1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài giảng kinh tế vi mô - chương xii phân tích các thị trường cạnh tranh

35 734 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích Các Thị Trường Cạnh Tranh
Tác giả Pindyck, Rubinfeld
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế học vi mô
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 3,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm• Cạnh tranh độc quyền: Thị trường trong đó các hãng cạnh tranh nhau bằng việc bán các hàng hóa có sự khác biệt và có khả năng thay thế cho nhau ở

Trang 2

•12.6 Cartel

Trang 3

Cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm

• Cạnh tranh độc quyền: Thị trường trong đó các hãng cạnh

tranh nhau bằng việc bán các hàng hóa có sự khác biệt và có

khả năng thay thế cho nhau ở mức độ cao và gia nhập hay hay

ra khỏi thị trường là tự do.

• Độc quyền nhóm: Thị trường trong đó chỉ có một vài hãng

cạnh tranh với nhau, và việc gia nhập của các hãng mới gặp

nhiều trở ngại.

• Cartel: Thị trường trong đó một số hoặc tất cả các hãng công

khai hợp tác với nhau, định giá cả và sản lượng để tối đa hóa

lợi nhuận chung.

Trang 4

Việc tạo ra cạnh tranh độc quyền

Một thị trường cạnh tranh độc quyền có hai đặc điểm chính:

1 Các hãng cạnh tranh bằng cách bán các sản phẩm khác biệt có thể thay thế cho nhau nhưng không thay thế hoàn hảo Nói cách khác, độ co giãn của cầu theo giá là lớn nhưng không phải là vô hạn.

2 Tự do nhập và rút khỏi ngành: nó tương đối dễ dàng cho các hãng mới tham gia vào thị trường với các sản phẩm của riêng mình và rút ra khỏi ngành với các hãng hiện có nếu sản phẩm của họ không mang lại lợi nhuận.

Trang 5

phải đối mắt với một

đường cầu dốc xuống

Giá cao hơn chi phí

biên và hãng có sức

mạnh độc quyền

Trong ngắn hạn, được

mô tả trong phần (a),

giá cũng vượt quá chi

Trang 6

Một hãng canh trạnh độc quyền trong ngắn hạn và dài hạn.

Trong dài han, những lợi

nhuận này thu hút các

doanh nghiệp mới với

Trang 7

Cạnh tranh độc quyền và hiệu quả kinh tế.

Trong cạnh tranh hoàn

hảo, giá cả bằng chi

phí biên

Đường cầu mà hãng

đang phải đối mặt nằm

ngang, do đó, điểm lợi

nhuận không xảy ra tại

điểm chi phí trung

Trang 8

Đường cầu xuống dốc,

do đó điểm lợi nhuận

bằng không ở phía bên

trái của điểm chi phí

trung bình tối thiểu

So sánh cạnh tranh độc

quyền và cạnh tranh

hoàn hảo

Trang 9

Bảng 12.1 Co giãn cầu của cola và của cà phê cho các hãng.

Trừ Royal Crown và Chock Full o 'Nuts, tất cả các cola và cà phê đều khá đàn hồi theo giá Với

độ co giãn khoảng từ -4 đến -8, mỗi hãng chỉ có sức mạnh độc quyền bán hạn chế Đây là điển hình của cạnh tranh độc quyền.

Ví dụ: 12.1 Cạnh tranh độc quyền trong các thị trường cola và cà phê.

Trang 10

Những yếu tố của cạnh tranh độc quyền.

Trong thị trường tập quyền, sản phẩm có thể khác hoặc không khác nhau

Vấn đề là chỉ một số hãng sản xuất hầu hết hay toàn

bộ sản lượng thị trường Trong một số thị trường tập quyền, một số hoặc tất

cả các hãng thu được lợi nhuận đáng kể trong dài hạn

vì các hàng rào gia nhập làm cho các hãng mới khó hoặc không thể gia nhập thị trường

Tập đoàn tập quyền là một cấu trúc thị trường phổ biến Ví dụ về các ngành tập quyền là ngành ôtô, thép, nhôm, hóa dầu, thiết bị điện và máy tính.

