Cung yếu tố sản xuất chỉ số lượng nguồn lực sẽ được cung ứng ở mỗi mức giá khác nhau.Tương tự như đường cung hàng hóa dịch vụ, đường cung về nguồn lực lao động là mối quan hệ giữa lượn[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2017
ThS Mai Quyên, ThS Trần Thị Tuyết ThS Ngô Thị Thủy, ThS Vũ Thị Minh Ngọc
Trang 32
Trang 43
LỜI GIỚI THIỆU
Kinh tế vi mô I là môn học cơ sở trong chương trình đào tạo khối ngành kinh tế ở bậc đại học Môn học này được chia thành 3 tín chỉ với thời lượng 40 tiết lý thuyết và 5 tiết bài tập Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập môn học
Kinh tế vi mô I, chúng tôi xin giới thiệu cuốn bài giảng “Kinh tế vi mô I”
Nội dung của cuốn bài giảng cung cấp những kiến thức cơ bản nhất của kinh
tế vi mô:lý thuyết cung cầu, lý thuyết lựa chọn của người tiêu dùng, lý thuyết sản xuất, chi phí và lợi nhuận, cấu trúc thị trường, thị trường các yếu tố sản xuất và vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường
Để giúp bạn đọc dễ theo dõi sau mỗi phần lý thuyết chúng tôi có đưa ra các bài tập ví dụ và kèm theo lời giải Ngoài ra cuối mỗi chương đều có câu hỏi ôn tập và bài tập để củng cố lại kiến thức Hy vọng rằng, cuốn bài giảng sẽ là tài liệu
có ích trong quá trình giảng dạy và học tập
Tham gia biên soạn cuốn bài giảng gồm các tác giả:
- ThS Trần Thị Tuyết viết chương 1 và chương 3;
- ThS Vũ Thị Minh Ngọc viết chương 2;
- ThS Ngô Thị Thủy viết chương 4 và chương 7;
- Th.s Mai Quyên viết chương 5 và chương 6
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của bạn đọc để nội dung cuốn bài giảng được hoàn thiện hơn
Trang 5
4
Trang 65
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ CHÍNH
Đường giới hạn khả năng sản xuất PPF Production Possibilitty Frontier
Số lượng, khối lượng sản phẩm Q Quantity
Độ co dãn của cầu theo giá ED P Price Elasticity of Demand
Độ co dãn của cầu theo thu nhập ED I Income Elasticity of Demand
Độ co dãn chéo của cầu EXY Cross Elasticity of Demand
Độ co dãn của cung theo giá ES P Price Elasticity of Supply
Lợi ích cận biên MU Marginal Utility
Thặng dư của người sản xuất PS Producer Surplus
Thặng dư của người tiêu dùng CS Consumer Surplus
Phúc lợi xã hội ròng NSB Net Social Benefit
Tỷ lệ thay thế cận biên MRS Marginal Rate of Substitution
Năng suất trung bình AP Average Product
Năng suất cận biên MP Marginal Product
Tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên MRTS Marginal Rate of Technical
Substitution
Trang 76
Chi phí cố định trung bình AFC Average Fixed Cost
Chi phí biến đổi trung bình AVC Average Variable Cost
Tổng chi phí dài hạn LTC Long run Total Cost
Chi phí bình quân dài hạn LAC Long run Average Cost Chi phí cận biên dài hạn LMC Long run Marginal Cost Doanh thu cận biên MR Marginal Revenue
Tiền lương, chi phí cho một đơn
Chi phí cho 1 đơn vị vốn r Interest rate
Sản phẩm doanh thu cận biên MRP Marginal Revenue Product
Chi phí cá nhân cận biên MPC Marginal Personal Cost Chi phí xã hội cận biên MSC Marginal Social Cost Lợi ích xã hội cận biên MSB Marginal Social Benefit
Trang 87
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢNVỀ KINH TẾ HỌC
Chương này đề cập đến những vấn đề kinh tế cơ bản và cách thức giải quyết các vấn đề đó trong nền kinh tế Giải thích được kinh tế học là gì, phân biệt được kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô, kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc Xác định những vấn đề cơ bản của mọi tổ chức kinh tế và cách thức giải quyết của nền kinh tế Bên cạnh đó khái niệm về chi phí cơ hội, vận dụng đường giới hạn năng lực sản xuất, các qui luật chi phí cơ hội tăng dần đến sự lựa chọn kinh tế tối ưu của doanh nghiệp cũng được đề cập đến trong chương này
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Kinh tế học
Mọi hoạt động của nền kinh tế đều nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người Để thỏa mãn nhu cầu, xã hội cần phải có các nguồn lực, đó chính là các yếu tố sản xuất được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ mà con người cần Phần lớn nguồn lực của nền kinh tế có tính khan hiếm, đây là một vấn
đề phổ biến Tất cả các cá nhân đều có nhu cầu vô hạn và khả năng để thỏa mãn các nhu cầu đó là hữu hạn.Vì vậy, khan hiếm thể hiện số lượng hiện có của chúng
ít hơn so với nhu cầu của con người cần có chúng để sản xuất ra các sản phẩm mà
họ mong muốn Để dung hòa mâu thuẫn giữa nhu cầu vô hạn của con người và khả năng đáp ứng nhu cầu có giới hạn của xã hội, mỗi quốc gia phải có những quyết sách để giải quyết 3 vấn đề kinh tế cơ bản đó là sản xuất hàng hóa dịch vụ
gì, sản xuất các hàng hóa dịch vụ đó thế nào và sản xuất các hàng hóa, dịch vụ đó cho ai?
Sự khan hiếm nguồn lực đòi hỏi cá nhân và xã hội phải đưa ra quyết định lựa chọn Các nhà kinh tế cho rằng: “Kinh tế học là khoa học của sự lựa chọn” Kinh tế học tập trung vào việc sử dụng và quản lý các nguồn lực hạn chế để đạt được thỏa mãn tối đa nhu cầu vật chất của con người Đặc biệt, kinh tế học nghiên cứu hành vi trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trong thế giới nguồn lực hạn chế
Với các cách tiếp cận khác nhau các nhà kinh tế đã đưa ra một số khái niệm
về kinh tế học như sau:
Kinh tế học là việc nghiên cứu vấn đề con người và xã hội lựa chọn như thế nào để sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm có thể được sử dụng một cách khác
Trang 9sử dụng khác nhau (Lionel Robbins, 1995)
Qua nghiên cứu một số khái niệm trên ta có thể rút ra khái niệm kinh tế học một cách khái quát như sau:
“Kinh tế học là một môn khoa học về sự lựa chọn, nó nghiên cứu và giải
quyết những vấn đề kinh tế cơ bản nhằm khai thác và sử dụng các nguồn lực khan hiếm có hiệu quả nhất và phân phối các sản phẩm làm ra cho các thành viên trong
xã hội kể cả hiện tại và tương lai”
Như vậy trong khái niệm về kinh tế học ta nhận thấy rằng các nguồn lực có tính khan hiếm và xã hội phải phân bổ, sử dụng các nguồn lực đó một cách có hiệu quả
1.1.2 Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu kinh tế học được chia thành: kinh tế vi mô
và kinh tế vĩ mô
1.1.2.1 Kinh tế học vi mô
Kinh tế học vi mô là môn khoa học nghiên cứu phân tích và lựa chọn các vấn đề kinh tế cơ bản của các tế bào trong nền kinh tế Nó tập trung nghiên cứu các hoạt động hoặc các hành vi cụ thể của từng đơn vị kinh tế riêng lẻ Các đơn vị gồm có các doanh nghiệp, người tiêu dùng và chính phủ
Mục tiêu của kinh tế học vi mô nhằm giải thích giá và lượng của một hàng hóa cụ thể Kinh tế học vi mô còn nghiên cứu các qui định, thuế của chính phủ tác động đến giá, lượng hàng hóa và dịch vụ cụ thể Chẳng hạn, kinh tế học vi mô nghiên cứu các yếu tố nhằm xác định giá và lượng xe ô tô, đồng thời nghiên cứu các qui định và thuế của chính phủ tác động đến giá và lượng sản xuất xe ô tô trên thị trường
Trang 109
Kinh tế học vi mô giải thích cách thức lựa chọn hàng hóa của người tiêu dùng để tối đa hóa được sự thoả mãn của họ Hay nó giải thích cách thức các doanh nghiệp quyết định tuyển thêm lao động
Nói một cách cụ thể là kinh tế vi mô nghiên cứu xem các thành viên kinh tế đạt được mục tiêu của họ với nguồn tài nguyên khan hiếm bằng cách nào và sự tác động của họ lên toàn bộ nền kinh tế ra sao
1.1.2.2 Kinh tế học vĩ mô
Kinh tế học vĩ mô là môn khoa học nghiên cứu, phân tích và lựa chọn các vấn đề kinh tế cơ bản của một quốc gia, nó nhấn mạnh đến sự tương tác trong nền kinh tế tổng thể Hay nói cách khác kinh tế học vĩ nghiên cứu hoạt động của toàn
bộ tổng thể nền kinh tế
Mục tiêu phân tích của kinh tế học vĩ mô nhằm giải thích giá cả bình quân, tổng việc làm, tổng thu nhập, tổng sản lượng sản xuất Kinh tế học vĩ mô còn nghiên cứu các tác động của chính phủ như thuế, chi tiêu, thâm hụt ngân sách lên tổng việc làm và thu nhập Chẳng hạn, kinh tế học vĩ mô nghiên cứu chi phí cuộc sống bình quân của dân cư, tổng giá trị sản xuất, chi tiêu ngân sách của một quốc gia
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các vấn đề: tỉ lệ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân, tỷ giá hối đoái, lãi suất, thất nghiệp và lạm pháp…
1.1.2.3 Mối quan hệ giữa kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô tuy phạm vi nghiên cứu khác nhau nhưng đều là những nội dung quan trọng của kinh tế học, chúng không chia cắt nhau mà bổ sung cho nhau tạo thành hệ thống kiến thức của kinh tế học thị trường có sự điều tiết của nhà nước
Thực tế đã chứng minh: Kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào các hành vi của kinh
tế vi mô, sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào sự phát triển của các doanh nghiệp
Kinh tế vĩ mô tạo hành lang, tạo môi trường, tạo điều kiện cho kinh tế vi
mô phát triển
Nghiên cứu kinh tế vĩ mô chính phủ sẽ có những chính sách về thuế, chính sách đầu tư… tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển
Trong thực tiễn kinh tế và quản lý nếu chỉ giải quyết những vấn đề kinh tế
vi mô, quản lý kinh tế vi mô, quản lý sản xuất kinh doanh mà không có sự điều chỉnh cần thiết của kinh tế vĩ mô hay quản lý Nhà nước về kinh tế thì chẳng khác
gì chỉ thấy từng tế bào của nền kinh tế mà không thấy cả nền kinh tế
Trang 11Mức thất nghiệp cao sẽ ảnh hưởng tới lạm pháp như thế nào?
