Sinh viên trường Y là những nhân viên y tế tương lai, trong quá trình học tập lâm sàng tại các bệnh viện, cũng có vai trò quan trọng trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, một nghiên cứu
Trang 1LƯƠNG ANH VŨ
KIẾN THỨC VỀ VỆ SINH TAY VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI HỌC LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
XANH PÔN NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 8 72 07 01
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Phạm Văn Tân
2 PGS TS Vũ Phong Túc
THÁI BÌNH – 2020
Trang 2BVĐK Bệnh viện Đa khoa
CĐHA Chẩn đoán hình ảnh KSNK Kiểm soát nhiễm khuẩn
NKBV Nhiễm khuẩn bệnh viện NVYT Nhân viên y tế
VSV Vi sinh vật VST Vệ sinh tay WHO World Health Organization
Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám Hiệu, Phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học, Khoa Y tế Công cộng Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn tới TS Phạm Văn Tân và PGS.TS Vũ Phong Túc là hai người thầy đã trực
tiếp hướng dẫn và tư vấn cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám đốc Sở Y tế Thành phố Hà Nội, Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn và Ban giám hiệu Trường Cao đẳng Y
tế Hà Nội, anh chị em đồng nghiệp đã phối hợp và tạo điều kiện giúp tôi điều tra, thu thập xử lý số liệu kịp thời, chính xác góp phần quan trọng cho việc hoàn thành bản luận văn
Tôi xin cảm ơn tới những người thân trong gia đình cùng bạn bè, đồng nghiệp đã chia sẻ động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Học viên
Lương Anh Vũ
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là: Lương Anh Vũ, học viên chuyên ngành Thạc sĩ Y tế công cộng K16 năm học 2018-2020
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Văn Tân và PGS.TS Vũ Phong Túc
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp nhận của nơi nghiên cứu
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều cam đoan trên
Tác giả luận văn
Lương Anh Vũ
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm 3
1.1.1 Vệ sinh tay thường quy và vệ sinh tay vô khuẩn 3
1.1.2 Nhiễm khuẩn bệnh viện 4
1.2 Các tác nhân gây bệnh trên bàn tay 5
1.2.1 Một số tác nhân gây bệnh trên bàn tay 5
1.2.2 Bằng chứng lan truyền tác nhân gây bệnh qua bàn tay 6
1.2.3 Đường lây truyền qua bàn tay 10
1.2.4 Hiệu quả vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 11
1.3 Thực trạng vệ sinh tay trên Thế giới và Việt Nam 12
1.3.1 Trên Thế giới 12
1.3.2 Tại Việt Nam 17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu 22
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 22
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 23
2.2.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu 23
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin và các kỹ thuật áp dụng 24
2.2.4 Tiêu chuẩn đánh giá 25
2.3 Biến số trong nghiên cứu 31
2.3.1 Kiến thức về vệ sinh tay của sinh viên đang học lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn 31
Trang 62.3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về vệ sinh tay của sinh viên
đang học lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn 31
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 31
2.5 Tổ chức nghiên cứu 32
2.6 Sai số và cách khống chế sai số 32
2.7 Đạo đức nghiên cứu 32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đánh giá kiến thức về vệ sinh tay của sinh viên 33
3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức vệ sinh tay 48
3.3 Phỏng vấn sâu ban lãnh đạo bệnh viện và thảo luận nhóm sinh viên 50
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 55
4.1 Đánh giá kiến thức về vệ sinh tay thường quy của sinh viên 55
4.2 Một số yếu tố liên quan kiến thức vệ sinh tay 64
KẾT LUẬN 74
KHUYẾN NGHỊ 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 33Bảng 3.2 Phân bố chuyên ngành theo năm học 34Bảng 3.3 Tỷ lệ sinh viên được đào tạo vệ sinh tay theo chuyên ngành 34Bảng 3.4 Kiến thức đúng của sinh viên về đường lan truyền mầm bệnh
phổ biến nhất 35Bảng 3.5 Kiến thức của sinh viên về yếu tố lan truyền chủ yếu của
nhiễm khuẩn bệnh viện 36Bảng 3.6 Kiến thức đúng của sinh viên về vệ sinh tay khi đi lâm sàng 37 Bảng 3.7 Thời điểm vệ sinh tay ngăn ngừa mầm bệnh cho nhân viên y tế 38Bảng 3.8 Kiến thức đúng của sinh viên về vệ sinh tay 39Bảng 3.9 Kiến thức đúng của sinh viên về các phương pháp vệ sinh tay
cần thiết trong một số tình huống 40Bảng 3.10 Kiến thức của sinh viên về những yếu tố nguy hại nên tránh
lây lan từ bàn tay nhân viên y tế 41Bảng 3.11 Điểm trung bình kiến thức chung về vệ sinh tay của sinh viên 42Bảng 3.12 Đánh giá chung về mức độ kiến thức vệ sinh tay theo điểm 43Bảng 3.13 Kiến thức của sinh viên về mức độ diệt khuẩn của rửa tay
thường quy 45Bảng 3.14 Kiến thức của sinh viên về mức độ diệt khuẩn của sát khuẩn
tay nhanh 45Bảng 3.15 Phương tiện cần thiết phục vụ cho việc vệ sinh tay thường quy 46Bảng 3.16 Loại khăn lau cần thiết phục vụ cho vệ sinh tay 46Bảng 3.17 Vị trí cần trang bị bồn rửa tay cho nhân viên y tế tại các khoa
phòng 47Bảng 3.18 Kiến thức đạt về vệ sinh tay của sinh viên theo chuyên ngành 48Bảng 3.19 Kiến thức đạt về vệ sinh tay của sinh viên theo giới tính 49Bảng 3.20 Kiến thức đạt về vệ sinh tay của sinh viên sau khi được đào tạo 49
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình ảnh 2.1: Năm thời điểm vệ sinh tay của nhân viên y tế 28Hình ảnh 2.2 6 bước vệ sinh tay theo quy định của Bộ Y tế 29
DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1 Sự thay đổi về kiến thức, thực hành và tần suất vệ sinh tay của
sinh viên trong thời gian diễn ra dịch COVID-19 50Hộp 3.2 Các biện pháp phối hợp với vệ sinh tay trong thời gian diễn ra
dịch COVID-19 51Hộp 3.3 Những công việc cần phối hợp với vệ sinh tay trong thời gian
diễn ra dịch COVID-19 52Hộp 3.4 Phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện 53Hộp 3.5 Phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện 54
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn Bệnh viện (NKBV) là một trong những thách thức và mối quan tâm rất lớn tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới Nhiều nghiên cứu cho thấy nhiễm khuẩn bệnh viện làm tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện, tăng chi phí điều trị Theo thống kê, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện chiếm khoảng 5- 10% ở các nước phát triển và 15- 20% ở các nước đang phát triển [1]
Có nhiều yếu tố gây ảnh hưởng nhiễm khuẩn bệnh viện như: môi trường
ô nhiễm, bệnh truyền nhiễm, xử lý dụng cụ, các thủ thuật xâm lấn, và con người trong bệnh viện nhưng trong đó một nguyên nhân khá phổ biến và rất quan trọng đó là bàn tay của nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc bệnh nhân Ô nhiễm bàn tay của nhân viên y tế (NVYT) là một mắt xích quan trọng trong nhiễm khuẩn bệnh viện
Tổ chức Y tế Thế giới khẳng định “Chăm sóc sạch là chăm sóc an toàn”
và “Vệ sinh tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện” Vệ sinh tay là một biện pháp khá đơn giản, chi phí thấp, dễ thực hiện rất hiệu quả để phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện và bảo
vệ nhân viên y tế [69]
Tại Việt Nam, theo số liệu được đưa ra trong đại hội của Hội Kiểm soát nhiễm khuẩn Hà Nội lần thứ nhất của bệnh viện Bạch Mai cho thấy mỗi trường hợp nhiễm khuẩn bệnh viện kéo dài thời gian nằm viện trung bình từ 9,4 đến 24,3 ngày và làm tăng chi phí điều trị trung bình từ 2-32,3 triệu đồng