Trang 11

Cân bằng trong thị trường tập quyền.

Khi thị trường cân bằng, các hãng đang làm cái tốt nhất mà họ có thể và không có lý do để thay đổi giá hoặc sản lượng của họ.

Cân bằng Nash : cân bằng trong thị trường tập quyền có nghĩa là nếu cho biết những cái mà đối thủ của hãng đang làm, mỗi hãng sẽ muốn làm gì tốt nhất mà nó có thể, và các đối thủ này cũng sẽ làm cái tốt nhất họ có thể nếu họ biết bản thân hãng này đang làm gì.

• Cân bằng Nash: mỗi hãng làm cái tốt nhất mà nó có thể nếu

mà nó biết cái mà đối thủ nó đang làm.

• Lưỡng độc quyền thị trường mà chỉ có hai hãng cạnh tranh với nhau.

Trang 12

Mô hình Cournot

• Mô hình Cournot Mô hình cạnh tranh tập quyền ở đó các hãng sản xuất ra một sản

phẩm đồng nhất, mỗi hãng xem sản lượng của đối thủ cạnh tranh là cố định, và tất

cả các hãng quyết định sản xuất bao nhiêu.

Sản lượng tối đa hóa lợi nhuận của hãng 1

phụ thuộc vào giả thiết của hãng về lượng sản

phẩm mà hãng 2 sẽ sản xuất bao nhiêu

Nếu hãng nghĩ rằng hãng 2 không sản xuất tý

nào thì đường cầu của hãng, kí hiệu là D1(0), là

đường cầu thị trường Đường doanh thu biên

tương ứng, kí hiệu MR1(0), cắt đường chi phí

biên của hãng 1 tại sản lượng 50

Nếu hãng 1 nghĩ hãng 2 sản xuất 50 đơn vị

thì đường cầu của hãng 1, D1(50), dịch chuyển

sang trái một lượng tương ứng Với tối đa hóa lợi

nhuận, mức sản lượng la 25 đơn vị

Trang 13

●Đường phản ứng Thể hiện mối quan hệ giữa sản lượng tối đa hóa lợi

nhuận của hãng với sản lượng mà nó nghĩ đối thủ của nó sẽ sản xuất.

Cân bằng Cournot Cân bằng trong mô hình Cournot ở đó mỗi hãng giả định chính xác số lượng mà đối thủ cạnh tranh sẽ sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận của mình sau đó.

Đường phản ứng của hãng 1 biểu thị số lượng hãng sẽ sản xuất

là một hàm số của số lượng nó

nghĩ hãng 2 sẽ sản xuất.

Đường phản ứng của hãng 2 biểu thị các mức sản lượng của nó

là 1 hàm số của số lượng mà nó

nghĩ hãng 1 sẽ sản xuất.

Trong cân bằng Cournot, mỗi hãng gia định một cách chính xác

số lượng mà đối thủ sẽ sản xuất,

và nhờ đó tối đa hóa được lợi

nhuận của mình Do dó cả hai đều

ở trạng thái cân bằng này.

Đường phản ứng và cân

bằng Cournot

Hình 12.4

Trang 14

Đường cầu tuyến tính – ví dụ

Hai hãng giống nhau gặp đường cầu thị trường sau:

P = 30 – Q Ngoài ra, MC1 = MC2 = 0 Tổng doanh thu của hãng: R1 = PQ1 = (30 –Q)Q1 MR1 = ∆R1/∆Q1 = 30 – 2Q1 –Q2

Đặt MR1 = 0 (Chi phí biên của hãng 1) và giải tìm Q1 Đường phản ứng của hãng 1: Q1=15 – ½ Q2

Tính toán tương tự, đường phản ứng của hãng 2: Q2= 15 – ½ Q1 Cân bằng Cournot: Q1=Q2=10

Tổng số lượng sản xuất: Q=Q1=Q2=20

Trang 15

Đường cong tuyến tính về nhu cầu – một ví dụ.

