Mặc dù Tập đoàn đã đặt ra những mục tiêu về quản trị nguồn nhấn lực, nhưng sự thực hiện tại các đơn vị thành viên còn không đồng nhất và đặc biệt tại một số đơn vị, còn tồn tại c[r]
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Khởi đầu, Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình dương (TPP) có 4 nước tham gia là Bru-nây, Chi-lê, Niu Di-lân, Xinh-ga-po và do đó hiệp định được gọi là P4
Ngày 22 tháng 9 năm 2008, Hoa Kỳ tuyên bố tham gia vào P4 nhưng không phải Hiệp định P4 cũ mà các nước sẽ đàm phán một hiệp định mới, được gọi là Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) Việt nam tham gia TPP vào cuối năm 2010, dù đã tiến hành đàm phán với tư cách thành viên liên kết 3 phiên với các nước thành viên TPP
Cùng với quá trình đàm phán, TPP đã tiếp nhận thêm các thành viên mới là Ma-lai-xia, Mê-xi-cô, Ca-na-đa và Nhật Bản, nâng tổng số nước thành viên lên mười hai thành viên vào năm 2013 Sau đó, một số nước khác như Hàn Quốc, Thái Lan, Cô-lôm-bia v v cũng bày tỏ ý muốn tham gia nhưng các nước TPP thống nhất chỉ tiến hành nhận thêm thành viên khi quá trình đàm phán kết thúc
Cùng quá trình đàm phán, các nước Ma-lai-xia, Mê-xi-cô, Ca-na-đa và Nhật Bản đã tham gia vào Hiệp định, do đó tổng số nước thành viên lên 12 vào năm 2013 Sau đó cũng có một số nước muốn tham gia nhưng các nước thành viên thống nhất kết thúc đàm phán trước khi kết nạp thêm thành viên
Hiệp định TPP không đơn thuần chỉ là một FTA về tự do hóa thương mại khu vực, mà còn là một hiệp định toàn diện giải quyết các vấn đề mang tính thời sự và ý nghĩa xã hội sâu sắc như các tiêu chuẩn về lao động và môi trường, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, minh bạch, mua sắm chính phủ
Mặc dù được chính thức ký kết vào ngày 4/2/2016, hiệp định TPP vẫn chưa có hiệu lực ngay Buổi ký kết thực chất là sự xác nhận của các nước thành viên rằng đã hoàn toàn thống nhất với các điều khoản trong nội dung
Trang 2của hiệp định TPP Sẽ có 2 năm để các quốc gia tiến hành thủ tục phê chuẩn Hiệp định theo quy định của pháp luật nước mình Hiệp định TPP sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày nhận được thông báo sau cùng bằng văn bản về việc tất cả các Bên đã hoàn thành thủ tục pháp lý nội bộ
Tạo ra một mô hình mới về hội nhập và hợp tác kinh tế khu vực, tạo điều kiện thuận lợi hơn hoạt động thương mại và đầu tư và mong muốn biến TPP thành trumg tâm, từ đó tạo nên một khu vực thương mại tự do cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Tạo ra giá trị cao nhất trong thời gian ngắn nhất có thể Theo thống kế của trung tâm WTO “Khu vực thương mại tự do mà TPP tạo ra rất lớn (có tổng GDP hơn 28.000 tỷ USD, chiếm 40% tổng GDP và hơn 30% tổng thương mại toàn cầu) TPP có thể giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 23,5 tỷ USD vào năm 2020
và 33,5 tỷ USD vào 2025 Xuất khẩu tăng thêm được 68 tỷ USD vào năm 2025
và Việt Nam có thể là nước được hưởng lợi nhiều nhất trong số 12 nước tham gia TPP” Nhưng để hưởng những lợi thế khi tham gia TPP, Việt Nam cũng phải cam kết thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế được quy định trong TPP Trong đó có tiêu chuẩn về Lao động
Các TCLĐ trong TPP không phải tiêu chuẩn mới hay tiêu chuẩn do các nước thành viên đưa ra, mà là những tiêu chuẩn được thừa nhận trong tuyên bố của ILO, các nước tham gia TPP vốn đều là thành viên của ILO, từ đó các nước thành viên thông qua và đồng ý cụ thể hóa vào trong luật pháp của mình
Tuyên bố năm 1988 của ILO khẳng định 4 nhóm quyền và nguyên tắc
cở bản tại nơi làm việc gồm: “Tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể; Xóa bỏ mọi hình thức lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc; Xóa bỏ có hiệu quả lao động trẻ em; Xóa bỏ phân biệt đối xử trong công việc”