Vệ sinh bàn tay được Bộ y tế xác nhận là biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn hàng đầu trong cơ sở khám chữa bệnh Công tác rửa tay trong khám chữa bệnh đã có từ rất lâu đời ở Việt Nam nhưng chưa được hệ thống hóa thành một lĩnh vực có tính chất chuyên môn, mà nằm rải rác trong một số quy chế chuyên môn Ngày 12/10/2007 Bộ Y tế đã có công văn 7517/BYT-ĐTR về
Trang 10việc hướng dẫn thực hiện quy trình rửa tay thường quy và sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch cồn nhằm hạn chế sự lây truyền dịch bệnh [1], [12]
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), rửa tay được coi là liều vaccine tự chế, rất đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả về chi phí Chỉ một động tác rửa tay sạch với nước và xà phòng đã làm giảm tới 35% khả năng truyền bệnh shigella, vốn là nguyên nhân gây các bệnh tiêu chảy và làm tử vong hàng triệu người mỗi năm trên thế giới Một số nghiên cứu cho thấy việc rửa tay có thể làm giảm nhiễm khuẩn đường hô hấp tới 19-45% [69] Sinh viên trường Y là những nhân viên y tế tương lai, trong quá trình học tập lâm sàng tại các bệnh viện, cũng có vai trò quan trọng trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, một nghiên cứu trên sinh viên điều dưỡng Trường Trung cấp Phương Nam đã chỉ ra chỉ có 55,8% học sinh vệ sinh tay trước khi thăm khám người bệnh và 78,3% có kiến thức đúng về vệ sinh tay thường quy [36] Nhằm đề xuất những giải pháp nâng cao
ý thức vệ sinh tay cho những nhân viên y tế tương lai, từ đó góp phần hạn chế hiễm khuẩn bệnh viện Vì vậy chúng tôi tiến hành triển khai thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Kiến thức về vệ sinh tay và một số yếu tố liên quan của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội học lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn năm 2019”
Mục tiêu nghiên cứu
1 Đánh giá kiến thức về vệ sinh tay của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế
Hà Nội đang học lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn năm 2019
2 Xác định yếu tố liên quan tới kiến thức về vệ sinh tay của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đang học lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa
Xanh Pôn năm 2019
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Vệ sinh tay thường quy và vệ sinh tay vô khuẩn
Các phương pháp vệ sinh tay thường áp dụng trong bệnh viện
1.1.1.1 Vệ sinh tay:
- Là một thuật ngữ chung để chỉ hoặc rửa tay bằng xà phòng thường, rửa
tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn Nhằm hạn chế sự phát triển của các vi sinh vật trên tay
1.1.1.2 Rửa tay thường quy với xà phòng thông thường:
- Là rửa tay với nước và xà phòng thường
- Tác dụng: Loại bỏ các vi khuẩn tạm trú ở mức độ trung bình, và được
áp dụng khi làm các công việc khám và chăm sóc thông thường
1.1.1.3 Vệ sinh tay thường quy với xà phòng diệt khuẩn
- Là rửa tay với nước và xà phòng khử khuẩn
- Tác dụng: Đào thải và diệt các vi khuẩn tạm trú, và được áp dụng khi làm các kỹ thuật đòi hỏi vô khuẩn ở mức độ trung bình
1.1.1.4 Sát khuẩn tay bằng cồn
- Là hình thức vệ sinh tay khi không có nước hoặc không có thời gian
- Tác dụng: Hiệu quả như vệ sinh tay bằng xà phòng diệt khuẩn, và được
áp dụng ở những nơi không có nước để vệ sinh tay thường quy và khi bàn tay không nhìn thấy dính máu và dịch cơ thể người bệnh
1.1.1.5 Chà tay khử khuẩn: Là chà toàn bộ bàn tay bằng dung dịch vệ sinh
tay chứa cồn (không dùng nước) nhằm làm giảm lượng vi khuẩn có trên bàn tay Những chế phẩm vệ sinh tay chứa cồn thường chứa 60% đến 90% cồn ethanol hoặc isopropanol hoặc kết hợp các loại cồn trên với một chất khử
khuẩn khác
Trang 121.1.1.6 Vệ sinh tay ngoại khoa: Là rửa tay khử khuẩn hoặc chà tay khử khuẩn
được kíp phẫu thuật thực hiện trước mọi phẫu thuật nhằm loại bỏ phổ vi
khuẩn vãng lai và định cư trên tay (từ bàn tay tới khuỷu tay) [13]
1.1.2 Nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiễm khuẩn bệnh viện hay còn gọi là nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế là các nhiễm khuẩn xảy ra trong quá trình người bệnh được chăm sóc, điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà không hiện diện hoặc ủ bệnh khi nhập viện Các nhiễm khuẩn xảy ra sau nhập viện 48 giờ (2 ngày) Tiêu chuẩn
để xác định và phân loại một số loại nhiễm khuẩn bệnh viện gồm kết hợp
chẩn đoán lâm sàng và các kết quả xét nghiệm khác
* Các nguyên nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện như:
- Do can thiệp thủ thuật, phẫu thuật trên người bệnh
- Do môi trường bệnh viện có nhiều nguy cơ
- Do sức đề kháng của người bệnh suy yếu vì bệnh tật
- Do vi khuẩn bệnh viện là những chủng vi khuẩn kháng thuốc
- Do dụng cụ y tế không đảm bảo vô khuẩn
- Do thực hành của nhân viên y tế
Tỷ lệ điều dưỡng viên của bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức có kiến thức chung đúng về KSNK là chỉ hơn một nửa (61,76%), có hiểu biết đúng về các vấn đề trong phòng chống NKBV chỉ ở mức trung bình: khử khuẩn tiệt khuẩn (58,82%); phòng ngừa chuẩn (52,21%); phòng ngừa nhiễm khuẩn huyết (49,26%); phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ (44,12%); về phòng ngừa viêm phổi bệnh viện (46,32%); tiêm an toàn (69,85%) Kiến thức về KSNK BV của điều dưỡng viên hồi sức tích cực còn hạn chế Cần tăng cường đào tạo nâng cao kiến thức và kỹ năng phù hợp với nhu cầu của điều dưỡng ở bệnh viện, đồng thời kết hợp với hệ thống nhắc nhở khoa phòng, giám sát và phản hồi để giảm thiểu các trường hợp NKBV [9]
Trang 13Qua một nghiên cứu tại bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ NKBV chung chiếm 53,9% NKBV ở từng khoa, phòng: khoa lâm sàng 1 (44,4%); khoa lâm sàng 2 (59,4%), khoa phục hồi chức năng (50%)
Về vi khuẩn gây NKBV: NKBV do 1 vi khuẩn (89,1%); đồng nhiễm 2 vi khuẩn (10,9%) [20]
Tỷ lệ mắc nhiễn khuẩn bệnh viện hàng năm ước tính 5,2%, tỷ lệ này dành cho khoảng 121.000 người bệnh bị ảnh hưởng ở mỗi quốc gia; nguy cơ tử vong trong 90 ngày cũng tăng 80% ở những người bệnh nhiễm khuẩn bệnh viện, và NKBV trở thành một gánh nặng rất lớn liên quan đến chăm sóc sức khỏe người bệnh, thời gian điều trị bệnh, khả năng sống sót và tiêu hao kinh
tế của người bệnh [50]
1.2 Các tác nhân gây bệnh trên bàn tay
1.2.1 Một số tác nhân gây bệnh trên bàn tay
Các tác nhân gây bệnh trên đôi bàn tay nhân viên y tế khá phong phú và đa dạng về chủng loại, tính chất và đặc điểm sinh học, nhất là tính đề kháng với kháng sinh NKBV qua bàn tay của nhân viên y tế có thể do một hoặc nhiều tác nhân gây bệnh gây nên, làm tăng thêm quá trình bệnh lý, khó khăn cho điều trị Bên cạnh đó, sự xuất hiện ngày càng nhiều NKBV do vi khuẩn gây bệnh cơ hội gây nên, làm cho ngăn ngừa và kiểm soát NKBV gặp nhiều khó khăn và phức tạp Trên da bàn tay có hai nhóm vi sinh vật thường cư trú: Là vi khuẩn vãng lai và vi khuẩn định cư
+ Vi khuẩn định cư: Gồm các cầu khuẩn gram (+): S epidermidis, S aureus, S hominis, v.v và các vi khuẩn gram (-): Acinetobacter, Enterobacter Các vi khuẩn gram (-) thường chiếm tỷ lệ cao ở tay NVYT