Nhà nước đánh thuế một mặt hàng thì giá cả của các hàng hoá đó sẽ tăng lên còn giá cả của hàng hoá liên quan sẽ như thế nào?
- Mục tiêu của kinh tế học thực chứng: Là giải thích xã hội quyết định như thế nào về tiêu thụ, trao đổi và sản xuất hàng hoá
Sự giải thích này nhằm hai mục đích:
+ Để cho chúng ta biết nguyên nhân tại sao nền kinh tế lại hoạt động như
nó đang hoạt động;
+ Để có cơ sở dự đoán nền kinh tế sẽ phản ứng như thế nào với sự thay đổi của hoàn cảnh Đồng thời chính phủ có thể sử dụng các công cụ điều chỉnh để hạn chế tác động tiêu cực và khuyến khích mặt tích cực nhằm đạt được những kết quả mong muốn
Như vậy, kinh tế học thực chứng cố gắng mô tả, giải thích các hiện tượng thực tế và hành vi kinh tế Trong kinh tế học thực chứng các hành vi kinh tế, các hiện tượng được giải thích một cách khách quan Về khía cạnh này, kinh tế học giống như các môn khoa học tự nhiên
1.1.3.2 Kinh tế học chuẩn tắc
Kinh tế học chuẩn tắc đưa ra những chỉ dẫn hoặc khuyến nghị dựa trên những đánh giá theo tiêu chuẩn cá nhân Hay nói cách khác kinh tế học chuẩn tắc hoàn toàn mang tính chủ quan
Câu hỏi trung tâm mà cách tiếp cận chuẩn tắc đặt ra là: Cần phải làm gì hay cần phải làm như thế nào trước một sự kiện kinh tế? Đương nhiên, những kiến nghị mà kinh tế học chuẩn tắc hướng tới cần phải dựa trên sự đánh giá của người phân tích, theo đó, các sự kiện trên được phân loại thành xấu hay tốt, đáng mong muốn hay không đáng mong muốn, nên hay không nên
Ví dụ:Có nên dùng thuế thu nhập của người giàu giúp đỡ người nghèo hay không?
Trang 1211
Có nên trợ cấp hoàn toàn tiền khám, chữa bệnh cho người già không?
Nên miễn phí cho tất cả các cấp học…
Do đó, cùng một vấn đề kinh tế nhưng nếu nhìn nhận theo kinh tế học chuẩn tắc thì câu trả lời phụ thuộc vào quan điểm cá nhân và phương pháp giải quyết khác nhau của từng người
Như vậy, kinh tế học thực chứng thường mô tả, giải thích trong khi nghiên cứu kinh tế học chuẩn tắc thường đưa ra các lời khuyên, chỉ dẫn
1.1.4 Các thành phần của nền kinh tế
Để hiểu được nền kinh tế vận hành như thế nào, chúng ta hãy xem xét các thành phần của nền kinh tế và sự tương tác lẫn nhau giữa các thành phần này Trong nền kinh tế giản đơn, các thành phần của nền kinh tế bao gồm: hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ
- Hộ gia đình:Bao gồm những người chung sống với nhau như một đơn vị
ra quyết định Một hộ gia đình có thể gồm một người, nhiều gia đình, hoặc nhóm người không có quan hệ nhưng chung sống với nhau
Hộ gia đình là nguồn cung cấp lao động, tài nguyên, vốn và quản lý để nhận các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền lãi và lợi nhuận Hộ gia đình cũng đồng thời là người tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ
- Doanh nghiệp:Là tổ chức kinh doanh, sở hữu và điều hành các đơn vị
kinh doanh của nó Đơn vị kinh doanh là một cơ sở trực thuộc dưới hình thức nhà máy, nông trại, nhà bán buôn, bán lẻ hay nhà kho mà nó thực hiện một hoặc nhiều chức năng trong việc sản xuất, phân phối sản phẩm hay dịch vụ
Một doanh nghiệp có thể chỉ có một đơn vị kinh doanh, hoặc cũng có thể có nhiều đơn vị kinh doanh Trong khi đó một ngành gồm một nhóm các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm giống hoặc tương tự nhau
- Chính phủ:Là một tổ chức gồm nhiều cấp, ban hành các luật, qui định và
vận hành nền kinh tế theo một cơ chế dựa trên luật Chính phủ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công cộng như: an ninh quốc phòng, dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giao thông, giáo dục Bằng cách thay đổi và điều chỉnh luật, qui định,
thuế, chính phủ có thể tác động đến sự lựa chọn của các hộ gia đình và doanh nghiệp
Trang 1312
Dòng luân chuyển trong nền kinh tế
Hình 1.1 Sơ đồ chu chuyển nền kinh tế
Trong hình 1.1 các thành viên tương tác với nhau trên hai thị trường là thị
trường sản phẩm và thị trường nguồn lực sản xuất Tham gia vào thị trường sản
phẩm, các hộ gia đình sử dụng thu nhập (từ việc cung cấp nguồn lực) để thanh
toán cho hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cần thiết do các doanh nghiệp sản xuất
Tham gia vào thị trường nguồn lực sản xuất các hộ gia đình cung cấp nguồn lực
sản xuất như lao động, đất đai và vốn cho doanh nghiệp để đổi lấy thu nhập mà
các doanh nghiệp trả cho nguồn lực đó Các doanh nghiệp tham gia vào hai thị
trường đó để mua hoặc thuê các yếu tố sản xuất cần thiết và bán các hàng hóa và
dịch vụ mà người tiêu dùng mong muốn Chính phủ tham gia vào hai thị trường
này để cung cấp các hàng hóa mà xã hội mong muốn nhưng thị trường không sản
xuất một cách hiệu quả Ngoài ra chính phủ còn điều tiết thu nhập thông qua thuế
Hàng hóa
bán hàng
Hàng hóa dịch vụ
Chi tiêu hàng hóa dịch vụ
Thuế Trợ cấp
Chi tiêu hàng hóadịch vụ
Hàng hóa dịch vụ
Chi phí sử dụng nguồn lực
Nguồn lực sản xuất
Nguồn lực sản xuất
Q
Trang 1413
Biểu đồ trên mô tả mối quan hệ giữa các thành phần trong nền kinh tế thông qua các tương tác trên thị trường sản phẩm và thị trường các nguồn lực Thực tế, không phải tất cả thu nhập của hộ gia đình đều chi tiêu hết vào hàng hóa
và dịch vụ, một số thu nhập dành để tiết kiệm dưới hình thức đầu tư Khi đó các trung gian tài chính đóng vai trò trung gian trong việc dịch chuyển nguồn vốn cho các nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế toàn cầu, thương mại phải được xem xét trong các nền kinh tế Nhập khẩu làm dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ từ thị trường nước ngoài vào thị trường nội địa Trong khi đó, xuất khẩu dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ từ thị trường nội địa ra thị trường thế giới Xuất khẩu ròng là phần chênh lệch giá trị hàng hóa và dịch vụ giữa xuất khẩu và nhập khẩu Khi đó, xuất hiện dòng tiền ròng chảy vào trong nước nếu như xuất khẩu ròng dương và ngược lại
1.2 Ba vấn đề cơ bản của một tổ chức kinh tế
Thực tế phát triển kinh tế ở các nước trên thế giới và Việt Nam đã cho chúng ta thấy rằng muốn phát triển một doanh nghiệp đều phải giải quyết ba vấn
đề kinh tế cơ bản: Quyết định sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai?