Nếu hai hãng thông đồng thì tổng lượng tối đa hóa lợi nhuận có thể đạt

được:

Tổng doanh thu cho hai hãng: R = PQ = (30 –Q)Q = 30Q – Q2, doanh

thu biên MR1 = ∆R/∆Q = 30 – 2Q

Đặt MR = 0 (Chi phi biên của hãng ) Chúng ta thấy rằng tổng lợi nhuận

được tối đa hóa khi Q = 15.

Đường Q1 + Q2 = 15 là đường hợp đồng.

Nếu các hãng đồng ý chia lợi nhuận công bằng thì mỗi hãng sản xuất

nửa sản lượng:

Q1 = Q2 = 7.5

Trang 16

Q1 và Q2 tối đa hóa tổng

lợi nhuận

Nếu hai hãng cấu kết

và chia lợi nhuận công

bằng thì mỗi hãng sẽ sản

xuất 7,5

Ngoài ra còn biểu thị cân bằng cạnh tranh ở đó

giá bằng chi phí biên, và

lợi nhuận bằng 0

Ví dụ độc quyền hai hãng

Hình 12.5

Trang 17

Lợi thế người tiên phong—Mô hình Stackelberg

● Mô hình Stackellberg Mô hình độc quyền nhóm trong đó một hãng thiết lập đầu ra của nó trước các hãng khác.

Giả sử hãng 1 bộ sản lượng của nó đầu tiên và sau đó đến hãng 2, sau khi quan sát hãng 1 quyết định sản lượng đầu ra của nó Trong việc thiết lập đầu ra hãng 1, hãng 2 phải xem xét sẽ phản ứng làm thế nào

P = 30 - QNgoài ra, MC1 = MC2 = 0?

Đường phản ứng của hãng 2Doanh thu hãng 1 :

Và MR1 = ΔR1/ΔQ1 = 15 - Q1Thiết MR1 = 0 cho Q1 = 15, và Q2 = 7,5Chúng tôi kết luận rằng hãng 1 sản xuất gấp đôi so với hãng 2 và làm cho lợi nhuận gấp đôi Đi đầu cho hãng 1 một lợi thế

Trang 18

Giá cạnh tranh với Sản đồng nhất-Mô hình Bertrand

● Mô hình bertrand Mô hình độc quyền nhóm, trong đó các hãng sản xuất đồng nhất, mỗi hãng xử lý giá cố định của các đối thủ cạnh tranh nó , và tất cả các hãng quyết định đồng thời giá để tính phí

P = 30 - Q MC1 = MC2 = $ 3 Q1 = Q2 = 9, và ở trạng thái cân bằng Cournot, giá thị trường là 12$, do đó, làm cho lợi nhuận mỗi hãng là 81$.

Cân bằng Nash trong các kết quả mô hình Bertrand trong cả hai hãng định giá bằng chi phí cận biên: P1 = P2 = 3$ Sau đó, đầu

ra ngành công nghiệp là 27 đơn vị, trong đó mỗi hãng sản xuất 13,5 đơn vị, cả hai hãng không kiếm được lợi nhuận.

Trong mô hình Cournot, bởi vì mỗi hãng sản xuất chỉ có 9 đơn

vị, giá thị trường là 12$ Bây giờ giá thị trường là 3$ Trong mô hình Cournot, mỗi hãng thu được lợi nhuận , trong mô hình Bertrand, với giá chi phí các hãng là cận biên và không có lợi nhuận.