Và được cụ thể hóa trong các Công ước:
- “Công ước số 87 về tự do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức” năm 1948;
Trang 3- “Công ước số 98 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể năm” 1949;
- “Công ước số 29 về xóa bỏ lao động cưỡng bức” năm 1930;
- “Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức” năm 1957;
- “Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ” năm 1951;
- “Công ước số 111 về chống phân biệt đối xử trong công việc” năm 1958;
- “Công ước số 138 về độ tuổi tối thiểu” năm 1973;
- “Công ước số 182 về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” năm 1999
ILO nhấn mạnh “Các quốc gia thành viên dù phê chuẩn hay chưa phê chuẩn các Công ước trên, thì vẫn phải có trách nhiệm tôn trọng và đảm bảo các quyền và nguyên tắc này” Và TPP cũng không yêu cầu các nước tham gia phải phê chuẩn các công ước trên mà vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc đó
Bên cạnh đó, Chương 19 của TPP cũng quy định các nước thành viên phải đảm bảo những điều kiện làm việc có thể chấp nhận được của NLĐ về mức lương tối thiểu, giờ làm việc, an toàn và sức khỏe lao động
Bản “Kế hoạch của Hoa Kỳ - Việt Nam” yêu cầu Việt nam phải cam kết thay đổi hệ thống pháp luật của mình cho phù hợp với các tiêu chuẩn về lao động đã đưa ra trong TPP, đồng thời đưa ra lộ trình để Việt Nam dần dần đáp ứng được những yêu cầu đã đưa ra Chỉ đến khi nào Việt Nam đáp ứng được những yêu cầu đã quy định, thì mới được hưởng thuế xuất khẩu 0% nội khối TPP
Ngành May được đánh giấ là một trong những ngành sẽ hưởng lợi nhất
từ Hiệp định TPP do các nước trong TPPcam kết xóa bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan và thuế suất xuất nhập khẩu Hiện nay Việt Nam đang xuất khẩu hơn 1000 loại sản phẩm dệt may vào Hoa Kỳ Hoa Kỳ hiện đang áp mức thuế với mặt hàng dệt may của Việt Nam trung bình 18% Theo dự báo của Hiệp
Trang 4hội dệt may Việt Nam (VINATAS): “Với triển vọng Hiệp định TPP, xuất khẩu dệt may Việt Nam sang Hoa Kỳ có thể tăng trưởng 12-13%/năm và có thể đạt 30 tỷ USD vào năm 2025, đưa quy mô xuất khẩu toàn ngành năm
2025 đạt khoảng 55 tỷ USD Bên cạnh đó, nếu TPP thúc đẩy tốt đầu tư vào nguyên liệu như dự kiến thì các chỉ tiêu về xuất siêu, giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa của ngành sẽ đều được nâng cao Dự kiến ngành sẽ về đích sớm với mục tiêu đạt tỷ lệ nội địa hóa 60% vào năm 2015 và 70% vào năm 2020”
Tác động của việc đáp ứng các tiêu chuẩn lao động quốc tế
Việc thực hiện các quy định về TCLĐ trong TPP tác động đến hệ thống chính sách, các doanh nghiệp và NLĐ Nó vừa là cơ hội vừa là thách thức Nhiều chuyên gian nhận định, đối với Việt Nam, đây là cơ hội để thay đổi, để thực hiện những cải cách nhằm hướng tới một mục tiêu cao hơn Là hệ thống luật pháp công bằng, tôn trọng quyền của con người, quyền của NLĐ Là doanh nghiệp hướng đến sự phát triển bền vững, là NLĐ được đảm bảo các quyền cơ bản
Một số kết quả đạt được:
Đối với TCLĐ trẻ em: Tập đoàn Dệt may Việt Nam không ghi nhận trường hợp sử dụng lao động trẻ em, sử dụng các hình thức lao động tồi tệ nhất nào từ khi thành lập đến nay Trong các thông báo tuyển dụng của tập đoàn và các doanh nghiệp thành viên, doanh nghiệp liên kết, hầu hết đều có thông báo chỉ tuyển NLĐ đủ 18 tuổi trở lên vào làm việc Các doanh nghiệp thành viên thực hiện rất tốt tiêu chuẩn này
Đối với quy định cấm các hành viên phân biệt đối xử trong công việc: Một phần đã được pháp luật quy định khá rõ ràng, một phần các doanh nghiệp thuộc tập đoàn chủ động đáp ứng nên tiêu chuẩn này được đáp ứng khá tốt Trong công tác tuyển dụng đã dần dần hoàn thiện đáp ứng quy định về phân biệt đối xử về giới tính Phần lớn những thông báo tuyển dụng gần đây đã
Trang 5không còn những biểu hiện phận biệt giới tính trong tuyển dụng Bên cạnh đó, ngành may đặc thù sử dụng nhiều lao động nữ, nên các doanh nghiệp lại càng chủ động trong việc đáp ứng các nhu cầu cũng như đảm bảo điều kiện làm việc công bằng cho lao động nữ
Mức lương trung bình của NLĐ đều tăng qua các năm, đến năm 2015, báo cáo của Tập đoàn Dệt may Việt Nam cho biết lương trung bình của NLĐ
là 6,3 triệu đồng Nhiều doanh nghiệp thuộc tập đoàn có mức lương vượt xa mức lương tối thiểu được pháp luật quy định, đặc biệt là những doanh nghiệp thuộc nhóm đầu ngành như Việt Tiến, Nhà Bè, …Về việc chấp hành tốt mức lương tối thiểu, theo tài liệu nghiên cứu của ILO trên cơ sở số liệu của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, được công bố vào tháng 8 năm 2016, Việt Nam được đánh giá là nước có tỉ lệ vi phạm thấp nhất trong bảy nước thuộc nhóm đối tượng gồm Phillipines, Ấn độ, Indonesia, Thái Lan, Pakistan, Campuchia, Việt Nam Tỉ lệ không tuân thủ của Việt Nam chỉ ở mức 6.6%, trong nhóm còn lại, nước có tỉ lệ vi phạm thấp nhất ở mức 25,6%, cao nhất đến 53,5% lao động trong ngành may bị trả lương thấp hơn mức tối thiểu
Điều kiện làm việc: Tập đoàn trang bị đầy đủ trang thiết bị làm việc, bảo hộ lao động theo yêu cầu của mỗi vị trí công việc Hàng năm, các cán bộ nhân viên trong Tập đoàn được kiểm tra sức khỏe định kỳ, khám bệnh và điều trị bệnh nghệ nghiệp, thai sản, bệnh phụ nữ… Nhiều đơn vị đã mời bác sỹ tư vấn đến nói chuyện, tư vấn chăm sóc sức khỏe, công tác kế hoạch hóa gia đình….cho cán bộ nhân viên
Chế độ phụ cấp: Tùy theo từng vị trí công việc, Tập đoàn và các đơn vị
có các chế độ phụ cấp: điện thoại, xe đưa đón, ăn trưa, nhà ở… Hầu hết các nhà máy của các đơn vị thuộc Tập đoàn tổ chức xây dựng nhà ăn và tự tổ chức nấu ăn phục vụ ăn ca cho cán bộ nhân viên
Trang 6Đào tạo nhân sự: Tập đoàn và các đơn vị đặc biệt coi trọng đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Ngoài việc các đơn vị tự tổ chức đào tạo, Ban Quản lý nguồn nhân lực của Tập đoàn đã phối hợp với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu của Tập đoàn gồm Trung tâm Đào tạo cán bộ quản lý doanh nghiệp dệt may, Trường Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội, Trường Caođẳng Nghề Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex, Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex TP Hồ Chí Minh, Viện Dệt May để tổ chức nhiều khóa đào tạo cho cán bộ quản lý cấp cao, cán bộ quản lý cấp trung, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ phục vụ nhu cầu nhân lực cho Tập đoàn và các đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn Mối quan hệ ba bên giữa “Tập đoàn - Đơn vị đào tạo, nghiên cứu - Doanh nghiệp” được tăng cường thắt chặt
Các chương trình đào tạo bắt buộc cho nhân viên mới: Đào tạo nghề cho nhân viên mới; kiến thức chung về sản phẩm, dịch vụ; quy trình làm việc theo ngành nghề; kỹ năng bắt buộc theo từng ngành nghề; các quy định chung
về Nội quy lao động; quy định về an toàn vệ sinh lao động…
Các chương trình đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật - công nghệ,
kỹ năng mềm: Theo đặc thù từng vị trí công việc, Tập đoàn và các đơn vị đã
tổ chức các chương trình đào tạo kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật - công nghệ, kỹ năng mềm để giúp các cán bộ nhân viên hoàn thiện kiến thức,
kỹ năng của bản thân
Các chương trình đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý: Ngoài việc cử đi học tập tại các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước, Tập đoàn còn mời các chuyên gia nước ngoài về giảng dạy cập nhật kiến thức cho đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung, cấp cao Chương trình đào tạo cán bộ nguồn được