thuộc đơn vị hồi sức cấp cứu, đặc biệt ở những người VST dưới 8 lần/ngày Phổ vi khuẩn định cư thường cư trú ở lớp sâu của biểu bì da VST thường quy không loại bỏ được các vi khuẩn này khỏi bàn tay nhưng VST thường xuyên có
Trang 14thể làm giảm mức độ định cư của vi khuẩn trên tay Để loại bỏ các vi khuẩn này trên da tay trong VST ngoại khoa, các thành viên kíp phẫu thuật cần VST bằng dung dịch VST chứa cồn hoặc dung dịch xà phòng chứa chlorhexidine 4% trong thời gian tối thiểu 3 phút
+ Vi khuẩn vãng lai: Loại vi khuẩn này gồm các vi khuẩn trên da NB hoặc trên các bề mặt môi trường bệnh viện (chăn, ga giường, dụng cụ phương tiện phục vụ NB) và làm ô nhiễm bàn tay trong quá trình chăm sóc và điều trị Mức độ ô nhiễm bàn tay phụ thuộc vào loại thao tác sạch/bẩn, thời gian thực hiện thao tác và tần suất VST của NVYT
- Phổ vi khuẩn vãng lai là thủ phạm chính gây NKBV, tuy nhiên phổ vi khuẩn này có thể loại bỏ dễ dàng bằng VST thường quy (rửa tay với nước và
xà phòng thường hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn trong thời gian 20 giây-30 giây) Do vậy, VST trước và sau tiếp xúc với mỗi NB là biện pháp quan trọng nhất trong phòng ngừa NKBV VST trước phẫu thuật cần loại bỏ cả hai phổ vi khuẩn vãng lai và định cư, do vậy cần áp dụng quy trình VST ngoại khoa [4]
1.2.2 Bằng chứng lan truyền tác nhân gây bệnh qua bàn tay
- Lan truyền tác nhân nhiễm khuẩn từ NB này sang NB khác qua bàn tay NVYT cần một chuỗi các yếu tố, gồm: (1) Vi sinh vật (VSV) có trên da NB hoặc trên bề mặt đồ dùng, vật dụng xung quanh NB truyền vào tay NVYT; (2) Tiếp theo, NVYT không VST hoặc VST không đúng quy trình hoặc sử dụng hóa chất VST không thích hợp, (3) Cuối cùng, bàn tay bị ô nhiễm của NVYT phải tiếp xúc trực tiếp NB khác hoặc gián tiếp qua các dụng cụ, thiết bị sử dụng trên NB
- Trong môi trường bệnh viện, mọi nơi bàn tay đụng chạm vào đều có
vi khuẩn trên đó Các tác nhân NKBV không chỉ có ở các vết thương nhiễm
Trang 15khuẩn, ở chất thải và dịch tiết của NB mà thường xuyên có trên da lành của
NB Lượng vi khuẩn (ví dụ: S epiderminis, Proteus mirabilis, Klebsiella spp
và Acinetobacter spp.) có ở 1 cm2 da lành của NB thay đổi từ 102 đến 106 vi khuẩn, nhiều nhất là ở vùng bẹn, vùng hố nách, vùng nếp khuỷu tay, bàn tay
Có 25% da người bình thường mang S Aureus, da người mắc bệnh tiểu đường, NB lọc máu chu kỳ và người viêm da mãn tính có S aureus định cư
cao hơn Các tác nhân gây bệnh này, đặc biệt là các chủng tụ cầu hoặc cầu khuẩn đường ruột có khả năng sống sót cao trong điều kiện môi trường khô, làm ô nhiễm quần áo, ga giường, đồ dùng cá nhân và bề mặt các phương tiện khác trong buồng bệnh
- Trong quá trình chăm sóc NB, bàn tay NVYT thường xuyên bị ô nhiễm VSV có ở trên da NB cũng như ở bề mặt môi trường bệnh viện Theo Lê Thị Anh Thư và cs (Bệnh viện Chợ Rẫy), lượng vi khuẩn trung bình có ở bàn tay NVYT là 5,4 log, cao nhất ở hộ lý, kế đến là bác sỹ và thấp nhất là điều dưỡng Pittet D và cs (1999) đánh giá mức độ ô nhiễm bàn tay NVYT trực tiếp chăm sóc NB, số lượng vi khuẩn có ở các đầu ngón tay thay đổi từ 0 đến
300 đơn vị khuẩn lạc, trong đó trực khuẩn gram (-) chiếm 15% và tụ cầu vàng chiếm 11% các chủng vi khuẩn phân lập được Thời gian thao tác càng dài thì mức độ ô nhiễm bàn tay càng lớn [64]
- Không VST trước khi chăm sóc NB là nguyên nhân quan trọng làm lan truyền NKBV Các VSV có ở bàn tay ô nhiễm lan truyền trực tiếp sang NB thông qua các thực hành chăm sóc hoặc gián tiếp do bàn tay làm ô nhiễm các dụng cụ chăm sóc Tại bệnh viện Bạch Mai, Nguyễn Việt Hùng và cs đã nghiên cứu thấy bàn tay NVYT bị ô nhiễm trung bình: 1,65 log khuẩn lạc
Một số chủng vi khuẩn gây bệnh thường gặp gồm: A baumannii, K pneumoniae và S aureus Đáng chú ý, NVYT không thực hiện bất kỳ thực
hành chăm sóc nào trong buồng bệnh có mức ô nhiễm bàn tay cao nhất (2,1
Trang 16log) Nghiên cứu này càng khẳng định sự cần thiết phải VST thường xuyên, đặc biệt là VST trước khi vào buồng bệnh Bàn tay NVYT là phương tiện lan truyền bệnh quan trọng trong các vụ dịch NKBV [4]
Một số loại vi khuẩn thường gặp trong nhiễm trùng bệnh viện:
1 Tụ cầu Staphylococcus
Staphylococcus phân bố rộng rãi trong đất, nước, không khí, đồ dùng…
Chúng có thể phát triền dễ dàng trong các điều kiện dinh dưỡng, chịu tác dụng của các hóa chất khử trùng, tẩy uế ở nồng độ diệt khuẩn Trong một tập thể, khoảng 20% số người mang tụ cầu trên da lành và khoảng 605 ở mũi, tại ruột, tụ cầu có khoảng 30% ở người lớn và 80% ở trẻ sơ sinh Tuy nhiên, sự
có mặt của tụ cầu trong phân không có ý nghĩa bệnh lý Từ vị trí cư trú, tụ cầu
có thể khuếch tán ra môi trường xung quanh, hoặc xâm nhập vào bên trong cơ thể đề hoạt động và gây bệnh Sự lây lan tụ cầu có thể theo cơ chế trực tiếp hoặc gián tiếp, nhưng cơ chế trực tiếp vẫn là chủ yếu; cơ chế gián tiếp thường
từ bàn tay nhân viên y tế Các chủng tụ cầu trong bệnh viện thường có khả năng đề kháng cao và là mối nguy cơ lớn đối với nhiễm khuẩn bệnh viện
2 Cầu khuẩn đường ruột (Enterococci) kháng vancomycin (Vancomycin Resitant Enterrococci: VRE)
Enterococci là tụ cầu đường ruột Gram dương, là vi khuẩn có trong dạ
dày và ruột của khoảng 19 người trong 20 người khỏe mạnh Chúng thường được tìm thấy ở trong miệng và cổ họng, đường sinh dục của phụ nữ và da chung quanh khu vực hậu môn Phân người có số lượng vi khuẩn này nhiều
nhất Enterococci có thể xâm nhập vào các vết thương hở gây nhiễm trùng
và nhiễm khuẩn Enterococci chiếm 12% trong số các nguyên nhân gây
nhiễm khuẩn bệnh viện
Cơ chế kháng Vancomycin: vi khuẩn thu nhận được các loại gen mới không có vị trí bám dính cho Vancomycin Các gen Vancomycin của
Enterococci lan truyền thông qua Plasmin và Transponson
Trang 173 Các vi khuẩn đường ruột (Enterobacteriaceae)
Các vi khuẩn đường ruột tiết ra Enzym ESBL như: Klebsiella Pneudomonas, E.coli, Enterobacter, Proteus… là nguyên nhân của 30-35%
các trường hợp nhiễm khuẩn bệnh viện Chúng thường gây nhiễm khuẩn tiết niệu (>50%), nhiễm khuẩn huyết (5-20%), nhiễm khuẩn vết thương hoặc vết
mổ (10-20%)
β-lactamase phổ rộng là các β-lactamase điều tiết cho Plasmid có nguồn gốc từ Enzym hoặc TEM-2 và SHV-1 Các ESBL đề kháng hoặc giảm nhạy cảm với Cephalosphorin thế hệ 3 như Cefotaxim, Ceftazidine, hoặc β-lactamase khác như Aztreonam Các ESBL không tác động tới hoạt tính của Cephamycins hoặc Carbapennems Các ESBL bị bất hoạt bởi chất ức chế β-lactamase như acid Klavulanic, sullactam hay tazobactam
4 Trực khuẩn mủ xanh (P.aeruginosa)
Trực khuẩn mủ xanh chiếm từ khoảng 10-11% nguyên nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện Đây là trực khuẩn Gram âm, hiếu khí, có lông ở một đầu, di động, ít khi có vỏ, không sinh nha bào, có khả năng sinh trưởng trong môi trường nuôi cấy thông thường
Trực khuẩn mủ xanh thường sống ở trong đất, trên da, niêm mạc của người và động vật Là loại vi khuẩn gây bệnh có điều kiện, khi cơ thể suy giảm miễn dịch, bị mắc các bệnh ác tính hoặc mạn tính, …
Trong bệnh viện nó có ở nhiều nơi như khăn lau nhà, khăn lau tay, xà phòng, ống thông, máy hô hấp nhân tạo… có thể có trong dung dịch khử khuẩn pha không đúng nồng độ, bảo quản kém… Nó lan truyền trực tiếp qua nước, dụng cụ khử khuẩn không tốt, bàn tay
5 Acimetobacter baumannii
Acimetobacter baumannii chiếm khoảng 2-4% nhiễm khuẩn bệnh viện
nó là cầu trực khuẩn Gram âm, ưa khí, không sinh nha bào Nhiễm khuẩn hay