Trang 19

Cạnh tranh giá khi sản phẩm có sự khác biệt

Giả sử rằng mỗi một trong hai nhà độc quyền hai hãng có chi phí cố định

20$ nhưng chi phí biến đổi bằng không, và họ phải đối mặt với các đường

cầu sau:

Cầu hãng 1 :

Cầu hãng 2:

Chọn giá

Lợi nhuận của hãng 1 :

Giá bán tối đa hóa lợi nhuận của 1 :

Trang 20

và nhu cầu của mỗi hãng phụ thuộc vào

cả giá riêng của mình và giá cả của đối

thủ cạnh tranh Hai hãng lựa chọn giá cả

của họ cùng một lúc, mỗi giá đối thủ

cạnh tranh như được đưa ra sau đây:

Đường cong phản ứng hãng 1 đưa ra

giá tối đa hóa lợi nhuận của nó như là

một chức năng của giá cả mà hãng 2

đặt, và tương tự cho hãng 2.

Cân bằng Nash là tại các giao điểm của

hai đường cong phản ứng: Khi mỗi hãng

tính giá 4$, nó được làm tốt nhất nó có

thể đưa ra giá của đối thủ cạnh tranh và

không có động lực để thay đổi giá.

Cũng cho thấy được sự cân bằng kết

cấu : Nếu các hãng hợp tác thiết lập giá,

họ sẽ chọn 6$.

Trạng thái cân bằng trong giá Nash

Hình 12.6

Trang 21

Đường cầu của P & G cho doanh số bán hàng hàng tháng:

Giả sử rằng các đối thủ cạnh tranh của P & G phải đối mặt với cùng một điều kiện nhu cầu, với giá mà bạn nên nhập vào thị trường, và bạn nên mong đợi để kiếm được lợi nhuận bao nhiêu?

Giá cân bằng của đố thủ cạnh tranh($)

Trang 22

Quay trở lại ví dụ ở phần trước, có hai

hãng, mỗi hãng đều có chi phí cố định là

20USD, có chi phí biến đổi là không, và

gặp các đường cầu sau:

Cầu hãng 1: (12.6a)

Cầu hãng 2: (12.6b)

Chúng ta đã tìm, tại điểm cân bằng Nash

mỗi hãng đều định giá 4USD và thu

được lợi nhuận 12USD, trong khi đó nếu

kết cấu thì sẽ định giá 6USD và thu được

lợi nhuận 16USD.

Nếu hãng 1 định giá 6USD nhưng hãng

2 định giá 4USD thì lợi nhuận của hãng

Hãng 1

Định giá 4USD

12USD, 12USD

20USD, 4USD Định giá

6USd

4USD, 20US

16USD, 16USD

Ma trận lợi ích: thể hiện lợi nhuận (hay thu nhập) cho mỗi hãng, với quyết định của hãng và quyết định của đối thủ.

Trang 23

Thú tội Không thú tội

Người thú tội A Thú tội –5, –5 –1, –10

Trò chơi không hợp tác: là một kiểu trò chơi mà không có khả năng đàm phán và thực hiện hợp đồng.

Tình thế tiến thoái lưỡng nan của người tù: là một kiểu trò chơi

mà hai người tù phải quyết định một cách độc lập riêng rẽ có nên thú tội hay không nếu một người tù nhận tội thì anh ta sẽ nhận được mức án nhẹ hơn người đồng phạm với anh ta Còn nếu cả hai đều không nhận tội thì sẽ hưởng được mức án nhẹ hơn khi cả hai cùng nhận tội

Trang 24

ly Chúng ta đã lập luận rằng P&G phải dự kiến rằng các đối thủ định giá 1,4USD, và

các hãng cũng phải định giá đó P&G sẽ được lợi hơn nếu hãng và các đối thủ cùng định giá 1,50USD

Bảng 12.5: ma trận lợi ích của bài toán định giá.

Unilever và KAO

Định 1.40USD Định 1.50USD

P&G ĐỊnh 1.40USD 12USD 12USD 19USD 21USD

Định 1.50USD 3USD 21USD 20USD 20USD

•Vì những hãng này ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan của những người tù Bất

kể Unilever và Kao làm gì P&G cũng thu được nhiều tiền hơn bằng việc định giá 1,40USD.

cạnh tranh và kết cấu: tình thế tiến thoái lưỡng nan của những người tù

12.4

Trang 25

• Mô hình đường cầu gãy khúc: mô hình về tập quyền, mỗi hãng đều gặp đường cầu gãy ở một mức giá đang thịnh hành Ở các mức giá cao hơn mức giá thịnh hành thì đường cầu là rất co dãn, còn ở các mức giá thấp hơn thì đường cầu không co dãn.

