Đứng trước thực trạng trên và hiện nay các nghiên cứu tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ từ 10 – 15 tuổi hầu như không có, do vậy chúng tôi đã tiến hà
Trang 1NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ CÁC YẾU TỐ
I N QU N ĐẾN PHÒNG TRÁNH ĐUỐI NƯỚC CỦ TR TỪ 10 – 15 TUỔI TẠI PHƯỜNG NGHI HẢI, THỊ XÃ CỬ Õ, NGHỆ N NĂM 2017
UẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUY N NGÀNH: 8720701
HÀ NỘI - 2018
Trang 2UẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ CÁC YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN PHÕNG TRÁNH ĐUỐI NƯỚC CỦ TR TỪ 10 – 15
TUỔI TẠI PHƯỜNG NGHI HẢI, THỊ XÃ CỬ Õ, NGHỆ N NĂM 2017
Trang 3ỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
Thầy hướng dẫn Phó giáo sư, tiến sỹ Phạm Việt Cường, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chính sách phòng chống chấn thương, trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Tập thể cán bộ Viện Chiến lược và Chính sách Y tế; Ủy ban nhân dân phường Nghi Hải, Trung tâm cứu hộ, cứu nạn và phòng chống thiên tai thị xã Cửa
Lò, tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Ban giám hiệu nhà trường; Phòng đào tạo sau đại học; Tập thể các thầy cô giáo trường Đại học Y tế công cộng đã nhiệt tình dạy dỗ, truyền kinh nghiệm cho tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn
Tập thể lớp cao học Y tế công cộng khóa 18, gia đình và bạn bè luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Hà Nội, ngày 15 tháng 03 năm 2018 Nguyễn Thị Minh Phƣợng
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
NGH Người giám hộ
UBND Uỷ ban nhân dân
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc
VMIS Điều tra liên trường về chấn thương tại Việt Nam VNIS Điều tra chấn thương quốc gia tại Việt Nam WHO Tổ chức Y tế thế giới
Trang 5MỤC LỤC
ỜI CẢM ƠN ……… i
D NH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ……… ……… ii
MỤC ỤC ……….…… iii
D NH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ ……… vi
TÓM TẮT NGHI N CỨU ……….………… vii
ĐẶT VẤN ĐỀ ……….……… 1
MỤC TI U NGHI N CỨU ……….……… 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QU N TÀI IỆU ……….… 4
1.1 Dịch tễ học đuối nước……… 4
1.1.1 Định nghĩa đuối nước……… 4
1.1.2 Dịch tễ học đuối nước……… 5
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ của đuối nước trẻ em……… 9
1.2 Thực trạng kiến thức, thái độ thực hành về phòng tránh đuối nước trẻ em 14 1.2.1 Thực trạng kiến thức, thái độ thực hành về phòng tránh đuối nước trẻ em trên thế giới ……….………
14 1.2.2 Thực trạng kiến thức, thái độ thực hành về phòng tránh đuối nước trẻ em tại Việt Nam ………
16 1.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh đuối nước trẻ em …….………
18 1.3.1 Yếu tố cá nhân – đặc điểm lứa tuổi ……… 18
1.3.2 Yếu tố về kiến thức, hành vi lối sống ……… 19
1.3.3 Yếu tố về dịch vụ y tế ……… 20
1.3.4 Yếu tố kinh tế xã hội ……… 21
1.4 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu ……… 21
1.5 Khung lý thuyết ……… 23
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU ……… 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu ……….… 26
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ……… 26
2.3 Thiết kế nghiên cứu ……….……… 26
Trang 62.4 Cỡ mẫu và phương pháp nghiên cứu ……… 26
2.4.1 Cỡ mẫu ……… 26
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu ……… 27
2.5 Phương pháp thu thập ……… 27
2.6 Biến số nghiên cứu ……… 28
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá ……….……… 28
2.7.1 Đánh giá kiến thức của trẻ về phòng tránh đuối nước ……… 28
2.7.2 Đánh giá thực hành của trẻ về phòng tránh đuối nước ……… 28
2.8 Phương pháp phân tích số liệu ……… 28
2.8.1 Quản lý số liệu ……… 28
2.8.2 Phương pháp phân tích số liệu ……… 28
2.9 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu ……… 28
2.10 Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số ……… 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHI N CỨU ……… 30
3.1 Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh đuối nước của trẻ………… 30
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ……… 30
3.1.2 Thực trạng kiến thức về phòng tránh đuối nước của trẻ……… 35
3.1.3 Thực trạng thái độ về phòng tránh đuối nước của trẻ……… 37
3.1.4 Thực trạng thực hành về phòng tránh đuối nước của trẻ……… 39
3.2 Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ ………
42 3.2.1 Mối liên quan giữa giới và thực hành phòng tránh đuối nước ………… 42
3.2.2 Mối liên quan giữa kiến thức về đuối nước và thực hành phòng tránh đuối nước ………
43 CHƯƠNG 4: BÀN UẬN ……… 44
4.1 Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh đuối nước của trẻ………… 45
4.1.1 Kiến thức về phòng tránh đuối nước của trẻ……… 46
4.1.2 Thái độ về phòng tránh đuối nước của trẻ……… 47
4.1.3 Thực hành về phòng tránh đuối nước của trẻ……… 47
4.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ … 49
KẾT UẬN ……… 51
Trang 7KHUYẾN NGHỊ ……… 52
TÀI IỆU TH M KHẢO ……… 53
PHỤ ỤC ……… 58
Phụ lục 1 Bộ công cụ phỏng vấn ……… 58
Phụ lục 2 Tài liệu tập huấn phóng vấn ……….……… 66
Phụ lục 3 Bảng các biến số nghiên cứu ……… 70
Phụ lục 4 Bảng chấm điểm kiến thức về đuối nước ……… 74
Phụ lục 5 Bảng chấm điểm thực hành về đuối nước ……… 76
Phụ lục 6 Kế hoạch nghiên cứu ……… 78
Phụ lục 7 Kinh phí thực hiện nghiên cứu ……… 80
Phụ lục 8 Một số hình ảnh thực địa ……… 81
Trang 8DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 1: Số trường hợp tử vong do đuối nước tại Ireland 2006-2015 ……… 6
Bảng 2: Tỷ lệ đuối nước gây tử vong ở trẻ em trên 100.000 dân theo giới tính, khu vực của WHO và mức độ thư nhập, Thế giới, 2008 ………
11
Bảng 3: Ma trận Haddon xác định các yếu tố nguy cơ đuối nước ……… … 23 Bảng 3.1.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ……… 30 Bảng 3.1.1.2 Thông tin về người chăm sóc chính của trẻ ……… 30 Bảng 3.1.1.3 Thông tin về thời gian biểu của đối tượng nghiên cứu………… 31 Bảng 3.1.1.4 Thời gian từ nhà của trẻ đến khu vực ao/hồ/sông/kênh/rạch … 33 Bảng 3.1.1.5 Mục đích trẻ lại gần khu vực ao/hồ/sông/kênh/rạch ………… 33 Bảng 3.1.2.1 Kiến thức của trẻ về thông tin đuối nước ……… 34 Bảng 3.1.2.2 Kiến thức của trẻ về phòng tránh đuối nước ……… 35 Bảng 3.1.3.1 Thái độ của trẻ về phòng tránh đuối nước ……… 37 Bảng 3.1.3.2 Các buổi tuyên truyền – giáo dục phòng tránh đuối nước mà trẻ thích tham gia ……… ………
39
Bảng 3.1.4.1 Thực trạng trẻ đã từng gặp người đuối nước theo giới …… 40 Bảng 3.1.4.2 Thực trạng thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ theo giới 40 Bảng 3.2.1 Mối liên quan giữa thực hành phòng tránh đuối nước và một số yếu tố………
42
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Đuối nước trẻ em là một vấn đề y tế công cộng quan trọng trong nhóm các vấn
đề về tai nạn thương tích trẻ em trên thế giới Trẻ em từ 10 – 15 tuổi là lứa tuổi có nhiều thay đổi về thể chất, tinh thần và là một trong những nhóm tuổi có tỷ lệ tai nạn thương tích do đuối nước cao Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp với nghiên cứu định lượng Cỡ mẫu trong nghiên cứu là 300 trẻ từ
10 – 15 tuổi được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên, tiến hành phỏng vấn trực tiếp tại hộ gia đình b ng bộ câu hỏi phỏng vấn hành tại Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, Nghệ
An
Nghiên cứu đã đưa ra được một số kết quả cơ bản: Với 300 trẻ em được chọn trong mẫu nghiên cứu: Có 53,6 là trẻ em trai, 46,3 là trẻ em gái Đa số trẻ đi chơi sau khi tan học buổi chiều (73,3 trẻ nam và 60,4 trẻ nữ) Khoảng cách từ nhà của trẻ đến khu vực ao/ hồ/ sông/ kênh/ rạch/ bể bơi phổ biến nhất chỉ trong 10 phút
đi bộ (40,3 ), 39,3 trẻ có nhà cách khu vực này chỉ từ 10-30 phút đi bộ, 1,7 cách hơn 30 phút đi bộ và 18,7 không biết khoảng cách giữa nhà và ao/ hồ/ sông/ kênh/ rạch/ bể bơi Về kiến thức đuối nước, trong 300 trẻ, địa điểm xảy ra đuối nước nhiều trẻ biết nhất là bãi biển (82,7 ), ao/hồ (67,7 ), sông/mương (66,3 ), hố vôi (46,3 ) Những nguyên nhân gây ra đuối nước hàng đầu mà trẻ đưa ra là không biết bơi (77,3 ), bơi ở khu vực nước nguy hiểm (52 ), bơi không có phao bơi (50,3 ), chuột rút (50,3 ) Đa số trẻ kh ng định hậu quả của đuối nước là tử vong (97 ) và 13 cho r ng nạn nhân bị tàn tật Về kiến thức phòng tránh đuối nước, chỉ