áp dụng cho các cán bộ tiềm năng tại Tập đoàn và các đơn vị thành viên được chọn lọc để phát triển, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân sự của Tập đoàn cũng như của các đơn vị thành viên
Trang 7Một số khó khăn trong quá trình thực hiện:
Mặc dù Tập Đoàn Dệt May Việt Nam luôn đặt ra mục tiêu là đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn về lao động được quy định trong Pháp luật, từ đó tiến tới đáp ứng các tiêu chuẩn cao hơn về lao động, nhằm hướng tới thị trường quốc tế Nhưng trên thực tiễn vẫn còn tồn tại những khó khăn nhất định đối với các Doanh nghiệp may mặc thuộc Tập Đoàn Dệt May Việt Nam trong việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về lao động được quy định trong TPP
Trước hết là về khung pháp lý, pháp luật Việt Nam nhìn chung đã quy định tương đối đầy đủ về các TCLĐ cơ bản và các quy định về điều kiện làm việc chấp nhận được Tuy nhiên, mức độ thống nhất và ổn định của khung pháp lý vẫn là một vấn đề cần phải khắc phục nhằm giúp cho các doanh nghiệp có thể đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn này Các quy định hiện nay được các doanh nghiệp phản ánh là khá chồng chéo và có quá nhiều quy định điều chỉnh cùng một vấn đề, dẫn đến khó khăn trong quá trình áp dụng Bên cạnh
đó, dù khung pháp lý tương đối đầy đủ nhưng khái niệm cơ bản lại chưa đồng nhất với tiêu chuẩn quốc tế Dẫn đến sự điều chỉnh của pháp luật chưa đầy đủ, chưa bao quát hết các đối tượng
Bên cạnh đó sự phân tán về vốn cũng dẫn đến sự phân tán về khả năng kiểm soát, dẫn đến sự thiếu đồng bộ và thiếu sự thống nhất trong cách hiểu
và cách thực hiện các quy định về lao động Mặc dù Tập đoàn đã đặt ra những mục tiêu về quản trị nguồn nhấn lực, nhưng sự thực hiện tại các đơn vị thành viên còn không đồng nhất và đặc biệt tại một số đơn vị, còn tồn tại các sai phạm cũng như thiếu sót trong việc tuân các tiêu chuản lao động của ILO mà Việt Nam đã cụ thể hóa trong Luật Lao động và các quy định liên quan
Trang 8Bên cạnh đó, một số Doanh nghiệp còn chưa thực sự nhận thức được cần phải đáp ứng những tiêu chuẩn về lao động một cách nghiêm túc cũng chính là một cách tăng khả năng cạnh tranh bền vững, dẫn tới việc thực hiên đối phó, không có lộ trình rõ ràng hoặc hơn nữa là lách luật, làm trái luật về việc sử dụng lao động, hoặc bản thân chủ Doanh nghiệp cũng không nhận thức rõ được mình đang không tuân thủ pháp luật và đang không đáp ứng được các quy định về TCLĐ của ILO Ngoài ra, rào cản chi phí khi thực hiện những tiêu chuẩn này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quyết định của doanh nghiệp
Bên cạnh những TCLĐ quốc tế cơ bản, không làm gia tăng chi phí cho Doanh Nghiệp, thì còn những TCLĐ trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí hoạt động của Doanh Nghiệp Khiến cho Doanh nghiệp mâu thuẫn hoặc tạm thời không quan tâm thực hiện những tiêu chuẩn này
Trong thực tế, vẫn còn những sai phạm trong thực hiện các quy định về phân biệt đối xử trong việc làm, tiền lương và thời gian làm việc Như trong các thông báo tuyển dụng của một số doanh nghiệp thành viên của Tập Đoàn Dệt May Việt Nam, vẫn thể hiện sự phân biệt đối xử về giới tính trong tuyển dụng Các doanh nghiệp luôn cam kết thực hiên việc trả lương đúng theo quy định của Pháp luật, nhưng cũng có trường hợp mặc dù cam kết đáp ứng mức lương tối thiểu cho NLĐ nhưng Doanh nghiệp lại trả thực tế thấp hơn so với cam kết, đã dẫn đến giảm uy tín cho các Doanh nghiệp thuộc Tập đoàn, gây phẫn nộ cho NLĐ Quy định về thời gian làm thêm tối đa đang vướng phải nhiều sự phản đổi từ phía các Doanh nghiệp Trước nhu cầu cần đáp ứng các đơn hàng theo mùa vụ đặc thù của việc gia công ngành May, các Doanh nghiệp gặp khó khăn trong khả năng cạnh tranh với các quốc gia khác trong khu vực, khi mà những quốc gia này quy định giờ làm thêm tối đa nhiều hơn