Trang 26

Mỗi hãng đều tin rằng nếu họ tăng

giá bên trên điểm P*, thì không có

đối thủ nào theo sát được, vì vậy họ

sẽ lỗ nhiều nhất trong khoản bán

hàng Mỗi hãng cũng tin rằng khi

giá của họ thấp hơn thì mọi đối thủ

đều theo sát và doanh thu bán hàng

của hãng sẽ chỉ tăng khi cầu của thị

trường tăng lên Kết quả là đường

cầu D của hãng bị gãy khúc tại mức

giá P*, đường doanh thu biên của

hãng MR sẽ không tiếp tục thẳng tại

P* Nếu chi phí biên tăng từ MC

Trang 27

Phát tín hiệu giá và chỉ đạo giá

• Phát tín hiệu giá là một dạng của kết cấu ngầm,một

hãng có thể thông báo rằng nó tăng giá và hi vọng các đối thủ sẽ coi đây là tín hiệu và sẽ tăng giá theo.

• Chỉ đạo giá là một kiểu giá mà khi một hãng định giá

và các hãng khác làm theo.

Trang 28

Phát tín hiệu giá và chỉ đạo giá

Lãi suất mà các ngân hàng đặt ra cho các khách hàng là những công ty

lớn gọi là lãi suất cơ bản, bởi vì nó được biết đến rộng rãi và do đó là

điểm tập trung chú ý thuận lợi cho chỉ đạo giá

Mức lãi suất cơ bản chỉ thay đổi khi điều kiện thị trường tiền tệ thay đổi

đủ để các mức lãi suất khác tăng hoặc giảm đáng kể Khi điều đó xảy

ra, một trong số các ngân hàng chính thông báo tăng lãi suất của mình

và các ngân hàng khác nhanh chóng làm theo

Ở những thời điểm khác nhau, các ngân hàng khác nhau đóng vai trò

ngân hàng chỉ đạo, nhưng khi một ngân hàng thông báo thay đổi thì

các ngân hàng khác làm theo trong vòng hai ba ngày

Trang 29

Phát tín hiệu giá và chỉ đạo giá

Lãi suất cơ bản là lãi suất mà

các ngân hàng lớn đặt ra đối

với các khoản vay ngắn hạn

của khách hàng là những công

ty lớn Nó rất ít khi thay đổi vì

các ngân hàng miễn cưỡng

phải giảm lãi suất thấp hơn đối

thủ cạnh tranh Khi có thay đổi

thì nó bắt đầu từ một ngân

hàng và các ngân hàng khác

nhanh chóng làm theo Lãi

suất trái phiếu công ty là lãi

suất của các trái phiếu dài hạn

của công ty Vì các trái phiếu

này thường được trao đổi mua

bán trên thị trường nên lãi suất

này dao động theo điều kiện

thị trường.

Đường cầu gãy khúc

Hình 12.8

Trang 30

Hãng chủ đạo phải xác định đường cầu của mình Dd Như hình này chỉ ra đó chính là chênh lệch giữa đường cầu thị trường và cung của hãng nhỏ.

Ví dụ ở mức giá P1 cung của các hãng nhỏ đúng bằng cầu thị trường do đó các hãng chủ đạo không bán được gì ở mức giá này Ở mức giá P2 hoặc thấp hơn, các hãng nhỏ sẽ không cung hàng hóa do đó cầu đối với hãng chỉ đạo là đường cầu thị trường.