có 48 có kiến thức đạt về phòng tránh đuối nước Để phòng tránh đuối nước các trẻ cho biết cần phải học bơi (65,7 ), mặc áo phao khi bơi (56 ), không chơi gần ao/ hồ/ sông/ kênh/ rạch (49,7 ), không chơi ở nơi có biển cấm, biển nguy hiểm (49,3%) Về thái độ phòng tránh đuối nước, phần lớn trẻ thể hiện sự quan tâm về phòng tránh đuối nước (96,3 ) Nếu có buổi tuyên truyền về phòng tránh đuối nước
95 trẻ sẽ tham gia với các hình thức yêu thích là sinh hoạt ngoại khóa, câu lạc bộ trẻ
em và tập huấn Thầy cô giáo là nguồn thông tin được trẻ thích nghe nhất (74,7 )
Trang 10Về thực hành, chỉ có 33 trẻ biết bơi và 32 trong số đó có thực hành đạt các biện pháp phòng tránh đuối nước Xem x t mối liên quan: b ng kiểm định đơn biến, chúng tôi nhận thấy: trẻ nam có nguy cơ có thực hành không đạt về phòng chống đuối nước cao gấp 2,4 lần so với trẻ nữ (p=0,5, 95 khoảng tin cậy 95 từ 1,419 - 3,922) Trẻ có kiến thức không đạt về đuối nước có nguy cơ có thực hành không đạt
về đuối nước cao gấp 2,4 lần so với trẻ có kiến thức không đạt (p=0,5, khoảng tin cậy 95 từ 1,446 đến 3,920) Có mối liên quan giữa giới tính, kiến thức về đuối nước và thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ
Với kết quả như vậy, nghiên cứu đã đưa ra được các khuyến nghị về các biện pháp cụ thể như: đưa bơi lội trở thành một môn học thể chất trong trường tiểu học cơ
sở và trung học cơ sở, lồng gh p nội dung phòng tránh đuối nước vào các giờ sinh hoạt ngoại khóa, xây dựng các bể bơi công cộng, mở các lớp học bơi miễn phí hoặc thu phí, nh m nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành của trẻ trong công tác phòng chống đuối nước tại phường Nghi Hải nói riêng và công tác phòng tránh đuối nước trên địa bàn tỉnh nói chung
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Đuối nước là một vấn đề y tế công cộng quan trọng trong nhóm các vấn đề về tai nạn thương tích trên thế giới Theo báo cáo Toàn cầu về đuối nước của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có tới 372.000 người chết mỗi năm và là một trong mười nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở trẻ em và thanh niên trên Thế giới Đuối nước có thể xảy ra
ở tất cả các lứa tuổi, tuy nhiên trẻ em từ 4 - 15 tuổi là một trong những nhóm đối tượng
có nguy cơ cao, đặc biệt là những khu vực có tình trạng kinh tế phát triển thấp và trung bình[49], đặc biệt là lứa tuổi từ 10 – 15 tuổi
Nhóm trẻ từ 10 - 15 tuổi là giai đoạn trẻ có nhiều thay đổi cả về tâm sinh lý và xã hội dẫn đến những biến đổi sâu sắc về mặt tâm lý, nhân cách Giai đoạn này cơ thể trẻ đang diễn ra quá trình thay đổi hình thái sinh lý một cách mạnh mẽ và mang tính chất không cân đối Với những thay đổi về cơ thể, tâm sinh lý nên trẻ trong giai đoạn 10 –
15 tuổi đã có sự độc lập tương đối với người lớn, trẻ có chính kiến và đưa ra những quyết định cho các hành động của bản thân mà không cần sự cho ph p của người lớn, theo đó sự kiểm soát của người lớn đối với nhóm này khó hơn so với các nhóm tuổi khác Trẻ có xu hướng thích những hoạt động mạnh, không muốn chịu sự kiểm soát của
bố mẹ nên dễ xảy ra những tổn thương về mặt thể chất và tinh thần bởi tai nạn thương tích nói chung và đuối nước nói riêng, do đó sự hiểu biết và thái độ của trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự an toàn cho bản thân
Tại Việt Nam, đuối nước là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ
em và vị thành niên Trung bình mỗi năm trong giai đoạn 2010-2015 có khoảng 2.800 trẻ em bị tử vong do đuối nước Trong đó nhóm tuổi chiếm tỷ lệ tử vong cao nhất là từ 5-14 tuổi Tỷ lệ tử vong do đuối nước ở trẻ em chiếm hơn 50 các trường hợp tử vong
do tai nạn thương tích Tử vong do đuối nước ở Việt Nam cao nhất trong khu vực, cao gấp 8 lần các nước phát triển Theo báo cáo của 54/63 tỉnh, thành phố, trong 6 tháng đầu năm 2016, mặc d có nhiều biện pháp chỉ đạo sát sao nhưng tình hình đuối nước trẻ
em chưa giảm, số trẻ em bị tử vong do tai nạn thương tích là trên 1.600 em, trong đó có gần 1.000 em bị tử vong do đuối nước[1 Đuối nước có thể phòng ngừa được thông qua các biện pháp đơn giản, ph hợp với từng địa bàn, lứa tuổi Đuối nước có thể phòng ngừa được thông qua việc loại bỏ các nguy cơ xung quanh hộ gia đình Đối với trẻ em
Trang 12dưới 15 tuổi, đuối nước có thể dự phòng b ng cách dạy trẻ các kỹ năng bơi an toàn, cứu trợ khi cần thiết [20]
Nghi Hải là một phường của Thị xã Cửa Lò, Nghệ An với dân số là 10.042 người trong đó tổng số trẻ từ 10 - 15 tuổi năm 2017 của phường là khoảng 1.200 cháu Nghề nghiệp chính của người dân trong phường là ngư nghiệp, sản xuất dịch vụ, kinh doanh, Vị trí địa lý của phường là phía Đông giáp Biển Đông và sông Lam với chiều dài hơn 03 km, hệ thống ao, hồ, kênh rạch tương đối nhiều,… là một điểm thuận lợi cho phát triển kinh tế, du lịch, nhưng cũng là một nguy cơ gây đuối nước ở trẻ em Theo báo cáo của Trung tâm cứu hộ, cứu nạn và phòng chống thiên tai Thị xã Cửa Lò, Nghệ
An và Ủy ban nhân dân phường Nghi Hải trong 5 năm trở lại đây toàn phường có 05 trường hợp tử vong do đuối nước trong đó có 04 trường hợp trẻ dưới 15 tuổi tử vong do tai nạn đuối nước đã được ghi nhận [21,22,25,26]
Đứng trước thực trạng trên và hiện nay các nghiên cứu tìm hiểu kiến thức, thái độ
và thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ từ 10 – 15 tuổi hầu như không có, do vậy
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu:“Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu
t i n qu n đến phòng tránh đu i nước củ trẻ từ 10 – 15 tuổi tại phường Nghi Hải, Thị xã Cử Lò, Nghệ An năm 2017 ”
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ từ
10 – 15 tuổi trên địa bàn phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An năm 2017;
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng tránh đuối nước của trẻ
từ 10 – 15 tuổi trên địa bàn phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An năm 2017
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Dịch tễ học đuối nước
1.1.1 Định nghĩa đuối nước
Trên thế giới, nhiều định nghĩa về đuối nước đã được đưa ra
Năm 2008, Margie Peden đưa định nghĩa về đuối nước: đuối nước là sự kiện mà đường thở của trẻ bị ngập hoàn toàn trong môi trường nước dẫn tới tình trạng khó thở[39 Định nghĩa này bao tr m cả ba hậu quả có thể xảy ra bao gồm tử vong, tàn tật hay không tàn tật
Năm 2008, WHO đã đưa ra định nghĩa “Đuối nước là sự kiện mà đường thở của trẻ bị ngập hoàn toàn trong môi trường nước dẫn tới tình trạng khó thở” Định nghĩa này bao tr m cả ba hậu quả có thể xảy ra bao gồm tử vong, tàn tật hay không tàn tật[57]
Đến năm 2014, Báo cáo toàn cầu về đuối nước của WHO đã đưa ra định nghĩa:
“Đuối nước là hiện tượng khí quản của người lớn hay trẻ nhỏ bị một chất lỏng (thường
là nước) xâm nhập vào dẫn tới khó thở Hậu quả của ngạt thở lâu có thể là tử vong (chết đuối) hoặc không tử vong”[55]
Như vậy, ở cả hai định nghĩa của WHO, các trường hợp được coi là đuối nước bao gồm cả các trường hợp tử vong và không tử vong Tuy nhiên, một số định nghĩa khác tách biệt cả hai trường hợp này:
Năm 2016, Báo cáo về đuối nước của Canada đưa ra định nghĩa “Đuối nước là chết ngạt do không khí không vào được phổi và ngăn chặn sự hấp thu oxy dẫn tới thiếu oxy não”[50 Trong định nghĩa này, đuối nước được coi là một hình thức tử vong do ngạt
Đề cập đến các trường hợp tử vong, Từ điển Y dược đưa ra định nghĩa “Chết đuối
là tình trạng nghẹt thở và chết do kết quả của việc phổi bị tràn ngập nước hay chất lỏng khác”[33 Các trường hợp không tử vong được gọi là suýt chết đuối, “sự sống sót sau
sự kiện đường hô hấp bị ngạt do chìm trong môi trường chất lỏng” hay là “sự sống sót tạm thời sau khi bị hút dịch lỏng vào trong phổi”[51]
