng và các khả năng của NVYT, chẳng hạn như có khả năng học hỏi từ những sai sót, chuẩn bị cho rủi ro và thường chủ động hành động trong các tình huống công việc hàng ngày [35, 47, 51, 66, 69, 74]
Thái độ kém của NVYT đối với vấn đề ATNB đã được báo cáo ảnh hưởng tiêu cực đến VHATNB [86]
Thái độ của nhân viên được coi là quan trọng Cam kết về ATNB và tuân thủ thực hành lâm sàng, các tiêu chuẩn ATNB được cho là đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ an toàn tại nơi làm việc [38, 47, 70, 74, 75] Sự hài lòng của công việc và tỷ lệ luân chuyển nhân viên cũng được xác định là yếu tố chính quyết định sự ATNB [49, 66]
1.6.2.3 Yếu tố người bệnh
Kết quả phỏng vấn sâu các nghiên cứu cho thấy nhận thức của người bệnh về dịch vụ y tế được cung cấp và sự tương tác của họ cũng ảnh hưởng đến VHATNB Hầu hết người được phỏng vấn đều cho rằng sự tham gia của người bệnh là rất quan trọng để đạt được sự bảo vệ an toàn cho người bệnh một cách tích cực Nâng cao nhận thức của người bệnh về dịch vụ, cung cấp đầy đủ thông tin là các yếu tố quan trọng để đạt được sự bảo vệ người bệnh tốt hơn, ảnh hưởng tích cực đến VHATNB
Số lượng người bệnh, điều kiện cơ bản, nhận thức về tình trạng và hiểu biết về sức khỏe của họ đều được cho là góp phần vào sự ATNB [11, 35, 47, 61, 69, 86]
Trang 3321
1.6.2.4 Yếu tố hệ thống
Các yếu tố liên quan đến hệ thống được tìm thấy trong các nghiên cứu bao gồm: hệ thống báo cáo sự cố y khoa, sự thiếu hụt trang thiết bị y tế, thiếu nhân sự, môi trường làm việc, quy trình, hướng dẫn an toàn người bệnh, các hoạt động kiểm tra, giám sát, đào tạo tập huấn được xem là các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB tại bệnh viện [11, 16, 86] Trong đó các yếu tổ thúc đẩy, ảnh hướng tích cực đến VHATNB là sự quan tâm, ủng hộ, khuyến khích của lãnh đạo, sự đồng thuận, đoàn kết của NVYT Yếu tố hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực đến VHATNB bao gồm: hệ thống BCSC hoạt động chưa hiệu quả, hoạt động kiểm tra, giám sát, thiếu hướng dẫn, quy định liên quan đến ATNB, công tác đào tạo, tập huấn ATNB , nhận thức, thái độ VHATNB chưa cao, sự quá tải người bệnh, thiếu sự tương tác của NB trong quá trình điều trị [11]
Sự hỗ trợ của lãnh đạo về ATNB
Người lãnh đạo đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng công việc của NVYT, liên quan đến các chính sách, trình độ chuyên môn, quan tâm đến đời sống cá nhân, mối quan hệ giữa điều dưỡng và bác sĩ Sự hoàn thiện đội ngũ
có ảnh hưởng trực tiếp đến những cảm xúc tiêu cực và việc sử dụng mô hình chăm sóc điều dưỡng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thành tựu cá nhân của họ Cả hai yếu
tố này ảnh hưởng trực tiếp đến đầu ra là an toàn của người bệnh [83]
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng lãnh đạo là một yếu tố có thể vừa tạo điều kiện vừa kiềm hãm ATNB Các nhà quản lý có một ảnh hưởng tích cực đến VHATNB khi làm việc với các nhân viên và tìm hiểu những điểm mạnh và điểm yếu của họ Ngược lại, nhiều NVYT chỉ ra rằng các nhà quản lý có thái độ tiêu cực đối với các vấn đề liên quan đến ATNB hoặc có lẽ đã tuyên bố rằng sự ATNB là quan trọng nhưng việc không tuân theo lời nói của họ có thể tạo ra rào cản đối với
sự ATNB [35] Các nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của lãnh đạo trong việc tạo ra bầu không khí làm việc cởi mở và dễ dàng, tạo điều kiện cho việc báo cáo và học hỏi từ những sai sót [45, 51, 71, 85, 87] Đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò lãnh đạo trong việc hướng dẫn nhân viên hướng tới thực hành an toàn [49, 51, 66, 69, 84]
Trang 34Hệ thống báo cáo sự cố và văn hóa không xử phạt