1.2.1 Quyết định sản xuất cái gì?
Vấn đề đầu tiên có thể được hiểu như là: “Sản phẩm và dịch vụ nào sẽ được sản xuất?” Đây là câu hỏi của cầu, đòi hỏi phải làm rõ nên sản xuất hàng hoá
dịch vụ nào, với số lượng bao nhiêu, bao giờ thì sản xuất Trong nền kinh tế thị trường, sự tương tác giữa người mua và người bán vì lợi ích cá nhân sẽ xác định sản phẩm và dịch vụ nào sẽ được sản xuất
Để giải quyết tốt vấn đề này, các doanh nghiệp phải làm tốt công tác điều tra nhu cầu của thị trường Từ nhu cầu vô cùng phong phú và đa dạng của người tiêu dùng, các doanh nghiệp phải xác định được các nhu cầu có khả năng thanh toán để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh Sự tương tác của cung và cầu, cạnh tranh trên thị trường sẽ hình thành nên giá của hàng hóa và dịch vụ, là tín hiệu tốt cho việc phân bố các nguồn lực xã hội
1.2.2 Quyết định sản xuất như thế nào?
Vấn đề thứ hai có thể phát biểu một cách hoàn chỉnh như là: “Sản phẩm và dịch vụ được sản xuất bằng cách nào?” Vấn đề này liên quan đến việc xác định
những nguồn lực nào được sử dụng và phương pháp để sản xuất ra những sản
Trang 15- Lựa chọn công nghệ sản xuất nào?
- Lựa chọn các yếu tố đầu vào nào?
- Lựa chọn phương pháp sản xuất nào?
Các doanh nghiệp phải luôn quan tâm để sản xuất ra hàng hóa nhanh, có chi phí thấp để cạnh tranh trên thị trường Các biện pháp cơ bản các doanh nghiệp áp dụng là thường xuyên đổi mới kỹ thuật và công nghệ, nâng cao trình độ công nhân và lao động quản lý nhằm tăng hàm lượng chất xám trong hàng hóa và dịch
vụ
1.2.3 Quyết định sản xuất cho ai?
Vấn đề thứ ba phải giải quyết đó là, “Ai sẽ nhận sản phẩm và dịch vụ?”
Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập và giá cả xác định ai sẽ nhận hàng hóa và dịch vụ cung cấp Điều này được xác định thông qua tương tác của người mua và bán trên thị trường sản phẩm và thị trường nguồn lực
Bao gồm việc xác định rõ ai sẽ được hưởng và được lợi từ những hàng hóa
và dịch vụ được sản xuất ra Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập và giá cả xác định ai sẽ nhận hàng hóa và dịch vụ cung cấp Điều này được xác định thông qua tương tác giữa người mua, người bán trên thị trường sản phẩm và thị trường nguồn lực
Thu nhập chính là nguồn tạo ra năng lực mua bán của các cá nhân và phân phối thu nhập được xác định thông qua tiền lương, tiền lãi, tiền cho thuế và lợi nhuận trên thị trường nguồn lực sản xuất Trong nền kinh tế thị trường, những ai
có nguồn tài nguyên, lao động, vốn và kỹ năng quản lý cao hơn sẽ nhận thu nhập
Trang 1615
cao hơn Với thu nhập này, các cá nhân đưa ra quyết định loại sản phẩm và số lượng sản phẩm sẽ mua trên thị trường Giá cả định hướng cách thức phân bổ nguồn lực cho những ai mong muốn trả với mức giá thị trường
Như vậy, vấn đề kinh tế cơ bản này gắn liền với hai nội dung: Xác định thị trường và phân phối sản phẩm đúng đắn để vừa kích thích sản xuất phát triển vừa đảm bảo công bằng xã hội
Ba vấn đề kinh tế cơ bản nêu trên có quan hệ rất mật thiết với nhau Nếu chỉ giải quyết được 1, 2 trong 3 vấn đề thì đều có ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển của doanh nghiệp
Tuy nhiên, việc lựa chọn để quyết tối ưu ba vấn đề này lại phụ thuộc trình
độ phát triển xã hội, khả năng và điều kiện, phụ thuộc vào việc lựa chọn hệ thống kinh tế để phát triển, phụ thuộc vào vai trò, trình độ và sự can thiệp của chính phủ, phụ thuộc vào chế độ chính trị xã hội của mỗi nước
1.3.Khan hiếm và sự lựa chọn
1.3.1 Tại sao phải lựa chọn?
Khan hiếm là một thuật ngữ chỉ mối quan hệ giữa nhu cầu và khả năng Một tài nguyên được gọi là khan hiếm khi số lượng sẵn có nhỏ hơn số lượng cần Mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng người (xã hội) đề gặp vấn đề kinh tế giống nhau đó
là nhu cầu luôn lớn hơn khả năng Chúng ta muốn một số lượng vô hạn các sản phẩm: thức ăn, quần áo, nhà ở, ô tô, điện thoại nhưng lại bị giới hạn bởi thu nhập Như vậy, trừ một số người quá giàu có, đa số chúng ta đều không thể mua được tất cả những gì mình muốn
Để thỏa mãn nhu cầu của con người, xã hội phải sử dụng các nguồn lực (tài nguyên) khan hiếm làm yếu tố sản xuất để tạo ra hàng hóa, dịch vụ Nguồn lực kinh tế của mọi xã hội đều là hữu hạn hay khan hiếm so với nhu cầu của các thành viên trong xã hội Vì thế, khả năng sản xuất hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế là hữu hạn, cũng giống như khả năng thỏa mãn nhu cầu của mỗi cá nhân
Để thực hiện sự lựa chọn phải so sánh chi phí và lợi ích gắn liền với mỗi phương
án Một phương án sẽ được lựa chọn nếu so sánh lợi ích nó mang lại lớn hơn chi phí Các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ đều thực hiện việc so sánh lợi ích và chi phí trước khi quyết định hành động
Vì mỗi sự lựa chọn đều đem lại lợi ích và gây ra chi phí, nên khi thay sự lựa chọn này bằng sự lựa chọn khác thì lợi ích và chi phí cũng sẽ thay đổi Cần
Trang 17Để lựa chọn và ra quyết định đúng đắn chúng ta phải dựa vào chí phí cơ hội Chi phí cơ hội là khái niệm hữu ích nhất được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn Đây là một ý tưởng đơn giản nhưng được sử dụng hết sức rộng rãi trong cuộc sống Nếu chúng ta hiểu rõ khái niệm này, thì nó trở thành một công cụ hữu ích nhất giúp chúng ta đưa ra các quyết định lựa chọn có hiệu quả khi đứng trước hàng loạt các tình huống khác nhau xảy ra trong hoạt động kinh tế
Ví dụ:Một sinh viên sau khi tốt nghiệp đã có nhiều doanh nghiệp mời anh ta
về làm việc Có 4 doanh nghiệp đến mời anh ta với các mức lương được đề xuất như sau: doanh nghiệp A: 15 triệu, B: 12 triệu, C: 9 triệu, D: 7 triệu (các điều kiện khác để làm việc tại 4 doanh nghiệp này là như nhau) Như vậy, anh ta có 4 cơ hội để lựa chọn và tất nhiên anh ta sẽ chọn doanh nghiệp A Và khi đó chi phí cơ hội của quyết định này là 12 triệu Vậy chi phí cơ hội là gì?