Trang 18gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, bệnh nhân có một suy giảm kế cận Trong bệnh viện nó thường có trong môi trường ẩm ướt như bình làm ẩm, vải lau nhà, bồn cầu… ngoài ra nó còn cư trú ở mũi, họng, da và bàn tay
Trên lâm sàng: Acimetobacter baumannii có thể tìm thấy trên đường hô
hấp chiếm khoảng 50%, trên vết thương là 20%, đường niệu, sinh dục chiếm 15% Thường gặp ở khoa hồi sức cấp cứu trên bệnh nhân thông khí hỗ trợ
1.2.3 Đường lây truyền qua bàn tay
Các tác nhân gây bệnh không chỉ có ở các vết thương nhiễm khuẩn mà còn thường xuyên có mặt trên da lành của bệnh nhân Số lượng vi khuẩn có trên da lành của bệnh nhân thay đổi từ 100-100.000 con/cm2 Tính trung bình
có khoảng 100.000 vảy da chứa vi khuẩn và được đào thải hằng ngày Do vậy, quần áo bệnh nhân, ga giường, đồ dùng cá nhân và các phương tiện khác trong buồng bệnh dễ dàng bị ô nhiễm bởi các vi khuẩn gây bệnh do bệnh nhân đào thải
Bàn tay của các sinh viên có thể lây nhiễm từ 100 đến 1000 vi khuẩn
Klebsiella ở các thao tác làm sạch như trở mình, lấy mạch, nhiệt độ, đo huyết
áp, hoặc chạm tay vào các bộ phận khác, các vật dụng của bệnh nhân Thời gian chăm sóc bệnh nhân cũng có liên quan, tỷ lệ thuận với mức độ nhiễm bẩn đôi bàn tay Thông thường các tác nhân gây bệnh sống sót được vài phút trên sinh viên và sự lây truyền một cách lan tỏa các tác nhân gây bệnh đi khắp nơi, khó mà biết trước được
Trong suốt thế kỷ thứ XIX, ở Châu Âu và Mỹ, 25% bà mẹ sinh con tại bệnh viện đã tử vong do sốt hậu sản Nguyên nhân mãi sau này, nhờ tiến bộ
của khoa học mới phát hiện ra là do vi khuẩn Streptococcus pyogenes và
nguyên nhân ở đây được cho là có liên quan đến vệ sinh tay [42] Và việc vệ sinh bàn tay không đảm bảo cũng là nguyên nhân chính gây tử vong sau sinh cho các bà mẹ [47]
Trang 19Ngày càng nhiều các nghiên cứu trên thế giới chứng minh vai trò của RTTQ đối với việc làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng liên quan tới chăm sóc y tế Theo Conly, tỷ lệ nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế đã giảm rõ rệt,
từ 33% xuống còn 12% và từ 33% xuống còn 10%, ngay sau hai lần can thiệp đẩy mạnh việc RTTQ cách nhau 4 năm
CDC yêu cầu các bệnh viện trên toàn nước Mỹ khuyến khích NVYT khử khuẩn tay bằng dung dịch sát khuẩn có chứa cồn trong mọi thao tác chăm sóc, điều trị cho NB
Tại Việt Nam, ngành y tế đã quan tâm, chú trọng đến vấn đề VST Năm
2006, Bộ Y tế bắt đầu thực hiện dự án tăng cường vệ sinh bệnh viện, trong đó VST thường quy với nước và xà phòng được coi là một trong những biện pháp chiến lược Dự án đã phát động “Tuần lễ VST” tại 21 bệnh viện với khoảng 7000 người tham gia
Năm 2017, Bộ Y tế ban hành Quyết định 3619 ngày 28 tháng 8 năm
2017 về việc phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh Quyết định ban hành kèm theo hướng dẫn thực hành VST trong các cơ sở khám chữa bệnh [4]
Năm 2018, tuân thủ VST được đưa vào nội dung Thông tư 16/2018/TT-BYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám chữa bệnh [29]
1.2.4 Hiệu quả vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện
90% bệnh lây lan qua đường tiếp xúc mà bàn tay là cầu nối chủ yếu Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo, chỉ một động tác vệ sinh tay với nước và xà
phòng đã làm giảm tới 35% khả năng lan truyền Shigela, giảm rủi ro nhiễm
khuẩn tiêu chảy tới 47%, nhiễm khuẩn đường hô hấp từ 19-45% [69] Quan trọng là tạo thói quen vệ sinh tay thường xuyên, đúng cách, nhất là tại các thời điểm trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh Sau khi đi vệ sinh, khi lau chùi
Trang 20phân/nước tiểu - nơi chứa nhiều vi khuẩn dễ dính vào bàn tay và từ đó xâm nhập vào cơ thể hoặc lây lan sang người khác thông qua tiếp xúc với bàn tay bẩn
Rửa tay phòng bệnh là rửa tay sạch đúng cách bằng xà phòng và nước, tại đúng các thời điểm (như trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi tiếp xúc với máu/dịch cơ thể ) nhằm loại trừ các vi khuẩn gây bệnh bám trên tay người do quá trình tiếp xúc với môi trường mang lại Rửa tay phòng bệnh bao gồm rửa tay xà phòng (RTXP) trong sinh hoạt hằng ngày và rửa tay thường quy (RTTQ) tại bệnh viện
Gần đây, nhiều nghiên cứu tại những khu vực lâm sàng khác nhau nhằm đánh giá hiệu quả phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện của thực hành vệ sinh tay thường quy đã cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giảm khi cải thiện tỷ
lệ tuân thủ vệ sinh tay ở nhân viên y tế, đặc biệt ở những khu vực/khoa có nhiều thủ thuật xâm lấn như cấp cứu, ngoại khoa, nhi khoa Tóm lại, bàn tay
là phương tiện quan trọng làm lan truyền nhiễm khuẩn bệnh viện Vệ sinh tay giúp loại bỏ hầu hết vi sinh vật có ở bàn tay, do đó, có tác dụng ngăn ngừa lan truyền tác nhân nhiễm khuẩn từ người bệnh này sang người bệnh khác, từ người bệnh sang dụng cụ và nhân viên y tế, từ vị trí này sang vị trí khác trên cùng một người bệnh và từ nhân viên y tế sang người bệnh Vệ sinh tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, đồng thời cũng là biện pháp đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế trong thực hành chăm sóc và điều trị người bệnh
1.3 Thực trạng vệ sinh tay trên Thế giới và Việt Nam
1.3.1 Trên Thế giới
Vệ sinh tay là một trong những chiến lược hiệu quả nhất để nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khỏe Thực hành vệ sinh tay có khả năng ngăn ngừa đau khổ và cứu sống người bệnh cũng như giảm chi phí Bệnh viện Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra sự tuân thủ vệ sinh tay ở nhân viên y tế
Trang 21nói chung là thấp Qua khảo sát ở kiến thức và thực hành ở sinh viên điều dưỡng tại Hồng Kông cho kết quả sinh viên có kiến thức vừa phải (điểm trung bình 7,33/10 điểm); trong khi đó điểm thức hành tốt (4,76/5); và sự tuân thủ
vệ sinh tay theo hướng dẫn của WHO chiếm tỷ lệ cao (88,71%) [54]
Một trong những nghiên cứu nổi tiếng cho thấy lợi ích của việc tuân thủ rửa tay được tiến hành từ năm 1995-1998 (có hồi cứu) là nghiên cứu của GS.TS Didier Pittet Ông và cộng sự đã tiến hành nhiều nghiên cứu về vệ sinh bàn tay Trong nghiên cứu này Pittet đã đưa ra khái niệm là tất cả những lần rửa tay với nước và xà phòng, rửa tay với dung dịch sát khuẩn tại những thời điểm khuyến cáo rửa tay đều được tính là sự tuân thủ rửa tay Đối tượng được giám sát là tất cả cán bộ y tế ở các khoa lâm sàng Thời điểm giám sát là tất cả các ngày trong tuần, 20 phút đầu tiên của một ca làm việc Thời gian giám sát được tính đến khi nào thỏa mãn cỡ mẫu cần thiết Những điều dưỡng chuyên ngành kiểm soát nhiễm khuẩn thực hiện giám sát sự tuân thủ rửa tay Để đánh giá hiệu quả của chương trình rửa tay, nhóm nghiên cứu đã đưa ra các chỉ số đánh giá: tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện, tỷ lệ MRSA (tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc) và mức độ tiêu thụ dung dịch rửa tay chứa cồn [64] Một nghiên cứu khác của ông cũng vệ sinh tay bằng dung dịch có chứa cồn là biện pháp quan trọng nhất để dự phòng sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở y tế Nghiên cứu của Pittet (2000) cho thấy tuân thủ VST tăng từ 47,6% lên 66,2%
và NKBV giảm từ 16,9% xuống 6,9% [65]
Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Humayun, Kashif và cộng
sự tại phòng khám răng cho thấy 97,4% nhân viên y tế cho rằng khử trùng là một phần rất quan trọng của việc kiểm soát nhiễm khuẩn; 78,6% nhân viên cho rằng cần mang găng tay Trong nghiên cứu cũng cho thấy 78,6% nhân viên có mang găng tay khi chỉnh răng cho bệnh nhân; 86,5% nhân viên có thay đổi găng tay giữa mỗi lần thăm khám [53]
Trang 22Nhóm tác giả Ghadamgahi và cộng sự nghiên cứu về kiến thức, thái
độ của đội ngũ nhân viên điều dưỡng trong Bệnh viện về kiểm soát nhiễm khuẩn cho thấy 67,9% cán bộ điều dưỡng có kiến thức trung bình, chỉ có 29,9% có kiến thức tốt về kiểm soát nhiễm khuẩn Bệnh viện; 90,4% nhân viên có thái độ tích cực đối với các mối đe dọa từ nhiễm khuẩn Bệnh viện; 36,2% nhân viên đồng ý với lợi ích của kiểm soát nhiễm khuẩn Bệnh viện 70% nhân viên y tế sử dụng nước và xà phòng để rửa vệ sinh tay; 47,6% nhân viên không đậy nắp kim tiêm sau sử dụng [10] Bên cạnh đó, một nghiên cứu về tuân thủ vệ sinh tay cũng trên đối tượng là sinh viên cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện thấp nhất khi tuân thủ vệ sinh tay cao nhất Vì vậy, vệ sinh tay được coi là một trong những biện pháp quan trọng ngăn ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện [51]
Nghiên cứu về kiến thức, thực hành của nhân viên X quang về kiểm soát nhiễm khuẩn tại Sri Lanka cho thấy 51,6% nhân viên ở đây có thâm niên công tác là dưới 10 năm và 93,4% là chưa bao giờ tham dự chương trình tập huấn, đào tạo nào liên quan đến kiểm soát nhiễm khuẩn 73,2% nhân viên cho rằng môi trường là nguồn lây nhiễm chính trong nhiễm khuẩn Bệnh viện; 53,5% nhân viên rửa tay thường xuyên trước khi chạm vào bệnh nhân; 51,2% rửa tay thường xuyên sau khi chạm vào bệnh nhân; 11,7% nhân viên không bao giờ đeo mặt nạ hoặc khẩu trang khi có khả năng tiếp xúc với các sol khí truyền nhiễm Không có sự liên quan giữa kiến thức và trình độ học vấn cũng như giữa kiến thức thức và thực hành (p>0,05) [66]
Vệ sinh tay là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc kiểm soát sự lây lan phát triển của nhiễm trùng không chỉ đối với riêng sinh viên ngành y trong Bệnh viện, mà nó còn có vai trò ngăn chặn bệnh truyền nhiễm trong môi trường học đường nói chung Nghiên cứu được tiến hành ở các nhóm sinh viên tại Hy Lạp [55] Trong một nghiên cứu khác của tác giả
Trang 23Barikani cùng các cộng sự năm 2012 tiến hành trên 148 sinh viên y khoa Cho thấy kết quả kiến thức đạt 6,8 ± 2,1 điểm (tối đa 10), thái độ 16,6 ± 4,2 điểm (tối đa 20) Kiến thức của sinh viên y khoa năm 7 cao hơn so sinh viên năm 6 (p<0,021) Kết quả kiến thức về “rửa tay sau khi tiếp xúc ngẫu nhiên với máu, dịch tiết và các vật bẩn” cao nhất (100%), trong khi đó tỷ lệ thấp nhất câu trả lời đúng “rửa tay trước và sau khi sử dụng găng tay” (50,8%) Kiến thức
“mang găng khi tiếp xúc với màng nhầy và da không còn nguyên vẹn” là (90,5%) và thái độ đối với “mang găng khi tiếp xúc với màng nhầy và da không còn nguyên vẹn” và “đeo kính bảo vệ mắt” tương ứng là (91,2% và 87,2%) Liên quan đến thái độ, tỷ lệ thấp nhất các câu trả lời đúng được thể hiện trong “rửa tay trước và sau khi sử dụng găng tay” (40,5%) [46] Khi tổng hợp kiến thức vệ sinh tay của sinh viên chăm sóc sức khỏe cho thấy điểm kiến thức của sinh viên dao động từ 0% (0/12 điểm) đến 100% (12/12 điểm) và trung bình là 7,73/12±0,06 hoặc 64% Và có tới 93% sinh viên trả lời dúng trên 50% các câu hỏi và ở mức đạt [67]
Kết quả nghiên cứu về kiến thức và kỹ năng phòng ngừa chuẩn của Amin và cộng sự năm 2013, trên 251 sinh viên cho thấy điểm số kiến thức của các sinh viên trên tất cả các lĩnh vực đều thấp Chỉ có 67 sinh viên (chiếm 26,7%) có điểm số ≥ 24 điểm (số điểm kiến thức thấp nhất chấp nhận được) Trong đó có 22,2% sinh viên năm thứ 4; 20,5% sinh viên năm thứ 5 và 36,8% sinh viên năm thứ 6 Kiến thức về chấn thương do vật sắc nhọn, phương tiện phòng hộ cá nhân và chăm sóc sức khỏe thì có điểm cao nhất, chủ yếu là do họ tự học và thực hành Phần lớn các sinh viên tin tưởng rằng việc dạy và đào tạo hiện tại không đủ cung cấp cho họ các kiến thức cần thiết và kỹ năng liên quan [43]
Thiếu kiến thức về hướng dẫn vệ sinh tay, thiếu nhận thức về các cơ hội vệ sinh tay trong khi chăm sóc người bệnh và thiếu nhận thức về nguy cơ
Trang 24lây truyền qua vi khuẩn tạo thành rào cản cho việc tuân thủ vệ sinh tay Sự hiểu lầm về vùng người bệnh cũng như tầm quan trọng của 5 thời điểm vệ sinh tay đã dẫn đến sự không tuân thủ của các nhân viên y tế trước khi chạm vào người bệnh hoặc sau khi bám vào môi trường xung quanh người bệnh Do
đó, các nhân viên y tế có kiến thức tốt về vệ sinh tay có mức độ tuân thủ cao gấp 3,8 lần so với kiến thức kém [68]
Đánh giá sự an toàn của thực hành tiêm của 45 cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Alexandria: 13,3% cơ sở thiếu dung dịch rửa tay chứa cồn để làm sạch tay Chỉ có 56,9% NVYT tuân thủ rửa tay trước khi tiêm; 48,6% NVYT đeo gang tay mới khi thực hành tiêm Chỉ 38% NVYT đã được đào tạo về an toàn tiêm trong 2 năm qua và 62,5% đã hoàn thành ba liều vắc-xin viêm gan B Chỉ có 42,2% nhân viên được mang đúng gang tay khi xử lý chất thải y tế [49] Một nghiên cứu quan sát bí mật thực hành tiêm an toàn của 384
y tá từ 9 bệnh viện khác nhau tại Jordan năm 2017 cho thấy: với 835 mẫu bảng kiểm được tiến hành thì có 73,9% y tá không rửa tay khi thực hiện tiêm; 64,5% y tế không đeo gang tay Những y tá mới thực hành tiêm có tỷ lệ rửa tay rất thấp (18,9%) Tiêm dưới da có tỷ lệ rửa tay sau tiêm thấp nhất (26,7%)
so với các đường tiêm khác [40]
Phần lớn những người tham gia đề cập rằng họ thường xuyên rửa tay bằng xà phòng Một số người tham gia chỉ rửa tay bằng nước thường Tuy nhiên, phần lớn những người tham gia đề cập rằng sự lười biếng là rào cản chính của việc rửa tay thường xuyên, tiếp theo là thiếu nguồn cung cấp nước gần đó và sau đó cảm giác rằng bàn tay của họ không đủ bẩn để bị nhiễm bệnh Phần lớn những người tham gia đồng ý rằng rửa tay có ý nghĩa lâm sàng trong việc giảm sự lây lan của bệnh truyền nhiễm; một số người trong số
họ không đồng ý Đa số những người tham gia đều biết kỹ thuật rửa tay trong trường đại học [41]
Trang 251.3.2 Tại Việt Nam
Một trong những yếu tố góp phần giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là các nhân viên y tế là những người trực tiếp khám chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân Và một trong những vấn đề có liên quan trực tiếp và thường xuyên đến nhân viên y tế đang công tác tại bệnh viện đó là vấn đề vệ sinh cá nhân,
mà trước hết là vệ sinh bàn tay và kiến thức về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện Ngày càng nhiều các nghiên cứu trên thế giới chứng minh vai trò của
vệ sinh tay thường quy đối với việc làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế
Nghiên cứu của Nguyễn Nam Thắng và Lê Đức Cường được thực hiện nhằm đánh giá kiến thức và thực hành về vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng viên đang công tác tại hai Bệnh viện Đa khoa thuộc huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình năm 2017 Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 224 điều dưỡng viên với bộ phiếu điều tra gồm 25 câu hỏi Điều dưỡng viên trả lời đúng từ 17 câu hỏi trở lên được đánh giá là có kiến thức đạt Kết quả cho thấy ở nhiều nội dung phỏng vấn, tỷ lệ điều dưỡng viên trả lời đúng còn thấp (dưới 50%) như: hệ vi khuẩn trên bàn tay nhân viên y tế là tác nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện (40,2%); vai trò của vệ sinh tay thường quy trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện (46%); thời gian tối thiểu để vệ sinh tay với nước và xà phòng (47,3%); và chà tay bằng chế phẩm chứa cồn (49,6%); sắp xếp các bước trong quy trình vệ sinh tay thường quy (22,3%); lựa chọn phương pháp vệ sinh tay phù hợp khi thăm khám từ vùng bẩn sang vùng sạch (12,5%) và sau khi khám bệnh cho người bệnh (45,5%) Tỷ lệ điều dưỡng viên có kiến thức đạt ở Bệnh viện Đa khoa huyện Tiền Hải là 66,4%, ở Bệnh viện Đa khoa Nam Tiền Hải là 50,5% (p<0,05) Về thực hành, nghiên cứu đã đánh giá kỹ năng thực hành rửa tay thường quy bằng bảng kiểm đối với 224 điều dưỡng viên Kết quả cho thấy tỷ lệ điều dưỡng viên thực hành rửa tay
Trang 26thường quy đạt ở cả hai bệnh viện rất thấp, ở bệnh viện đa khoa huyện Tiền Hải là 45,0% và ở bệnh viện đa khoa Nam Tiền Hải là 25,8% (p<0,05) Kết quả phân tích cho thấy có mối liên quan giữa kỹ năng thực hành rửa tay thường quy với trình độ chuyên môn của điều dưỡng viên [28]
Nghiên cứu: “Đánh giá kiến thức và khảo sát sự tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại một số khoa lâm sàng Bệnh viện Quân y 103” năm
2013, tác giả tiến hành khảo sát 383 NVYT thấy: 30,81% cho rằng mang găng có thể thay thế được VST; 57,70% không nêu chính xác được 5 thời điểm VST; 79,11% cho rằng VST bằng nước và xà phòng hiệu quả hơn VST bằng chế phẩm chứa cồn Tỷ lệ tuân thủ VST tại 5 thời điểm: trước khi tiếp xúc người bệnh (15,78%); sau khi tiếp xúc bề mặt các vật dụng trong buồng bệnh (47,32%); sau khi tiếp xúc với người bệnh (70,86%); trước khi làm thủ thuật vô khuẩn (81,42%) và sau khi tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh (93,65%) [10]
Nghiên cứu của tác giả Phùng Thị Tuyết Thu và cộng sự về kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng về kiểm soát nhiễm khuẩn Bệnh viện Đa khoa Ba Tri cho thấy kiến thức chung đúng 82,9%, trong đó kiến thức về rửa tay thường quy đạt cao nhất 98,9% Thái độ chung đúng 76%, trong đó thái
độ rửa tay thường quy đạt thấp nhất 27,78% Thực hành chung đúng 79,11%, trong đó thực hành rửa tay thường quy cũng đạt thấp nhất 21,11% [30]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Viết Đồng tại Bệnh viện Hà Tĩnh cho thấy 94% nhân viên có kiến thức đúng về sử dụng phòng hộ cá nhân; 91% có kiến thức đúng về khử khuẩn và tiệt khuẩn; 77% có kiến thức đúng về quản lý chất thải y tế [6]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Hà Việt Trúc cùng cộng sự cho thấy 33,33% điều dưỡng được đưa vào nghiên cứu có khả năng rửa tay rất thuần thục theo phương pháp của Bộ Y tế (đạt 6 điểm); 16,66% điều dưỡng
Trang 27thực hiện rửa tay tốt mặc dù có sai sót nhỏ, nhưng cũng phản ánh được “việc rửa tay” được thực hiện rất thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày; 3,3% điều dưỡng chỉ thực hiện đúng 2 bước (bước 1 và bước 2) trong rửa tay, điều này nói lên rằng còn một số rất ít điều dưỡng còn xem nhẹ việc rửa tay trong phòng lây nhiễm [35]
Qua nghiên cứu mô tả cắt ngang 325 nhân viên y tế đang công tác tại các khoa lâm sàng – Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc cho kết quả: Hầu hết mức kỹ năng thực hành rửa tay thường quy của các đối tượng đạt loại khá và giỏi, trong đó tỷ lệ đạt loại xuất sắc chiếm 18,4%; giỏi 34,8%; khá 36%; trung bình 10,8% và không có nhân viên y tế xếp loại yếu Các đối tượng có trình độ cao đẳng có phần kỹ năng RTTQ đồng đều hơn so với đối tượng có trình độ đại học và trung cấp Riêng đối tượng
hộ lý rất ít chú ý đến kỹ năng RTTQ Các đôi tượng có thâm niên công tác lâu hơn có kỹ năng thực hành tốt hơn so với các đối tượng có thời gian công tác ngắn hơn [21]
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà cùng cộng sự có 978 cơ hội quan sát sự tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Nhi Đồng 1 nhận thấy có tuân thủ rửa tay là 62% Có sự khác nhau giữa 5 cơ hội phải rửa tay khi chăm sóc người bệnh: cơ hội có sự tuân thủ rửa tay cao nhất
là sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể 93%, sau khi làm thủ thuật vô trùng 82% Thấp nhất là sau khi đụng chạm vào những vùng xung quanh bệnh nhân 26% và trước khi tiếp xúc với người bệnh 43% Việc rửa tay với cồn được lựa chọn nhiều hơn so với xà bông và nước 52% so với 48% Các khoa có sự tuân thủ rửa tay cao là Hồi sức tích cực sơ sinh 90% và sơ sinh 85% Nhân viên y
tế có sự tuân thủ rửa tay cao là Kỹ thuật viên, Bảo mẫu >70% Khối bác sỹ và sinh viên thực tập người đi học tuân thủ vệ sinh tay kém chỉ chiếm 41-43% Buổi chiều có sự tuân thủ rửa tay cao hơn buổi sáng 66% so với 60% [8]
Trang 28Theo nghiên cứu tác giả Nguyễn Việt Hùng và cộng sự năm 2010 trên
629 NVYT thuộc 62 bệnh viện khu vực phía Bắc, kết quả cho thấy 90,8% NVYT nhận thức tầm quan trọng của VST trước khi đụng chạm vào mỗi bệnh nhân, VST trước khi mang găng là 83,9%; sau khi tiếp xúc đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh đạt 88,7% Chỉ có 58,8% NVYT cho rằng không sử dụng một đôi găng thăm khám cho nhiều NB là biện pháp quan trọng trong phòng ngừa NKBV Dưới 25% NVYT có thái độ đúng về tầm quan trọng của thực hành phân loại, thu gom chất thải, chỉ định sử dụng khẩu trang N95 và cách ly bệnh nhân theo đường tiếp xúc [14]
Và khi nghiên cứu kiến thức, thực hành của học sinh điều dưỡng trường Trung cấp Phương Nam cho thấy hầu hết học sinh có kiến thức đúng
về mục đích, thời điểm, số bước và số lần chà sát trong các bước rửa tay Tuy nhiên chỉ có 66,7% học sinh biết đúng thứ tự các bước rửa tay và 72,23% học sinh biết đúng nội dung bước 4 trong quy trình rửa tay thường quy Đánh giá chung, chỉ có 58,33% học sinh có kiến thức chung đúng Học sinh thực hành mỗi bước rửa tay có tỷ lệ từ 50,79% đến 82,54% nhưng chỉ có 23,80% học sinh thực hành đúng rửa tay thường quy Học sinh thực hành mỗi bước rửa tay có tỷ lệ từ 50,79% đến 82,54% nhưng chỉ có 23,80% học sinh thực hành đúng rửa tay thường quy Có mối liên quan giữa rửa tay với giới tính, số tiết
lý thuyết học tại trường và thời gian thực hành tại bệnh viện Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thực hành rửa tay và phương tiện rửa tay tại bệnh viện [36]
Hay một nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai, tổng cộng có 629 NVYT đã được phỏng vấn tại 36 bệnh viện (2 bệnh viện trung ương, 18 bệnh viện tỉnh,
16 bệnh viện huyện) Kết quả nghiên cứu kiến thức về biện pháp PNC (83,9% đến 99,2%) Thái độ về VST trước khi sử dụng găng, sau khi chạm vào môi trường xung quanh NB là (54,5% và 54,8%) Chỉ có 58,8% NVYT tin rằng
Trang 29các hoạt động chăm sóc NB yêu cầu sử dụng găng tay Kiến thức câu hỏi về việc sử dụng khẩu trang N95 và khoảng cách an toàn từ giọt bắn cho tới bệnh nhân là (10,8% và 17,8%) Ít hơn 25% NVYT có thái độ đúng đối với sử dụng mặt nạ N95 từ phòng của một bệnh nhân nhiễm SARS Các điểm phần trăm đối với hiểu biết và thái độ đối với biện pháp PNC và cách ly có thể chấp nhận là (79,1% cho kiến thức và 70,0% đối với thái độ) Kết quả nghiên cứu trên cho thấy rằng có một sự tương quan mạnh mẽ giữa kiến thức và thái độ
về tiêu chuẩn và biện pháp phòng ngừa cách ly (r = 0,76, p <0,001) [15]
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn được thành lập vào ngày 26 tháng 8 năm
1970, trên cơ sở hợp nhất 4 đơn vị: Bệnh viện Đa khoa Saint Paul Bệnh viện
B Nhi khoa, Bệnh viện khu phố Ba Đình và Phòng khám Phụ khoa Hà Nội Tiền thân của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn là cơ sở y tế đầu tiên của khu vực Đông Dương, do Chính phủ bảo hộ Pháp lập ra trong những năm cuối thế kỷ XIX với mục đích ban đầu là điều dưỡng, chăm sóc và khám chữa bệnh cho các quan thầy Pháp Cùng với sự phát triển của lịch sử dân tộc, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn đã trải qua các thời kỳ khác nhau, đến nay đã trở thành Bệnh viện Đa khoa hạng I của thành phố Hà Nội với hơn
600 giường bệnh, 45 khoa phòng và hơn 1000 cán bộ nhân viên, 7 chuyên khoa đầu ngành: Ngoại, Nhi, Gây mê hồi sức, Xét nghiệm, Chẩn đoán hình ảnh, Điều dưỡng, Phẫu thuật tạo hình
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng cho nghiên cứu định lượng:
- Sinh viên đang học lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn Hà Nội + Tiêu chuẩn lựa chọn: Sinh viên năm nhất, năm hai, năm ba học Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đang học lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
+ Tiêu chuẩn loại trừ: Sinh viên chưa đi học lâm sàng hoặc đã đi lâm sàng nhưng không phải ở Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
Trang 31* Đối tượng cho nghiên cứu định tính
- Ban lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp nghiên cứu cắt ngang Cuộc điều tra cắt ngang được tiến hành nhằm mục đích mô tả kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan tới kiến thức về vệ sinh tay của sinh viên đang học lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
Ngoài ra, chúng tôi có bổ sung thêm nghiên cứu bao gồm phỏng vấn sâu ban lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn và thảo luận nhóm sinh viên
2.2.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu
* Cỡ mẫu
+ Nghiên cứu định lượng
2 2
) 2
α
p) (1 p Z
- Z(1-α/2): Giá trị Z thu được tương ứng với α=0,05; Z(1-α/2) = 1,96
- d: Sai số tuyệt đối, trong nghiên cứu này chọn d=0,047
- p: 0,58 tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng về vệ sinh tay theo nghiên cứu trước [36]
- Thay vào công thức tính được cỡ mẫu là 424, thực tế đã điều tra được
435 sinh viên
- Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu Ban Giám đốc Bệnh viện Đa Khoa Xanh Pôn tham gia phỏng vấn sâu
Trang 32- Thảo luận nhóm: 20 sinh viên bao gồm 2 đối tượng và chia thành 2 nhóm (nhóm 1: điều dưỡng, hộ sinh và nhóm 2: dược, CĐHA) mỗi nhóm 10 sinh viên
* Chọn mẫu:
- Nghiên cứu định lượng: Chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu là sinh viên trường Cao đẳng Y Hà Nội đang học lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn trong thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu định tính: Chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu là Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin và các kỹ thuật áp dụng
2.2.3.1 Nghiên cứu định lượng
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn
- Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu đã được chuẩn bị từ trước dùng để phỏng vấn trực tiếp những sinh viên được quan sát
- Để hạn chế sai số: các cán bộ điều tra đã được tập huấn, thống nhất nội dung, kế hoạch, phương pháp nghiên cứu
- Tiến hành điều tra thử
- Điều tra chính thức
- Quy trình xử lý số liệu: Căn cứ vào danh sách phỏng vấn, nhóm nghiên cứu quan sát trực tiếp sinh viên thực hiện các quy trình vệ sinh tay bằng bảng kiểm đã được thiết kế và chuẩn bị sẵn Việc quan sát được chọn ngẫu nhiên để nghiên cứu, hầu như các sinh viên không biết lần rửa tay nào của họ được chọn vào nghiên cứu
2.2.3.2 Nghiên cứu định tính
- Thảo luận nhóm sinh viên, lựa chọn 2 nhóm sinh viên bao gồm 2 đối tượng (điều dưỡng+hộ sinh và dược+CĐHA) mỗi nhóm 10 sinh viên Thảo luận bằng bộ câu hỏi thảo luận đã chuẩn bị sẵn
Trang 33- Phòng vấn sâu: Ban lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn bằng bộ phỏng vấn sâu đã được chuẩn bị
2.2.4 Tiêu chuẩn đánh giá
Quy trình vệ sinh tay thường quy dựa theo quy định tại công văn số 7517/BYT-ĐT ngày 12/10/2007 về việc hướng dẫn thực hiện quy trình vệ sinh tay thường quy và sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn của Bộ
Y tế [3]
Bộ câu hỏi kiến thức vệ sinh tay được xây dựng dựa trên “bộ câu hỏi kiến thức vệ sinh tay cho nhân viên chăm sóc sức khỏe ngành y tế” của WHO [70] Và đánh giá theo thang đo nhị phân:
Câu trả lời đúng: 1 điểm
Câu trả lời sai: 0 điểm
Số lượng câu hỏi để tính điểm đánh giá kiến thức về vệ sinh tay là 30
Từ câu B1-B9 trong bộ câu hỏi Tổng số điểm cho tất cả các mục kiến thức nằm trong khoảng từ 0-30 và được trình bày dưới dạng phần trăm của tổng số câu hỏi Nếu tỷ lệ phần trăm là ≥ 60% tổng số điểm (≥ 18 câu trả lời đúng), người trả lời có kiến thức đạt (bảng trả lời và phương pháp tính điểm trong Phụ lục 2)
2.2.4.1 Phương tiện vệ sinh tay
- Hóa chất vệ sinh tay
+ Xà phòng thường (Normal/ Plain Soap): Là hợp chất có hoạt tính làm sạch (dạng bánh hoặc dạng dung dịch) nhưng không chứa tác nhân diệt khuẩn
+ Xà phòng khử khuẩn (Antimicrobial soap): Là hợp chất có hoạt tính làm sạch (dạng bánh hoặc dạng dung dịch) có chứa tác nhân diệt khuẩn
+ Dung dịch VST chứa cồn (Alcohol-based handrub): Là chế phẩm vệ sinh tay dạng dung dịch, dạng gel hoặc dạng bọt có chứa cồn isopropanol,
Trang 34ethanol, n-propanol hoặc kết hợp hai trong các thành phần này hoặc kết hợp với 1 chất khử khuẩn và được bổ sung chất làm ẩm, dưỡng da; được sử dụng bằng cách chà tay cho đến khi cồn bay hơi hết, không sử dụng nước
+ Các hóa chất VST cần có chất làm ẩm da hoặc chất dưỡng da Bình cấp hóa chất VST cần kín, có bơm định lượng tự động hoặc bằng cần gạt hoạt động tốt, có nhãn ghi rõ loại dung dịch VST và còn hạn sử dụng, được gắn tại các vị trí thuận lợi cho người sử dụng Hạn chế sử dụng xà phòng dạng bánh, nếu sử dụng thì cần lựa chọn loại bánh nhỏ, để trong giá đựng có nắp đậy kín
- Nước rửa tay
+ Nước rửa tay ngoại khoa: Nước vô khuẩn, ví dụ nước máy hoặc nước
RO (Reverse Osmosis - thẩm thấu ngược) được khử khuẩn bằng tia cực tím
hoặc được lọc qua màng siêu lọc
+ Nước rửa tay thường quy: Nước sạch (ví dụ nước máy đạt tiêu quy chuẩn Quốc gia về nước sinh hoạt QCVN 02: 2009/BYT được cấp qua vòi có khóa hoạt động tốt)
- Khăn lau tay
+ Khăn lau tay cho rửa tay thường quy: Là khăn sạch sợi bông khăn cần giặt khử khuẩn sau mỗi lần sử dụng, được đựng trong hộp cấp khăn kín tại mỗi điểm rửa tay
Trang 35+ Khăn lau tay cho VST ngoại khoa: Khăn sợi bông được hấp tiệt khuẩn Khăn cần được đóng gói theo cơ số vừa đủ cho một ca phẫu thuật và được cấp cùng bộ áo choàng vô khuẩn trong buồng phẫu thuật Nếu áp dụng quy trình VST ngoại khoa bằng dung dịch VST chứa cồn thì có thể sử dụng loại khăn giấy/khăn sợi bông sạch đựng trong thùng cấp khăn tại khu vực bồn rửa tay để lau khô tay trước khi chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn
- Trang bị phương tiện vệ sinh tay
+ Phương tiện VST thường quy phải luôn có sẵn ở mọi buồng phẫu thuật, thủ thuật, mọi khu vực chăm sóc NB, khu hành chính, khu tiếp đón NB
và các buồng vệ sinh Tại các khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao, các giường