Trang 9nước ta Dẫn đến một số Doanh nghiệp bất chấp việc phá luật, những Doanh nghiệp này phải cần phải giữ được đối tác của mình
Việc áp dụng các TCLĐ quốc tế cũng là một thách thức cho doanh nghiệp, việc tăng các TCLĐ lên, một mặt làm tăng chi phí đầu tư ban đầu, mặt khác làm tăng cả chi phí vận hành Dẫn đến tăng giá thành sản phẩm, ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của các doanh nghiệp
Việc đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn lao động quốc tế sẽ khiến việc đầu tư trên mỗi công nhân tăng lên, các chi phí xây đầu tư để các nhà máy đáp ứng được các tiêu chuẩn này cũng sẽ tăng lên
Mặc dù tiền lương của các doanh nghiệp may mặc hiện nay phần lớn đã cao hơn mức lương tối thiểu mà luật pháp đã quy định, nhưng việc tăng mức lương tối thiểu và quy định về mức phí bảo hiểm dẫn đến việc quỹ lương của các doanh nghiệp sẽ phình to ra Điều này sẽ gây ra những khó khăn nhất định đối với doanh nghiệp
Pháp luật quy định về quyền của NLĐ còn khá chung chung và chồng chéo Theo Doanh nghiệp, kể từ khi có hiệu lực đến nay, Bộ luật Lao động
2012 được đánh giá khá sát với thực tiễn, là cơ sở thực thi pháp lý của DN đối với NLĐ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của DN cùng với chất lượng cuộc sống của NLĐ Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều DN, song hành với Bộ luật Lao động 2012, dù có đến hơn 60 nghị định cùng với rất nhiều thông tư hướng dẫn đã được ban hành trong hơn 3 năm qua để hướng dẫn thực thi cụ thể một số điều của Bộ luật Lao động 2012, tuy nhiên, chất lượng của những văn bản hướng dẫn này vẫn còn nhiều điểm hạn chế Việc các thông tư và nghị định không thống nhất, chồng chéo khiên cho các chủ Doanh nghiệp trở nên dè dặt trong việc đưa ra quyết định Có ý kiến cho rằng Doanh nghiệp rất khổ sở khi thực thi bộ Luật Lao Động 2012 bởi làm bất cứ việc gì luôn phải tra cứu cùng lúc nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn chồng chéo nhau Quá trình này rất tốn thời gian và công sức của Doanh nghiệp Một số quy định,
Trang 10thông tư hướng dẫn còn chung chung, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho Doanh nghiệp dễ dàng áp dụng trong thực tế
NLĐ còn chưa nhận thức được những quyền lợi cũng như nghĩa vụ của chính mình Đã có rất nhiều những trường hợp Doanh nghiệp có quy định về
an toàn lao động, nhưng chính những NLĐ lại coi thường sự an toàn của bản thân mình, những NLĐ xung quanh cũng như sự an toàn của Doanh nghiệp NLĐ còn thiếu sự hiểu biết về các quyền lợi của mình, cộng thêm việc có kỹ năng, năng suất lao động thấp, khiến cho NLĐ việt nam trở nên rất nhạy cảm
và thiếu khả năng cạnh tranh nếu như nguồn lao động từ nước ngoài tràn vào
Luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao khả năng đáp ứng các quy định về TCLĐ trong quá trình thực thi TPP Trước hết
là giải pháp về phía nội bộ tập đoàn, cần kết hợp sự hỗ trợ từ phía tập đoàn và
sự chủ động từ phía doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả cao và đẩy nhanh tiến độ đáp ứng các tiêu chuẩn về lao động, trước hết là đáp ứng tốt các quy định của Việt Nam, tiến tới đáp ứng các tiêu chuẩn của TPP Các kiến nghị đối với Chính phủ tập trung vào việc hoàn thiện khung pháp lý, nhằm đạt được sự rõ ràng, thống nhất và ổn định môi trường pháp lý để các doanh nghiệp và NLĐ yên tâm hoạt động sản xuất lao động
Để đáp ứng tốt hơn TCLĐ được quy định trong TPP, cần sự tham gia của các cơ quan Chính phủ, các doanh nghiệp và NLĐ cùng nhau không ngừng cố gắng Từ đó nhằm tận dụng tối đa những lợi thế mà TPP đem lại