Chi phí cơ hội là giá trị tốt nhất của phương án bị bỏ qua khi lựa chọn phương án khác
Đối với một sinh viên có 2 phương án như sau (tính trong 1 tháng):
Trang 18Chi phí cơ hội được sử dụng như là căn cứ để so sánh với lợi ích thu được khi thực hiện các sự lựa chọn và đó là chi phí kinh tế Các nhà kinh doanh và người tiêu dùng thực hiện lựa chọn trên cơ sở so sánh lợi ích thu được và chi phí
bỏ ra tại mỗi đơn vị hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hoặc tiêu dùng thêm Ví dụ:Trong việc lựa chọn lượng hàng hóa tiêu dùng tối ưu, chi phí cơ hội của mỗi đơn vị hàng hóa được tiêu dùng thêm là giá cả một đơn vị sản phẩm và nó được
so sánh với lợi ích cận biên thu được khi tiêu dùng thêm đơn vị sản phẩm đó Trong việc lựa chọn lượng hàng hóa sản xuất tối ưu, chi phí cơ hội của mỗi đơn
vị hàng hóa sản xuất thêm là chi phí cận biên của mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất thêm nó được so sánh với doanh thu cận biên của đơn vị sản phẩm tăng thêm đó
Việc phân tích, so sánh lợi ích - chi phí tại điểm biên chính là nội dung của phương pháp phân tích cận biên
1.3.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất
Để minh họa những vấn đề về tình trạng khan hiếm nguồn lực và sự lựa
chọn tối ưu người ta dùng đường cong năng lực sản xuất (đường giới hạn khả năng sản xuất - PPF: Production Possbility Frontier)
Đường giới hạn khả năng sản xuất (đường cong năng lực sản xuất) cho biết khối lượng sản phẩm mà một nền kinh tế đạt được với khối lượng đầu vào và kiến thức công nghệ nhất định
Bảng 1.1 Các khả năng sản xuất Tivi và đầu DVD
Trang 1918
Biểu diễn bảng 1.1 trên đồ thị với trục tung là số lượng tivi, trục hoành là số lượng đầu DVD ta được như hình vẽ 1.2 và được gọi là đường giới hạn khả năng sản xuất
Hình vẽ trên đây cho chúng ta thấy các mức phối hợp tối đa về số đơn vị đầu DVD và Tivi mà một nền kinh tế có thể sản xuất ra
Nếu dành toàn bộ nguồn lực để sản xuất Tivi ta sẽ được 50 đơn vị và biểu hiện bằng điểm F, ngược lại điểm A là nền kinh tế dồn toàn bộ nguồn lực để sản xuất hàng tiêu dùng Còn các điểm khác nằm trên PPF là các cách phối hợp tài nguyên để sản xuất ra cả hai loại hàng hoá nói trên
- Xét điểm G nằm trong đường PPF Tại G vẫn sử dụng số nguồn lực sẵn
có nền kinh tế sản xuất ra G1 đơn vị hàng tiêu dùng nhưng chỉ sản xuất ra G2đơn
vị hàng tivi trong khi đó tiềm năng có thể sản xuất G3 đơn vị tivi Như vậy là lãng phí nguồn lực
- Ta xét điểm H nằm ngoài đường PPF: Tại H vượt qua 50 đơn vị Tivi vì thế không đủ nguồn lực để sản xuất
Tóm lại: Đường PPF có hình dáng là đường cong lồi vì nó chịu sự chi phối của quy luật chi phí cơ hội ngày tăng
0 10 20 30 40 50 60
Trang 2019
- Những điểm nằm trên đường PPF là những điểm đạt hiệu quả tối đa
- Những điểm nằm trong PPF là những điểm sử dụng lãng phí nguồn lực, không hiệu quả
- Những điểm nằm ngoài PPF là những điểm không thể đạt tới
- Đường PPF đề cập tới 2 vấn đề: sản xuất cái gì và sản xuất như thế nào
Vậy nghiên cứu đường PPF để làm gì?
- Đường PPF giúp người sản xuất có được lựa chọn tối ưu, sử dụng đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực hiện có để thoả mãn được nhu cầu của con người và toàn xã hội
- Đường PPF góp phần làm sáng tỏ việc lựa chọn 2 trong 3 vấn đề kinh tế
cơ bản trong giới hạn cho phép của nguồn lực
Chi phí cơ hội (để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm X) là số đơn vị sản phẩm Y phải sản xuất bớt đi để sản xuất ra thêm một đơn vị sản phẩm X Như vậy, nghịch dấu với độ dốc của đường giới hạn khả năng sản xuất tại một điểm chính là chi phí cơ hội tại điểm đó Do đó, sơ đồ trên ta có thể thấy chi phí cơ hội khác nhau
giữa hai điểm A và B của đường giới hạn khả năng sản xuất
Đường giới hạn khả năng sản xuất cho chúng ta thấy 3 vấn đề như sau:
- Sự khan hiếm:Được biểu thị bằng sự tồn tại của các kết hợp không thể đạt
được;
- Sự lựa chọn:Được biểu thị bằng sự cần thiết phải lựa chọn giữa các kết
hợp có thể đạt được (nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất);
- Chi phí cơ hội:Được biểu thị qua dạng nghịch biến của đường giới hạn
khả năng sản xuất Nó cho thấy để có thêm được một sản phẩm này thì ta phải từ
bỏ một hay nhiều sản phẩm khác
Sự lựa chọn kinh tế tối ưu trước hết phải nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất hiện có, nhưng trên đường giới hạn khả năng sản xuất cho phép đó, chúng ta sẽ chọn tại điểm nào thì tối ưu nhất cho mong muốn của chúng ta Điểm
có hiệu quả nhất trước hết là điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất và điểm đó thỏa mãn tối đa các nhu cầu của xã hội và con người mong muốn
1.3.3 Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng
Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng thể hiện khi muốn có thêm số lượng bằng nhau một mặt hàng nào đó xã hội phải hy sinh ngày càng nhiều số lượng một mặt hàng khác
Trang 2120
Bảng 1.2 Quy luật chi phí cơ hội
xuất thêm 1 đơn vị Tivi
Từ số liệu bảng 1.2 xét chi chí cơ hội của từng phương án ta thấy:
- Ở phương án A nếu không sản xuất Tivi thì sản xuất được 15 đơn vị DVD, sang phương án B nếu sản xuất 1 đơn vị sản phẩm Tivi thì chỉ sản xuất được 14 đơn vị sản phẩm đầu DVD Như vậy xã hội phải hy sinh 1 đơn vị DVD để có 1 đơn vị DVD;
- Ở phương án C để có thêm 1 đơn vị Tivi phải hy sinh 2 đơn vị DVD;
- Ở phương án D để có thêm 1 đơn vị Tivi phải hy sinh 3 đơn vị DVD;
- Ở phương án E để có thêm 1 đơn vị Tivi phải hy sinh 4 đơn vị DVD;
- Ở phương án F để có thêm 1 đơn vị Tivi phải hy sinh 5 đơn vị DVD
Ta thấy số lượng đơn vị DVD phải hy sinh ngày càng tăng khi muốn sản xuất thêm 1 đơn vị sản phẩm Tivi Đây là một ví dụ về quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng
Để có thêm 1 đơn vị hàng hoá X thì lượng hàng hoá Y phải hy sinh ngày
càng nhiều
1.4 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vi mô
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Kinh tế học vi mô là một môn khoa học cơ bản cung cấp kiến thức lý luận và phương pháp kinh tế cho các môn học về quản lý doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Nó là khoa học về sự lựa chọn của hoạt động kinh tế vi
mô trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Vì thế, đối tượng nghiên cứu của kinh tế vi mô gồm các vấn đề sau:
- Nghiên sự lựa chọn để giải quyết 3 vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp đó là: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai?
- Nghiên cứu tính quy luật và xu hướng vận động của các tế bào trong nền kinh tế
Trang 2221
- Nghiên cứu khuyết tật của cơ chế thị trường và vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường
1.4.2 Nội dung nghiên cứu
Kinh tế vi mô là môn khoa học có nội dung khá phong phú nhưng lại rất phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề, các lĩnh vực kinh tế xã hội Tùy theo nội dung, đối tượng nghiên cứu khác nhau mà có thể đi sâu vào nội dung này hay nội dung khác với mức độ khác nhau
Với đối tượng là sinh viên ngành kinh tế cần nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
- Những vấn đề cơ bản của kinh tế học;
- Lý thuyết cung - cầu;
- Lý thuyết hành vi người tiêu dùng;
- Lý thuyết hành vi của doanh nghiệp;
- Cấu trúc thị trường;
- Thị trường các yếu tố sản xuất;
- Những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của chính phủ trong kinh tế thị trường
1.4.3 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu kinh tế vi mô, người ta thường sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp cân bằng nội bộ:
Áp dụng phương pháp cân bằng nội bộ xem xét từng đơn vị vi mô, xét sự tác động trong điều kiện các yếu tố khác không đổi
- Phương pháp so sánh tĩnh:
Phương pháp so sánh tĩnh là giả định các yếu tố khác không đổi Các giả thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa các biến luôn phải đi kèm với các giả định Ceteris Pairbus trong mô hình Ceteris Pairbus là một thuật ngữ latinh được dùng thường xuyên trong kinh tế học có nghĩa là các yếu tố khác không đổi Các biến số mà các nhà kinh tế quan tâm như tỷ lệ thất nghiệp, chỉ số giá… luôn thay đổi và chịu sự tác động của yếu tố cùng một lúc vì thế khi nghiên cứu, phân tích các nhà kinh tế thường phải cố định các yếu tố khác
- Phương pháp mô hình hoá:
Sử dụng mô hình hoá như: công cụ toán học, phân tích vi phân để lượng hoá các mối quan hệ kinh tế
Trang 2322
Để nghiên cứu kinh tế học, các giả thiết kinh tế được thành lập và được kiểm chứng bằng thực nghiệm Nếu các phép thử được thực hiện lặp đi lặp nhiều lần đều cho kết quả thực nghiệm đúng như giả thiết thì giả thiết và lý thuyết kinh tế được công nhận một cách rộng rãi được gọi là qui luật kinh tế Hình vẽ dưới đây mô tả cụ thể các bước tuần tự trong nghiên cứu kinh tế học
* Xác định vấn đề nghiên cứu
Bước đầu tiên được áp dụng trong phương pháp nghiên cứu kinh tế học là
phải xác định được vấn đề nghiên cứu hay câu hỏi nghiên cứu Ví dụ các nhà kinh
tế mong muốn tìm hiểu hiện tượng kinh tế bất thường vì sao người dân lại giảm tiêu thụ một mặt hàng cụ thể nào đó trong mấy tháng qua
* Phát triển mô hình
Phát triển mô hình là bước thứ hai xây dựng mô kinh tế để tìm được câu trả lời cho vấn đề nghiên cứu đã xác định Mô hình kinh tế là một cách thức mô tả thực tế đã được đơn giản hóa để hiểu và dự đoán được mối quan hệ của các biến
số Mô hình kinh tế có thể được mô tả bằng lời, bảng số liệu, đồ thị hay các phương trình toán học
Mục tiêu của các mô hình kinh tế là dự báo hoặc tiên đoán kết quả khi các
biến số thay đổi Mô hình kinh tế có hai nhiệm vụ quan trọng Đầu tiên, giúp
chúng ta hiểu nền kinh tế hoạt động như thế nào Bằng cách mô tả vấn đề nghiên cứu thông qua mô hình đơn giản, chúng ta có thể hiểu sâu hơn một vài khía cạnh
Xác định vấn đề nghiên cứu
Phát triển mô hình
- Lựa chọn biến số phù hợp
- Đưa ra xác giả thiết đơn giản hoá so với thực tế
- Xác lập các giả thiết kinh tế để giải thích vấn
Kiểm định giả thiết kinh tế
- Thu thập số liệu
- Phân tích số liệu
- Kiểm định
Trang 2423
quan trọng của vấn đề Sau đó, các mô hình kinh tế được sử dụng để hình thành các giả thiết kinh tế
* Kiểm chứng giả thiết kinh tế
Mô hình kinh tế chỉ có ích khi và chỉ khi nó đưa ra được những dự đoán đúng Ở bước 3 này, các nhà kinh tế học sẽ tập hợp các số liệu để kiểm chứng lại giả thuyết Nếu kết quả thực nghiệm phù hợp với giả thiết thì giả thiết được công nhận còn nếu ngược lại thì giả thiết bị bác bỏ
Tuy nhiên đưa ra kết luận cuối cùng cần xem xét kỹ Có hai vấn đề liên quan đến việc giải thích các số liệu kinh tế Thứ nhất là vấn đề liên quan đến giả định các yếu tố khác không thay đổi và vấn đề còn lại liên quan đến quan hệ nhân quả
- Phương pháp phân tích cận biên:
Đây là phương pháp quan trọng nhất Nội dung cơ bản của phương pháp này là: Nhìn nhận xem xét các quyết định của các thành viên trong nền kinh tế đều có điểm dừng tối ưu Tại đó người sản xuất hoặc tối thiểu hoá chi phí khi lựa chọn đầu vào hoặc là tối đa hoá lợi ích khi sử dụng hàng hoá - dịch vụ còn chính phủ tối đa hoá phúc lợi công cộng khi lựa chọn chính sách
Khi tiến hành lựa chọn, các thành viên kinh tế đều mong muốn tối đa hoá lợi ích ròng thông qua việc so sánh phần lợi ích thu được và phần chi phí bỏ ra để sản xuất (hoặc tiêu dùng) thêm một đơn vị sản phẩm
Nếu lợi ích thu được khi sản xuất hoặc tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hoá lớn hơn chi phí bỏ ra để sản xuất hoặc tiêu dùng thêm một đơn sản phẩm thì nên
mở rộng qui mô sản xuất hoặc tiêu dùng để tăng thêm tổng lợi ích kinh tế
Nếu lợi ích thu được khi sản xuất hoặc tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hoá nhỏ hơn chi phí bỏ ra để sản xuất hoặc tiêu dùng thêm một đơn sản phẩm thì nên thu hẹp qui mô sản xuất hoặc tiêu dùng
Nếu lợi ích thu được khi sản xuất hoặc tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hoá bằng chi phí bỏ ra để sản xuất hoặc tiêu dùng thêm một đơn sản phẩm thì qui
mô sản xuất hoặc tiêu dùng là tối ưu (Q*) và khi đó tổng lợi ích kinh tế đạt được
là lớn nhất
Vậy Q* là điểm dừng tối ưu của người sản xuất (hoặc tiêu dùng) khi lựa chọn phương án sản xuất hoặc tiêu dùng nhằm tối đa hoá lợi ích kinh tế
Trang 2524
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Kinh tế học là gì?
2 Phân biệt kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô?
3 Phân biệt kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc?
4 Phân tích ý nghĩa của đường PPF? Nhận xét về những điểm nằm trên, những điểm nằm trong và những điểm nằm ngoài đường PPF
5 Thế nào là chi phí cơ hội? Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng? Ý nghĩa khi nghiên cứu chi phí cơ hội?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
*Tiếng Việt
1 Nguyễn Văn Dần (2011) Kinh tế học vi mô I,Nxb Tài chính, Hà Nội
2 Nguyễn Văn Ngọc (2007) Bài giảng nguyên lý kinh tế vi mô,NxbĐại
học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
3 Cao Thúy Xiêm (2008) Kinh tế học vi mô câu hỏi trắc nghiệm và bài
tập,NxbĐại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
4 Cao Thúy Xiêm (2011) Kinh tế học vi mô,Nxb Chính trị - Hành chính,
Hà Nội
*Tiếng Anh
5.Damian Ward, David Begg (2008).Bài tập kinh tế học vi mô,Nxb Thống
kê, Hà Nội
6.David Begg (2008) Kinh tế học vi mô,NxbThống kê, Hà Nội
7 N.Gregory Mankiw (2003) Nguyên lý kinh tế học, NxbThống kê, Hà Nội
Trang 2625
Chương 2 CUNG - CẦU
Chương 1 đã giới thiệu về những vấn đề cơ bản của kinh tế học và kinh tế
vi mô Trong đó, quan trọng nhất là cách thức xã hội phân bổ và sử dụng nguồn lực sao cho tối ưu nhằm ra quyết định được sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào Một nền kinh tế hiện đại dựa vào cơ chế thị trường để giải quyết những vấn đề trên Do đó, trong chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu cơ chế thị trường thông qua việc phân tích sự vận hành thị trường và giá cả của một thị trường hàng hóa riêng biệt Sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa cầu trên thị trường (hành
vi của những người mua) và cung (hành vi của những người bán) sẽ xác định lượng hàng hóa được sản xuất và mức giá mua bán hàng hóa đó
Trong khái niệm này chúng ta cần chú ý hai yếu tố cơ bản:
+ Yếu tố 1: Ý muốn sẵn sàng mua Yếu tố này quyết định việc người tiêu
dùng có sẵn sàng chi tiền để mua hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó hay không Nếu không cần đến chúng thì dù đắt hay rẻ người tiêu dùng cũng không mua và cầu trong trường hợp này cũng bằng không
Những mong muốn, những nguyện vọng vô hạn của con người, mà không cần tính đến khả năng thanh toán được gọi là nhu cầu của người tiêu dùng Do đó,
đa số nhu cầu của con người không được thoả mãn do có sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên
Ví dụ: Bạn rất muốn có một chiếc máy vi tính – đó là nhu cầu của bạn song không có tiền để mua vậy cầu của bạn với chiếc máy tính đó bằng không
+ Yếu tố 2: Khả năng mua hay khả năng thanh toán của người tiêu dùng
Mặc dù người tiêu dùng rất thích mua một món hàng nhưng anh ta phải có tiền để trả cho món hàng đó, nếu anh ta không có đủ tiền thì cầu đối với món hàng đó bằng không
Trang 2726
* Các yếu tố khác không đổi (Ceteris paribus): Có rất nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến cầu mà ta sẽ nghiên cứu ở phần sau Khi nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố nào đó đến cầu các nhà kinh tế thường cho yếu tố nghiên cứu thay đổi còn các yếu tố khác coi như không đổi để thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của yếu
tố đang xét đến cầu hàng hóa - dịch vụ trên thị trường
2.2.1.2.Lượng cầu
Lượng cầu là lượng hàng hoá, dịch vụ mà người mua sẵn sàng và có khả năng mua ở mức giá nhất định trong một thời gian xác định (với điều các yếu tố khác không đổi)
Lưu ý: Cầu khác với lượng cầu “Cầu” mô tả hành vi của người mua ở tất
cả các mức giá Trong khi đó, thuật ngữ “lượng cầu” chỉ có ý nghĩa trong mối quan hệ với mức giá cụ thể Ở mỗi mức giá có một lượng cầu cụ thể
Ví dụ: Thị trường gạo ở 1 khu vực với mức giá P = 12 nghìn đồng/kg thì lượng mua mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua là 1,2 tấn/ngày
Lượng 1,2 tấn/ngày tại mức giá 12 nghìn đồng được gọi là lượng cầu
2.2.2 Cách biểu diễn cầu
2.2.2.1 Biểu cầu
Biểu cầu là bảng chỉ số lượng hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng có khả
và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định
Trang 28Đồ thị là cách biểu thị trực quan mối quan hệ hàm số giữa hai biến số Trên
đồ thị, người ta thể hiện cầu dưới hình ảnh một đường cầu nhất định Theo truyền thống trong kinh tế học, lượng cầu (QD) thường được biểu thị trên trục hoành, mức giá (P) thường được đo trên trục tung Một đường cầu mô tả các kết hợp khác nhau giữa mức giá và lượng cầu tương ứng Một điểm cụ thể trên đường cầu cho chúng ta thông tin về một lượng hàng hóa cụ thể mà người tiêu dùng sẵn sàng mua tại một mức giá cụ thể
Đường cầu dạng tổng quát được thể hiện dưới dạng một đường cong, phi tuyến, với độ dốc không phải là hằng số Song với mục đích đơn giản hóa, đường cầu thường được thể hiện như một đường thẳng (đường có độ dốc là hằng số), tương ứng với việc biểu thị hàm số cầu là một hàm tuyến tính
Hình 2.1.Đường cầu thị trường
2.2.3 Cầu cá nhân và cầu thị trường
2.2.3.1 Cầu cá nhân
Cầu cá nhân là số lượng, dịch vụ mà một người có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong thời gian nhất định - với các yếu tố khác không đổi
2.2.3.2 Cầu thị trường
Ví dụ 1:Giả sử có 4 người A, B, C, D tham gia thị trường hàng hóa X có biểu cầu như sau:
Đường cầu dạng tổng quát
Trang 29Cầu thị trường là tổng khối lượng hàng hóa và dịch mà mọi người sẵn sàng
và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định - với các yếu tố khác không đổi
Cầu thị trường = ∑cầu cá nhân cộng theo chiều ngang (trục hoành)
n 1 i
D i
q : Lượng cầu cá nhân
Ví dụ 2:Cầu của cá nhân về hàng hóa X được ước lượng bởi phương trình sau: P = 100 – 0,4Q.Thị trường có 50 người mua và có đường cầu giống hệt nhau
Hỏi lượng cầu thị trường là bao nhiêu?
Theo đầu bài trên ta có: Lượng cầu thị trường bằng tổng lượng cầu cá nhân
Do đó, chúng ta sẽ xác định lượng cầu của các cá nhân theo lượng cầu Q:
Từ hàm cầu: = 100 – 0,4 ↔ = 250 – 2,5 Vậy: = 50 × (250 – 2,5 ) = 12500 – 12,5
Ví dụ 3:Giả sử thị trường có 3 cá nhân khác nhau có phương trình đường cầu
như sau:
= 100 – ; = 80 – 0,5 à = 60 – 0,4Hãy xác định phương trình cầu của thị trường?
Theo đầu bài trên ta có:
Xác định cầu của các cá nhân theo Q:
= 100 – ; = 160 – 2 và = 150 – 2,5
Vì = + + và = = = nên = 410 – 5,5
Trang 3029
2.2.4 Luật cầu
Khối lượng hàng hóa - dịch vụ được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá cả của hàng hóa hoặc dịch vụ đó giảm xuống và ngược lại (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi)
Ngân sách của người tiêu dùng có hạn, khi giá cả hàng hóa giảm xuống thì khả năng mua hàng hóa đó tăng lên nên cầu tăng lên hoặc có thể người tiêu dùng
sẽ tiêu dùng hàng hóa đó nhiều hơn do lúc trước giá cao những người này không
có khả năng mua hàng hóa vì thế cầu tăng lên Cũng có thể giải thích quy luật này
ở khía cạnh, có rất nhiều nhiều hàng hóa có thể thay thế cho nhau, vì thế khi giá một hàng hóa tăng lên người tiêu dùng sẽ không mua hàng hóa đó nữa mà chuyển sang mua hàng hóa khác có cùng công dụng nên lượng cầu hàng hóa đang xét giảm xuống
Ví dụ:Tại sao khi giá thịt bò hạ xuống thì lượng cầu về thịt bò lại tăng lên? Khi giá thịt bò hạ xuống, sẽ có hai hiệu ứng tác động đến người tiêu dùng Thứ nhất, vì các điều kiện khác là giữ nguyên, tức giá cả các hàng hoá khác trong đó
có các hàng hoá như thịt gà, thịt lợn, cá… được coi là không đổi, nên sự kiện giá thịt bò hạ xuống đồng nghĩa với việc thịt bò trở nên rẻ đi một cách tương đối so với các loại thực phẩm khác Người tiêu dùng sẽ có xu hướng thay thế một phần các thực phẩm khác, giờ đây đã trở nên đắt hơn một cách tương đối, bằng thịt bò Điều này làm cho nhu cầu về thịt bò tăng lên Hiệu ứng này gọi là hiệu ứng thay thế Thứ hai, khi thu nhập danh nghĩa của người tiêu dùng không đổi, việc thịt bò
rẻ đi làm cho thu nhập thực tế của người tiêu dùng tăng lên Trở nên khá giả hơn, người tiêu dùng cũng sẽ có xu hướng tiêu dùng nhiều thịt bò hơn Hiệu ứng này gọi là hiệu ứng thu nhập
2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu
Khi tìm hiểu mỗi đường cầu, trước đây chúng ta giả định rằng tất cả các yếu tố khác đều giữ nguyên Hay nói cách khác, khi thể hiện đường cầu, chúng ta mới chỉ quan tâm đến sự thay đổi của mức giá hàng hoá hiện hành ảnh hưởng như thế nào đến lượng cầu.Trên thực tế, lượng hàng hoá mà người tiêu dùng muốn và sẵn sàng mua còn bị chi phối bởi những yếu tố khác Khi những yếu tố này thay đổi, lượng cầu về hàng hoá ở mỗi mức giá cũng sẽ thay đổi Đây là nguyên nhân làm đường cầu thị trường dịch chuyển Những yếu tố chính đó là: thu nhập, giá cả của hàng hóa có liên quan, thị hiếu, kỳ vọng của người tiêu dùng và số lượng người tiêu dùng tham gia vào thị trường
2.2.5.1 Giá của hàng hóa
Giá hàng hóa có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với lượng cầu trên thị trường
Trang 3130
2.2.5.2 Thu nhập của người tiêu dùng
Thu nhập của người tiêu dùng là yếu tố quan trọng trong xác định cầu Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng
Dựa vào thu nhập của người tiêu dùng người ta chia hàng hoá thành hai loại: là hàng hóa thông thường và hàng hóa thứ cấp
Hàng hoá thông thường: Là loại hàng hoá khi thu nhập của người tiêu dùng
tăng lên thì cầu về hàng hóa đó tăng lên và ngược lại
Hàng hoá thứ cấp: Là loại hàng hóa khi thu nhập của người tiêu dùng tăng
lên thì cầu về hàng hóa đó giảm xuống và ngược lại
Ví dụ:Khi thu nhập cao người tiêu dùng sẽ mua nhiều thịt, cá và mua ít ngô, khoai hơn, dẫn đến cầu về thịt cá tăng lên còn cầu về ngô, khoai, sắn giảm xuống.Vì thế, thịt cá được gọi là hàng hoá thông thường và ngô, khoai, sắn được gọi là hàng hoá thứ cấp
2.2.5.3 Giá của hàng hoá có liên quan
Cầu đối với hàng hoá không chỉ phụ thuộc vào giá cả của bản thân hàng hoá đó mà nó còn phụ thuộc vào giá cả của hàng hoá có liên quan Các hàng hoá
có liên quan này chia làm hai loại: hàng hóa thay thế và hàng hoá bổ sung
Hàng hoá thay thế: Là hàng hoá có thể sử dụng thay cho hàng hoá khác Ví
dụ, thịt lợn, thịt gà, cá là các loại hàng hoá thay thế
Khi giá của một loại hàng hoá thay đổi thì cầu đối với hàng hoá kia cũng thay đổi Cụ thể cầu về một hàng hóa tăng lên khi giá của hàng hóa thay thế cho nó tăng
và ngược lại Ví dụ:Khi giá của thịt lợn tăng lên người người tiêu dùng không mua thịt lợn chuyển sang mua thịt gà hay cá làm cho cầu của thịt gà hay cá tăng
Hàng hoá bổ sung: Là hàng hoá được sử dụng đồng thời với các hàng hoá
khác.Ví dụ:Xe máy và xăng hoặc bếp ga và ga là hàng hoá bổ sung
Đối với các loại hàng hoá này: Cầu đối với một hàng hóa sẽ giảm khi giá của hàng hóa bổ sung cho nó tăng
2.2.5.4.Số lượng người tiêu dùng
Vì cầu thị trường là tổng cầu cá nhân nên số lượng người tiêu dùng có ảnh hưởng đến cầu thị trường Số lượng người tiêu dùng tăng dẫn đến cầu thị trường cũng tăng
Ví dụ:Hãy so sánh cầu về gạo của Trung Quốc và Việt Nam Trung Quốc là nước có hơn 1 tỷ dân trong khi Việt Nam có hơn 80 triệu dân Rõ ràng là ở mỗi mức giá lượng cầu đối với gạo ở Trung Quốc sẽ lớn nhiều so với lượng cầu ở Việt Nam
2.2.5.5.Thị hiếu của người tiêu dùng
Thị hiếu được hiểu là sở thích của người tiêu dùng về một hàng hóa nào đó,
Trang 3231
thói quen tiêu dùng hay được hình thành phần nào do xã hội, phong tục tập quán,
sự thuận tiện do tiêu dùng hàng hoá đem lại…
Thị hiếu của người tiêu dùng là nhân tố quan trọng tác động đến lượng cầu Nếu người tiêu dùng có sở thích về 1 loại hàng hóa nào đó thì cầu về hàng hoá đó tăng lên ở cùng mức giá bán
Trong khi đó, nếu người tiêu dùng kỳ vọng rằng thu nhập của mình sẽ tăng trong tương lai thì cầu hiện tại đối với hàng hóa thông thường sẽ tăng lên và ngược lại
2.2.5.7.Yếu tố khác
Ngoài các yếu tố đã nêu trên còn một số yếu tố khác tác động đến cầu: thời gian, điều kiện tự nhiên (khí hậu, thời tiết), quảng cáo…
2.2.6 Sự vận động và dịch chuyển của đường cầu
Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu mà chúng ta vừa xem xét sẽ dẫn đến sự thay
đổi của đường cầu Có hai sự thay đổi đó là: sự vận động dọc theo đường cầu (còn gọi là sự di chuyển của đường cầu) và sự dịch chuyển của đường cầu
2.2.6.1 Sự vận động của đường cầu
Trang 3332
Hình 2.2 cho thấy: Điểm A trên đường cầu (D)với mức giá P0 lượng cầu là
Q0 do giá giảm từ P0 xuống P1 nên lượng cầu tăng từ Q0 lên Q1 nên điểm A thay đổi vị trí đến điểm B Hoặc ngược lại, điểm B trên đường cầu (D)với mức giá P1 lượng cầu là Q1 do giá tăng từ P1 lên P0 nên lượng cầu giảm từ Q1 lên Q1 vì thế điểm B thay đổi vị trí đến điểm A
Sự thay đổi vị trí của các điểm trên cùng một đường cầu do sự thay đổi của giá hàng hóa được gọi là sự vận động (di chuyển) của đường cầu
2.2.6.2 Sự vận động của đường cầu
Hình 2.3 cho thấy: Đường cầu (D), tại điểm A giá P0, lượng cầu Q0, giá sản phẩm vẫn là P0 nhưng vì lý do nào đó làm cho lượng cầu tăng lên Q1, ta có điểm
B, qua điểm B vẽ được đường cầu (D2) Hoặc ngược lại, vì lý do nào đó làm cho lượng cầu giảm xuống Q2, ta có điểm C, qua điểm C vẽ được đường cầu (D1) Sự thay đổi vị trí của cả đường cầu từ (D) đến (D1); từ (D) đến (D2) được gọi là sự dịch chuyển của đường cầu
Sự dịch chuyển đường cầu từ (D) đến (D1) gọi là dịch chuyển sang phải; từ (D) đến (D2) gọi là dịch chuyển sang trái
Các yếu tố làm dịch chuyển đường cầu chính là các yếu tố ảnh hưởng đến cầu ngoài giá, bao gồm:
* Thu nhập của người tiêu dùng
Thu nhập của người tiêu dùng chia hàng hóa thành 2 loại:
- Đối với hàng hoá thông thường: Nếu thu nhập tăng, lượng cầu đối với
hàng hóa thông thường tăng dẫn tới sự dịch chuyển của đường cầu sang phải Ngược lại, nếu thu nhập giảm lượng cầu đối với hàng hoá thông thường giảm nên đường cầu dịch chuyển sang trái
C
(D 1 )
(D 2 ) (D)
Trang 3433
- Đối với hàng hoá thứ cấp: Khi thu nhập tăng làm cho lượng cầu đối với
hàng hóa thứ cấp giảm, dẫn tới đường cầu dịch chuyển sang trái và ngược lại
* Giá hàng hoá có liên quan
Hàng hoá có liên quan chia thành 2 loại:
- Hàng hoá thay thế:
Giá hàng hóa A tăng làm cho lượng cầu hàng hóa B tăng theo và ngược lại thì A và B là hai hàng hóa thay thế Khi giá A tăng theo luật cầu lượng cầu A sẽ giảm người tiêu dùng có thể mua B để thay thế cho A nên lượng cầu B tăng lên
Vì thế, khi giá hàng hóa hóa tăng đường cầu hàng hóa dịch chuyển sang phải và ngược lại, giá A giảm đường cầu B dịch chuyển sang trái
Ví dụ:Đồ dùng bằng nhôm và đồ dùng bằng nhựa là hai lại hàng hoá thay thế cho nhau Khi giá của đồ nhôm tăng lên thì người tiêu dùng sẽ chuyển sang dùng đồ nhựa vì thế cầu về đồ nhựa tăng lên làm cho đường cầu đồ nhựa dịch chuyển sang phải
- Hàng hoá bổ sung:
Giá hàng hóa A tăng làm cho lượng cầu hàng hóa B giảm và ngược lại thì
A và B là hai hàng hóa bổ sung Khi giá A tăng theo luật cầu lượng cầu A sẽ giảm, A và B luôn tiêu dùng cùng nhau nên người tiêu dùng không mua A thì họ cũng sẽ không mua B nên lượng cầu B giảm.Vì thế, khi giá hàng hóa tăng đường cầu hàng hóa dịch chuyển sang trái và ngược lại, giá A giảm đường cầu B dịch chuyển sang phải
Ví dụ:Ga và bếp ga là hai loại hàng hoá bổ sung cho nhau Khi giá của bếp
ga tăng lên làm cho cầu về ga giảm xuống vì thế đường cầu về ga dịch chuyển sang bên trái
* Sở thích của người tiêu dùng
Nếu người tiêu dùng có sở thích về một loại hàng hoá nào đó thì cầu về hàng hoá đó tăng lên ở cùng mức giá bán vì thế đường cầu sẽ dịch chuyển sang phải và ngược lại
Ví dụ:Gần đây khi người ta quan tâm đến sức khoẻ, tránh béo phì thì cầu
về thuốc lá, bánh bơ giảm xuống nhưng cầu về dụng cụ thể dục, thể thao lại tăng nhanh…
* Số lượng người tiêu dùng
Số lượng người tiêu dùng tăng thì cầu về hàng hóa hoặc dịch vụ ở cùng một
Trang 3534
mức giá tăng lên làm cho đường cầu về hàng hóa đó dịch chuyển sang phải và ngược lại
* Kỳ vọng của người tiêu dùng
Sự hy vọng của người tiêu dùng vào sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến cầu trong tương lai cũng làm cho đường cầu dịch chuyển Ví dụ, sự hy vọng của người tiêu dùng là sẽ tăng thu nhập trong tương lai vì vậy cầu hàng hóa thông thường ở hiện tại sẽ giảm làm cho đường cầu dịch chuyển sang trái, cầu trong tương lai sẽ tăng và đường cầu sẽ dịch chuyển sang phải
Cung mô tả hành vi của người bán Cũng như cầu, cung bao gồm hai yếu tố
cơ bản: khả năng bán và ý muốn sẵn sàng bán hàng hoá hoặc dịch vụ
- Yếu tố 1 Khả năng cung: Nhà sản xuất có đủ hàng hoá hoặc dịch vụ theo yêu cầu thị trường
- Yếu tố 2 Ý muốn sẵn sàng bán: Có nghĩa là người bán sẵn sàng cung cấp lượng hàng hoá đó nếu có đủ người mua chúng
Lượng hàng hoá sẵn sàng bán không phải là lượng hàng hoá thực sự được bán ra thị trường Nếu người sản xuất có hàng hoá nhưng không muốn bán ra thị trường thì không có cung và cầu thị trường không được đáp ứng
Ngoài ra cần chú ý khi nói đến cung về bất kỳ hàng hoá hoặc dịch vụ nào, chúng ta cũng phải chú ý đến bối cảnh không gian và thời gian.Vì các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến cung Ở mỗi không gian và thời gian khác nhau ta có cung của cùng một hàng hoá hoặc dịch vụ là khác nhau
2.2.1.2.Lượng cung
Lượng cung là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng bán và sẵn sàng bán ở mỗi mức giá đã cho trong một thời gian nhất định với các yếu tố khác không đổi
Ví dụ:Ở mức giá 100.000 đồng/kg thịt lợn thì lượng cung ở thị trường Xuân Mai là 1 tấn/ngày Nghĩa là ở mức giá 100.000 đồng thì những người bán thịt lợn sẵn sàng bán ra thị trường 1 tấn/ngày
Trang 3635
Lưu ý: Cung khác với lượng cung Cung không phải là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể mà là một sự mô tả toàn diện về số lượng mà người bán muốn
bán ở mỗi mức giá và tất cả các mức giá có thể chấp nhận được Còn lượng cung
là lượng hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể mà người bán sẵn sàng bán ra thị trường ở
một mức giá cụ thể Lượng cung chỉ có ý nghĩa khi gắn với một mức giá cụ thể
2.2.2 Cách biểu diễn cung
2.2.2.1.Biểu cung
Biểu cung là bảng miêu tả số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán tại các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định- các yếu khác không đổi
Ví dụ:Người sản xuất có thể cung cấp số lượng hàng hoá A theo biểu sau:
Bảng 2.3 Ví dụ biểu cung Giá (nghìn đồng) Lượng cung (tấn)
Cung hàng hóa có thể được biểu thị thông qua hàm cung:
= ( )với X là các nhân tố ảnh hưởng đến cung
Qua hàm số cung, quan hệ về mặt số lượng giữa lượng hàng hoá mà người sản xuất sẵn lòng bán và mức giá của chính hàng hoá được thể hiện một cách đơn giản, khái quát: Ứng với một mức giá nhất định, ta biết được lượng cung về hàng hoá của người sản xuất là bao nhiêu
- Nếu chỉ xét mối quan hệ giữa giá cả và lượng cung, các yếu tố khác không đổi, hàm cung có thể viết: = ( )
- Hàm cung tuyến tính có dạng: = + ( > 0)
Hoặc hàm cung: = + (với > 0)
Trang 3736
2.2.2.3 Đường cung
Trên đồ thị, ta thể hiện cung dưới hình ảnh một đường cung nhất định Lượng cung (QS) được biểu thị trên trục hoành Mức giá (P) được biểu diễn trên trục tung Một đường cung mô tả các kết hợp khác nhau giữa mức giá và lượng cung tương ứng Một điểm cụ thể trên đường cung cho chúng ta thông tin về một lượng hàng hoá cụ thể mà người sản xuất có khả năng và sẵn sàng bán tại một mức giá cụ thể
Đường cung dạng tổng quát được thể hiện dưới dạng một đường cong dốc lên, phi tuyến, với độ dốc không phải là hằng số Song với mục đích đơn giản hoá, đường cung thường được thể hiện như một đường thẳng (đường có độ dốc là hằng số), tương ứng với việc biểu thị hàm số cung như một hàm tuyến tính
Đường cung dốc lên thể hiện giá hàng hoá càng cao thì người sản xuất, các doanh nghiệp tăng cường sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn vì thế lượng cung sẽ tăng lên Còn ở mức giá thấp các nhà sản xuất, người bán không sẵn sàng cung ứng (trừ khi được nhà nước trợ cấp) nên cung sẽ giảm
2.2.3 Cung cá nhân và cung thị trường
- Cung cá nhân: Là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà một cá nhân có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau tại một thời điểm nhất định - với các yếu tố khác không đổi
Ví dụ:Với mức giá thị trường là 10 nghìn đồng/sản phẩm, một người sản xuất hàng hoá này có thể cung cấp ra thị trường 500 sản phẩm/ngày Cũng với mức giá thị trường là 10 nghìn đồng/sản phẩm, một người sản xuất khác lại có thể cung cấp ra thị trường 550 sản phẩm/ngày
Hình 2.4 Đường cung thị trường
Đường cung tổng quát
Trang 38Biểu cung trên th
cung ứng ở các mức giá khác nhau.Ví dụ
cung của Quang Hanh l
chai/ngày, do đó lượng cung của thị tr
ới các yếu tố khác không đổi
ợng cung thị trường = Tổng lượng cung cá nhân (theo chi
Cách xác định cung thị trường từ cung cá nhân
Lượng cung (nghìn chai/ngày)
ủa Quang Hanh là 1.000 chai/ngày, lượng cung của Vĩnh Hảo
ợng cung của thị trường là 3.000 chai/ngày
Đường cung của Vĩnh Hảo
Đường cung của thị tr
Q
Hình 2.5 Cách xây dựng đường cung thị tr
ặc dịch vụ mà mọi người
ới các mức giá khác nhau tại một thời điểm nhất
ng cung cá nhân (theo chiều ngang)
ờng tại mỗi mức giá;
ợng cung của một cá nhân tại mỗi mức giá
ớc khoáng chỉ có hai nhà sản xuất là Quang
ợng cung của hai nhà sản xuất và
Trang 39Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa giá và lượng cung - với điều kiện các yếu
tố khác không đổi Các nhà kinh tế đã đưa ra mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa giá và lượng cung Mối quan hệ này được phát biểu thành quy luật như sau:
Số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ được cung trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá cả hàng hoá tăng lên và ngược lại - với điều kiện các yếu tố khác không đổi
Tại sao giá cả càng cao lại dẫn tới lượng cung càng tăng lên? Câu trả lời ở đây là lợi nhuận Với điều kiện các yếu tố khác không đổi khi giá cả hàng hoá càng cao có nghĩa là các nhà sản xuất, người bán thu được lợi nhuận càng lớn vì vậy nó sẽ kích thích họ sản xuất nhiều hàng hoá hơn và nó cũng thu hút thêm những người sản xuất mới ra nhập nghành nên lượng cung hàng hoá tăng lên
2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung
2.2.5.1.Giá của hàng hóa
Theo luật cung, giá hàng hóa có mối quan hệ tỷ lệ thuận với lượng cung hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường
2.2.5.2 Giá các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
Giá cả các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất tác động rất lớn tới quyết định cung của doanh nghiệp Khi giá các yếu tố đầu vào giảm dẫn tới chi phí sản xuất giảm, giá thành sản xuất giảm làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên dẫn tới cung tăng và ngược lại
2.2.5.3.Công nghệ sản xuất
Công nghệ sản xuất có ảnh hưởng quyết định tới năng suất của doanh nghiệp và do đó ảnh hưởng quyết định tới lượng cung của doanh nghiệp Công nghệ càng tiên tiến làm càng làm tăng khả năng cung và từ đó làm cho lượng cung hàng hoá ra thị trường tăng lên ở mỗi mức giá và ngược lại
2.2.5.4.Số lượng người sản xuất
Số lượng người sản xuất có ảnh trực tiếp đến lượng sản phẩm được cung ra thị trường, ảnh hưởng này là thuận chiều Số lượng người sản xuất càng nhiều lượng sản phẩm được cung ra thị trường càng lớn dẫn đến cung tăng và ngược lại
2.2.5.5 Kỳ vọng của người sản xuất
Sự mong đợi của người sản xuất về thay đổi giá cả hàng hoá, giá cả các yếu
tố đầu vào của sản xuất, chính sách thuế đều ảnh hưởng đến cung hàng hoá hoặc
Trang 4039
dịch vụ Nếu sự mong đợi, dự đoán có lợi cho người sản xuất thì cung sẽ tăng và ngược lại
2.2.5.6.Chính sách thuế của nhà nước
Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước.Thuế có ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng đến lượng cung vì thuế
là chi phí mà doanh nghiệp phải chịu
2.2.6 Sự vận động và dịch chuyển của đường cung
Sự vận động và dịch chuyển của đường cung tương tự như sự vận động và dịch chuyển của đường cầu
Sự thay đổi vị trí của các điểm trên cùng một đường cung được gọi là sự vận động của đường cung
Hình 2.6 biểu diễn sự vận động của đường cung Sự thay đổi vị trí từ điểm
A đến điểm B hoặc ngược lại từ điểm B đến điểm A trên đường cung (S) do sự thay đổi của giá hàng hóa
Sự thay đổi vị trí của cả đường cung từ vị trí này đến vị trí khác được gọi là
sự dịch chuyển của đường cung Hình 2.7 thể hiện sự dịch chuyển của đường cung (S); từ (S) đến (S’): Đường cung dịch chuyển sang trái; từ (S) đến (S’’): Đường cung dịch chuyển sang p
Hình 2.6 Sự vận động của đường cung
S P
S’’
P
Hình 2.7 Sự dịch chuyển của đường cung