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, hệ thống báo cáo sự cố sẽ tác động tích cực đến VHATNB Sợ báo cáo có thể gây trở ngại cho VHATNB Lý do không báo cáo sai sót bao gồm sợ hãi, sỉ nhục và sự hiện diện của một phản ứng trừng phạt đối với sai sót [86] Cần phải khuyến khích các NVYT báo cáo các sự cố có tác động tích cực trong việc cải thiện sự an toàn của người bệnh Trên thực tế, bằng chứng trong các nghiên cứu xác định ba thành phần chính cho văn hóa an toàn bệnh nhân tích cực, chủ yếu là văn hóa công bằng, văn hóa báo cáo và văn hóa học hỏi từ sai sót Điều này có thể là do sự thật rằng các hệ thống báo cáo sự cố tạo ra thông tin hữu ích để giải quyết sự yếu kém trong các hệ thống và quy trình làm việc, vì vậy nó mang lại
cơ hội cải thiện VHATNB Một môi trường không trừng phạt nơi nhân viên bệnh viện cảm thấy thoải mái và tự tin trong việc báo cáo các sự cố mà không sợ đổ lỗi là điều cần thiết để hệ thống báo cáo sự cố hoạt động tốt hơn và nhờ đó bệnh viện an toàn hơn [5] Ngược lại, nếu chỉ quy trách nhiệm người trực tiếp gây ra SCYK sẽ dẫn đến tâm lý sợ báo cáo, khó có thể tạo không khí cởi mở để NVYT báo cáo những SCYK đã xảy ra, điều đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến VHATNB tại bệnh viện [18]
Đủ nhân sự làm việc
Các phát hiện từ các nghiên cứu định tính cho thấy tình trạng thiếu nhân sự trong bệnh viện ảnh hưởng tiêu cực đến VHATNB Khi nhân viên làm việc thêm hoặc gấp nhiều lần, xác suất thực hành VHATNB tốt là thấp hơn Phát hiện này có thể chỉ ra rằng có đủ nhân viên để xử lý khối lượng công việc, VHATNB có thể được cải thiện Họ tin rằng cơ sở hạ tầng của bệnh viện và số lượng nhân sự phục
vụ nên được cân bằng để cung cấp dịch vụ chăm sóc an toàn Có đủ nhân sự làm việc được coi là một yếu tố quyết định sự an toàn của người bệnh Nhìn chung, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng số lượng nhân viên đầy đủ sẽ giúp giảm thiểu khối lượng công việc và tình trạng kiệt sức cho nhân viên và sau đó sẽ giúp họ làm việc chính xác và an toàn hơn [22, 58, 70, 85, 86]
Trang 3523
Đào tạo liên tục
Các nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố tổ chức, bao gồm đào tạo liên tục và giáo dục nhân viên trong việc cải thiện sự an toàn của người bệnh, việc đào tạo tốt sẽ ảnh hưởng tích cực đến VHATNB [47, 49, 51, 71, 87]
Các yếu tố khác
Sự sẵn có và phù hợp của nguồn lực bao gồm chính sách, thủ tục, thiết bị, vật
tư, môi trường vật lý, công nghệ và hồ sơ bệnh án trong các tổ chức chăm sóc sức khỏe là những yếu tố chính để cung cấp dịch vụ an toàn [22, 49, 50, 69, 74, 87]
1.7 Giới thiệu Bệnh viện Truyền máu Huyết học
Bệnh viện Truyền máu Huyết học là bệnh viện hạng I theo quyết định số 1893/QĐ-UBND của Ủy Ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/04/2014 Bệnh viện có vai trò là Ngân hàng máu lớn nhất của TP.HCM có nhiệm vụ tiếp nhận, sàng lọc, điều chế, cấp phát máu và các thành phần máu cho tất cả các bệnh viện trong thành phố, tổ chức vận động hiến máu tình nguyện để có đủ nguồn máu cung cấp cho các bệnh viện Đồng thời là Bệnh viện chuyên khoa Huyết học đầu ngành, tuyến cuối cùng của các tỉnh phía Nam về điều trị các bệnh máu ác tính, lành tính Có đầy đủ các xét nghiệm kỹ thuật cao để chẩn đoán, điều trị các bệnh lý huyết học bao gồm cả hóa trị liệu theo phác đồ chuẩn và ghép tế bào gốc tạo máu Ngân hàng Tế bào gốc TP.HCM, nơi lưu trữ Tế bào gốc máu ngoại vi và máu cuống rốn
để phục vụ cho công tác ghép tủy/tế bào gốc để điều trị một số bệnh lý huyết học lành tính, ác tính Bệnh viện cũng là nơi thực tập của các trường: Đại học Y Dược TP.HCM, Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, Đại học Quốc gia TP.HCM Thực hiện công tác chỉ đạo tuyến cho khu vực phía Nam về lĩnh vực Huyết học – Truyền máu
Bệnh viện Truyền máu Huyết học với đặc thù là bệnh viện chuyên khoa huyết học, chủ yếu điều trị bệnh lý huyết học lành tính và ác tính nên việc thực hiện truyền máu rất thường xuyên Trung bình mỗi ngày, bệnh viện truyền chế phẩm máu cho hơn một trăm người bệnh Tai biến truyền nhầm nhóm máu là một tai biến chết người Vì vậy việc phòng tránh truyền nhầm nhóm máu là việc hết sức quan
Trang 36trọng và thiết yếu Các sai sót như truyền nhầm nhóm máu là điều không được phép xảy ra tại bệnh viện Vì vậy, công tác đảm bảo an toàn người bệnh tại bệnh hết sức được chú trọng
Thực hiện các khuyến cáo của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh và Bộ Y tế, BV.TMHH cũng đã thực hiện rất nhiều các giải pháp nhằm đảm bảo ATNB tại bệnh viện Nâng cao văn hóa an toàn người bệnh cũng là một trong những mục tiêu bệnh viện hướng đến để tạo một môi trường an toàn và tích cực cho cả người bệnh
và nhân viên y tế
Bên cạnh vấn đề chuyên môn, BV.TMHH luôn đặt vấn đề chất lượng lên hàng đầu trong mọi lĩnh vực hoạt động Cùng với sự quyết tâm của Ban Giám đốc, Bệnh viện đã kiên trì và không ngừng nỗ lực một cách đồng bộ hướng đến đạt chuẩn chất lượng trong nước và quốc tế, bao gồm: Đạt mức 4 trở lên theo Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện, đạt chuẩn ISO 9001:2015 cho hệ thống quản lý chất lượng bệnh viện, chuẩn chất lượng xét nghiệm quốc tế ISO 15189, chuẩn chất lượng quốc tế GMP (Good Manufacturing Practices) huyết tương cho Ngân hàng máu [15]
Hiện nay, BV.TMHH có 559 nhân viên, tỉ lệ nam/ nữ là 174/ 381 Cơ cấu tổ chức gồm: 09 phòng chức năng và 02 bộ phận; 21 khoa lâm sàng và cận lâm sàng Bệnh viện có đội ngũ nhân sự trình độ cao với trình độ Tiến sĩ chiếm khoảng 2%, CKII 2,1%, CKI 4,5%, Thạc sĩ 8,3%, Đại học 51,3%, Cao đẳng 10,9% và đối tượng khác
Với Slogan “Bền vững – Tận tâm – Hiệu quả”, Ban lãnh đạo mong muốn xây
dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp, cống hiến hết mình vì sự phát triển bền vững của bệnh viện Nhân viên y tế phục vụ người bệnh bằng tất cả tấm lòng và đạo đức nghề nghiệp trong khám bệnh, điều trị và chăm sóc người bệnh Tất cả sự chuyên nghiệp và tận tâm được thể hiện qua hiệu quả công việc, mang lại kết quả điều trị tối ưu nhất cho người bệnh “Hiệu quả” trên mọi phương diện cũng là mong muốn chung của tập thể BV.TMHH từ các cấp lãnh đạo đến từng nhân viên
Trang 3725
KHUNG LÝ THUYẾT
Khung lý thuyết được xây dựng dựa theo mô hình Moray về nền tảng VHATNB tại bệnh viện [78] cùng nghiên cứu “A Narrative Synthesis of Qualitative Studies Conducted to Assess Patient Safety Culture in Hospital Settings” [53]
Đặc điểm dân số xã hội và
Kinh nghiệm làm việc
Số giờ làm việc mỗi tuần
Công việc tiếp xúc với người bệnh
Yếu tố liên quan đến NVYT
Sự hỗ trợ của lãnh đạo về ATNB
Hệ thống báo cáo sự cố và văn hóa
không buộc tội
Đào tạo, tập huấn ATNB
Sự sẵn có của quy trình, quy định,
hướng dẫn
Đủ nhân sự làm việc
Hoạt động kiểm tra, giám sát
Môi trường làm việc: Cơ sở vật
chất, hạ tầng, trang thiết bị
Yếu tố liên quan đến người bệnh
Sự quá tải người bệnh
Nhận thức về dịch vụ y tế
Sự tham gia của người bệnh và
người nhà trong quá trình KCB
Văn hóa an toàn người bệnh
12 lĩnh vực bao gồm:
1 Làm việc nhóm trong khoa
2 Quan điểm và hành động của ban phụ trách khoa về ATNB
3 Học tập - cải tiến liên tục
4 Hỗ trợ của lãnh đạo về ATNB
5 Nhận thức về ATNB
6 Thông tin, phản hồi về sai sót
7 Tần suất báo cáo sự cố
8 Cởi mở trong thông tin về sai sót
9 Làm việc nhóm giữa các khoa
Số lượng sự cố được báo cáo
Hình 1.3: Khung lý thuyết nghiên cứu
Trang 38CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên y tế (NVYT) làm việc tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học tính từ thời điểm tiến hành nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Nhân viên y tế làm làm việc tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng Bệnh viện Truyền máu Huyết học từ 6 tháng trở lên tính tại thời điểm nghiên cứu
- Nhân viên y tế đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
- NVYT đang trong thời gian học tập trung, nghỉ thai sản hay vắng mặt dài hạn
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Tháng 3/2019 đến tháng 8/2019; thời gian thu thập số liệu từ tháng 5/2019 đến tháng 6/2019
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại cả 2 cơ sở của Bệnh viện Truyền máu Huyết học gồm: Cơ sở 1 - Địa chỉ: 118 Hồng Bàng, Phường 12, Quận 5, TP HCM và cơ
sở 2 – Địa chỉ: 201 Phạm Viết Chánh, Phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, TP HCM
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính Nghiên cứu định lượng được thực hiện trước nhằm mô tả thực trạng VHATNB tại bệnh viện Nghiên cứu định tính được thực hiện sau nhằm giải thích cho kết quả định lượng và tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng VHATNB tạị bệnh viện
Trang 3927
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Mẫu nghiên cứu định lượng
n: Cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu
Z: Trị số phân phối chuẩn, độ tin cậy 95%, Z=1,96
p : Tỷ lệ ước tính đối tượng nghiên cứu đánh giá tích cực về VHATNB, lấy p=0,65 (dựa vào tỷ lệ trả lời tích cực ở 12 lĩnh vực VHATNB của nghiên cứu “Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học năm 2017) [9]
d : Sai số chấp nhận, d=0,05
Từ công thức trên ta tính được cỡ mẫu: n=350 người; với số lượng NVYT làm việc tại khối lâm sàng và cận lâm sàng là 422 người, chúng tôi sử dụng công thức hiệu chỉnh cỡ mẫu với quần thể nhỏ: nhc = 350×422
350+422 = 191 người Theo tài liệu hướng dẫn của Tổ chức AHRQ, tỷ lệ mong đợi hoàn thành khảo sát là 50% [54] Vì vậy,
để dự phòng đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu và các đối tượng thuộc tiêu chuẩn loại trừ, cỡ mẫu cần lấy là: 191× 2 = 382 người
2.4.1.2 Chọn mẫu
Cỡ mẫu cần lấy trong nghiên cứu này là 382 người (chiếm hơn 90% quần thể nghiên cứu) Bên cạnh đó, theo khuyến cáo của tổ chức AHRQ càng nhiều nhân viên tham gia khảo sát, sẽ nhiều khả năng đại diện đầy đủ cho dân số; và cỡ mẫu được đề nghị là với dân số nghiên cứu 500 thì nên lấy mẫu toàn bộ [54] Vì vậy, chúng tôi quyết định phát vấn toàn bộ nhân viên y tế làm việc tại các khoa lâm sàng
và cận lâm sàng thỏa tiêu chuẩn lựa chọn (407 người) Trên thực tế, nhóm nghiên cứu đã thu thập số liệu được từ 289 NVYT
Trang 402.4.2 Mẫu cho nghiên cứu định tính
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện 5 cuộc phỏng vấn sâu với: Ban giám đốc, ban phụ trách các khoa lâm sàng, cận lâm sàng và phòng chức năng Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng đã tổ chức 02 cuộc thảo luận nhóm trên các đối tượng bác sĩ và điều dưỡng để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB tại bệnh viện
Bảng 2.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu định tính
Khối công tác Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Phỏng vấn sâu
Ban giám đốc 01 Phó giám đốc bệnh viện
Phòng chức năng 01 BPT Phòng Quản lý chất lượng (nam)
01 BPT Phòng Điều dưỡng (nữ) Lâm sàng 01 BPT Khoa Huyết học trẻ em 1 (nữ)
Cận lâm sàng 01 BPT Khoa Huyết sinh học (nam)
Thảo luận nhóm
Nhóm 1: Bác sỹ 4 nữ, 02 nam; Tuổi từ 27 – 37
Khối công tác: 4 lâm sàng, 02 cận lâm sàng Thâm niên công tác: 3 – 13 năm; 5 tiếp xúc trực tiếp với NB, 01 không tiếp xúc trực tiếp NB
Nhóm 2: Điều
dưỡng
5 nữ, 01 nam; Tuổi từ 23 – 38 Khối công tác: 4 lâm sàng, 02 cận lâm sàng Thâm niên công tác: 2 – 17 năm; 5 tiếp xúc trực tiếp với NB, 01 không tiếp xúc trực tiếp NB