Trong nghiên cứu này, do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu là trẻ em từ 10 – 15
tuổi nên chúng tôi đã chọn định nghĩa về đuối nước của Tổ chức Y tế thế giới: “Đu i
nước à hiện tượng khí quản củ người ớn h y trẻ nhỏ bị một chất ỏng (thường à
Trang 15nước) xâm nhập vào dẫn tới khó thở Hậu quả củ ngạt thở âu có thể à tử vong (chết
đu i) hoặc không tử vong”
1.1.2 Dịch tễ học về đuối nước
1.1.2.1 Thực trạng về đuối nước trên thế giới
Năm 2015, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, toàn cầu có gần 360.000 người chết vì đuối nước Gần 60 số ca tử vong này xảy ra ở những người dưới 30 tuổi
và đuối nước là nguyên nhân thứ ba gây tử vong trên toàn thế giới cho trẻ em từ 5-14 tuổi Hơn 90 tử vong do đuối nước xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Các biện pháp phòng ngừa đuối nước bao gồm các giải pháp dựa vào cộng đồng, như chăm sóc trẻ em và các rào cản kiểm soát việc tiếp cận nước, hiệu quả của các chính sách quốc gia và luật lệ về an toàn nước, bao gồm thiết lập và thực thi các quy định về chèo thuyền, vận chuyển và phà Cần phải hành động nhiều hơn nữa để ngăn ngừa đuối nước, và các cam kết trong Mục tiêu Phát triển Bền vững sẽ không thể thực hiện được nếu không có biện pháp phòng ngừa đuối nước[56]
Hoa Kỳ: Từ 2005-2014, hàng năm tại Hoa Kỳ trung bình có 3.536 người chết
do đuối nước - khoảng mười trường hợp tử vong mỗi ngày (chưa tính 332 trường hợp đuối nước chết mỗi năm do tai nạn chèo thuyền) Trung bình cứ 5 người chết vì đuối nước có 1 trẻ dưới 14 tuổi Hơn 50 nạn nhân đuối nước điều trị tại các khoa cấp cứu đòi hỏi phải n m viện hoặc cần được chăm sóc thêm trong tương lai Những thương tích do đuối nước này có thể gây ra tổn thương nghiêm trọng cho não, dẫn đến khuyết tật lâu dài như vấn đề về bộ nhớ, mất khả năng học tập, và mất vĩnh viễn các chức năng
cơ bản (ví dụ sống trạng thái thực vật vĩnh viễn)[30]
Canada: Báo cáo về Đuối nước của Canada đã mô tả các số liệu liên quan đến
số trường hợp tử vong tại quốc gia này do đuối nước từ năm 1990 đến 2013 Số liệu cho thấy r ng tỷ lệ tử vong liên quan đến đuối nước đã giảm trong vòng 20 năm qua, từ trung bình 2,0/100.000 dân (1994 – 1998) xuống còn 1,4/100.000 dân (2009 – 2013) Nhóm tuổi từ 05 – 14 là nhóm tuổi có nguy cơ đuối nước cao thứ hai sau nhóm 20 – 24 tuổi Điều này được lý giải do tác động của các chương trình can thiệp phòng chống đuối nước hướng đến các cha mẹ có con nhỏ được thực hiện tại tất cả các bang và các
khu vực của Canada[50]
Trang 16Biểu đồ 1: Số trường hợp tử vong do đuối nước tại Canada từ 1990 - 2013
Ireland: Theo báo cáo hàng năm của Ireland về tình hình đuối nước, số liệu giai
đoạn 2006 – 2015 cho thấy mỗi năm Ireland có khoảng 133 trường hợp tử vong do đuối nước Tỷ lệ nam giới tử vong do đuối nước cao hơn tỷ lệ này ở nữ giới rất nhiều Nhóm
0 – 14 tuổi lại có số trường hợp tử vong chỉ đứng sau độ tuổi 20 – 29 Điều này được lý giải vì trẻ em trong độ tuổi này có xu hướng bị giám sát chặt chẽ, do đó các nguy cơ về đuối nước được hạn chế tối đa Nguyên nhân của nhiều trường hợp tử vong do đuối nước ở trẻ 0 – 14 tuổi là không được trang bị thiết bị bảo hộ khi thực hiện các hoạt động dưới nước, bị rơi xuống nước, không biếtbơi, không có người giám sát[36]
Bảng 1: Số trường hợp tử vong do đuối nước tại Ireland từ 2006 - 2015
Năm 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015
Số ca tử vong 131 156 158 145 112 128 147 124 114 122
Thái Lan: Đuối nước là một trong những vấn đề y tế công cộng lớn tại Thái
Lan, là nguyên nhân tử vong hàng đầu của trẻ em dưới 15 tuổi Ở lứa tuổi trẻ em, tỷ lệ
tử vong do đuối nước cao hơn tỷ lệ tử vong do mắc các bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm Từ năm 2002 đến 2013, Thái Lan có 49.878 trường hợp tử vong do đuối nước (không bao gồm các trường hợp tử vong do ngã xuống nước, các thảm họa hoặc tai nạn giao thông đường thủy), tính trung bình có khoảng 4.157 trường hợp tử vong mỗi năm Trong nhóm trẻ em dưới 15 tuổi, trung bình có 1.291 trường hợp tử vong mỗi năm, chiếm khoảng 25 – 30 số trường hợp tử vong ở tất cả các nhóm tuổi Các trường hợp tử vong của trẻ em trên 5 tuổi thường do sự thiếu kiến thức của trẻ về các nguy hiểm có thể xảy ra dưới nước, không biết bơi, cứu hộ và cấp cứu không đúng cách [48]
Trang 17Đuối nước ảnh hưởng lớn tới gánh nặng tài chính và chất lượng cuộc sống của gia đình nạn nhân Đối với trẻ em dưới 15 tuổi, tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình
ở khu vực Tây Thái Bình Dương theo báo cáo của WHO, đuối nước là nguyên nhân của
4 số năm sống điều chỉnh theo bệnh tật (DALYs) [51] Tử vong, thương tích và tàn tật tác động lớn đến nạn nhân và gia đình nạn nhân.Nhiều trẻ sau sống sót khỏi chết đuối phải chịu hậu quả và thương tật lâu dài gây ra nhiều khó khăn cho gia đình với các chi phí chăm sóc y tế không thể cắt giảm được Các số liệu toàn cầu chỉ ra r ng có khoảng 28 trong số tất cả các ca tử vong do thương tích không chủ ý ở trẻ em là do đuối nước và 1,1 của DALYs ở trẻ em dưới 15 tuổi tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình là do đuối nước không gây tử vong(suýt chết đuối) gây ra[51]
Nghiên cứu đánh giá chi phí của thương tích ở một vài v ng trên thế giới cho đến nay đã bỏ qua rất nhiều hoặc đánh giá không hết ảnh hưởng kinh tế của đuối nước Mặc
d thiếu số liệu chính xác, các ước tính hiện có chỉ ra r ng đuối nước không gây tử vong có thể gây ra những hậu quả kinh tế nghiêm trọng Một nghiên cứu đuối nước không gây tử vong ở Hoa Kỳ đã cho thấy, tổng số 53 trường hợp đuối nước tuổi từ 0 –
14 tuổi, được ghi nhận chẩn đoán là gần đuối nước, thời gian n m viện trung bình là 8 ngày, với tổng chi cho y tế là hơn 14.000 đô la Mỹ cho mỗi trường hợp[30]
1.1.2.2 Thực trạng đuối nước tại Việt Nam
Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, bình quân giai đoạn 2012- 6/2015: mỗi năm có khoảng 1.363 trẻ em bị tử vong do đuối nước, giảm gần một nửa so với năm 2013 Song các chuyên gia đều cho r ng đây là số liệu báo cáo theo hệ thống hành chính, không phải là số liệu khảo sát độc lập; trên thực tế số trẻ em bị tử vong do đuối nước cao hơn nhiều Vì thế việc thực hiện các tiêu chí liên quan đến phòng chống đuối nước và tử vong do đuối nước cũng như các tiêu chí trẻ em biết bơi,
có kỹ năng tự cứu sống của Chương trình Phòng chống tai nạn thương tích do đuối nước 2016 -2020 nếu không có nỗ lực lớn thì rất khó đạt được Số liệu báo cáo của 16 tỉnh, thành phố cho thấy, giai đoạn từ năm 2013 – 2015, còn nhiều tiêu chí liên quan đến phòng chống tai nạn thương tích do đuối nước vẫn chưa thực hiện được, chỉ duy nhất tiêu chí trẻ em sử dụng áo phao hoặc cặp phao khi tham gia giao thông đường thủy
là đạt 71,19 Trong khi đó, mới có trên 900.000 trẻ em ở độ tuổi tiểu học và trung học
cơ sở biết bơi Con số này còn thấp so với yêu cầu Nguyên nhân là do hầu hết các
Trang 18trường học chưa có bể bơi tại trường, bên ngoài cộng đồng số bể bơi còn ít, bên cạnh đó các ao hồ, sông suối thì ô nhiễm, kinh phí đầu tư cho việc phổ cập bơi cho trẻ em còn hạn chế nên việc dạy bơi cho học sinh và trẻ em nói chung còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các tỉnh miền núi Bên cạnh đó, còn nhiều giáo viên thể dục không biết bơi, việc dạy bơi cho trẻ em chỉ thực hiện trên lý thuyết Một số chỉ tiêu đặt ra chưa khả thi và khó đạt, ví dụ chỉ tiêu “Ít nhất 50 số trẻ em lứa tuổi tiểu học và 70 số trẻ em lứa tuổi trung học cơ sở biết bơi và có kỹ năng tự cứu đuối”, trên thực tế có nhiều tỉnh đạt tỷ lệ rất thấp, ví dụ tỉnh Thái Nguyên chỉ có khoảng 1 học sinh tiểu học và 1,6 học sinh trung học cơ sở biết bơi Đối với tiêu chí 100 số bể bơi, hồ bơi công cộng, bãi tắm tại các khu du lịch được cấp ph p bảo đảm các quy định an toàn, mới
đạt 87,62%[1]
Theo Thống kê của Cục Quản lý Môi trường Y tế - Bộ Y tế, đuối nước là nguyên nhân thứ 2 gây ra tử vong do tai nạn thương tích tại Việt Nam, chỉ sau tai nạn giao thông, với tỷ suất tử vong năm 2012 là 7,41/100.000 dân Tỷ suất đuối nước khác nhau giữa các nhóm tuổi và giới tính Năm 2012, Việt Nam có 6.426 người tử vong do đuối nước được báo cáo, trong đó nhóm tuổi 5-14 là nhóm tuổi có số ca tử vong chỉ đứng thứ hai sau nhóm tuổi 0 – 4 tuổi (1.579 người, tỷ suất 11,1/100.000) Tại Việt Nam, nam giới tử vong do đuối nước nhiều hơn nữ giới Năm 2012, báo cáo ghi nhận 4.651 nam giới và 1.775 nữ giới tử vong do đuối nước với tỷ suất tương ứng là 10,76/100.000
và 4,08/100.000[5]
Điều tra Quốc gia về tai nạn thương tích (VNIS 2010) đã chỉ ra r ng đuối nước
là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong trong các nhóm tuổi Tỷ lệ tử vong trung bình
do đuối nước của trẻ em (0-19) ở Việt Nam là 8,1/100.000 Tỷ lệ tử vong do đuối nước
ở nam giới là 10,7/100.000 cao hơn so với tỷ lệ này ở nữ giới là 5,4/100.000[24]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Phan Thanh Hòa và Phạm Việt Cường cho thấy,
tỷ suất tử vong do đuối nước ở trẻ em v ng Đồng b ng Sông Cửu Long là 28,3/100.000 trẻ/năm, ước tính sẽ có 1.440 trẻ bị tử vong do đuối nước trong năm và trung bình mỗi
ngày sẽ có khoảng 4 trẻ bị tử vong do đuối nước[19]
Nghiên cứu của Huỳnh Thiện Sĩ và Nguyễn Đỗ Nguyên về Dịch tễ học tử vong
do đuối nước ở trẻ em tại Đồng Tháp trong tổng số 272 trường hợp tử vong do đuối
Trang 19nước trẻ em dưới 16 tuổi, trong thời gian từ 2003-2006 cho thấy có hơn 35 các trường hợp là trẻ em từ 5-16 tuổi[13]
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ của đuối nước trẻ em
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra một số nhóm yếu tố nguy cơ của đuối nước trẻ em, bao gồm: tuổi, giới tính, địa điểm và thời gian
Tuổi: Tuổi là một trong những yếu tố nguy cơ chính gây ra đuối nước Mối quan
hệ này thường gắn liền với sự mất hiệu lực trong giám sát Ở Australia, Trung Quốc, Việt Nam: đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong thứ hai ở trẻ em từ 1-14 tuổi; và cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 1-17 tuổi ở Philippines [56]
Theo báo cáo toàn cầu của Tổ chức Y tế thế giới về đuối nước năm 2014, đuối nước là nguyên nhân thứ ba gây tử vong trên toàn thế giới cho trẻ em từ 5-14 tuổi Trong đó, khu vực Tây Thái Bình Dương, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở cả hai nhóm tuổi là 5-9 tuổi và 10 – 14 tuổi; tiếp đến là khu vực Đông Nam Á đuối nước là nguyên nhân thứ hai gây tử vong trong nhóm tuổi từ 10-14 tuổi và tử vong trong nhóm tuổi này là cao nhất so với các nhóm tuổi khác Ở khu vực châu Phi, đuối nước đứng thứ 10 trong 10 nguyên nhân gây tử vong cho nhóm 5-9 tuổi và đứng thứ 9
trong 10 nguyên nhân gây tử vong ở nhóm 10 – 14 tuổi [55]
Trang 20XẾP HẠNG ĐUÔI NƯỚC TRONG
10 NGUYÊN NHÂN TỬ VONG
Khu vực Tây Khu vực Khu vực Khu vực Khu vực Khu vực Các nước có
Thái Bình Dương Đông Nam Á Châu Âu Địa Trung Hải Châu Mỹ Châu Phi Thu nhập cao
Biểu đồ 2: Xếp hạng đuối nước trong 10 nguyên nhân tử vong theo khu vực và nhóm tuổi
Lưu ý: Dữ liệu của các nước có thu nhập cao xuất hiện dưới dạng “Các nước có thu nhập cao’’ Tất cả các khu vực còn lại do WHO cung cấp và chỉ xếp hạng cho các nước có thu nhập thấp và trung bình trong các khu vực này
Trong năm 2012, hơn 81.000 người bị chết đuối ở khu vực Tây Thái Bình Dương
Hơn 30 số tử vong do đuối nước là ở trẻ em dưới 15 tuổi và đuối nước là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho trẻ em từ 5 đến 14 tuổi trong khu vực[57]
Số liệu từ các nghiên cứu được thực hiện tại Bangladesh năm 2009, tỷ suất đuối nước ở trẻ em từ 0 – 17 tuổi 28,6/100.000 dân[44 Một nghiên cứu khác ở Matlab, Bangladesh, tỷ lệ tử vong do đuối nước ở các nhóm tuổi như sau: nhóm 5 – 19 tuổi là
14,7 chỉ đứng sau nhóm từ 1 – 4 tuổi là 80,5 , nhóm dưới 1 tuổi 4,8 [27]
Các nhóm tuổi khác nhau có những yếu tố nguy cơ khác nhau, phụ thuộc vào quá trình phát triển thể chất và tâm lý của trẻ Trẻ nhỏ thường bị tai nạn do trẻ ở một mình
và chưa có khả năng xác định nguy hiểm, hoặc do người chăm sóc thiếu kinh nghiệm
Khi trẻ lớn hơn và tò mò hơn, trẻ thường có xu hướng tiếp xúc nhiều hơn với những tình huống nguy cơ tiềm tàng mà không có người lớn giám sát
Giới: Các em trai được nhắc đến nhiều ở tất cả các khu vực trên thế giới về tỷ lệ
tử vong do đuối nước (Bảng 2) Năm 2004, tỷ lệ tử vong chung cho các em trai dưới 20 tuổi là 9 trên 100.000 dân, cao gần gấp đôi so với các em gái (5,2 trên 100.000 dân)
Trang 21Một đối xứng tương tự hướng tới các em trai đã được phát hiện trong các điều tra ở khu vực Đông Nam Á[54]
Bảng 2: Tỷ lệ đuối nước gây tử vong ở trẻ em trên 100.000 dân theo giới tính, khu vực của WHO và mức độ thu nhập, Thế giới, 2008
HIC – Các quốc gia thu nhập cao
LMIC – Các quốc gia thu nhập thấp và trung bình
Một nghiên cứu ở v ng nông thôn Nam Phi cũng chỉ ra sự khác biệt về giới về giới: Khi tỷ suất đuối nước ở trẻ em trai là 5,3/100.000 trẻ và ở trẻ em gái là 2,1/100.000 trẻ[35] Một nghiên cứu gánh nặng của tử vong ở v ng nông thôn Việt Nam từ năm 1999 – 2003, kết quả cho thấy, nguyên nhân gây tử vong do đuối nước ở nam là 4,6 và ở nữ là 2,7 [19]
Một nghiên cứu tại Singapo về dịch tễ học của đuối nước và gần đuối nước để xác định các yếu tố nguy cơ và đề xuất các chiến lược phòng ngừa đuối nước cũng cho thấy Tử vong do đuối nước ở nam cao gấp 3 lần so với nữ Hầu hết với trường hợp bị đuối nước, các tiêu chí về toàn tại địa điểm xảy ra sự việc đều thiếu, như không có nhân viên cứu hộ, không có áo phao, không có hàng rào hoặc biển hiệu cảnh báo
Số liệu thống kê phản ánh, trẻ nam cũng là một yếu tố nguy cơ với đuối nước trên toàn thế giới, và giống như tình hình hiện nay tại Việt Nam Điều này là do thực tế trẻ nam thường chơi những trò chơi ngoài trời và có nhiều hành vi nguy cơ cao hơn so với trẻ nữ Trong những gia đình ngư dân, trẻ nam cũng thường đi đánh cá c ng người lớn còn trẻ nữ thì ở nhà Thực tế này cũng làm trẻ nam có nguy cơ đuối nước ở biển cao hơn [46]
Trang 22Thời gian: Có nhiều nghiên cứu đã cho thấy đuối nước ở trẻ thường xảy ra tập
trung vào một số thời điểm trong ngày hoặc một số tháng trong năm Tuy nhiên, thời gian này là khác nhau ở các quốc gia Ở Thái Lan, các trường hợp đuối nước xảy ra quanh năm nhưng thường xảy ra nhiều nhất vào Tháng Tư, tiếp theo là Tháng Ba, Tháng Năm và Tháng Mười[48 Tuy nhiên một nghiên cứu khác ở Trung Quốc cho thấy hầu hết các sự cố (80 ) xảy ra trong những tháng ấm áp (từ tháng 5 đến tháng 7)[34 Thời điểm đuối nước chủ yếu là vào buổi chiều (65 ), 27 các trường hợp xảy
ra vào giữa trưa, và 7 vào buổi sáng Các nghiên cứu ở Việt Nam cho kết quả đuối nước xảy ra phổ biến nhất vào những tháng hè, từ tháng 6 đến tháng 8[13,15] Một nghiên cứu tại Đồng b ng sông Cứu Long chỉ ra r ng thời gian xảy ra đuối nước phổ biến từ 13 giờ – 17 giờ là 62,7 [10], nhưng nghiên cứu khác tại miền Bắc lại đưa ra khoảng thời gian phổ biến là buổi sáng (87 ) mà thời điểm lúc 9h sáng đuối nước xuất hiện với tỷ lệ tương đối cao, chiếm 59,8 [8 Có thể nhận thấy, sự khác biệt này t y thuộc vào khí hậu và lịch học của trẻ Trong khoảng thời gian khí hậu nóng bức hơn trong năm, trẻ có nguy cơ bị đuối nước cao hơn, ph hợp với thực tế gia tăng tắm biển, tắm sông, ao, hồ,… ở các nước nhiệt đới Tại Việt Nam, khoảng thời gian từ tháng 6-8 cũng là những tháng nghỉ hè, trẻ có thời gian tự do vui chơi và sự giám sát của người lớn dành cho trẻ cũng giảm xuống
Địa điểm xảy ra đuối nước
Nguồn nước
Cảnh quan xung quanh khu vực sống có khả năng gia tăng nguy cơ trẻ bị đuối nước 83 các trường hợp được báo cáo r ng có nguồn nước tự nhiên xung quanh trường học hoặc nhà, và 76 của các v ng nước tự nhiên này không có bảng cảnh báo[34 75 các trường hợp đuối nước xảy ra trong v ng nước tự nhiên (sông/ao/mương nước/bể), 15 trong các hồ bơi và 2 trong các giếng nước uống[35] Nghiên cứu ở Matlab cũng chỉ ra r ng, tỷ lệ tử vong do đuối nước, 45 xảy ra ở ao, 16,8 ở mương, 8,1 ở kênh và 4,4 là ở sông [27]