Ở các giá giữa P1 và P2 đường cầu đối với hãng chủ đạo là Dd

Việc định giá của các ngân hàng chủ đạo

Hình 12.9

Trang 31

Giá tương ứng là P*, ở giá này các hãng nhỏ bán số lượng Qf

Tổng lượng bán là Qt= Qd+Qf

Việc định giá của các ngân hàng chủ đạo

Hình 12.9 (tiếp theo)

Trang 32

Phân tích việc định giá của Cartel

TD là đường tổng cầu thế giới về dầu

lửa và Sc là đường cung cạnh tranh( phi

cartel)

Đường cầu D OPEC là chênh lệch giữa

hai cái đó.

Vì cả tổng cầu và cung cạnh tranh là

không co giãn nên cầu của OPEC không

co giãn.

Sản lượng tối đa hóa lợi nhuận của

OPEC là Q OPEC được tìm ra ở điểm

cắt của các đường chi phí biên và doanh

thu biên: Ở sản lượng này OPEC định

giá P*

Nếu các nhà sản xuất OPEC không

cartel hóa thì giá sẽ là Pc ở đó đường

cầu và đường chi phí cận biên của OPEC

cắt nhau.

Việc định giá của hãng chủ đạo

Hình 12.10

Trang 33

TD là tổng cầu về

đồng và Sc là cung

cạnh tranh( phi cartel)

Cầu của CIPIC là D

CIPIC là chênh lệch

giữa TD và Sc.

Cả tổng cầu và cung

cạnh tranh đều là

tương đối co dãn nên

cầu của CIPIC là co

Trang 34

Năm 1996, chính phủ liên bang cho phép các hãng sản xuất sữa trong cartel trong sáu bang New England Cartel này gọi là Hiệp ước sản xuất sữa giữa các tiểu bang vùng đông bắc- thiết lập mức giá bán buôn tối thiểu cho sữa, và được miễn các luật chống độc quyền Kết quả là người tiêu dùng ở New England

đã trả nhiều hơn cho một gallon sữa hơn người tiêu dùng ở những nơi khác tại quốc gia.

Các nghiên cứu đã nhận thấy rằng các cartel bao gồm các tiểu bang New England đã

gây ra giá bán lẻ sữa tăng chỉ có một vài xu một gallon Tại sao lại ít như vậy? Lý do

là cartel New England được bao quanh bởi một rìa của các nhà sản xuất phi cartel.

Ngày đăng: 16/04/2014, 01:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  chữ  nhật  màu - bài giảng kinh tế vi mô - chương xii phân tích các thị trường cạnh tranh
nh chữ nhật màu (Trang 5)
Hình 12.1 (tiếp theo) - bài giảng kinh tế vi mô - chương xii phân tích các thị trường cạnh tranh
Hình 12.1 (tiếp theo) (Trang 6)
Hình 12.2 (Tiếp theo) - bài giảng kinh tế vi mô - chương xii phân tích các thị trường cạnh tranh
Hình 12.2 (Tiếp theo) (Trang 8)
Bảng 12.1 Co giãn cầu của cola và của cà phê cho các hãng. - bài giảng kinh tế vi mô - chương xii phân tích các thị trường cạnh tranh
Bảng 12.1 Co giãn cầu của cola và của cà phê cho các hãng (Trang 9)
Bảng 12.3: ma trận lợi ích đối với trò chơi định giá - bài giảng kinh tế vi mô - chương xii phân tích các thị trường cạnh tranh
Bảng 12.3 ma trận lợi ích đối với trò chơi định giá (Trang 22)
Bảng 12.4: ma trận lợi ích đối với tình thế tiến thoái lưỡng nan của những người tù - bài giảng kinh tế vi mô - chương xii phân tích các thị trường cạnh tranh
Bảng 12.4 ma trận lợi ích đối với tình thế tiến thoái lưỡng nan của những người tù (Trang 23)
Hình 12.9 (tiếp theo) - bài giảng kinh tế vi mô - chương xii phân tích các thị trường cạnh tranh
Hình 12.9 (tiếp theo) (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm