Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương .... Một số yếu tố ảnh hưởng đến Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bện
Trang 1
LÊ PHƯỚC TRIỆU
THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN TRƯNG VƯƠNG TP HỒ CHÍ MINH
NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
Hà Nội - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÊ PHƯỚC TRIỆU
THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN TRƯNG VƯƠNG TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ cơ quan, tổ chức và cá nhân Nghiên cứu khoa học cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, bệnh viện, các tổ chức nghiên cứu, tổ chức chính trị đã giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần từ phía gia đình, bạn bè
và các đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TSBS Lê Nguyễn Quyền - người trực tiếp hướng dẫn khoa học tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu
và hoàn thành Luận văn;
Kế tiếp, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến THS Vũ Thị Thanh Mai - người luôn dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi hoàn thiện phương pháp nghiên cứu cho Luận văn của mình;
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Y tế công cộng, cùng toàn thể các thầy cô giáo công tác trong trường đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!
Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 10 năm 2018
Học viên
Lê Phước Triệu
Trang 4MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số định nghĩa 4
1.2 Công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh - Bộ câu hỏi HSOPSC 7
1.3 Tình hình khảo sát Văn hóa An toàn người bệnh trên thế giới và trong nước 9 1.3.1 Trên Thế giới 9
1.3.2 Tại Việt Nam 11
1.4 Thông tin về Bệnh viện Trưng Vương 12
1.4.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển 12
1.4.2 Chức năng 13
1.5 Khung lý thuyết 15
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 16
2.1.2 Đối tượng loại trừ 16
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
2.3 Thiết kế nghiên cứu 16
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 16
2.4.1 Nghiên cứu định lượng: 16
2.4.2 Nghiên cứu định tính: 17
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 18
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng 18
2.5.2 Thu thập thông tin định tính 18
2.6 Công cụ nghiên cứu: 18
2.7 Biến số nghiên cứu 19
2.8 Tiêu chuẩn thang đo đánh giá 19
Trang 52.9 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 20
2.10 Y đức 21
2.11 Hạn chế, sai số và cách khắc phục 21
2.11.1 Hạn chế 21
2.11.2 Sai số và biện pháp khắc phục 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
3.1 Thực trạng Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương năm 2018 23
3.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 23
3.1.2 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương 25
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương 35
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 40
4.1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương 40
4.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 40
4.1.2 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương 40
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương 44
KẾT LUẬN 45
KHUYẾN NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 1: Khảo sát ý kiến về an toàn người bệnh 51
PHỤ LỤC 2: Hướng dẫn phỏng vấn sâu (Dành cho cán bộ L nh đạo bệnh viện) 61
PHỤ LỤC 3: Hướng dẫn phỏng vấn sâu (Dành cho cán bộ quản lý khoa/phòng) 62
PHỤ LỤC 4: Hướng dẫn phỏng vấn sâu (Dành cho Bác sĩ, Điều dưỡng các khoa) 63
PHỤ LỤC 5: Bảng biến số 64
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AHRQ: Agency for healthcare research and Quality (Cơ quan chất
lượng và nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ)
ATNB: An toàn người bệnh
HSOPCS: Hospital Survey on patien Safety Culture (Bộ câu hỏi khảo sát
văn hóa an toàn người bệnh) VHATNB: Văn hóa an toàn người bệnh
WHO: Tổ chức y tế thế giới
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu
NVYT: Nhân viên y tế
BHYT: Bảo hiểm y tế
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số lượng nhân viên phân tầng theo tỉ lệ tại khoa/phòng 17
Bảng 2.2: Thang điểm đánh giá [10], [16] 20
Bảng 3.1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (n = 388) 23
Bảng 3.2: Đánh giá về An toàn người bệnh tại các khoa/phòng 25
Bảng 3.3: Ý kiến về l nh đạo khoa/phòng 27
Bảng 3.4: Ý kiến về trao đổi thông tin trong khoa/phòng 30
Bảng 3.5: Ý kiến về báo cáo sự cố 31
Bảng 3.6: Đánh giá mức độ an toàn người bệnh của khoa 32
Bảng 3.7: Ý kiến về Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế 32
Bảng 3.8: Báo cáo sự cố của l nh đạo khoa cho bệnh viện 34
Bảng 3.9: Văn hóa an toàn người bệnh về khoa/phòng và đặc điểm mẫu nghiên cứu 35
Bảng 3.10: Văn hóa an toàn người bệnh về l nh đạo và đặc điểm mẫu nghiên cứu 36
Bảng 3.11: Văn hóa an toàn người bệnh về bệnh viện và đặc điểm mẫu nghiên cứu 37
Bảng 3.12: Đánh giá mức độ an toàn người bệnh và đặc điểm mẫu nghiên cứu 38
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
X hội ngày phát triển theo hội nhập quốc tế, đòi hỏi nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho mỗi người dân ngày càng tăng cao Điều này đòi hỏi các cơ sở y tế, công lập và tư nhân, bắt buộc phải cải tiến chất lượng, thực hiện các biện pháp để nâng cao chất lượng, từ đó, đáp ứng đầy đủ và nhanh chóng các nhu cầu của người dân Nhằm nâng cao chất lượng điều trị cũng như tính an toàn cho người bệnh Việc thiết lập một hành lang an toàn cho người bệnh thông qua việc nâng cao văn hóa an toàn người bệnh là hoạt động cần thiết nhằm thay đổi những suy nghĩ, thái
độ và hành vi của nhân viên y tế theo chiều hướng tích cực, đảm bảo vấn đề an toàn đối với người bệnh cũng như tăng sự hài lòng của người bệnh tại Bệnh viện Trưng Vương thành phố Hồ Chí Minh, đề tài “Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương thành phố
Hồ Chí Minh năm 2018” được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2018
Với thiết kế cắt ngang mô tả, thông qua hình thức phát vấn và phỏng vấn sâu khi chọn mẫu chủ đích trên 386 nhân viên y tế công tác từ 6 tháng trở lên của bệnh viện; sử dụng bộ câu hỏi khảo sát ý kiến về văn hóa an toàn người bệnh của Cơ quan nghiên cứu chất lượng và chăm sóc sức khỏe Hoa Kỳ, đề tài đặt ra hai mục tiêu là mô tả thực trạng Văn hóa an toàn người bệnh và xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại bệnh viện
Kết quả cho thấy, tỉ lệ cao nhất 65,72% NVYT tham gia nghiên cứu không có báo cáo sự cố trong vòng 06 tháng qua, tỉ lệ 22,94% có báo cáo từ 1 - 2 trường hợp, 7,22% báo cáo từ 3 - 5 trường hợp, 2,06% báo cáo từ 6 - 10 trường hợp, 1,8% báo cáo từ 11 - 20 trường hợp và chỉ có 1 nhân viên báo cáo trên 20 trường hợp
Trung bình điểm Văn hoá ATNB chung là 108,38 ± 8,87 điểm Điểm số dao động từ 85 đến 142 điểm, 50% số người tham gia có mức điểm dao động từ 102 -
113 điểm trở lên
Nghiên cứu tìm thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa điểm trung bình chung VHATNB với giới tính và nhóm tuổi người tham gia Trong đó, nam giới có điểm số trung bình VHATNB là 111,89 ± 9,88 điểm, cao hơn so với nữ giới
Trang 9là 106,88 ± 7,96 điểm Điểm số trung bình VHATNB cao nhất ở nhóm từ 40 - 50 tuổi là 109,12 ± 8,52 điểm, tiếp theo là nhóm nhỏ hơn 30 tuổi là 108,84 ± 8,63 điểm, nhóm từ 50 tuổi trở lên là 108,35 ± 11,67 điểm và thấp nhất là nhóm 30 - 40 tuổi 107,75 ± 8,30 điểm
Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy, mỗi khoa có cách phân công công việc
và sắp xếp công việc một cách riêng, thiếu sự thống nhất giữa các khoa/phòng chung trong Bệnh viện Báo cáo sự cố bằng văn bản, hoặc điện thoại, hoặc email, hoặc sổ báo cáo về phòng QLCL, để từ đó, phòng QLCL đề ra giải pháp thích hợp
và thiết thực cho từng tình huống sự cố, phổ biến rộng r i đến các khoa/phòng
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
An toàn người bệnh (ATNB) là đảm bảo cho người bệnh được an toàn trong quá trình chăm sóc, điều trị, không để xảy ra các tổn thương bất ngờ; là thiết lập hệ thống và các quy trình quản lý sao cho giảm thiểu tối đa các sai sót và gia tăng khả năng ngăn chặn kịp thời các sự cố [15]
Trên thế giới, qua kết quả một số nghiên cứu, ghi nhận hơn 2/3 số biến cố bất lợi trong số mẫu mà nghiên cứu thu thập được có thể ngăn ngừa được [24] Ở Úc, 18.000 trường hợp tử vong và hơn 50.000 bệnh nhân bị tàn tật do sai sót y khoa [31] (Weingart, 2000) Tại Mỹ, ước tính mỗi năm có khoảng 44.000 đến 98.000 bệnh nhân chết và hơn một triệu người bị tàn tật do sai sót y khoa [23]
Tại Việt Nam, tình hình tai biến điều trị, sự cố y khoa tại tất cả các cơ sở chăm sóc sức khỏe trong những năm gần đây đ trở thành một vấn đề được x hội quan tâm Tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) trên người bệnh được phẫu thuật tại một số bệnh viện trên toàn quốc chiếm từ 4,1% đến 7,9%, trong đó tỉ lệ NKVM cao ở nhóm người bệnh phẫu thuật ruột non (19,5%), đại tràng (11%) và dạ dày (7,9%) [1] Văn hóa an toàn người bệnh (VHATNB) là một phương thức mà an toàn người bệnh được tư duy, cấu trúc và thực hiện tại bệnh viện Xây dựng văn hoá an toàn người bệnh là hoạt động quan trọng nhằm thay đổi theo chiều hướng tích cực suy nghĩ, thái độ và hành vi của nhân viên y tế liên quan đến ATNB Đây cũng là một yêu cầu cấp thiết cho các bệnh viện trong cả nước trước những thách thức của các lĩnh vực khác lên ngành y tế và cũng nhằm đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của người dân trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe
Nhằm quản lý tốt công tác khám chữa bệnh, đồng thời nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và ưu tiên vấn đề về an toàn người bệnh, Bộ Y tế đ ban hành Thông tư 19/2013/TT-BYT ngày 12 tháng 7 năm 2013 về hướng dẫn triển khai hoạt động quản lý chất lượng bệnh viện, yêu cầu các bệnh viện phải triển khai 7 nội dung đảm bảo ATNB tại Điều 7 [5]; Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011[4] về hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện nhằm đảm bảo an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật khi chăm sóc
Trang 11người bệnh tại Điều 15 tại Bệnh viện Trưng Vương, VHATNB đ được thực hiện trước đó Tuy nhiên, ghi nhận tỉ lệ tích cực về các lĩnh vực liên quan còn thấp, nên cần tập trung để thực hiện cải tiến như cởi mở thông tin về sai sót, hành xử không buộc tội, bàn giao và chuyển bệnh, nhân lực, tần suất báo cáo sự cố, nhận thức về ATNB, làm việc nhóm giữa các khoa, phòng Các thông tin về sai sót, sự cố y khoa không được chia sẻ báo cáo dẫn đến tình trạng lặp đi lặp lại các lỗi này, gây phiền
hà cho người bệnh, làm giảm chất lượng khám chữa bệnh cũng như sự hài lòng của người bệnh đối với dịch vụ của bệnh viện [6]
Như vậy, thực trạng vấn đề văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương như thế nào? Và có những yếu tố nào ảnh hưởng của nhân viên y tế đến VHATNB tại Bệnh viện Trưng Vương Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018? Xuất phát từ những vấn đề cấp bách nêu trên, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu
“Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018”
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018
2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Trưng Vương, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số định nghĩa
Bệnh viện
Theo Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh viện là một bộ phận của một tổ chức mang tính chất y học và x hội, có chức năng đảm bảo cho nhân dân được săn sóc toàn diện về y tế cả chữa bệnh và phòng bệnh Công tác khám bệnh ngoại trú của bệnh viện tỏa tới các hộ gia đình đặt trong môi trường của nó Bệnh viện còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu sinh vật x hội [3], [7]
Nhiệm vụ chung của bệnh viện
Bệnh viện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh và có các nhiệm vụ sau [3]:
Khám bệnh, chữa bệnh: Bệnh viện là nơi tiếp nhận mọi người bệnh đến cấp
cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú, tổ chức khám và chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà nước
Đào tạo cán bộ: Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế Các
thành viên trong bệnh viện phải mẫu mực trong thực hiện quy chế bệnh viện và quy định kỹ thuật bệnh viện
Nghiên cứu khoa học: Bệnh viện là nơi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa
học, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người bệnh
Chỉ đạo tuyến: Hệ thống các bệnh viện được tổ chức theo tuyến kỹ thuật
Tuyến trên có trách nhiệm chỉ đạo kỹ thuật cho tuyến dưới
Phòng bệnh: là nhiệm vụ quan trọng của bệnh viện song song với khám bệnh,
chữa bệnh
Hợp tác quốc tế: Theo đúng các quy định của Nhà nước
Quản lý kinh tế trong bệnh viện: Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của
Nhà nước về thu, chi ngân sách của bệnh viện; từng bước tổ chức thực hiện việc hạch toán chi phí về khám bệnh, chữa bệnh trong bệnh viện
Trang 14Phân loại bệnh viện
Theo Quyết định số 1895/1997/QĐ - BYT ngày 19/9/1997 về việc ban hành Quy chế bệnh viện của Bộ Y tế, Bệnh viện đa khoa được chia làm 4 hạng:
Bệnh viện hạng II
Là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc khu vực các huyện trong tỉnh và các ngành; có đội ngũ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu, có trang bị thích hợp, đủ khả năng hỗ trợ cho bệnh viện hạng III
Bệnh viện hạng III
Là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố và các ngành, có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân một huyện hoặc một số huyện, quận trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các ngành Bệnh viện
có đội ngũ cán bộ chuyên môn, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng phù hợp [3]
An toàn người bệnh (ATNB)
- An toàn người bệnh là nguyên tắc cơ bản nhất trong chăm sóc sức khỏe Bất
kì hoạt động chăm sóc người bệnh nào cũng ẩn chứa các nguy cơ không an toàn [18]
- An toàn người bệnh được hiểu là ngăn ngừa những nguy hại đến người bệnh, chú trọng vào hệ thống chăm sóc sức khỏe với việc ngăn ngừa sai sót, rút kinh
Trang 15nghiệm từ những sai sót đ xảy ra và xây dựng một nền văn hóa an toàn, chuyên nghiệp [18]
Nhân viên y tế (NVYT) (trích dẫn)
Nhân viên y tế là tất cả những người tham gia vào hoạt động mà mục đích là nhằm nâng cao sức khỏe
Nhân viên y tế là toàn bộ gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: Bác sĩ, Điều dưỡng, Y tế công cộng, Dược sĩ, kỹ thuật viên, những người quản lý và nhân viên khác
Văn hóa an toàn người bệnh (VHATNB)
Văn hóa an toàn người bệnh là tập hợp những giá trị, thái độ, niềm tin, nhận thức và những quy tắc quy phạm về an toàn của mọi nhân viên trong một bệnh viện [30] VHATNB thể hiện năm thuộc tính văn hóa mà nhân viên y tế cần nỗ lực đưa vào thao tác thông qua việc triển khai thực hiện các hệ thống quản lý an toàn người bệnh mạnh mẽ, năm thuộc tính đó là [30], [31], [32]
Theo tác giả Tăng Chí Thượng, VHATNB là phương thức mà ATNB được tư duy, cấu trúc và thực hiện tại một số bệnh viện [9] Theo tác giả Cooper (2000), văn hóa an toàn người bệnh gồm 3 phần tử cấu thành là [9]:
- Nhận thức về an toàn, liên quan đến kiến thức thái độ của nhân viên;
- Hành vi về an toàn, liên quan đến hoạt động của nhân viên;
- Trạng thái an toàn của tổ chức, liên quan đến cách thức quản lý, các chính sách, quy trình hoạt động trong một tổ chức
Có 5 chỉ số đánh giá văn hóa ATNB bao gồm [9]:
- Sự l nh đạo, quản lý (Leadership);
- Thông tin hiệu quả (Effective communication) có trong bệnh viện;
- Sự tham gia của nhân viên y tế (Employee involvement);
- Văn hóa học hỏi từ sai sót (Learning culture);
- Văn hóa buộc tội (Attitude towards blame - Blame culture)
VHATNB là một yếu tố quan trọng của chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Khi các tổ chức chăm sóc sức khỏe liên tục cải tiến chất lượng, nhận thức về tầm quan trọng của việc thiết lập một thiết chế văn hóa an toàn cho người bệnh
Trang 16ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, để thiết lập được hành lang VHATNB, đòi hỏi sự hiểu biết về giá trị, niềm tin, định mức về những gì là quan trọng trong một
tổ chức và những thái độ, hành vi liên quan đến an toàn bệnh nhân được hỗ trợ, khen thưởng, và mong đợi [13], [33]
Văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong nâng cao ATNB Theo báo cáo của Hiệp hội sức khỏe về “Văn hóa an toàn người bệnh: Cách đo lường và kiểm soát” tại Anh Quốc năm 2013, VHATNB ảnh hưởng rất tích cực đến người bệnh cũng như nhân viên y tế Cụ thể, đối với người bệnh, VHATNB giúp giảm các sự cố lâm sàng, giảm tỉ lệ sai sót trong sử dụng thuốc, tỉ lệ tái nhập viện, thời gian nằm viện và biến chứng do phẫu thuật; trong đó, đối với nhân viên, gia tăng tỉ lệ báo cáo sự cố, giảm sự cố cho điều dưỡng và giảm tỉ lệ nghỉ việc của nhân viên [29]
1.2 Công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh - Bộ câu hỏi HSOPSC
Mục đích của nghiên cứu về VHATNB nhằm cung cấp một chỉ số hữu hình về thực trạng hoạt động ATNB của từng bệnh viện, đồng thời, là cơ sở để theo dõi - can thiệp - đánh giá các giải pháp nâng cao chất lượng ATNB [34], [35]
Trên thế giới, có nhiều bộ công cụ khảo sát VHATNB được xây dựng và sử dụng, nhưng trong đó, bộ công cụ khảo sát văn hóa ATNB tại bệnh viện (Hospital Survey on patien Safety Culture - HSOPSC) của Cơ quan chất lượng và nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ (AHRQ) được nhiều bệnh viện trên thế giới sử dụng Vì bộ công
cụ được xây dựng chuyên dụng cho các bệnh viện, có tính khả thi cao, có thể dùng
để so sánh giữa các nước trên thế giới với nhau và đặc biệt, bộ công cụ này khảo sát toàn bộ VHATNB trong bệnh viên, chứ không chỉ khảo sát thái độ an toàn (Safety climate) như nhiều bộ công cụ khác [9]
Ở Việt Nam, Bộ câu hỏi HSOPSC đ được việt hóa và đánh giá tính tin cậy thông qua nghiên cứu của tác giả Tăng Chí Thượng năm 2016 [10] Do đó, trong đề tài nghiên cứu này tôi sử dụng bộ công cụ này để khảo sát
Bộ câu hỏi HSOPSC của AHRQ gồm 42 câu hỏi đánh giá 12 lĩnh vực chăm sóc, sử dụng thang đo Likert gồm 5 mức độ, tương đương từ 1 đến 5 điểm; trong đó, với những câu hỏi thuận (tích cực) rất đồng ý được tính 5 điểm và rất không đồng ý
Trang 17được 1 điểm Ngược lại với các câu hỏi nghịch (tiêu cực), rất đồng ý được tính 1 điểm và rất không đồng ý được 5 điểm (các câu hỏi ngược là A5, A7, A8, A10, A12, A14, A16, A17, B3, B4, C6, F2, F3, F5, F6, F7, F9, F11)[10], [16]
Phiếu khảo sát: Bảng câu hỏi HSOPSC - VN2015
Văn hóa an toàn người bệnh được đo lường thông qua 12 lĩnh vực chia thành
03 nhóm: phạm vị từng khoa, toàn bệnh viện và các kết quả khảo sát liên quan đến ATNB được liệt kê như sau:
A Lĩnh vực về văn hóa an toàn trong phạm vi từng khoa, có 7 lĩnh vực được chia 3 đến 4 câu hỏi tùy theo từng nhóm phù hợp:
- Làm việc nhóm trong khoa (4 câu hỏi),
- L nh đạo khoa khuyến khích ATNB (4 câu hỏi),
- Học tập - cải tiến liên tục (3 câu hỏi),
- Thông báo phản hồi sai sót (3 câu hỏi),
- Cởi mở trong thông tin về sai sót (3 câu hỏi),
- Nhân lực (4 câu hỏi),
- Hành xử không buộc tội khi có sai sót (3 câu hỏi)
B Lĩnh vực về văn hóa an toàn trong phạm vi toàn bệnh viện, có 3 lĩnh vực được chia 3 đến 4 câu hỏi tùy theo từng nhóm phù hợp:
- Hỗ trợ của l nh đạo bệnh viện (3 câu hỏi),
- Làm việc nhóm giữa các khoa (4 câu hỏi),
- Bàn giao và chuyển bệnh (4 câu hỏi)
C Lĩnh vực về kết quả liên quan đến ATNB, có 2 lĩnh vực được chia 3 đến 4 câu hỏi tùy theo từng nhóm phù hợp:
- Nhận thức về ATNB (4 câu hỏi),
- Tần suất báo cáo sự cố (3 câu hỏi)
Từ 12 lĩnh vực trên được tóm tắt qua Khung lý thuyết nghiên cứu (Hình 1.1)
Trả lời tích cực: Số ý kiến hoặc tỉ lệ trả lời tích cực Trả lời tích cực được định
nghĩa là khi câu trả lời “đồng ý” hoặc “rất đồng ý” đối với câu hỏi tích cực; “không đồng ý” hoặc “rất không đồng ý” đối với câu hỏi tiêu cực
Trang 181.3 Tình hình khảo sát Văn hóa An toàn người bệnh trên thế giới và trong nước
1.3.1 Trên Thế giới
Trên thế giới, ước tính có khoảng 44.000 đến 98.000 trường hợp người Mỹ chết mỗi năm do các sai sót y khoa, vượt qua con số tử vong do tai nạn giao thông, ung thư và bệnh AIDS, với tổng tổn thất quốc gia (mất thu nhập, giảm năng suất lao động, khuyết tật, chi phí y tế) ước tính vào khoảng 37,6 tỷ đến 50 tỷ đô-la [23] Tại Anh, cứ mỗi 35 giây lại xảy ra 1 sự cố y khoa có hại và chỉ có khoảng 5% trong số chúng được báo cáo [30] Tại một số quốc gia phát triển khác, sự cố y khoa xảy ra cho khoảng 10% số bệnh nhân nội trú và ước tính khoảng 75% số sự cố có thể phòng tránh được [13], [32], [33]
Một số quốc gia phát triển đ thực hiện những nghiên cứu trên diện rộng về an toàn người bệnh Tại Mỹ, nghiên cứu về khảo sát đánh giá an toàn người bệnh năm
2012 của cơ quan nghiên cứu y tế và chất lượng (Agency for Healthcare Research
and Quality) trên 567.703 nhân viên y tế thuộc 1.128 bệnh viện Khảo sát cho thấy,
mức độ mà nhân viên hỗ trợ lẫn nhau, đối xử với nhau một cách tôn trọng và làm việc cùng nhau như một nhóm với tỉ lệ phản ứng tích cực trung bình cao nhất là 80%, có 75% nhân viên cho rằng việc giám sát/quản lý của người giám sát xem xét các đề xuất của nhân viên để cải thiện sự an toàn của bệnh nhân, khen ngợi nhân viên và không bỏ qua các vấn đề an toàn của bệnh nhân Về vấn đề học tập tổ chức - cải tiến liên tục - mức độ mà những sai lầm đ dẫn đến những thay đổi tích cực và những thay đổi được đánh giá hiệu quả, có 72% nhân viên có phản ứng tích cực Vấn đề hỗ trợ quản lý an toàn cho bệnh nhân có 72% đưa ra phản ứng tích cực Khảo sát cũng cho thấy, có 56% đưa ra ý kiến rằng nhân sự luôn có đủ để xử lý khối công việc và giờ làm việc phù hợp để cung chấp dịch vụ chăm sóc tốt nhất [13]
Một nghiên cứu “An toàn người bệnh” thực hiện năm 2007 tại Bỉ của Johan
H và cộng sự khảo sát trên tổng số 3.940 nhân viên Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ cao
nhất là “làm việc theo nhóm trong khoa” chiếm 70%, tỉ lệ đáp ứng thấp nhất là sự
“hỗ trợ của l nh đạo bệnh viện” chiếm 30% [22]
Trang 19Nghiên cứu “Đo lường văn hóa an toàn bệnh nhân ở Đài Loan bằng cách sử dụng khảo sát bệnh viện về HSOPSC” được Chen I thực hiện năm 2010 tại 42 bệnh viện ở Đài Loan, cho thấy tỉ lệ đáp ứng cao nhất là “làm việc theo nhóm trong khoa” chiếm 94%, tỉ lệ đáp ứng thấp nhất là yếu tố “nhân lực” chiếm 39% [20] Nghiên cứu “Văn hóa an toàn bệnh nhân” của Tabrizchi N và Sedaghat M tại các trung tâm y tế chính của Iran năm 2012, cho thấy tỉ lệ đáp ứng cao nhất là “làm việc theo nhóm giữa các khoa với nhau” chiếm 77%, tỉ lệ đáp ứng thấp nhất là yếu
tố “văn hoá không buộc tội” chiếm 17% [21]
Theo nghiên cứu “Đánh giá an toàn bệnh nhân ở bệnh viện Slovak” của Veronika Mikušová và cộng sự năm 2011, tỉ lệ đáp ứng cao nhất là “nhận thức về
an toàn người bệnh” chiếm 74%, tỉ lệ đáp ứng thấp nhất là “làm việc theo nhóm giữa các khoa với nhau” chiếm 35%, vấn đề “hỗ trợ quản lý bệnh viện cho các vấn
đề an toàn của bệnh nhân” chiếm 39% Kết quả của nghiên cứu này đ đưa ra được những điểm mạnh cần phát huy và điểm yếu cần phải khắc phục [25]
Nghiên cứu của tác giả Andrej Robida tại 3 bệnh viện ở Slovenia năm 2010 với 1.745 phiếu HSOPSC được phát ra và thu về 1.048 phiếu đạt chất lượng Phân tích cho thấy, hai nhóm yếu tố VHATNB được đánh giá đáp ứng cao là: làm việc theo nhóm trong khoa phòng và sự hỗ trợ của l nh đạo trong cải tiến chất lượng ATNB Trong khi đó, hai yếu tố nhân sự và văn hóa không trừng phạt được đánh giá có tỉ lệ đáp ứng (TLĐƯ) thấp [26]
Nghiên cứu của tác giả Annemie Vlayen về VHATNB nhằm thiết lập các ưu tiên cho một kế hoạch đảm bảo an toàn người bệnh trong 5 năm (từ 2007 đến 2012) trên 180 bệnh viện tại Bỉ, kết quả cho thấy phần nội dung thấp điểm (< 40%) thuộc
về các nhóm yếu tố: sự hỗ trợ của l nh đạo, văn hóa không trừng phạt, bàn giao - chuyển bệnh trong tổ chức và làm việc nhóm giữa các khoa, phòng [27]
Nghiên cứu của tác giả Yanli Nie năm 2013 tại 32 bệnh viện ở 15 thành phố của Trung Quốc của 1.160 NVYT, cho thấy TLĐƯ ở các yếu tố khảo sát dao động
từ 36% - 89%; trong đó, ba yếu tố làm việc nhóm trong khoa phòng, cải tiến liên tục/học tập một cách hệ thống và văn hóa không trừng phạt, có TLĐƯ cao hơn so với các dữ liệu của AHRQ công bố [28]
Trang 201.3.2 Tại Việt Nam
Nghiên cứu của tác giả Tăng Chí Thượng và cộng sự về “Khảo sát văn hóa an toàn người bệnh” tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012, cho thấy tỉ lệ phản hồi tích cực chung ở 12 nhóm lĩnh vực là 69%, cao hơn so với Đài Loan (64%) [9] và Hoa Kỳ (61%) [7]; tỉ lệ trả lời tích cực cao tập trung ở các lĩnh vực: làm việc nhóm trong khoa, hỗ trợ của bệnh viện trong việc khuyến khích ATNB, thông tin phản hồi và học tập cải tiến liên quan đến ATNB Trong khi đó, các lĩnh vực như: sự phối hợp giữa các khoa/phòng, phối hợp giữa các khoa trong bàn giao chuyển bệnh, thiếu nhân sự, cởi mở trong thông tin về sai sót, tần suất báo cáo sự cố và nhất là “hành xử không buộc tội khi có sai sót” có nhiều phản hồi không tích cực [8]
Nghiên cứu “Khảo sát thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại các bệnh viện Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Tăng Chí Thượng năm 2016 trên 1.379 nhân viên y tế ở 43 bệnh viện thành phố Hồ Chí Minh về 12 lĩnh vực ATNB, cho thấy đa phần các nhân viên có ý kiến tích cực về VHATNB trong bệnh viện Trong đó, phần lớn phản hồi tích cực tập trung ở các lĩnh vực làm việc nhóm trong khoa, l nh đạo khoa khuyến khích ATNB, học tập - cải tiến liên tục, hỗ trợ của l nh đạo bệnh viện về ATNB, làm việc nhóm giữa các khoa Tuy nhiên, vẫn còn nhiều lĩnh vực tồn tại như cởi mở trong thông tin về sai sót, thiếu nhân sự, hành xử không buộc tội khi có sai sót và tần suất báo cáo sự cố [9]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Nguyễn Như Anh (2015) về văn hóa
an toàn người bệnh tại Bệnh viện Từ Dũ, ghi nhận rằng các khoa/phòng luôn đặt vấn đề an toàn người bệnh lên hàng đầu, hơn là cố gắng hoàn thành thật nhiều việc chiếm 86%, hầu hết khoa/phòng (93%) cho rằng họ có những quy trình và biện pháp hiệu quả để phòng ngừa sai sót xảy ra Trung bình, có 92,3% đối tượng nghiên cứu có những trả lời rất tích cực trong lĩnh vực làm việc theo ê kíp trong khoa/phòng, mọi người trong khoa luôn sẵn lòng hỗ trợ nhau (95,4%), luôn tôn trọng nhau (90,8%), họ luôn làm việc theo nhóm để hoàn thành các công việc mang tính khẩn cấp (91,7%) và luôn tự giác hỗ trợ lẫn nhau khi khoa bị quá tải công việc (91,4%) [2]
Trang 21Nghiên cứu “Khảo sát thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y
tế tại Bệnh viện Trưng Vương, năm 2017” của tác giả Lâm Mỹ Dung, cho thấy tỉ lệ trả lời tích cực về vấn đề “mọi người trong khoa luôn hỗ trợ lẫn nhau” cao nhất với 96,2%; 76,4% có câu trả lời tích cực chung khi áp lực công việc tăng cao, l nh đạo khoa luôn muốn nhân viên làm việc nhanh hơn ngay cả khi không tuân thủ đủ các bước của các qui trình; câu trả lời tích cực với quan điểm khoa chủ động triển khai các hoạt động để đảm bảo ATNB có tỉ lệ cao chiếm 94,0 %; vấn đề “l nh đạo khoa luôn nói lời động viên khi nhân viên tuân thủ các quy trình đảm bảo toàn NB” có tỉ
lệ câu trả lời tích cực chiếm 89,6%; có 89,3% nhân viên có câu trả lời tích cực rằng
“khoa có những qui trình và biện pháp hiệu quả để phòng ngừa sai sót xảy ra” [6]
1.4 Thông tin về Bệnh viện Trưng Vương
1.4.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển
Bệnh viện Trưng Vương được tiếp quản từ Bệnh xá Sản - Nhi (trước năm 1975) chủ yếu tiếp nhận và điều trị vợ con của binh sĩ chế độ cũ Tháng 4 năm 1975 đến 1987, Bệnh viện Trưng Vương tiếp nhận và điều trị cho cán bộ sơ-trung cấp của thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân ở các quận 10, 11, Tân Bình, huyện Hóc Môn,
Củ Chi
Từ năm 1987 đến năm 1999, Bệnh viện Trưng Vương là một trong những bệnh viện đa khoa trực thuộc Sở Y tế, với chức năng nhiệm vụ khám/chữa bệnh cho nhân dân tập trung ở các quận/huyện phía tây bắc Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm: Quận 11, 12, Tân Bình, Tân Phú, Huyện Hóc Môn, Củ Chi
Tháng 8 năm 1999, Bệnh viện Trưng Vương tiếp nhận khoa Cấp cứu ngoại viện của Bệnh viện đa khoa Sài Gòn và Bệnh viện Trưng Vương đổi tên thành Trung tâm Cấp cứu Trưng Vương Tháng 8 năm 2003, Trung tâm Cấp cứu Trưng Vương được đổi tên thành Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương
Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương là Bệnh viện đa khoa trực thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện thực hiện hai chức năng chính: đảm nhận công tác cấp cứu, điều trị cấp cứu, vận chuyển và điều hành hệ thống cấp cứu của Thành phố Hồ Chí Minh với số điện thoại cấp cứu 115
Trang 22Năm 2014, sau khi tách khoa Cấp cứu ngoại viện, Bệnh viện đổi tên từ Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương thành Bệnh viện Trưng Vương, là bệnh viện đa khoa hạng I, trực thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh với quy mô 700 giường bệnh, chỉ tiêu biên chế được giao năm 2017 là 998 biên chế Bệnh viện có chức năng, nhiệm vụ: Cấp cứu - Khám bệnh - Chữa bệnh; Đào tạo; Nghiên cứu khoa học; Chỉ đạo tuyến; Phòng bệnh; Hợp tác quốc tế; Quản lý kinh tế y tế Bệnh viện có 10 Phòng chức năng, 21 Khoa Lâm sàng và 06 Khoa Cận lâm sàng Tổng số công chức, viên chức, người lao động hiện có: 941 người
Khoa Khám bệnh Bệnh viện Trưng Vương gồm 48 bàn khám với đầy đủ các chuyên khoa Khoa Khám bệnh là khoa lâm sàng có nhiệm vụ: tổ chức và tiếp nhận người bệnh đến khám bệnh, chọn lọc người bệnh vào điều trị nội trú; thực hiện công tác điều trị ngoại trú và hướng dẫn chăm sóc sức khoẻ ban đầu; tổ chức khám sức khoẻ định kỳ; theo dõi tình hình bệnh tật để có biện pháp ngăn ngừa bệnh tật; tổ chức dây chuyền khám sức khỏe Khoa Khám bệnh được tổ chức quy trình một chiều theo quy định, có đủ thiết bị y tế và biên chế phục vụ theo phân hạng của bệnh viện Hiện nay, số lượt khám trung bình tại khoa Khám bệnh đạt trên 2.500 lượt/ngày, đòi hỏi chất lượng dịch vụ y tế ngày càng cao Bộ Y tế đ ban hành Quyết định 1313/QĐ - BYT ngày 22 tháng 4 năm 2013 về việc hướng dẫn Quy trình khám bệnh nhằm cải tiến quy trình khám, rút ngắn thời gian chờ, tránh gây phiền hà và gia tăng sự hài lòng của người bệnh bảo hiểm y tế (BHYT), đảm bảo tính hợp lý và công bằng giữa người bệnh có BHYT và người bệnh không có BHYT
1.4.2 Chức năng
* Cấp cứu, điều trị và vận chuyển cấp cứu (chức năng cấp cứu ngoại viện)
Là bệnh viện duy nhất được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Sở
Y tế Thành phố Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ tiếp nhận các trường hợp người bệnh cấp cứu từ các nơi chuyển đến Ngoài ra, Bệnh viện còn sẵn sàng đi cấp cứu và điều trị tại chỗ cho người dân khi gọi đến số điện thoại 115 là nơi chỉ huy, điều hành các
đội xe cấp cứu tại các bệnh viện quận, huyện tham gia cấp cứu, vận chuyển cấp cứu
Trang 23* Chức năng là một Bệnh viện đa khoa hạng I
Bệnh viện Trưng Vương thực hiện đầy đủ các chức năng của một Bệnh viện
đa khoa hạng I theo Quy chế bệnh viện do Bộ Y tế ban hành, cụ thể:
- Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh;
- Đào tạo cán bộ y tế;
- Tham gia nghiên cứu khoa học về y học;
- Công tác chỉ đạo tuyến;
- Phòng bệnh;
- Tổ chức khám sức khỏe cho các đơn vị;
- Hợp tác quốc tế;
- Quản lý kinh tế y tế
* Tình hình khám chữa bệnh tại Bệnh viện Trưng Vương
Bệnh viện có trên 700 giường nội trú với hiệu suất hoạt động 100% Hàng ngày, Bệnh viện tiếp nhận trên 1.500 người bệnh đến khám và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại khoa Khám bệnh
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Cán bộ/nhân viên y tế (NVYT) công tác tại bệnh viện từ 6 tháng trở lên tính đến thời điểm nghiên cứu
2.1.2 Đối tượng loại trừ
- Mới tuyển dụng hoặc hợp đồng lao động có thời gian làm việc <6 tháng;
- Đang đi học hoặc đi công tác;
- Hiện đang nghỉ ốm đau, thai sản;
- Đối tượng vắng mặt quá 2 lần khi hẹn gặp khảo sát;
- Đối tượng trả lời không quá 80% bộ câu hỏi, hoặc bỏ trống bất kì đánh giá nào đối với thang đo HSOPSC - VN2015 nếu không liên hệ lại được đối tượng;
- Những đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 8 năm 2018
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Trưng Vương, thành phố Hồ Chí Minh 2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng kết hợp phương pháp định lượng và định tính
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng:
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức ước tính một tỉ lệ cho nghiên cứu cắt ngang:
Trong đó:
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Z21-α/2 : Hệ số tin cậy mức 95%, tương ứng là 1,96
p = 0,5 (Tỉ lệ đáp ứng tích cực chung về VHATNB của nhân viên y tế Tuy nhiên, bộ câu hỏi đánh giá tỉ lệ tích cực theo từng thành phần khảo sát, chưa có tỉ lệ
Trang 26đáp ứng chung Do đó, nghiên cứu sử dụng giá trị p= 0,5 để đạt giá trị lớn nhất với d= 0,05)
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu phân tầng theo tỉ lệ tại khoa/phòng
Dựa vào số lượng NVYT theo từng khoa/phòng của Phòng Tổ chức cán bộ, chia thành 3 khối chức năng: hành chính, lâm sàng và cận lâm sàng, tiến hành chọn mẫu phân tầng theo tỉ lệ được chọn như bảng 2.1
Bảng 2.1: Số lượng nhân viên phân tầng theo tỉ lệ tại khoa/phòng
Chức năng Số đối tượng Xác suất Cỡ mẫu thực tế
2.4.2 Nghiên cứu định tính:
Chọn mẫu có chủ đích, thực hiện 6 cuộc phỏng vấn sâu đối với từng đối
tượng nghiên cứu được chọn, cụ thể như sau:
- 01 thành viên trong Ban Giám đốc,
- 01 thành viên là quản lý phòng chức năng,
- 02 thành viên quản lý khoa Lâm sàng,
Trang 27- 01 thành viên quản lý khoa Cận lâm sàng,
- 01 Bác sĩ hoặc Điều dưỡng khoa Lâm sàng
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Tổ chức thu thập số liệu theo từng khoa/phòng Nghiên cứu viên có mặt tại điểm thu thập thông tin giải thích các thắc mắc của đối tượng khi tham gia nghiên cứu, thực hiện phỏng vấn lần lượt từng đối tượng
- Khi gặp trường hợp đối tượng được chọn vắng mặt hoặc không muốn tham gia tại thời điểm điều tra, nghiên cứu viên tiến hành khảo sát người kế tiếp trong danh sách cán bộ nhân viên của khoa do Phòng Tổ chức cán bộ cung cấp từ ban đầu
để đảm bảo đủ lượng mẫu cần thiết nghiên cứu
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng
Sử dụng bộ câu hỏi “Khảo sát ý kiến về an toàn người bệnh” trong nghiên cứu
“Khảo sát văn hoá an toàn người bệnh tại bệnh viện Nhi đồng 1 năm 2012" do tác giả Tăng Chí Thượng và cộng sự thực hiện, có chỉnh sửa một số cấu trúc cho phù hợp mục tiêu nghiên cứu và đặc thù thực tế của nghiên cứu (phụ lục 1) Số liệu được thu thập bằng hình thức thông qua phát vấn đến đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) Sau khi chuyển bộ câu hỏi đến ĐTNC, điều tra viên phát vấn trực tiếp
2.5.2 Thu thập thông tin định tính
Thông tin định tính được thu thập thông qua phỏng vấn sâu đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là l nh đạo bệnh viện, quản lý phòng chức năng, quản lý khoa Lâm sàng, quản lý khoa Cận lâm sàng và đại diện 1 Bác sĩ hoặc điều dưỡng khoa Lâm sàng (ở phụ lục 2, 3, 4)
2.6 Công cụ nghiên cứu:
Nhóm nghiên cứu của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh do TSBS Tăng Chí Thượng làm chủ nhiệm đề tài “Khảo sát văn hóa an toàn người bệnh tại các bệnh viện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” năm 2015, đ chuyển đổi bộ câu hỏi HSOPSC khảo sát ý kiến về ATNB của tổ chức AHRQ thực hiện ở nhiều nước trên thế giới sang phiên bản tiếng việt Bộ câu hỏi việt hóa này được Tổ chức Y tế trên thế giới công nhận và ghi nhận Việt Nam là quốc gia thứ 33 thực hiện nghiên cứu
về VHATNB từ tháng 6 năm 2016 và có độ tin cậy cao Do đó, trong đề tài nghiên
Trang 28cứu này tôi sử dụng bộ công cụ này gồm gồm 42 câu hỏi đánh giá 12 lĩnh vực chăm sóc kèm theo bộ câu hỏi phỏng vấn sâu sau khi chọn mẫu chủ đích
Trên cơ sở đó Bệnh viện Trưng Vương sử dụng bộ câu hỏi này để tìm hiểu thực trạng VHATNB của NVYT và đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng của nhân viên y tế
2.7 Biến số nghiên cứu
Ngoài các biến số thông tin chung về nhân khẩu học, x hội học và nghề nghiệp của ĐTNC, nghiên cứu bao gồm các biến số về ATNB của khoa/phòng (17 câu), của bệnh viện (19 câu); mức độ quan tâm xử lý các sự cố ATNB của l nh đạo bệnh viện (4 câu); vấn đề trao đổi thông tin trong khoa/phòng (6 câu); số lượng sự
cố, tần suất báo cáo các sự cố (3 câu) tại các khoa/phòng (đính kèm bảng biến số chi
tiết ở phụ lục 5)
2.8 Tiêu chuẩn thang đo đánh giá
Thang đo Likert 5 cấp độ được m hóa thành 2 nhóm VHATNB tại điểm cắt
là 4 điểm: nhóm “Tích cực” có số điểm ≥ 4 điểm và nhóm “Chưa tích cực” có số điểm < 4 điểm đối với từng lĩnh vực đưa ra; từ đó, tính được số lượng NVYT thuộc mỗi nhóm trên tổng số 31 lĩnh vực [10], [16]
Nhóm biến ý kiến về VHATNB tại khoa có 18 quan điểm được sử dụng (từ A1 - A18) Trong đó, có 8 quan điểm tiêu cực thể hiện mất an toàn cho người bệnh
và gây áp lực ATNB cho nhân viên là (A5, A7, A8, A10, A12, A14, A16, A17) Việc xây dựng thang đo bao gồm các quan điểm trái ngược nhau sẽ hạn chế những sai chệch do sự đồng ý hay phản đối theo dây chuyền
Tương tự, nhóm biến ý kiến về l nh đạo khoa, phòng có 4 quan điểm được sử dụng (từ B1 - B4), trong đó có 2 quan điểm tiêu cực là B3, B4
Nhóm biến ý kiến về bệnh viện có 11 quan điểm (từ F1 - F11), trong đó có 8 quan điểm tiêu cực là F2, F3, F5, F6, F7, F9, F11
Biến số “đáp ứng VHATNB” là biến đầu ra cuối cùng, được xác định như sau: với giả thiết mỗi câu hỏi đánh giá sự “đáp ứng” của NVYT là như nhau, tổng số 31 quan điểm sẽ có tối thiểu là 31 điểm và tối đa là 155 điểm
Trang 29Mức điểm được coi là “Tích cực” khi điểm trung bình cộng của 31 quan điểm ≥
124 điểm, dưới mức điểm này được coi là nhóm “đáp ứng chưa tích cực”
Bảng 2.2: Thang điểm đánh giá [10], [16]
Điểm tối thiểu - tối đa
Điểm chuẩn của thang
đo
Đáp ứng ATNB Tích cực
Chưa tích cực
1 Ý kiến về VHATNB tại khoa 17 17 - 85 68 ≥ 68 < 68
2 Về ATNB của l nh đạo khoa 4 4 - 20 16 ≥ 16 < 16
3 Ý kiến về VHATNB tại bệnh
+ Số liệu sau khi làm sạch được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích
bằng phần mềm SPSS 16.0 gồm: Mô tả các thông tin về nhân khẩu học, nghề nghiệp và x hội học của nhân viên y tế tham gia vào nghiên cứu
+ Dùng kiểm định khi bình phương tìm các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB + Sử dụng kiểm định khi bình phương và phép kiểm Fisher với giá trị p < 0,05
để xác định có hay không mối liên quan giữa biến số đặc tính mẫu nghiên cứu, biến
số về thông tin nhân viên y tế, biến số về văn hóa an toàn người bệnh
- Xử lý và phân tích số liệu định tính: Băng ghi âm các cuộc phỏng vấn sâu được gỡ, đánh máy dưới dạng văn bản Word Nghiên cứu viên đọc nội dung các cuộc PVS để m hóa thông tin Phương pháp phân tích theo chủ đề được áp dụng Kết quả phân tích thông tin định tính nhằm bổ sung, giải thích cho kết quả định lượng Một số thông tin do đối tượng nghiên cứu cung cấp được trích dẫn, minh họa cho kết quả nghiên cứu
Trang 30- Đối tượng nghiên cứu có quyền rút khỏi nghiên cứu bất kì lúc nào
- Các thông tin thu thập được chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu, được bảo đảm bảo mật
- Đối tượng nghiên cứu không bị hao mòn về thể chất, không bị ảnh hưởng tâm lý
2.11 Hạn chế, sai số và cách khắc phục
2.11.1 Hạn chế
- Nghiên cứu chỉ thực hiện tại một trong những Bệnh viện hạng I trực thuộc
Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh, không thể khái quát hóa cho toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh tại thời điểm tiến hành nghiên cứu
- Công cụ nghiên cứu chủ yếu dựa vào phiếu thu thập thông tin nên cũng phụ thuộc vào sự hiểu biết các nội dung phiếu thu thập của người tiến hành thu thập thông tin
- Nội dung phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm phụ thuộc nhiều vào kỹ năng phỏng vấn của người hỏi và khả năng người tham gia Do đó, việc cung cấp thông tin thiếu chính xác là rất dễ xảy ra
2.11.2 Sai số và biện pháp khắc phục
Sai số do thu thập thông tin (các thông tin được thu thập không đầy đủ, nghiên cứu viên giải đáp, gợi ý câu trả lời…), sai số do nhập liệu hoặc đối tượng ghi nhận không chính xác so với thực tế
Biện pháp khắc phục:
- Tập huấn kỹ lưỡng cách phỏng vấn cũng như toàn bộ thông tin ảnh hưởng cho điều tra viên để hạn chế tối đa sai số trong quá trình thu thập số liệu
Trang 31- Nội dung phỏng vấn sâu rõ ràng, dễ hiểu Người thực hiện phỏng vấn phải tìm hiểu rõ nội dung và những vấn đề liên quan đến chủ đề nghiên cứu để đảm bảo cuộc phỏng vấn đúng chủ đề và đạt yêu cầu
- Kiểm tra từng phiếu điều tra sau mỗi buổi phỏng vấn, các thông tin sai lệch hoặc ghi nhận thiếu cần liên hệ lại với đối tượng để xác minh
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương năm 2018
3.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu khảo sát chọn ra 385 nhân viên trong tổng số 692 nhân viên theo công thức lấy mẫu Tuy nhiên, trên thực tế nghiên cứu chúng tôi lấy 388 mẫu để phân tích (chiếm 56,07%)
Bảng 3.1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (n = 388)
Đặc điểm mẫu nghiên cứu Tần số (n) Tỉ lệ (%) Nhóm tuổi
Trang 33Đặc điểm mẫu nghiên cứu Tần số (n) Tỉ lệ (%)
và 21,45%
Trang 34Tỉ lệ đối tượng tham gia nghiên cứu với thâm niên công tác tại bệnh viện trên
10 năm chiếm tỉ lệ cao nhất 36,60%; thấp nhất là đối tượng có thâm niên công tác từ
1 đến 5 năm chiếm tỉ lệ 30,67% và từ 6 đến 10 năm chiếm tỉ lệ 32,73% Tỉ lệ đối tượng tham gia nghiên cứu có thời gian làm việc 40 tiếng/1 tuần chiếm tỉ lệ 42,01%,
do phần lớn NVYT phải trực ca NVYT tế có mức thu nhập từ 5-10 triệu/tháng chiếm 84,28%, trên 10 triệu/tháng là 7,73% và dưới 5 triệu/tháng là 7,99% Đa số đối tượng tham gia trong nghiên cứu có tiếp xúc với người bệnh chiếm tỉ lệ (81,96%)
3.1.2 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương
Bảng 3.2: Đánh giá về An toàn người bệnh tại các khoa/phòng
Lĩnh vực khảo sát
Tỉ lệ (%)
X ± SD Tích cực Chưa tích
tất trong thời gian ngắn, nhân
viên trong khoa luôn làm việc
theo nhóm để hoàn thành
354 (91,24) 34 (8,76) 4,01 ± 0,55
Mọi người trong khoa luôn tôn
Nhân viên trong khoa phải làm
việc nhiều thời gian hơn qui định
để có thể chăm sóc người bệnh tốt
nhất
256 (65,98) 132 (34,02) 3,55 ± 0,89
Khoa chủ động triển khai các hoạt
động để đảm bảo an toàn người 354 (91,24) 34 (8,76) 4,01 ± 0,59
Trang 35Lĩnh vực khảo sát
Tỉ lệ (%)
X ± SD Tích cực Chưa tích
cực
bệnh
Khoa phải sử dụng nhiều nhân
viên thời vụ hơn để có thể chăm
sóc người bệnh tốt nhất
99 (25,52) 289 (74,48) 2,78 ± 0,97
Nhân viên trong khoa cảm thấy bị
thành kiến khi có sai sót 79 (20,36) 309 (79,64) 2,70 ± 0,83 Các sai sót xảy ra đ giúp khoa có
những thay đổi theo chiều hướng
tích cực hơn
69 (17,78) 319 (82,22) 3,81 ± 0,63
Sai sót nghiêm trọng ở khoa
không xảy ra là do may mắn 89 (22,94) 299 (77,06) 2,63 ± 0,94 Khi một đơn vị hoặc một bộ phận
trong khoa trở nên bận rộn thì
nhân viên trong khoa luôn hỗ trợ
lẫn nhau để hoàn thành công việc
344 (88,66) 44 (11,34) 3,98 ± 0,64
Khi có một sự cố xảy ra, cứ như
là một cá nhân được nêu tên chứ
không phải một vấn đề được nêu
ra để phân tích nguyên nhân
107 (27,58) 281 (72,42) 2,76 ± 0,92
Sau khi thực hiện các thay đổi để
cải tiến an toàn người bệnh, khoa
có đánh giá hiệu quả của các can
thiệp thay đổi
Trang 36Lĩnh vực khảo sát
Tỉ lệ (%)
X ± SD Tích cực Chưa tích
cực
Không bao giờ khoa “hy sinh” sự
an toàn của người bệnh để đánh
đổi làm được nhiều việc hơn
200 (48,45) 188 (51,55) 3,20 ± 1,11
Nhân viên lo lắng các sai sót của
họ bị ghi nhận vào hồ sơ cá nhân 149(38,40) 239(61,6) 3,09
Bảng 3.3: Ý kiến về lãnh đạo khoa/phòng
Lĩnh vực khảo sát
Tỉ lệ (%)
X ± SD Tích cực Chưa tích
cực
L nh đạo khoa luôn nói lời động viên
khi nhân viên tuân thủ các qui trình
đảm bảo an toàn người bệnh
340 (87,63) 48 (12,37) 3,97 ± 0,55
L nh đạo khoa luôn xem xét nghiêm
túc các đề xuất của nhân viên trong
việc cải tiến an toàn người bệnh
343 (88,4) 45 (11,6) 3,96 ± 0,55
Trang 37Lĩnh vực khảo sát
Tỉ lệ (%)
X ± SD Tích cực Chưa tích
cực
Khi áp lực công việc tăng cao, l nh đạo
khoa luôn muốn nhân viên làm việc
nhanh hơn ngay cả khi không tuân thủ
đủ các bước của các qui trình
62 (15,98) 326
(84,02) 2,42 ± 0,85
L nh đạo khoa bỏ qua các vấn đề an
toàn người bệnh dù biết các lỗi cứ lập
bỏ qua các vấn đề an toàn người bệnh dù biết các lỗi cứ lặp đi lặp lại” với điểm trung bình là 2,18 ± 0,76 và tỉ lệ tích cực là 8,51% Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng l nh đạo bệnh viện luôn quan tâm và nhận biết được tầm quan trọng của an toàn người bệnh Kết quả phỏng vấn sâu cũng cho thấy l nh đạo luôn quan tâm và
muốn tìm ra hướng giải quyết các sự cố xảy ra: “… Hướng giải quyết là họp nhân
viên khoa để bàn bạc, thống nhất giải quyết, tránh những sai sót đó…." (PVS -
Quản lý khoa LS); "…Cái lỗi mà lặp đi, lặp lại nhiều lần thì trước nhất mình cũng
phải xem xét khi người ta có lỗi thì mình đã cái vấn đề, những lỗi lần đầu mình đã nhắc nhở tới chưa, đủ mạnh chưa để mà tạo cho người ta 1 cái thay đổi để đừng có
vi phạm Và dĩ nhiên lỗi lặp đi lặp lại mà là lỗi quan trọng thì mình có phải có biện pháp xử lý Và cũng theo quy chế, quy định và luật".(PVS - L nh đạo phòng)
Trang 38Ý kiến “khi áp lực công việc tăng cao, l nh đạo khoa luôn muốn nhân viên làm việc nhanh hơn ngay cả khi không tuân thủ đủ các bước của các qui trình” có tỉ lệ nhân viên trả lời tích cực là 15,98%
Trang 39Bảng 3.4: Ý kiến về trao đổi thông tin trong khoa/phòng
Lĩnh vực khảo sát
Tỉ lệ (%)
X ± SD Tích cực Chưa
tích cực
Nhân viên trong khoa được phản hồi về
những biện pháp cải tiến đ được thực
hiện dựa trên những báo cáo sự cố
263 (67,78) 125
(32,22) 3,73 ± 0,74 Nhân viên có thể thoải mái nói ra khi họ
thấy có những vấn đề ảnh hưởng không
tốt đến chăm sóc người bệnh
253 (65,21) 135
(34,79) 3,71 ± 0,81 Nhân viên được thông tin về các sai sót
86 (22,16) 3,93 ± 0,79 Nhân viên cảm thấy thoải mái trong việc
Khoa có tổ chức thảo luận các biện pháp
để phòng ngừa sai sót tái diễn 253 (65,21)
135 (34,79) 3,69 ± 0,80 Nhân viên ngại hỏi khi thấy những việc
306 (78,87) 2,89 ± 0,91
Kết quả nghiên cứu về đánh giá ATNB trong vấn đề trao đổi thông tin trong khoa phòng cho thấy: điểm trung bình đánh giá cao nhất là “nhân viên được thông tin về các sai sót xảy ra trong khoa” là 3,93 ± 0,79 điểm và tỉ lệ tích cực là 77,84%; thấp nhất là “nhân viên cảm thấy thoải mái trong việc chất vấn những quyết định hoặc hành động của l nh đạo khoa/ l nh đạo bệnh viện” với điểm trung bình là 3,05
± 1,01 và tỉ lệ tích cực là 32,22%; tiếp đến là “nhân viên trong khoa được phản hồi
về những biện pháp cải tiến đ được thực hiện dựa trên những báo cáo sự cố” chiếm
tỉ lệ là 67,78% tích cực, với điểm trung bình là 3,73 ± 0,74 điểm Điều này cho thấy văn hóa ghi nhận báo cáo sự cố tại bệnh viện đ và đang dần thực hiện nghiêm túc,
Trang 40thường xuyên, đi vào nề nếp Công khai số điện thoại đường dây nóng và địa chỉ email trực tiếp nhận xử lý và giải đáp các thắc mắc của người dân là việc làm cần thiết và là hướng đi đúng về ATNB nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh hướng tới sự hài lòng người bệnh của Bộ Y tế
Bảng 3.5: Ý kiến về báo cáo sự cố
Lĩnh vực khảo sát
Tỉ lệ (%)
X ± SD Tích cực Chưa tích
Sai sót xảy ra nhưng không có khả
năng gây hại cho người bệnh 243 (62,63) 145 (37,37) 3,67 ± 0,83 Sai sót xảy ra, đáng lẽ gây hại cho
người bệnh nhưng (may mắn) chưa
gây hại
259 (66,75) 129 (33,25) 3,76 ± 0,83
Kết quả nghiên cứu về ATNB trong báo cáo sự cố cho thấy khi có sai sót xảy
ra thì tỉ lệ nhân viên có câu trả lời tích cực về báo cáo chiếm từ khoảng 62% - 67% Kết quả phỏng vấn cho thấy trong việc báo cáo sự cố, nhân viên vẫn còn cảm thấy e ngại khi báo cáo, sợ việc báo cáo bị ảnh hưởng đến cá nhân người mắc lỗi cũng như
đến toàn khoa: “Giống như tự tố giác mình vậy đó Nếu như cái người khác làm sai
mà mình báo cáo thì sợ mất lòng đồng nghiệp với nhau, giống như bắt tội người khác á Rồi cái nữa là sợ bị ảnh hưởng danh tiếng cá nhân và tập thể" (PVS - Quản
lý khoa LS) Tuy nhiên, những nhân viên đ biết được tầm quan trọng và mục đích của việc báo cáo sự cố, thì họ luôn sẵn sàng và chủ động báo cáo khi gặp sự cố y
khoa: "…khi gặp sự cố thì nhân viên mình chủ động báo cáo đó Có thể là báo cáo
bằng văn bản, hoặc điện thoại, hoặc email, hoặc sổ báo cáo về phòng QLCL của bệnh viện mình." (PVS - Điều dưỡng); "Theo mình, báo cáo sự cố trong bệnh viện mình rất quan trọng Nó sẽ phòng ngừa được sai sót, rủi ro chuyên môn Đồng thời