Địa điểm xảy ra đuối nước cũng có liên quan đến độ tuổi Ở Hoa Kỳ, trẻ trên 5 tuổi đuối nước nhiều nhất ở các bể bơi, sông và hồ[30] Ở Nam Phi địa điểm xảy ra đuối nước thường là biển, bể bơi và sông, mặc d một số lượng lớn cũng xảy ra trong
và xung quanh nhà (ví dụ như hồ bơi), thời gian xảy ra đuối nước vào những ngày cuối
Trang 23tuần (37 ) và đuối nước gia tăng vào những tháng hè, đỉnh cao nhất là tháng 12[35] Điều này cũng ph hợp với phân tích về thời gian gia tăng nguy cơ đuối nước ở trẻ em
ở trên
Ở Việt Nam, có 59 số trường hợp đuối nước ở trẻ xảy ra ở sông và suối, 28,2
ở ao, 7,7 ở biển và 5,1 xảy ra trong nhà Hơn một nửa (52,8 ) các trường hợp tử vong xảy ra ở gần nhà khi trẻ đang chơi[14]
Như vậy, các trẻ trên 5 tuổi lại có nguy cơ bị đuối nước tại các khu vực sâu và rộng hơn như bể bơi, ao, hồ, sông – những khu vực mà khi lớn hơn, trẻ có thể tiếp cận ngay cả khi không có sự giám sát của người lớn
Thành thị/nông thôn
Các b ng chứng từ các nghiên cứu đuối nước ở trẻ em tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình như Trung Quốc và Bangladesh cho kết quả trẻ em ở nông thôn có nguy cơ đuối nước cao hơn trẻ em ở thành thị[27,54,44] Ở Trung Quốc, tỷ suất đuối nước trên 100.000 dân giữa 2 khu vực này khá cao, 5,85 ở khu vực nông thôn và 0,75 ở
khu vực thành thị [35]
Ở Thái Lan, đuối nước xảy ra ở cả hai thành thị và nông thôn, nhưng vấn đề nghiêm trọng hơn là ở nông thôn Trẻ em nông thôn Thái Lan có tỷ suất đuối nước là 72,4/100.000 trẻ Ở nhóm tuổi từ 10 – 14 tuổi, đuối nước ở khu vực thành thị không ghi nhận được trường hợp nào nhưng trẻ em nông thôn trong độ tuổi từ 1 – 17 tuổi có khả năng bị đuối nước hơn 5 lần so với trẻ em ở thành thị [42,49]
Ở Việt Nam, các trường hợp đuối nước gây tử vong xuất hiện nhiều hơn ở v ng nông thôn, một phần là do đuối nước thường xảy ra ở sông, suối và hồ, các địa điểm này thường phân bố nhiều ở v ng nông thôn[6 Thậm chí, nghiên cứu của Huỳnh Thiện Sĩ và Nguyễn Đỗ Nguyênvề Dịch tễ học tử vong do đuối nước ở trẻ em tại Đồng Tháp còn cho kết quả hầu hết 98,1 tai nạn xảy ra đuối nước ở ngoài nhà do ngã xuống sông, rạch, ao, mương, … [13]
Một yếu tố khác được đề cập tới về khu vực xảy ra đuối nước là biển cảnh báo nguy hiểm tại các khu vực nước sâu Trong nghiên cứu của Đặng Văn Chính và cộng
sự, kết quả cho thấy 97 các trường hợp đuối nước trẻ em xuất hiện ở khu vực không
có biển báo cảnh báo nguy hiểm hay các hàng rào bảo vệ ngăn cách[10]
Trang 241.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh đuối nước trẻ em
1.2.1 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước trẻ em trên thế giới
Nghiên cứu của Linda Quan và cộng sự về niềm tin và thực hành để ngăn ngừa đuối nước giữa thanh thiếu niên và cha mẹ người Mỹ gốc Việt được tiến hành tại bang Washington, Mỹ Đối tượng nghiên cứu là bố mẹ có ít nhất 01 trẻ trong độ tuổi từ 10 –
18 tuổi và các thanh thiếu niên từ 15 – 19 tuổi Tổng cộng có 15 thanh thiếu niên và 20 người lớn tham gia, tất cả đều là dân nhập cư Kết quả nghiên cứu cho thấy, kiến thức
về đuối nước và phòng tránh đuối nước của các thanh thiếu niên và các bố mẹ không cao; Đối tượng là bố mẹ cho r ng các thanh thiếu niên là đối tượng có nguy cơ cao do
áp lực từ bạn bè, họ có thể thực hiện các hoạt động dưới nước ngay cả khi không biết bơi, đa số cho r ng sử dụng áo phao chỉ giành cho những người không biết bơi và đuối nước là do số phận Cha mẹ và thanh thiếu niên muốn có thông tin về áo phao cứu sinh, các yêu cầu giám sát và các thông điệp khác về an toàn nước b ng tiếng Việt cho phụ huynh và b ng tiếng Anh cho thanh thiếu niên để tạo điều kiện liên lạc giữa các thế hệ[30]
Nghiên cứu của Petrass L.A và cộng sự được tiến hành năm 2011 hồi cứu các ca chết đuối không chủ định từ năm 2000 đến năm 2009 tại Australia Tổng cộng có tất cả
339 trường hợp chết đuối được khảo sát và tác giả phát hiện 71,7 các trường hợp chết đuối đề do thiếu sự giám sát của người chăm sóc Nghiên cứu cũng rút ra kết luận thiếu quan sát của cha mẹ có mối liên quan chặt chẽ đến đuối nước ở trẻ em [41]
Một nghiên cứu bệnh chứng của Li Yang, Quan- Quin Nong, Chun-li và cộng sự được tiến hành vào năm 2007 nh m tìm hiểu các yếu tố nguy cơ của NCST liên quan đến đuối nước trẻ em tại khu vực nông thôn Trung Quốc Đây là một nghiên cứu bệnh chứng bao gồm 133 ca chết đuối và 266 ca chứng c ng tuổi Kết quả cho thấy NCST là ông bà chiếm tỷ lệ khá cao ở cả hai nhóm bệnh và chứng (55,6 và 44,4 ) Sức khỏe của NCST cũng được khảo sát trong đó trên 90 người chăm sóc có sức khỏe tốt Người chăm sóc cũng được hỏi là có biết bơi hay không, và kết quả cho thấy 72,2 không biết bơi Về kiến thức hô hấp nhân tạo, không có người chăm sóc trẻ nào ở cả hai nhóm biết cách hô hấp nhân tạo khi ngạt nước Về giám sát trẻ chơi gần nước hoặc bơi
Trang 25trong ao hồ thì có đến 78 người chăm sóc ở nhóm chứng và chỉ 57,9 người chăm sóc ở nhóm bệnh có giám sát trẻ [35]
Nghiên cứu của Rahman A và cộng sự năm 2003, phân tích tình hình tử vong
do đuối nước ở trẻ em tại Bangladesh Nghiên cứu tiến hành điều tra cắt ngang với 352.000 trẻ em từ 0 – 17 tuổi được chọn từ 171.366 hộ gia đình, b ng cách sử dụng mẫu cụm đa tầng Tiến hành tại 12 quận lựa chọn ngẫu nhiên và thành phố Dhaka Metropolitan Số liệu thu thập b ng phỏng vấn trực tiếp với người trả lời và ghi nhận các thông tin về hộ gia đình trong 2 năm qua Kết quả nghiên cứu cho thấy đuối nước là nguyên nhân thứ năm trong số 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trẻ em từ 0 – 17 tuổi với tỷ suất 27,3/100.000 trẻ/năm Tuy nhiên, loại trừ trẻ sơ sinh, đuối nước trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em 1 – 17 tuổi Hơn 80 đuối nước xảy
ra ở các nguồn nước tự nhiên, ao hồ, sông, rạch là những nơi thường gặp nhất của đuối nước Hầu hết các trẻ bị đuối nước đều không biết bơi Trong số những trẻ trên 4 tuổi, chỉ có 7 số trẻ em bị đuối nước là biết bơi lội Ao hồ, sông, rạch là những nơi thường nhất xảy ra đuối nước và thời gian vào ban ngày và nghiên cứu này cho biết thêm, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em từ 1 – 17 tuổi ở Bangladesh, cả hai khu vực nông thôn và thành thị Tỷ suất đuối nước ở nhóm 10 – 14 tuổi là 33 chỉ sau nhóm trẻ em 1 – 4 tuổi[45]
Các nghiên cứu trên đều cho thấy r ng, đuối nước ở trẻ em là vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng ở khu vực, với tỷ suất tử vong cao so với các loại chấn thương khác Các nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới cho thấy, kiến thức, thái độ, thực hành phòng tránh đuối nước cho trẻ còn bị xem nhẹ, đặc biệt việc thiếu quan tâm, thiếu sự giám sát của người chăm sóc có mối liên quan chặt chẽ đến đuối nước ở trẻ em Các hành vi phòng ngừa của người chăm sóc trẻ như mặc áo phao cho trẻ khi đi ghe/thuyền/phà, làm rào chắn các khu vực chứa nước xung quanh nhà, dạy bơi cho trẻ, tham gia các lớp học về sơ cấp cứu vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Các hành vi này chỉ được đề cập trong nhiều nghiên cứu dưới dạng các đề xuất kiến nghị sau khi đã tìm ra nguyên nhân của các ca chết đuối trẻ em là do sự bất cẩn của cha mẹ hoặc người thân
Trang 261.2.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh đuối nước trẻ em tại Việt Nam
Một nghiên cứu của Doãn Ngọc Định và cộng sự về “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh đuối nước cho trẻ từ 0 đến 5 tuổi của người chăm sóc trẻ tại xã Đoàn Đào, huyện Ph Cừ, tỉnh Hưng Yên năm 2012” Kết quả cho thấy: 13,9 đối tượng có kiến thức đạt về phòng chống đuối nước; 97,7 có thái độ tốt về phòng chống đuối nước; 24,5 đối tượng có thực hành tốt về phòng chống đuối nước, tỷ lệ ĐTNC thực hành phòng chống đuối nước còn thấp với một số biện pháp như: rào chắn bờ ao kênh mương (27,7 ), lập cửa ngăn của cầu ao an toàn (25,7 ) [7]
Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Lan và cộng sự về “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống tai nạn thương tích ở học sinh trung học phổ thông huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái năm 2011” Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ mắc tai nạn thương tích (trong đó bao gồm cả đuối nước) của học sinh trung học phổ thông huyện Lục Yên
là 28,9 trong đó nam chiếm 63,8 cao hơn so với nữ 36,2 ; Địa điểm xảy ra đuối nước chủ yếu là tại các hồ (chiếm 60 ) Trong số 116 trường hợp tai nạn thương tích mắc phải chỉ có 45 trường hợp đến cơ sở y tế điều trị chiếm tỷ lệ 38,8 Về kiến thức phòng chống tai nạn thương tích, tỷ lệ học sinh có kiến thức chung về phòng chống tai nạn thương tích đạt thấp chiếm tỷ lệ là 25,4 Về thái độ đối với tai nạn thương tích, tỷ
lệ học sinh có thái độ quan tâm khi chứng kiến hoặc nghe, thấy về tai nạn thương tích là 87,3 , cho r ng tai nạn thương tích có thể phòng chống được là 91,3 , thái độ cho
r ng cần thiết phải truyền thông phòng chống tai nạn thương tích là 98,3 , thái độ đồng ý tham gia khi có hoạt động truyền thông phòng chống tai nạn thương tích là 95,5 Về thực hành phòng chống tai nạn thương tích, chỉ có 32,3 thường xuyên thực hành các biện pháp phòng chống tai nạn thương tích[17]
Một nghiên cứu can thiệp của Nguyễn Thúy Quỳnh “Nghiên cứu giải pháp can thiệp phòng chống tai nạn thương tích cho học sinh tiểu học dựa vào nhà trường tại thành phố Đà Nẵng, 2012”: Kết quả nghiên cứu sau khi phân tích thực trạng tai nạn thương tích (trong đó bao gồm đuối nước) tại các trường tiểu học (06 – 11 tuổi) của thành phố Đà Nẵng năm 2012 cho thấy: đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho học sinh tiểu học Tai nạn thương tích gây tử vong là mức độ nghiêm trọng
Trang 27nhất của tai nạn thương tích, mặc d đuối nước không phải là nguyên nhân tai nạn thương tích không tử vong nhưng lại là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong[18]
Một nghiên cứu của Huỳnh Thiện Sĩ và Nguyễn Đỗ Nguyên, Dịch tễ học tử vong do đuối nước ở trẻ em tại Đồng Tháp, với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, số liệu thứ cấp được thu thập qua các báo cáo hàng năm của Ủy Ban dân số gia đình và Trẻ em của tỉnh Tổng số 272 trường hợp tử vong do đuối nước trẻ em dưới 16 tuổi, trong thời gian từ 2003 đến tháng 8/2006 Kết quả cho thấy, tỷ lệ tử vong do đuối nước ở nam cao gấp 2 lần so với nữ Trong tất cả các năm, tỷ lệ tử vong do đuối nước cao nhất là trong tháng 8 Hầu hết 98,1 tai nạn xảy ra đuối nước ở ngoài nhà do ngã xuống sông, rạch, ao, mương, … và chỉ có 1,9 xảy ra trong nhà là ngã vào lu chứa nước ở trẻ dưới 4 tuổi Đây là một nghiên cứu đầu tiên tại Đồng Tháp về đuối nước, với những số liệu thứ cấp nên tính giá trị của số liệu có thể chưa cao và thông tin còn hạn chế Kết quả của nghiên cứu có thể chưa chính xác, cho d tất cả các trường hợp được báo cáo, nhưng vẫn bỏ sót những trường hợp đuối nước không tử vong và những trường hợp xảy ra ở người lớn D có những hạn chế nhất định, nhưng kết quả nghiên cứu cũng cho thấy một mô hình sơ bộ của tử vong do đuối nước ở trẻ em tại một số địa bàn nhiều sông nước, chịu ảnh hưởng của lũ hàng năm, nhưng những biến cố lại xảy ra nhiều hơn vào thời gian ngoài m a lũ[13]
Nghiên cứu của Nguyễn Tấn Hưng: Thực trạng về vấn đề đuối nước tại 5 huyện
v ng lũ tỉnh Đồng Tháp, từ tháng 6/2004 đến tháng 5/2005 Khảo sát 48 trường hợp tử vong do đuối nước, phỏng vấn 30 hộ gia đình có trẻ bị đuối nước và 30 cán bộ y tế là trưởng, phó trạm B ng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng Kết quả cho thấy, tỷ suất đuối nước ở nam cao gấp 1,5 lần so với nữ Tỷ lệ đuối nước ở trẻ em vào m a lũ cao hơn m a khô gấp 2,4 lần, đặc biệt vào các tháng 8,
9, 10, đây là các tháng lũ cao nhất trong năm Nghiên cứu cũng đưa ra các yếu tố nguy
cơ đuối nước như: Trẻ không biết bơi, trẻ chơi gần sông, ao hồ, kênh rạch, … mà không
có người trông coi, các phương tiện đi lại trên sông mà không có trang bị bảo hộ, thiếu nhà giữ trẻ trong m a lũ[15]
Nghiên cứu của Dương Khánh Vân, Nguyễn Ngọc Ngà và cộng sự về nguy cơ đuối nước trẻ em dưới 18 tuổi tại 6 xã thuộc các tỉnh Hải Dương, Thừa Thiên Huế và Đồng Tháp thời gian từ tháng 6/2002 đến 6/2005: Với phương pháp nghiên cứu mô tả
Trang 28cắt ngang hồi cứu, kết hợp với nghiên cứu định tính Kết quả cho thấy, tỷ lệ đuối nước
ở nam cao gấp 2 lần so với nữ Thời gian xảy ra đuối nước phần lớn là vào tháng 4 đến tháng 9 Thời điểm xảy ra đuối nước vào ban ngày, không có trường hợp nào xảy ra buổi tối và ban đêm Tất cả các trường hợp đuối nước bị ngã xuống ao hồ, kênh mương hầu hết là không có hàng rào[8]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa về mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh tai nạn thương tích của trẻ em 10 đến dưới 16 tuổi tại quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng, năm 2005: Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang, có phân tích kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính Kết quả cho thấy,
tỷ lệ kiến thức về phòng tránh đuối nước thì không bơi một mình (71,6 ), phải học bơi (35,3 ) và đi bơi phải có phao bơi (34,1 ) Các biện pháp khác theo các em là không bơi lâu, bơi khi mệt mỏi (18,2 ) và khởi động trước khi xuống nước (13,7 ) Trong khi đó, tỷ lệ trẻ biết bơi chiếm 41 , trong đó tỷ lệ trẻ em nam biết bơi là 55,9 cao hơn tỷ lệ trẻ em nữ biết bơi 2 lần (26 ) [16]
Gánh nặng về tử vong do đuối nước là vô c ng lớn, tác động đến từng gia đình, từng cá nhân mỗi người và toàn xã hội Mặc d đã có các nghiên cứu về kiến thức, thái
độ, thực hành về phòng chống đuối nước, nhưng chủ yếu tập trung vào nhóm đối tượng trẻ từ 0-6 tuổi, lứa tuổi có quan tâm, chăm sóc và kiểm soát chặt chẽ của người chăm sóc chính hay nhóm từ 15 – 18 tuổi, lứa tuổi đã hình thành những tính cách cơ bản, được đào tạo và hướng dẫn những kỹ năng sinh tồn cơ bản để bảo vệ bản thân Trong khi đó chỉ có rất ít nghiên cứu tập trung vào đối tượng trẻ từ 10 – 15 tuổi – đối tượng có nhiều thay đổi về thể chất, tâm sinh lý Vì vậy nhu cầu tiến hành các nghiên cứu, can thiệp tập trung vào đối tượng 10 – 15 tuổi là hoàn toàn ph hợp nh m tìm hiểu chi tiết thực trạng kiến thức, thái độ, thưc hành phòng chống đuối nước của trẻ, từ đó đề ra các biện pháp can thiệp ph hợp, hiệu quả nh m bảo vệ sức khỏe trẻ em Việt Nam, giảm các gánh nặng do đuối nước đến cộng đồng
1.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng tránh đuối nước trẻ em
1.3.1 Yếu tố cá nhân – Đặc điểm phát triển sinh lý lứa tuổi
Nhóm trẻ từ 10 - 15 tuổi là giai đoạn trẻ có nhiều thay đổi cả về thể lực, tâm sinh
lý và xã hội dẫn đến những biến đổi sâu sắc về mặt tâm lý, nhân cách Giai đoạn này cơ
Trang 29thể đang diễn ra quá trình thay đổi hình thái sinh lý một cách mạnh mẽ và mang tính chất không cân đối
Về chiều c o: đây là thời kỳ nhẩy vọt về tầm vóc, xương tay chân dài ra nhưng
xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm Điều này làm cho hoạt động của trẻ trở nên lóng ngóng vụng về
Về hệ cơ: chứa nhiều nước, chưa phát triển hết nên các em chóng mệt và không có
khả năng làm việc cao Ở cuối giai đoạn này, khối lượng cơ và lực cơ phát triển mạnh đặc biệt là ở các em trai
Về hệ xương: xương sống và xương tứ chi phát triển mạnh nhưng xương lồng
ngực phát triển chậm vì thế làm cho các em có vẻ gầy còm, không cân đối
Về hoạt động tim mạch: sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng không cân đối
Thể tích của tim tăng rất nhanh, hoạt động của tim mạnh mẽ hơn, nhưng kích thước của mạch máu lại phát triển chậm Do đó có một số rối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn, tăng huyết áp, tim đập nhanh, gây nhức đầu chóng mặt mệt mỏi khi làm việc
Về đặc điểm tâm : Các em ở giai đoạn này có những thay đổi tâm lý mạnh mẽ
Do sự phát triển mạnh mẽ của hệ thần kinh trung ương, quá trình hưng phấn chiếm ưu thế rõ rệt, dẫn đến việc các em không làm chủ được cảm xúc của mình, không kiềm chế được xúc động mạnh Các em dễ bị kích động, dễ bực tức, cáu gắt, mất bình tĩnh, dễ làm liều…[23]
Với những thay đổi về cơ thể, tâm sinh lý nên trẻ trong giai đoạn 10 – 15 tuổi đã
có sự độc lập tương đối với người lớn, trẻ có chính kiến và đưa ra những quyết định cho các hành động của bản thân mà không cần sự cho ph p của người lớn, theo đó sự kiểm soát của người lớn đối với nhóm này khó hơn so với các nhóm tuổi khác Trẻ có xu hướng thích những hoạt động mạnh nên dễ bị tổn thương về mặt thể chất và tinh thần bởi tai nạn thương tích nói chung và đuối nước nói riêng, do đó sự hiểu biết và thái độ của bố mẹ, gia đình, thầy cô giáo và đặc biệt là bản thân trẻ về phòng chống tránh nước đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ sự an toàn cho trẻ
1.3.2 Yếu tố về kiến thức, hành vi lối sống
Kiến thức, thái độ và thực hành của trẻ và gia đình về phòng chống đuối nước nói chung còn thấp Theo nghiên cứu cắt ngang điều tra hộ gia đình được thực hiện đối với những người chăm sóc trẻ tại 48 ngôi làng ở khu vực nông thôn của Thái Lan, kết
Trang 30quả cho thấy 23 người giám hộ không nhận thức được r ng đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em, 25,4 người giám hộ cho r ng con họ không có nguy
cơ bị đuối nước, trong khi chỉ 18 trẻ em có thể bơi được Nghiên cứu cũng cho thấy việc thiếu người hướng dẫn bơi lội, thiếu nước sạch và các bài học bơi là những rào cản đối với trẻ trong việc học kỹ năng bơi [42]
Tại Việt Nam, 68% cha mẹ không có kiến thức về sơ cứu ban đầu nếu gặp trường hợp đuối nước[8]
xử lí đúng kỹ thuật hô hấp, loại bỏ nước ra ngoài thì khả năng trẻ được cứu sống là rất cao Trái ngược lại, trẻ được phát hiện ra muộn, người cứu hộ có kiến thức, kỹ năng thực hành sơ cấp cứu k m có thể dẫn tới hậu quả xấu như tổn thương não, thậm chí tử vong
Không có sẵn hoặc không tiếp cận được thiết bị an toàn trong các tàu vận tải đường thủy là các yếu tố nguy cơ bổ sung Các thiết bị nổi như áo phao là không thể thiếu được trên tất cả các con tàu, cho d được sử dụng cho giao thông hay để giải trí.Ví dụ như ở Hoa Kỳ vào năm 2005, Đội bảo vệ Bờ biển đã nhận được báo cáo về 4.969 sự cố đi thuyền.Trong những sự cố này, 3.451 người tham gia bị thương và 697 người bị thiệt mạng được báo cáo Trong số những người bị đuối nước, 87 không mặc
áo phao [30 Bên cạnh việc thiếu thiết bị nổi, việc k m bảo dưỡng các thiết bị đó cũng góp phần làm tăng thêm nguy cơ Thiết bị an toàn được trẻ em sử dụng khi bơi lội phải đạt tiêu chuẩn an toàn tối thiểu Các khoản mục như phao bơi tròn hoặc “phao tay” có thể làm cho cha mẹ có cảm giác an toàn giả tạo, dẫn đến sai sót trong việc giám sát với những hậu quả tai hại
Trang 31Những con tàu không an toàn khi di chuyển trên nước cũng là một yếu tố nguy
cơ Có những báo cáo truyền thông thường xuyên về các ca tử vong ở người lớn và trẻ
em do hậu quả của việc vận chuyển trên các tàu thuyền không an toàn và quá tải Rất nhiều các tàu thuyền này không đạt tiêu chuẩn đi biển và do đó sẽ bị tổn thương nặng hơn khi thời tiết xấu Những sự cố này giải thích cho nhiều số ca tử vong do đuối nước hàng năm Ở các quốc gia có thu nhập thấp, đáng buồn là hiện tượng tàu bè bị lật xảy ra thường xuyên, đặc biệt trong m a mưa bão và vào các dịp, như lễ hội quốc gia, khi lượng người đi lại tăng cao
1.3.4 Yếu tố kinh tế xã hội
Trong phạm vi một khu vực nhất định trên thế giới cũng có những sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ tử vong do đuối nước giữa các quốc gia thu nhập cao và các quốc gia
có thu nhập thấp Điều này cũng đúng trong phạm vi một số quốc gia nhất định Thiếu
cơ hội học hành kết hợp với tình trạng nghèo đói có thể là một nhân tố liên quan Có
b ng chứng r ng đuối nước ở trẻ em bị ảnh hưởng từ trình độ văn hóa của người chủ gia đình hoặc người chăm sóc
Trong phạm vi các quốc gia thu nhập cao, có những giả thiết về sự chênh lệch của tỷ lệ đuối nước gây tử vong giữa các tiểu nhóm dân cư, với nguy cơ tăng lên từ 2 đến 4 lần đối với trẻ em và thanh niên ở các nhóm bộ tộc hoặc dân tộc thiểu số Ở Hoa
Kỳ, những người thiểu số và nam thanh niên được sinh ra ở nước ngoài có tỷ lệ đuối nước cao hơn so với những người đồng lứa da trắng [30 Ở Hà Lan, những người dân tộc thiểu số phải nếm trải nguy cơ tử vong vì đuối nước cao gấp gần 3 lần so với những người dân Hà Lan bản xứ [58 Người ta không hiểu rõ các yếu tố góp phần vào sự chênh lệch về nguy cơ đuối nước trong các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau Giải thích đưa ra gồm cả sự khác nhau về khả năng bơi lội và kinh nghiệm dưới nước, thiếu cơ hội học bơi, và thiếu sự giám sát trong môi trường nơi các nhóm dân cư có nguy cơ cao bơi lội [56,57]
1.4 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, Nghệ An với diện tích 534 ha, dân số gần 10 ngàn người Toàn phường hiện có 11 khối dân cư với trên 2.200 hộ dân Với vị trí địa lý: phía Đông giáp biển Đông (1 km), phía Nam giáp Sông Lam (với chiều dài 2km), phía Tây là khu sản xuất nông nghiệp với hệ thống các
Trang 32kênh, rạch, ao hồ ch ng chịt,… Toàn phường có 02 trường tiểu học và 01 trường trung học cơ sở mà xung quanh đều có các con kênh, rạch Mặc d , trong chương trình học của các em, có lồng gh p các giờ học ngoại khóa về các biện pháp sơ cấp cứu, hướng dẫn bơi,… nhưng nội dung chủ yếu mang tính lý thuyết nên các em cũng nhanh quên Với tâm lý tò mò, khám phá của lứa tuổi (10 – 15 tuổi) và phần lớn các em tự đi học
b ng xe đạp, hoặc đi bộ, chỉ có một số ít được bố mẹ đưa đón nên ở đây thường xảy ra các vụ đuối nước, hoặc suýt đuối nước
Theo báo cáo của Trung tâm cứu trợ, cứu nạn và phòng chống thiên tai Thị xã Cửa Lò, năm 2016: Thị xã Cửa Lò xảy ra 07 vụ có nguy cơ đuối nước cao với tổng số
29 người/07 vụ, 02 vụ tử vong do đuối nước là trẻ dưới 15 tuổi [21,22 Trước đó năm 2014-2016, toàn thị xã Cửa Lò có 40 vụ đuối nước, trong đó có 05 vụ là đuối nước trẻ
em là xảy ra tại địa bàn phường Nghi Hải [25,26]
Như vậy có thể thấy, các vụ đuối nước trẻ em ở trên địa bàn Thị xã Cửa Lò chủ yếu diễn ra ở lứa tuối từ 10 – 15 tuổi với những thay đổi tâm sinh lý, cơ thể, … nên rất
dễ bị bạn bè lôi kéo, sự thay đổi về cơ thể chưa đảm bảo đủ sức khỏe cho những bất thường có thể xảy ra
Bản đồ phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, Nghệ An
Trang 331.5 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu về vấn
đề đuối nước và kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước trên thế giới
và tại Việt Nam, và được xây dựng dựa trên mô hình ma trận Haddon khi xác định các yếu tố nguy cơ và các chiến lược chính sách đối với đuối nước
Bảng 3: Ma trận Haddon xác định các yếu tố nguy cơ đuối nước
kiện
Tuổi nhỏ, giới tính; tính dễ bị tổn thương;
thiếu sự giám sát; thiếu kiến thức về các nguy cơ tiếp cận với nguồn nước;
Tham gia giao thông; người giám sát sử dụng đồ uống
có cồn
Các mối nguy hiểm về nước không được bảo vệ; tàu thủy không an toàn; tàu thủy chở quá tải
Thiếu rào chắn, môi trường lạ, mặt b ng trơn trượt, không đều, không vững hay dốc đứng ở gần hay dưới nước; các điều kiên thời tiết; hải lưu mạnh; hạ tầng
cơ sở vật chất không đầy đủ;
thiếu cảnh báo thời tiết xấu
Thiếu sự giám sát hay chăm sóc trẻ em chăm sóc trẻ em; tin tưởng vào sự giám sát đồng đ ng hay trẻ hơn tuổi; nghèo đói; gia đình đông con;
bố mẹ thất nghiệp hoặc m chữ; thiếu các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng
Trong sự
kiện
Trẻ không mặc hay đeo các thiết bị nổi;
người giải cứu không biết bơi;
thiếu các kỹ năng sinh tồn
Nước sâu;
dòng nước sông chảy mạnh; dòng nước siết chảy
ở biển; nước rất lạnh; sóng
Độ sâu của nước khác nhau; đứng không vững;
thiếu cơ chế để thoát hiểm, ví
dụ như thang,
Tiếp cận các thông tin và nguồn lực để giảm thiểu nguy
cơ k m; không
đủ truyền thông hay hạ tầng cơ
Trang 34dưới nước; đánh giá quá cao khả năng bơi lội;
sức yểu; thiếu hiểu biết về hoàn cảnh; phản ứng hoảng sợ;
bơi một mình;
thiếu các thiết
bị báo động cá nhân hay kiến thức về cứu hộ
to; thiếu các dụng cụ nổi các nhân hay các dụng cụ cứu hộ khác trên thuyền;
thiếu cứu hộ
dây, các dụng
cụ để nổi; các cọc ở dưới nước
sở để gọi các dịch vụ cấp cứu
y tế
Sau sự kiện Chậm trễ trong
việc cứu hộ;
không tiếp cận được các dụng
cụ sơ cứu;
người chăm sóc thiếu kiến thức
về sơ cứu; thiếu các cơ chế báo động
Nạn nhân bị dòng nước cuốn xa bờ biển
Thời gian phản ứng của xe cấp cứu k o dài;
không đủ các
kỹ năng cứu hộ
và điều trị;
không được vận chuyển để chăm sóc y tế kịp thời
Không chăm sóc đủ; tiếp cận các dịch vụ chăm sóc cấp tính ở bệnh viện và phục hồi chức năng k m; hỗ trợ
từ cộng đồng đối với các nạn nhân
và gia đình ít
Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước của trẻ từ 10 – 15 tuổi gồm có: Yếu tố cá nhân, Trang thiết bị, môi trường vật lý
và môi trường xã hội Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi tập trung vào việc mô
tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống đuối nước của trẻ từ 10 – 15 tuổi ở góc độ các yếu tố cá nhân, yếu tố môi trường và yếu tố xã hội
Trang 35Kiến thức, thái
độ, thực hành
về phòng chống đuối nước của trẻ từ 10 – 15 tuổi
- Quan điểm về sự tham gia các buổi tuyên truyền - giáo dục phòng tránh đuối nước
- Quan điểm về nội dung, hình thức tổ chức các tuyên truyền
- giáo dục phòng tránh đuối nước
- Quan điểm về nguồn tiếp nhận thông tin phòng tránh đuối nước
Trang 36CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Trẻ từ 10 - 15 tuổi tại phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, Nghệ An được bố/mẹ hoặc người giám hộ đồng ý cho tham gia nghiên cứu
Ti u chu n ch n đ i tượng th m gi nghi n cứu:
- Là trẻ sinh từ năm 2005 - 2010
- Đủ sức khỏe để trả lời phỏng vấn;
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu và được sự đồng ý của người giám hộ;
- Sinh sống tại địa bàn nghiên cứu
Ti u chu n oại trừ đ i tượng :
- Không đủ khả năng sức khỏe, tinh thần trả lời phỏng vấn
- Từ chối tham gia nghiên cứu
- Không thể gặp mặt sau 3 lần tới tiếp cận
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2017 đến tháng 9/2017
Địa điểm: Phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò, Nghệ An
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn trẻ từ 10 – 15 tuổi
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trang 372.4.2 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống
Lập danh sách trẻ từ 10 - 15 tuổi trong toàn phường Tính khoảng cách mẫu k=N/n Trong đó N là số trẻ từ 10 - 15 tuổi trong địa bàn xã, n là trẻ chọn vào nghiên cứu Thay vào công thức tính được k=3
Chọn trẻ đầu tiên có số thứ tự nhỏ hơn k, chọn trẻ tiếp theo b ng thứ tự của trẻ thứ nhất k Nếu trẻ không đủ tiêu chuẩn, chọn trẻ có thứ tự ngay sau trẻ được chọn
2.5 Phương pháp thu thập
Quá trình thu thập được thực hiện theo 3 bước sau:
Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu
Xây dựng bộ câu hỏi: các câu hỏi xây dựng dựa vào các khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân của tai nạn đuối nước ở trẻ em và các kiến thức, biện pháp phòng chống đuối nước ở trẻ em trong các tài liệu tham khảo và có tham khảo thêm một số nội dung về kiến thức, thái độ, thực hành của các nghiên cứu khác, để dựa vào đó xây dựng phiếu hỏi về kiến thức, thực hành về phòng chống đuối nước cho trẻ
Thử nghiệm và hoàn thiện bộ câu hỏi nghiên cứu: Khi bộ câu hỏi được xây dựng xong, điều tra viên đã điều tra thử 10 trẻ từ 10 – 15 tuổi ở 10 hộ gia đình với bộ câu hỏi này, chỉnh sửa nội dung của bộ câu hỏi cho ph hợp với thực tế sau đó tiến hành in bộ câu hỏi
Bước 2: Tập huấn, chuẩn bị
In bộ công cụ phỏng vấn
Chuẩn bị các thiết bị phục vụ cho phỏng vấn trẻ: bút, phương tiện đi lại
Thảo luận về các kỹ năng phỏng vấn trẻ cho các thành viên trong nhóm
Bước 3: Thu thập thông tin
Phóng vấn trực tiếp trẻ em trong mẫu nghiên cứu tại hộ gia đình b ng phiếu phỏng vấn nh m mục đích mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và
mô tả các mối liên quan đến thực hành phòng tránh đuối nước của ĐTNC
Sử dụng bảng quan sát các biện pháp phòng ngừa đuối nước ở các ao/hồ/kênh/rạch/sông/bãi biển
Trang 382.6 Biến số nghiên cứu
Có 7 nhóm biến số nghiên cứu chính đã được sử dụng bao gồm:
- Nhóm biến số thông tin chungcủa trẻ
- Nhóm biến số thông tin của người chăm sóc chính
- Nhóm biến số thông tin thời gian biểu của trẻ
- Nhóm biến số liên quan đến môi trường nước xung quanh trẻ
- Nhóm biến số kiến thức của trẻ về đuối nước và phòng tránh đuối nước
- Nhóm biến số thái độ của trẻ về phòng tránh đuối nước
- Nhóm biến số thực hành của trẻ về phòng tránh đuối nước
(Chi tiết các biến s xem Phụ ục 3)
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá
2.7.1 Đánh giá kiến thức của trẻ về phòng tránh đuối nước
Tổng điểm đánh giá kiến thức là 31, nếu đối tượng nghiên cứu được ≥ 15 điểm (đạt ≥ 50 tổng số điểm) => đánh giá là đạt, nếu đối tượng nghiên cứu được < 14 điểm
=> đánh giá là không đạt (cụ thể cách chấm điểm: phụ ục 5)
2.7.2 Đánh giá thực hành của trẻ về phòng tránh đuối nước
Tổng điểm đánh giá kiến thức là 14, nếu đối tượng nghiên cứu được ≥ 7 điểm (đạt ≥ 50 tổng số điểm) => đánh giá là đạt, nếu đối tượng nghiên cứu được < 6 điểm
=> đánh giá là không đạt (cụ thể cách chấm điểm: phụ ục 6)
2.8 Phương pháp phân tích số liệu
2.9 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đã được hội đồng khoa học và hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng thông qua và cho ph p tiến hành nghiên cứu theo giấy chấp thuận (cho ph p) của hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học trường đại học Y tế Công cộng Hà
Trang 39Nội số 047/2017/YTCC-HD3 Hội đồng thông qua nghiên cứu dựa trên các tiêu chuẩn
đạo đức của Bộ Y tế và tiêu chuẩn quốc tế
Nghiên cứu đã được tiến hành trên cơ sở tự nguyện tham gia của người được phỏng vấn và được sự đồng ý của bố mẹ hoặc người giám hộ Không làm tổn hại tinh thần, thể chất của các đối tượng tham gia trong nghiên cứu
Tất cả đối tượng chọn vào mẫu nghiên cứu và bố mẹ, người giám hộ được thông báo trước và giải thích về mục đích và nội dung nghiên cứu một cách rõ ràng Nghiên cứu không tiết lộ bất cứ thông tin nào về người được điều tra, chỉ nghiên cứu viên được
ph p sử dụng thông tin cho mục đích nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu được sử dụng cho cộng đồng: kết quả nghiên cứu này là một dẫn chứng xác thực về thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của trẻ về phòng chống đuôi nước Từ đó, các bậc phụ huynh, nhà trường và các cơ quan chức năng trên địa bàn phường đưa ra các biện pháp can thiệp ph hợp góp phần giảm đuối nước trẻ em tại Thị xã
2.10 Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Công cụ nghiên cứu chủ yếu dựa vào bộ câu hỏi phỏng vấn, phụ thuộc nhiều vào
kỹ năng phỏng vấn của người hỏi và sự tích cực tham gia của người trả lời Một số thông tin bị thiếu do:
- Bộ câu hỏi không rõ ràng, khó hiểu
- Người trả lời không nhớ chính xác hay không hiểu câu hỏi
- Điều tra viên khi phỏng vấn không diễn đạt hết ý của bộ câu hỏi làm người trả lời không trả lời đúng mục đích của nghiên cứu
- Nghiên cứu viên trực tiếp giám sát trong thời gian thu thập số liệu
- Tập huấn chi tiết cho phỏng vấn viên, hướng dẫn trả lời cụ thể Trực tiếp giải thích khi đối tượng điều tra có yêu cầu
- Làm sạch và mã hóa lại số liệu trước khi phân tích
Trang 40CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày chi tiết các kết quả của nghiên cứu, bao gồm thông tin chung về đối tượng nghiên cứu, kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến thực hành phòng tránh đuối nước cho trẻ từ 10 – 15 tuổi tại phường Nghi Hải, Thị
xã Cửa Lò, Nghệ An
3.1 Kiến thức, thái độ, thực hành của trẻ về phòng tránh đuối nước
3.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1.1.1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
(N=300)
Tỷ lệ (%)
đi học (100%) và chỉ có 5 là trẻ thuộc diện gia đình khó khăn
3.1.1.2 Thông tin về người chăm sóc chính của trẻ
Bảng 3.1.1.2: Thông tin về người chăm sóc chính của trẻ
(N=300)
Tỷ lệ (%)