NB nặng, xe tiêm, xe thủ thuật, buồng phẫu thuật, thủ thuật cần được trang bị dung dịch VST tay chứa cồn Các buồng thủ thuật, buồng hành chính, buồng
NB nặng, khu tiếp đón NB và khu vệ sinh phải có bồn rửa tay
+ Tại mỗi bồn rửa tay thường quy, ngoài xà phòng thường rửa tay cần trang bị đồng bộ các phương tiện khác gồm quy trình rửa tay, khăn lau tay sử dụng một lần và thùng thu gom khăn đã sử dụng (nếu là khăn sợi bông sử dụng lại) hoặc thùng chất thải thông thường (nếu sử dụng khăn giấy dùng một lần)
+ Phương tiện tại mỗi điểm VST ngoại khoa bằng xà phòng khử khuẩn gồm: (1) Bồn và nước rửa tay đạt chuẩn; (2) Dung dịch xà phòng chứa chlorhexidine 4%; (3) Bàn chải đánh kẽ móng tay tiệt khuẩn
+ Phương tiện tại mỗi điểm VST ngoại khoa bằng dung dịch VST chứa cồn gồm: (1) Bồn và nước rửa tay đạt chuẩn; (2) Dung dịch xà phòng thường; (3) Dung dịch VST chứa cồn; (4) Khăn lau tay sạch hoặc được hấp tiệt khuẩn; (5) Bàn chải đánh kẽ móng tay tiệt khuẩn
Trang 362.2.4.2 Thời điểm vệ sinh tay thường quy
Hình ảnh 2.1: Năm thời điểm vệ sinh tay của nhân viên y tế [3]
+ Trước khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi NB
+ Trước khi thực hiện mỗi thủ thuật sạch/vô khuẩn
+ Ngay sau mỗi khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể
+ Sau khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi NB
+ Sau tiếp xúc với bề mặt đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh
- Ngoài ra, các thời điểm chăm sóc sau cũng cần VST:
+ Khi chuyển từ chăm sóc bẩn sang chăm sóc sạch trên cùng người bệnh + Trước khi mang găng và sau khi tháo găng
+ Trước khi vào buồng bệnh và sau khi ra khỏi buồng bệnh
+ Mọi NVYT trong buồng phẫu thuật không trực tiếp động chạm vào
NB (phụ mê, chạy ngoài, học viên…) phải VST trước khi vào buồng phẫu thuật Trong buồng phẫu thuật, bất kỳ khi nào bàn tay chạm vào bề mặt thiết
bị phương tiện phải VST ngay bằng dung dịch VST chứa cồn
+ NVYT khi làm việc trong buồng xét nghiệm cần tuân thủ nghiêm thời điểm 3 và 5 về VST để phòng ngừa lây nhiễm cho bản thân
Trang 372.2.4.3 Kỹ thuật vệ sinh tay thường quy
- Dù VST bằng xà phòng và nước hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn cần thực hiện theo kỹ thuật 6 bước:
+ Bước 1: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau
+ Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia và ngược lại
+ Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các ngón tay vào các kẽ ngón tay
+ Bước 4: Chà mu các ngón tay này lên lòng bàn tay kia và ngược lại (mu tay để khum khớp với lòng bàn tay)
+ Bước 5: Chà ngón cái của bàn tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại (lòng bàn tay ôm lấy ngón cái)
+ Bước 6: Chà các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại
Hình ảnh 2.2 6 bước vệ sinh tay theo quy định của Bộ Y tế [3]
- Khi thực hiện quy trình VST thường quy cần lưu ý một số điểm sau:
Trang 38+ Lựa chọn đúng phương pháp VST: Nếu bàn tay nhìn rõ vết bẩn hoặc dính các dịch tiết của cơ thể phải VST bằng nước và xà phòng thường Chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn khi tay không trông rõ vết bẩn, sau tháo bỏ găng hoặc khi thăm khám giữa các NB
+ Lấy đủ 3ml -5 ml dung dịch VST cho mỗi lần VST
+ Tuân thủ đúng kỹ thuật VST Chà tay cùng hóa chất VST theo đúng trình tự từ bước 1 tới bước 6, mỗi bước chà 5 lần để bảo đảm hóa chất tiếp xúc đều trên toàn bộ bề mặt bàn tay Trường hợp chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn, nếu chà đủ 6 bước mà tay chưa khô thì lặp lại các bước cho tới khi tay khô Trường hợp VST bằng nước và xà phòng thì trước khi lấy dung dịch xà phòng cần mở vòi nước và làm ướt bàn tay; sau khi kết thúc 6 bước chà tay cần rửa lại tay dưới vòi nước để loại bỏ hoàn toàn hóa chất trên tay, lau khô tay bằng khăn sạch, khóa vòi nước bằng khăn vừa sử dụng, thải bỏ khăn vào thùng thu gom khăn
+ Tuân thủ đúng thời gian VST: Thời gian chà tay với hóa chất VST theo quy trình 6 bước phải đạt từ 20 giây-30 giây
+ Không rửa lại tay bằng nước và xà phòng sau khi đã chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn
+ Tránh làm ô nhiễm lại bàn tay sau VST: Sử dụng nước sạch để rửa tay, sử dụng khăn sợi bông/khăn giấy sạch dùng 1 lần để lau khô tay, sử dụng khăn đã dùng lau khô tay để đóng vòi nước Không dùng một khăn lau tay chung cho nhiều lần rửa tay
+ Không sử dụng máy sấy tay để làm khô tay Xem xét lựa chọn loại găng tay không có bột talc để thuận lợi cho việc khử khuẩn tay bằng dung dịch VST chứa cồn
Trang 392.3 Biến số trong nghiên cứu
2.3.1 Kiến thức về vệ sinh tay của sinh viên đang học lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
- Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
- Kiến thức của sinh viên về các hệ vi khuẩn trên bàn tay, đường lan truyền vi khuẩn giữa người bệnh - người bệnh, người bệnh - nhân viên y tế, tác nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện
- Kiến thức của sinh viên về thời điểm VST ngăn ngừa mầm bệnh cho người bệnh, cho NVYT
- Kiến thức của sinh viên về loại hình vệ sinh tay, phương pháp VST cần thiết, yếu tố nguy hại trên bàn tay, mức độ loại bỏ vi khuẩn, mức độ phòng bệnh, thời gian vệ sinh tay, thời điểm vệ sinh tay
- Kiến thức đạt của sinh viên về các phương tiện cần thiết khi VST, vị trí đặt bồn rửa tay…
2.3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về vệ sinh tay của sinh viên đang học lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
- Mối liên quan của kiến thức về vệ sinh tay với tuổi, giới, sinh viên năm thứ mấy, vấn đề tập huấn…
- Mối liên quan tới VST trong thời gian diễn ra dịch COVID-19 như: sự thay đổi về kiến thức, ý thức, tần suất VST, các biện pháp phối hợp…
- Ý kiến của Ban giám đốc Bệnh viện về vệ sinh tay và các yếu tố liên quan đến vệ sinh tay của nhân viên y tế và sinh viên học lâm sàng tại viện
Trang 402.5 Tổ chức nghiên cứu
- Tập huấn điều tra viên: Các điều tra viên được tập huấn về mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, cách thức tiến hành nghiên cứu, các chỉ tiêu lựa chọn bệnh nhân tham gia nghiên cứu, các chỉ số, số liệu thu thập trong nghiên cứu
2.6 Sai số và cách khống chế sai số
- Giám sát chặt chẽ trong quá trình điều tra
- Xử lý thô trước khi nhập liệu
2.7 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu về việc vệ sinh tay của Sinh viên ngành y đang học lâm sàng nhằm mô tả kiến thức, thực hành của sinh viên về vấn đề vệ sinh tay, từ
đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung
và của sinh viên học y nói riêng trong vấn đề vệ sinh tay
Đối tượng nghiên cứu được cung cấp đầy đủ thông tin về mục đích cung như nội dung nghiên cứu trước khi tiến hành điều tra Số liệu thu thập được không sử dụng vào mục đích nào khác ngoài mục tiêu nghiên cứu Những sinh viên có kiến thức chưa đúng để hướng dẫn lại về kiến thức đúng
Đối tượng tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu, không ép buộc với đối tượng từ chối hoặc ngừng tham gia nghiên cứu giữa chừng
Thông tin cá nhân của đối tượng cung cấp được đảm bảo bí mật hoàn toàn Và thông tin thu thập một cách khách quan, trung thực
Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi có sự cho phép của hội đồng khoa học, hội đồng đạo đức và Ban giám đốc Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn